Trang Chính
Chúa Nhật Thứ 4 mùa Chay năm A In E-mail
02/04/2011

Người Mù thành Giê-ri-cô

Bài đọc thứ hai và bài Tin Mừng mà chúng ta vừa mới nghe đề cập tới hai thực thể trái ngược nhau: Ánh sáng và bóng tối. Trước đây khi chưa gặp Đức Giê-su Ki-tô, chúng ta sống trong bóng tối, ngày nay chúng ta gặp được Ngài nên chúng ta sẽ sống trong ánh sáng. Vậy thì chúng ta phải ăn ở như con cái của Sự Sáng. Ăn ở như con cái của Sự sáng có nghĩa là thực thi các nhân đức: Lương thiện, công chính và chân thật.

Qua việc làm cho anh mù từ thủa mới sinh được sáng, Chúa Giê-su muốn khẳng định rằng : “Ngài là ánh sáng cho thế gian.” Và quả thực, Ngài đã ban lại ánh sáng cho thế gian khi mở mắt cho anh thanh niên mù được thấy. Chúng ta thấy anh mù là nhân vật nổi bật trong câu chuyện này. Qua sự kiện làm cho anh mù được thấy, chúng ta khám phá ra rằng Chúa Giê-su trước hết chữa lành về thể lý cho anh ta, rồi sau đó hướng dẫn anh mù đạt tới đức tin. Anh mù này, lúc đầu hoàn toàn không biết gì về Chúa Giê-su, nhưng sau đó, một khi đã nhận ra Ngài, anh ta đã tuyên xưng niềm tin của mình một cách mạnh mẽ. Mở đầu câu chuyện, chúng ta không thấy anh mù van xin Chúa chữa lành cho mình, điều này khác với người mù ngồi bên vệ đường thành Giê-ri-khô. Chúa Giê-su lấy bùn mà thoa lên mắt anh mù và yêu cầu anh tới hồ Si-lô-ác mà rửa. Khi người ta hỏi anh ai là tác giả của phép lạ này, anh ta chỉ trả lời đơn giản, đó là ông Giê-su. Nhưng mà anh ta không biết ông Giê-su đang ở đâu. Đối với anh ta, anh ta hoàn toàn chưa biết gì về Chúa Giê-su.

Sau lần chất vấn thứ nhất bởi người Pharisêu, anh mù được chữa lành tiến xa hơn trong suy nghĩ của mình. Người chữa lành cho mình chắc chắn không thể làm một người tội lỗi, thậm chí cho dù ông ta làm chuyện này trong ngày Sabát. Đích thị đó là một ngôn sứ. Anh thanh niên mù được chữa lành bắt đầu nhận thức rằng Người này chắc chắn được Thiên Chúa sai đến.            
Được triệu tập lần thứ hai bởi người Pharisêu, anh mù được chữa lành đã bảo vệ cho ông Giê-su, Đấng chữa lành cho anh mà anh chưa hoàn toàn biết tới. Người Pharisêu nói với anh ta rằng ông ấy là một người tội lỗi. Nhưng anh mù không hề nghĩ như họ, và anh bẻ lại một cách kiên quyết : “ Chính ông ấy đã chữa lành cho tôi. Nếu ông ấy không đến từ Thiên Chúa, ông ấy không thể nào làm được những chuyện như vậy được.” Qua cuộc tranh luận với người Pharisêu, niềm xác tín của anh mù này lại càng tăng thêm hơn. Anh ta cảm nhận ra được hành động mà ông Giê-su thực hiện cho mình phải đến từ một Đấng được Thiên Chúa sai đến. Anh ta tự thấy mình là một môn đệ của ông Giê-su mặc dù chưa hoàn toàn biết về Ngài. Còn người Pharisêu thì trục xuất anh ra khỏi Hội đường.
 
          
Sau cùng, anh mù gặp lại Chúa Giê-su. Và anh ta nhận ra Chúa Giê-su chính là Con Thiên Chúa, và là Thiên Chúa thật. Anh ta nói : “ Thưa Ngài, tôi tin. Và anh ta sấp mình xuống trước mặt Chúa Giê-su.” Chúng ta thấy lời tuyên xưng đức tin của anh mù này là một lời tuyên xưng tuyệt đẹp trong cuốn Tân Ước. Anh mù, tuy anh bị mù về thể lý, nhưng trong tâm hồn, anh là một con người đi tìm Thiên Chúa. Anh là một người thấy, tuy mù về thể lý, thấy Đấng vô hình. Qua đức tin, Chúa Giê-su đã đem lại cho anh ta ánh sáng. Anh được nhìn thấy như một người bình thường nhờ ân ban của Chúa. Nhưng điều cao quý hơn mà anh mù nhận được, đó chính là anh đã nhận ra Đức Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa.
           

Anh mù này, quả thực đã mở lòng ra để đón nhận ân sủng; anh hành động hoàn toàn khác với người Pharisêu! Người Pharisêu tuy thấy, nhưng lại mù. Họ mù bởi vì họ thù địch với Đức Giê-su. Họ ghen tỵ, hiềm khích với Chúa Giê-su. Họ tỏ ra họ là những người am hiểu Thánh Kinh. Họ tỏ ra họ là những người đạo đức; giữ luật Chúa một cách khắc khe. Họ không dám nhìn nhận Chúa Giê-su là Đấng được sai đến cho dù họ đã được nhìn thấy tận mắt những việc kỳ diệu mà Chúa Giê-su đã làm. Người Pharisêu đã áp đặt ý kiến của họ lên anh mù. Họ không để cho anh mù bảo vệ chính kiến của anh ta. Có lẽ, đây cũng là một căn bệnh trong xã hội ngày hôm nay. Căn bệnh này đã tồn tại từ thời nguyên thuỷ, nhưng hơn bao giờ hết, nó đang hoành hành trong gia đình, trong cộng đoàn, trong mọi quốc gia trên thế giới. Trong một quốc gia, đảng mạnh áp đảo đảng yếu, đảng cầm quyền áp đảo những phong trào đòi dân chủ. Còn trong gia đình, thì chồng áp đảo ý kiến lên vợ, bố mẹ áp đảo ý kiến lên con cái, anh chị áp đảo ý kiến lên em út. Vân vân.
           

