Trang Chính arrow Chuyên Mục arrow Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay năm A
Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay năm A In E-mail
10/03/2011

Sáng thế 2, 7-9 ; 3, 1-7a

Để bước vào Mùa Chay thánh, phụng vụ Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay dọn cho chúng ta ba món ăn, là ba bài đọc mà chúng ta vừa mới nghe. Ba món ăn đó là, thứ nhất : Câu chuyện Chúa Giê-su bị cám dỗ trong sa mạc, theo thánh Mát-thêu. Thứ hai : đoạn trích trong thư gửi giáo đoàn Rô-ma của thánh Phao-lô đề cập tới hai khuôn mặt A-đam và Chúa Giê-su, và cuối cùng là câu chuyện luôn gây ngạc nhiên : sự sa ngã của A-đam và E-và.

Như chúng ta biết, sách Sáng Thế cung cấp cho chúng ta 2 câu chuyện về thời nguyên thuỷ. Câu chuyện thứ nhất đề cập tới việc sáng tạo vũ trụ (St 1,1-2,4), câu chuyện thứ hai, tức là câu chuyện mà chúng ta vừa mới nghe trong bài đọc thứ nhất, đề cập tới vườn địa đàng và sự sa ngã. Câu chuyện thứ hai này là câu chuyện cổ xưa nhất.

Thiên Chúa tạo dựng con người từ bùn đất. Câu chuyện này có sử dụng nghệ thuật chơi chữ : A-đam (tên của con người) và a-đa-ma nghĩa là bùn đất. Như vậy, chúng ta có thể nói A-đam là cát bụi, là bùn đất. Ở chính giữa vườn địa đàng Thiên Chúa trồng cây biết điều thiện ác. Có một số bản dịch Kinh Thánh khác thì không nói là « cây biết thiện ác » nhưng dịch là « cây biết hạnh phúc và đau khổ ».

Con rắn là một con vật biểu tượng của miền Đông Phương cổ đại. Nó là biểu tượng của sự sinh sôi nảy nở, sự phong phú. Lời nói của con rắn cực kỳ khéo léo bởi vì nó đề cập tới cùng một lúc hai khía cạnh : các ngươi sẽ trở nên giống như thiên chúa và làm cho E-và nghi ngờ về sự cấm đoán của Thiên Chúa.

Người đàn ông và người đàn bà thấy mình trần truồng. Lời nói này không đề cập đến vấn đề tính dục. Câu này ý muốn nói là người đàn ông và người đàn bà khám phá ra cái nghèo hèn, khám phá ra tình trạng yếu đuối của họ. Và họ tìm cách che dấu thân thể của mình khi đối diện trước mặt nhau, và họ trốn tránh cả Thiên Chúa nữa.

Câu chuyện về sự sa ngã của A-đam và E-và muốn đề cập tới sự bất lực của nhân loại trong nổ lực tìm kiếm sự tự do trong một thế giới hỗn loạn ngày hôm nay. Trong một số huyền thoại Hy-lạp, sự sáng tạo thường là sự thất bại, một sự sụp đổ hoàn toàn. Trong thế giới kinh thánh thì khác, sự sáng tạo luôn luôn tốt đẹp (câu chuyện thứ nhất), và có sự hài hoà giữa Thiên Chúa và con người. Cái ác vào thế gian qua sự bất tuân phục, qua sự tham vọng tán tỉnh lương tâm về sự hiểu biết thế nào là bất hạnh và thế nào là hạnh phúc. Tác giả không nói Thiên Chúa là tác giả của sự dữ. Tác giả của câu chuyện này ám chỉ con người chính là tác giả của sự dữ. Thực ra, tác giả không hoàn toàn đổ lỗi cho con người là tác giả của sự dữ bởi vì câu chuyện có đề cập tới sự hiện diện của con rắn. Con vật này là con vật « mưu mô xảo quyệt nhất trong các loài vật trên mặt đất ». Nó xảo quyệt đến nổi nó lừa bịp được người phụ nữ, và nó trở thành biểu tượng của kẻ cám dỗ từ nguyên thuỷ.

Câu chuyện về sự sa ngã này cho chúng ta thấy rằng sự dữ, cái khổ và bạo lực luôn luôn tồn tại trong thế gian, bất chấp những ước muốn bình an, tình yêu và hoà hảo của chúng ta. Câu chuyện miêu tả sự chi phối mạnh mẽ của sự dữ trong lòng một sự sáng tạo tốt đẹp và thánh thiện. 

