Chuyên Mục
Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Chay năm A | Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Chay năm A |
|
|
| 26/03/2011 | |
|
Chủ đề nổi bật mà chúng ta thấy trong các bài đọc hôm này đó là Nước. Ông Mô-sê lấy cây gậy đập lên tảng đá và một mạch nước vọt ra từ tảng đá đó. Đó là mạch nước Mê-ri-ba mà Thiên Chúa ban cho dân Ít-ra-en trong khi họ kêu khát trong sa mạc. Còn trong Tin Mừng theo thánh Gio-an, Chúa Giê-su khi đi vào địa phận Sa-ma-ri-a, lúc 12 giờ trưa, Ngài khát. Ngài đã xin nước uống từ một phụ nữ người Sa-ma-ri-a đang lấy nước ở giếng nước Gia-cóp. Nước cực kỳ quan trọng cho cuộc sống của con người, cho động vật và thực vật. Người ta nói rằng, con người có thể nhịn ăn 30 hay 40 ngày mà không chết, nhưng con người sẽ chết nếu như phải nhịn uống trong 3 ngày. Các nhà khoa học nói rằng nước chiếm 1/3 trọng lượng trong cơ thể con người. Nước quả thực cần thiết cho sự sống. Qua phương tiện truyền thông, chúng ta thấy rằng nguồn nước ngày càng khan hiếm. Không đâu xa, ở huyện Chư-sê tỉnh Đắclắk, những người trồng càphê phải đào những cái giếng càng ngày càng sâu để tìm nước! Cách đây 10 năm, người ta chỉ cần đào một cái giếng chừng 20 mét thì đã có nước, nhưng bây giờ với cái giếng 40 mét mà họ vẫn chưa tìm ra nước để tưới cho càphê! Rồi chúng ta còn nghe truyền thông nói rằng, các hồ thuỷ điện luôn luôn thiếu nước; mực nước luôn luôn ở dưới mức âm. Rồi vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng vậy. Nước ngọt thiếu vì vậy nước mặn tràn vào làm cho biết bao nhiêu hécta lúa bị nhiễm mặn và chết. Gần chúng ta hơn, những con sông đi qua Sàigòn ngày càng bị ô nhiễm nguồn nước. Người ta nói nước không có màu, không có mùi vị, thế mà chúng ta lại thấy nước trong những con sông ở Sàigòn có màu đen và có mùi hôi thối!!! Nguy cơ thiếu nguồn nước trong lành để cung cấp cho 10 triệu dân trong Sàigòn là rất cao. Con người chính là thủ phạm gây ra sự thiếu hụt nguồn tài nguyên quý báu này. Vì con người đã khai thác thiên nhiên quá mạnh tay. Con người đã chặt phá rừng để lại những đồi trọc. Khi mưa xuống nước chảy ngay lập tức xuống các con suối, xuống các con sông và trôi ra biển. Nước mưa không còn thấm vào lòng đất. Con người đã khai thác các hầm mỏ quá mạnh tay cho nên làm mất đi những mạch nước ngầm. Và con người đã thải quá nhiều chất thải xuống các dòng sông cho nên nước các dòng sông bị ô nhiễm trầm trọng! Tội ác này do con người gây nên và cũng chính nó phải chịu hậu quả về tội ác của mình. Ở đất nước Chúa Giê-su, nước cũng rất khan hiếm. Họ phải đào giếng để lấy nước sinh hoạt cho cuộc sống của người dân. Chính vì vậy, các giếng nước trở nên nơi gặp gỡ và trò chuyện của dân làng. Các giếng nước ở đây rất quý báu. Người ta tới lấy nước uống cho con người, và cho cả súc vật. Vào một buổi trưa hè nóng bức, một người Do thái mệt nhoài tới gần bên giếng gọi là giếng Gia-cóp, thuộc làng Xy-kha miền Sa-ma-ri-a, Ông ngồi trên bờ miệng giếng. Ông không có gầu để lấy nước. Người Do thái đó là Chúa Giê-su. Trong lúc đó, có một phụ nữ Sa-ma-ri-a tới giếng để kín nước. Chị có một cái gầu có dây dài để thòng xuống giếng lấy nước, bởi vì giếng rất sâu. Chúa Giê-su xin chị ít nước để uống. Tình huống này vô cùng bất tiện, bởi vì người Do thái và người Sa-ma-ri-a thù địch với nhau! Lại bất tiện hơn nữa, khi một người đàn ông Do thái nói chuyện với một người phụ nữ Sa-ma-ri-a ở