           
Trong một nghĩa nào đó, chúng ta, tất cả, đều là một anh mù cần phải học biết cách nhìn. Mỗi chúng ta cũng dễ trở thành một Pharisêu nếu chúng ta cố chấp không thừa nhận chính kiến của người khác. Chúng ta thấy mà như mù. Không phải mù về thể lý mà mù về lương tri. Có thể lương tri chúng ta không còn nhạy bén trước nổi khổ của người khác. Ngày nay, chúng ta có những đứa trẻ chỉ biết đòi hỏi mà không biết sẻ chia! Bài học về sự bao dung, chia sẻ, tha thứ, xin lỗi không còn được đề cao và giáo dục trong nhà trường và trong gia đình. Nhà trường và gia đình chỉ nhồi vào sọ trẻ em những kiến thức, nhưng quên đi khía cạnh giáo dục nhân bản cho các em! Có lẽ chúng ta cũng mù trong cách phán đoán của chúng ta khi chúng ta chỉ thấy cái lợi của chúng ta mà quên đi cái lợi của người khác. Có người vì vụ lợi cho mình mà bán đứng lương tâm. Chúng ta thấy mà như mù bởi vì chúng ta thiếu hiểu biết. Vì không hiểu biết nên hành động sai. Hàng động sai mà cứ tưởng đúng và như vậy dẫn đến phá hoại và gây tai ương.
 

           
Bài Tin Mừng thuật lại cho ta thấy hành trình đức tin của anh thanh niên mù thật tuyệt vời. Tuyệt vời ở chỗ là anh đã dám dấn thân. Khi Chúa sai anh đi tới hồ Si-lô-ác, anh liền đi ngay lập tức. Anh không nghi ngờ và cũng chẳng hỏi lại Ngài, tại sao. Sau đó, anh mù này bị người ta nghi ngờ, bị người ta tò mò xoi mói, rồi bị người Pharisêu chất vấn. Thế nhưng anh mù vẫn can đảm bảo vệ cho Người đã chữa lành cho mình. Rồi, cái đau khổ nhất mà anh mù phải chấp nhận đó là bị cha mẹ bỏ rơi. Cha mẹ anh sợ bị liên luỵ khi biết đứa con của mình được Đức Giê-su chữa lành. Thay vì nói thêm cho con mình một tiếng trước người Pharisêu, thì họ lại để anh cô đơn. Tuy vậy, anh mù vẫn trung thành với điều mà anh vừa mới lãnh nhận. Ông Giê-su là người đã chữa lành cho tôi. Và tôi tin rằng ông là người tốt, là người đến từ Thiên Chúa.
           

Hành trình đức tin của anh thanh niên mù chính là khuôn mẫu cho hành trình đức tin của mỗi chúng ta. Anh thanh niên mù đã chiến đấu với những bóng tối vây phủ đức tin của anh. Anh đã kiên trì và đã chiến thắng. Anh đã ra khỏi tối tăm, gặp được Chúa Ki-tô nguồn ánh sáng. Đời anh từ nay tràn ngập ánh sáng niềm tin. Còn tôi, tôi đã chiến đấu như thế nào với những thế lực bóng tối đe doạ đức tin của tôi? Những bóng tối nghi kỵ, những bóng tối hận thù, những bóng tối tộic ác, những bóng tối tự mãn tự kiêu, những bóng tối dục vọng tội lỗi. Tôi có can đảm chiến đấu để phá tan những bóng tối đó không?” (Trích ĐGM Kiệt, Chia sẻ Tin Mừng Chúa nhật, năm A, tr. 108).             

           
Trong Mùa Chay này, mỗi chúng ta dành thời gian để suy gẫm xem chúng ta đã tuyên xưng đức tin của mình như thế nào. Chúng ta có bắt chức anh thanh niên mù vượt qua mọi khó khăn gian khổ để giữ vững niềm tin của chúng ta vào Đức Giê-su Ki-tô không. Chúng ta phải luôn luôn khám phá những điều mới nơi Người Con Thiên Chúa. Ngài là một vị Chữa lành, và là một ngôn sứ. Nhưng Ngài còn là ánh sáng của thế gian, không phải là một loại ánh sáng trong lý thuyết suông, trong một sự thật trừu tượng khó hiểu. Nhưng Ngài chính là sự mạc khải của Thiên Chúa Cha. Tin vào Đức Giê-su, không có nghĩa là chỉ đọc Kinh Thánh, học giáo lý hay là đọc Bản tuyên xưng đức tin mà thôi. Nhưng trái lại, là phải gặp Ngài, phải coi Ngài là trung tâm của cuộc đời của tôi, là ánh sáng và là kim chỉ nam của cuộc đời tôi.
 

           
Xin Chúa Giê-su Ki-tô là ánh sáng trần gian dẫn chúng con đi suốt hành trình đức tin để chúng con thoát mọi bóng tối.

                                                                                                         
Lm Trần văn Huyền

 

 
< Trước   Tiếp >
2012 Dòng Anh Em Đức Mẹ Lên Trời.  Our site is valid CSS Our site is valid XHTML 1.0 Transitional