 

Rôma 5, 12-19

Trong bài đọc hai, trích trong thư gửi giáo đoàn Rô-ma, Thánh Phao-lô đưa ra hai hình ảnh : A-đam và Chúa Giê-su. Nếu như A-đam là biểu tượng của sự hư nát, sa ngã và tội lỗi thì Chúa Giê-su, trái lại, là biểu tượng của sự sống. A-đam dẫn nhân loại tới cái chết còn Chúa Giê-su đưa nhân loại tới sự sống. A-đam và E-và không thắng nổi sự cám dỗ của con rắn thì Chúa Giê-su hoàn toàn chiến thắng mọi cơn cám dỗ !

 

Mát-thêu 4, 1-11

Trên bình diện chú giải kinh thánh, người ta cho rằng câu chuyện về ba lời cám dỗ trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu (mà chúng ta vừa mới nghe) được phát triển dựa trên câu chuyện ngắn thuật về việc Chúa Giê-su ăn chay và bị cám dỗ trong sa mạc, trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô. Trong câu chuyện theo Mát-thêu (cũng như theo Lu-ca) có đề cập tới ma quỷ. Ma quỷ là biểu tượng của sự phân ly, chia rẻ. Ba lời cám dỗ này phản chiếu lại những cơn cám dỗ của dân Ít-ra-en trong sa mạc ngày xưa, mà chúng ta được sách Xuất Hành và sách Đệ Nhị Luật thuật lại. Chúa Giê-su đã kháng cự  lại tất cả ba lời cám dỗ, không bằng sức lực của chính mình nhưng bằng cách dựa vào Lời của Chúa.

Hình ảnh sa mạc và tinh thần trai tịnh là những yếu tố vốn tồn tại trong truyền thống. Ở đây không đề cập tới một sa mạc quá khắc nghiệt nhưng chỉ là một sa mạc mà ở đó con người có thể sống được. Sự trai tịnh không phải là một sự tu luyện khổ hạnh, nhưng là một sự chuẩn bị tinh thần hướng tới sứ vụ trong tương lai. Một số nhà chú giải kinh thánh thì quân tâm tới khía cạnh về đấng Mê-si-a bởi vì họ thấy những lời ám chỉ nói tới ông Mô-sê và nếu nhìn chung toàn thể khung cảnh của câu chuyện này cũng cho chúng ta liên tưởng đến điều đó. Nhưng theo tôi, điểm chính yếu nhất của câu chuyện này đó là việc Chúa Giê-su chấp nhận điều kiện đạo làm con trong thân phận con người. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì chúng ta thấy kẻ cám dỗ đã hỏi Chúa Giê-su : « Nếu ông là Con Thiên Chúa » tới hai lần. (câu 3 và câu 6).

Đối diện với lời cám dỗ thứ nhất (chuyện ăn uống), cũng chẳng có lỗi gì nếu như Chúa Giê-su phá việc ăn chay (Sau 40 ngày đêm ăn chay, Ngài thấy đói). Nhưng Chúa Giê-su đã từ chối thực hiện việc này khi sử dụng quyền năng của Thiên Chúa để phục vụ cho những lợi ích của bản thân. Trái lại, Ngài chỉ làm bánh hoá ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng. Đối với Ngài, Ngài luôn giữ đức vâng lời đối với Thiên Chúa Cha. Lời cám dỗ thứ hai đó là sự cám dỗ về niềm tin ; yêu cầu Thiên Chúa thực hiện những dấu chỉ và những dấu lạ. Chúa Giê-su đã từ chối lời cám dỗ này. Chúa Giê-su luôn tin tưởng vào Thiên Chúa, luôn luôn tin tưởng vào lòng trung thành và tình yêu của Ngài. Cơn cám dỗ thứ ba nhằm chuyển hướng Chúa Giê-su ; thay vì phục vụ sứ mạng của Thiên Chúa Cha thì ma quỷ cám dỗ Chúa Giê-su dùng quyền năng Thiên Chúa để thụ hưởng vương quyền trần gian. Chúa Giê-su đã từ chối lời cám dỗ này. Và Ngài từ chối không đối thoại với ma quỷ nữa. Ngài sẽ sống thân phận con người hoàn toàn phó thác vào Thiên Chúa Cha.