nơi công cộng! Bất tiện vô cùng! Nhưng, chúng ta thấy Chúa Giê-su không có vẻ ngại ngùng khi Ngài khát. Ngài cũng không ngại ngùng nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri-a, và Ngài cũng không ngại ngùng xin chị ít nước để uống. Người phụ nữ Sa-ma-ri-a từ chối, có lễ vì sự hận thù, hoặc có lẽ vì sợ làm mất thanh danh Chúa Giê-su. Thay vì nài nì và nhắc lại nhu cầu đang cần của mình, Chúa Giê-su lại nói về Ngôi vị của Ngài. Ngài nói một cách rõ ràng với người phụ nữ rằng: “ Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là Người nói với chị : ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và Người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” (câu 10). Người phụ nữ không hiểu gì ráo câu nói này của Chúa. Thực ra, chị ta chỉ thấy mặt thực dụng của công việc kín nước thôi. Nước trong giếng thì rất sâu, phải thòng dây xuống mới kín được. Đây là một công việc rất cực nhọc! Nhưng còn nước hằng sống, người ta không cần bỏ sức ra để kín, tuy vậy, người ta cũng có thể lấy được. Chính vì không hiểu cho nên chị ta mới hỏi Chúa: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu, vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống?” (Câu 11). Chắc chị ta nghĩ rằng Chúa Giê-su là một gã điên, hay là một gã cuồng tưởng! Thực ra, Chúa Giê-su nói tới một loại nước phun ra từ bên trong của mỗi con người, và chính mạch nước này trở nên nguồn nước nội tại cho cuộc sống vĩnh cửu. Người phụ nữ Sa-ma-ri-a thì càng ngày càng không hiểu gì về câu nói này. Chị ta không tưởng tượng ra được có một cuộc sống khác, có một loại nước khác. Chị ta chỉ chú tâm vào cái gầu của mình và công việc kín nước của mình. Chị ta rất muốn có loại nước mà chị không phải bỏ công sức ra để kín. Vì vậy chị ta mới xin Chúa: “ Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” (Câu 15). Đây quả thực là một cuộc đối thoại của những người điếc. Cả hai đều nói về nước, nhưng không phải là cùng một loại nước! Người phụ nữ Sa-ma-ri-a thì nói về nước sinh hoạt hằng ngày của chị, tức là thứ nước H2O. Còn Chúa Giê-su thì nói về một chuyện khác; Ngài nói về sự sống vĩnh cửu, một nguồn sức sống đến từ Thiên Chúa. Và nguồn sức sống này được thấm vào con tim của mọi người để rồi con người được tận hưởng hạnh phúc và niềm vui. Trước lời yêu cầu, “xin nước hằng sống” của người phụ nữ Sa-ma-ri-a, Chúa Giê-su chuyển hướng đối thoại, để đề cập tới người chồng của người phụ nữ này. Cuộc sống thường nhật bên lề cái giếng nước thật phong phú. Chúng ta thấy, hôm nay, Chúa Giê-su khát nước, đến bên giếng và gặp người phụ nữ đang kín nước. Chúa Giê-su xin chút nước uống. Người phụ nữ lại từ chối. Chúa Giê-su hứa ban nước hằng sống. Người phụ nữ này xin Chúa thứ nước đó. Chúa Giê-su yêu cầu : “ Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” (Câu 16). Khi yêu cầu điều này, Chúa Giê-su muốn nói rõ với người phụ nữ này về hoàn cảnh của chị ta. Người phụ nữ nói là chị ta không có chồng. Chúa Giê-su liền nói với chị rằng chị đã có 5 đời chồng. Và “người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.” (câu 17). Câu trả lời của Chúa có hai ý nghĩa. Nghĩa thứ nhất: Chúa khiển trách lối sống không mấy tốt đẹp của chị ta. Có 5 đời chồng, và người đàn ông mà chị đang chung sống không phải là chồng chị. Nghĩa thứ hai: Chúa Giê-su muốn đề cập tới một chuyện khác. Chúa khiển trách dân miền Sa-ma-ri-a không có lòng trung thành. Thay vì tôn