Ngày nay, câu chuyện về những cơn cám dỗ của Chúa Giê-su được đọc tham chiếu với câu chuyện bị cám dỗ của A-đam và E-và trong vườn địa đàng. Chúng ta cần phải đọc đi đọc lại những câu chuyện này. Câu chuyện về sự sa ngã của A-đam và E-và không phải là một bài phóng sự. Cũng không phải là một câu chuyện lịch sử. Đó là một câu chuyện nhằm giúp chúng ta hiểu về sự hiện diện của sự dữ trong đời sống con người, và nhằm chỉ cho chúng ta con đường dẫn tới sự sống. Câu chuyện đã sử dụng những hình ảnh ngây thơ và thần tiên : vườn địa đàng thần tiên huyền ảo, một trạng thái ngất ngây hạnh phúc và tinh trong, một con rắn quỷ quyệt và mưu trí, cây biết điều thiện ác, và một lời cấm cách : « ngươi không được ăn trái cây giữa vườn... », còn gì gây tò mò cho bằng một lời cấm cách ?

Câu chuyện về sự sa ngã của A-đam và E-và nhấn mạnh đến khía cạnh ước muốn trở nên giống như thiên chúa. Kẻ cám dỗ đã nói với E-và rằng : « Các người sẽ trở nên giống như thiên chúa. » A-đam và E-và, có nghĩa là nhân loại, có nghĩa là chúng ta, những người muốn ngang hàng với Thiên Chúa. Thay vì chấp nhận thân phận thụ tạo của Thiên Chúa, kín múc từ Ngài sự tồn tại và cuộc sống hạnh phúc của kiếp người, thì họ lại muốn trở nên giống như thiên chúa. Sách Sáng thế nói rằng : Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài, giống như Ngài. Nhưng một khi con người muốn trở thành Thiên Chúa thì sự được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa mà con người đáng được đó đã bị lu mờ đi, sự giống như Thiên Chúa mà con người đáng được hưởng đã bị biến dạng.

Đối diện với ma quỷ, kẻ cám dỗ gợi ý tặng cho Ngài sức mạnh, Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa, đã từ chối thống trị vương quốc của Ngài bằng vũ lực. Ngài từ chối tôn thờ thần thánh vinh hoa phú quý trần thế. Ngài chỉ muốn tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, Đấng nắm giữ sự sống và cái chết của con người. Chúa Giê-su từ chối quyền lực thế trần. Chính vì vậy, Ngài sẽ đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khổ. Ngài sẽ lui tới với người khiêm nhường và kẻ tội lỗi. Ngài sẽ là người tôi tớ đau khổ, từ chối sức mạnh, từ chối bạo lực, và từ chối quyền lực. Đối với Ngài, quyền lực chỉ được thể hiện qua sự phục vụ.

Trong lá thư gởi giáo đoàn Rô-ma, tông đồ Phao-lô đề cập tới sự đối lập giữa A-đam và Chúa Giê-su. A-đam, có nghĩa là chúng ta. Qua A-đam, tội lỗi đã đi vào thế gian. Tội lỗi đã đi vào thế gian qua sự cám dỗ, qua sự nổi loạn, qua sự bất tuân phục, và qua ý chí muốn trở thành thiên chúa. Nhưng qua Chúa Giê-su, nhân loại được tái sinh và được bắt đầu lại. Với Chúa Giê-su, chúng ta đi vào một thế giới đầy hồng ân nhưng không, đi vào thế giới hoà giải. A-đam là quá khứ của nhân loại. Chúa Giê-su là tương lai của nhân loại.

Mùa chay không chỉ đơn thuần là sự tập luyện cầu nguyện, ăn chay và bố thí. Nhưng chính là sự đi vào thế giới của Chúa Giê-su. Chính là sự từ bỏ ước muốn trở nên giống như thiên chúa. Chính là sự từ bỏ cách tôn thờ ngẫu tượng như dân ngoại thường làm. Chính là sự chấp nhận thân phận thụ tạo của Thiên Chúa. Chính là dám dấn thân bước theo Đức Ki-tô. Đơn giản là khám phá con đường dẫn tới hạnh phúc thật, và từ bỏ ước muốn đi tìm những hạnh phúc ảo tưởng.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con thắng được những cám dỗ dẫn đến sự diệt vong, và nâng đỡ chúng con trên con đường theo Đức Ki-tô, con đường dẫn tới sự sống. Amen.

Note : Tuyển chọn và lược dịch trong cuốn « Comprendre la Parole », Novalis, 2007, của André Beauchamp.

Lm Phêrô Trần Văn Huyền

 
< Trước   Tiếp >

Blog Sao Khue

2012 Dòng Anh Em Đức Mẹ Lên Trời.  Our site is valid CSS Our site is valid XHTML 1.0 Transitional