thờ Thiên Chúa, một Thiên Chúa Duy Nhất, thì họ đã tôn thờ 5 thần tượng khác nhau; một loại tôn giáo hỗn hợp, giống đạo Cao Đài Việt Nam. Tôi cho rằng đây chính là nội dung chính yếu mà Chúa Giê-su muốn đề cập trong đoạn kinh thánh này. Bởi vì khi thấy Chúa Giê-su biết tường tận hoàn cảnh của mình, người phụ nữ Sa-ma-ri-a liền nhận ra người Do thái mà chị đang nói chuyện là một Ngôn sứ. Và sau đó, chị ta không còn nói đến chuyện nước nôi, không nói đến chuyện cái gầu kín nước, và không còn nói đến công việc kín nước cực khổ nữa, nhưng chị ta đề cập tới chuyện Phụng thờ Thiên Chúa. Phải thờ phượng Thiên Chúa ở đâu, tại Giê-ru-sa-lem, hay ở trên núi Sa-ma-ri-a? Và Chúa Giê-su cũng không còn đề cập tới chuyện nước nôi nữa, nhưng Chúa đề cập tới một nghi thức mới trong việc phụng thờ Thiên Chúa; đó là việc phụng thờ Thiên Chúa trong Thần Khí và trong Sự thật. Một lần nữa, Chúa Giê-su chuyển ý nghĩa của sự vật từ bên ngoài vào bên trong. Trước đây, Chúa đã đề cập tới loại nước H2O, là loại nước mà người ta vẫn thấy hàng ngày, rồi từ từ Ngài đề cập tới loại nước vô hình đang ẩn mình trong tâm hồn mỗi người; loại nước này chính là sự sống của Thiên Chúa đang ẩn mình trong trái tim của mỗi chúng ta. Cuối cùng Chúa Giê-su khẳng định với người phụ nữ rằng Ngài chính là Đấng ban nước hằng sống. Qua niềm tin vào Chúa Giê-su Ki-tô, người ta có thể đạt tới nước hằng sống và đạt tới việc tôn thờ Thiên Chúa trong sự thật. Chúng ta thấy đoạn kết của câu chuyện thật tuyệt vời. Người phụ nữ Sa-ma-ri-a quên đi cái khát của mình, quên đi công việc kín nước lao nhọc của mình. Chị ta để lại cái gầu kín nước rồi chạy ào vào làng và kể cho dân làng nghe về Chúa Giê-su. Chúa Giê-su vào làng, ở lại với họ và họ tin vào Ngài. Người Sa-ma-ri-a được coi là dân bất trung, là dân tội lỗi, là kẻ thù của dân Do thái, nhưng chính họ lại nhận ra nơi Chúa Giê-su là một ngôn sứ. Họ lắng nghe Ngài với một niềm tin mạnh mẽ. Trong truyền thống lâu đời của Giáo Hội, Mùa chay là mùa chuẩn bị, hay là sống lại tinh thần của bí tích Rửa Tội; một bí tích thanh tẩy trong Nước và trong Thánh Thần. Vậy, hiện giờ, chúng ta đang sống trong Mùa chay, thì Giáo hội mời gọi chúng ta hãy sống tinh thần thanh tẩy đó trong việc khao khát kiếm tìm nước hằng sống. Kiếm tìm nước hằng sống có nghĩa là chúng ta phải cậy trông vào Thiên Chúa. Tức là chúng ta trở về với cuộc sống nội tâm của chúng ta, xem lại cuộc sống của chúng ta, xem lại tâm hồn của chúng ta, nơi đó Chúa đang hiện diện. Đặt niềm cậy trông vào Ngài, dám liều mạng sống vì Ngài. Và đồng thời, chúng ta nhìn vào trong tâm hồn chúng ta để chiêm ngắm nguồn nước vô hạn đang phun trào không ngừng trong con tim chúng ta. Khi nhìn ngắm suối nguồn tiềm năng làm cho chúng ta sống đang ẩn tàng trong tâm hồn chúng ta, thì chắc chắn chúng ta sẽ quan tâm hơn, sẽ chú ý hơn, sẽ thông cảm hơn với những con người đang khát, đang đói, không những khát và đói vì thiếu ăn, thiếu nước về vật chất, mà còn đói và khát thức ăn, thức uống về tinh thần. Câu chuyện Chúa Giê-su khát nước bên bờ giếng Gia-cóp sẽ giúp chúng ta quan tâm hơn nguồn nước mà chúng ta đang sử dụng hằng ngày. Chúng ta sẽ trân trọng nguồn nước quý báu này hơn, biết tiết kiệm hơn để chia sẻ với rất nhiều người đang còng lưng đi kiếm nước uống, đây đó trên thế giới. Lạy Chúa, xin cho chúng con biết ý thức về điều đó.
Lm Phêrô Trần Văn Huyền, AA
|
| < Trước | Tiếp > |
|---|