Trang Chính arrow Chuyên Mục arrow Chúa Nhật Thứ 5 mùa Chay năm A
Chúa Nhật Thứ 5 mùa Chay năm A In E-mail
08/04/2011

Ta là Sự sống lại và là Sự sống

Chúng ta thấy rằng Tin Mừng theo thánh Gioan khác rất nhiều so với Tin Mừng Nhất Lãm. Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, theo thánh Mác-cô, theo thánh Luca có nhiều điểm giống nhau, thậm chí có những đoạn văn có cấu trúc câu gần như hoàn toàn giống nhau. Chính vì vậy mà người gọi ba Tin Mừng này là Tin Mừng Nhất Lãm. Trong các Tin Mừng này, Chúa Giê-su hành động nhiều hơn là nói. Khi Ngài nói, thì Ngài lại sử dụng nhiều những dụ ngôn, và Ngài thường nhấn mạnh về đời sống thường nhật của người dân.

Trong khi đó, trong Tin Mừng theo thánh Gioan, hình như Chúa Giê-su hành động ít hơn. Thánh Gioan chỉ tường thuật lại có 7 phép lạ mà Ngài gọi là các dấu chỉ. Nhưng thay vào đó, Chúa Giê-su lại nói rất nhiều. Chúng ta ai cũng biết là Tin Mừng theo thánh Gioan được viết sau cùng, so với Tin Mừng nhất lãm. Tin Mừng này không tường thuật nhiều về cuộc đời dương thế của Chúa Giê-su. Có lẽ, chính vì vậy mà những câu chuyện về những phép lạ được thánh Gioan chép lại thường dài dòng và nhiều lúc khó hiểu. Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, chúng ta cảm thấy rằng cách nói của Chúa Giê-su rất khác so với cách nói của Ngài trong Tin Mừng nhất lãm. Ngài nói giống như một nhà thơ hay một nhà huyền bí.      

Tin Mừng theo thánh Gioan kể lại 7 dấu chỉ mà Chúa Giê-su đã làm đó là : Tiệc cưới ở Cana (2, 1-12), Chữa lành con trai của viên đại đội trưởng (4, 43-54), Chữa lành người bại liệt (5, 1-47), Hoá bánh ra nhiều (6, 1-15), Đi trên mặt nước (6, 16-20), Chữa lành anh thanh niên mù bẩm sinh (9, 1-7), Cho anh Ladarô sống lại (11, 1-45), đây cũng là đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa mới nghe. Tin Mừng theo thánh Gioan cho chúng ta một số chìa khoá cơ bản để hiểu được những khía cạnh của đức tin, đức tin vào Chúa Giê-su. Ví dụ, phép lạ hoá nước thành rượu ở Cana, qua phép lạ đó, Chúa Giê-su biến cái tầm thường trong cuộc sống của chúng ta thành cái tuyệt hảo cho cuộc sống. Khi chữa lành cho người què đi được, tức là Ngài chữa cái khuyết tật của mỗi chúng ta, Ngài làm cho chúng ta vững bước. Ngài nuôi sống chúng ta bằng bánh hoá ra nhiều. Ngài là nước hằng sống. Ngài chữa lành sự mù tối của chúng ta, Ngài cho chúng ta nhìn thấy xa hơn, rộng hơn. Ngài chiếu sáng chúng ta. Ngài là bánh hằng sống.         

Dấu chỉ mà Chúa Giê-su thực hiện hôm nay, trong bài Tin Mừng theo thánh Gioan thì rất là rõ ràng. Anh Ladarô, bạn của Ngài, bị bệnh nặng, và qua đời. Và người ta đã an táng anh trong huyệt mộ. Khi Chúa Giê-su tới, Ngài đã làm đảo lộn trật tự. Ngài ra lệnh cho Ladarô ra khỏi mồ. Anh Ladarô liền trỗi dậy, ra khỏi mồ còn quấn đầy khăn liệm. Ngay lúc đó, Chúa Giê-su công bố : Ta là Sự sống lại và là Sự sống.        

Chúng ta phải hiểu câu chuyện về phép lạ anh Ladarô sống lại hoàn toàn khác với Sự Phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô. Chúa Giê-su cho anh Ladarô trở lại làm kiếp người, tức là trở lại cuộc sống con người như trước đây mà anh đã từng sống. Trong khi đó, Sự Phục Sinh của Chúa thì hoàn toàn khác, Ngài sống lại và sống trong một cuộc sống hoàn toàn mới, hoàn toàn khác với cuộc sống trước đây mà Ngài đã từng sống. Khi anh Ladarô ra khỏi mồ thì thân thể anh vẫn còn vấn đầy khăn liệm và sẽ tiếp tục sống cuộc sống như anh đã từng sống trước đây. Tức là anh sẽ được sống lại trong cuộc sống của kiếp người. Có nghĩa là một ngày nào đó anh sẽ lại chết một lần nữa. Các thượng tế cũng đã họp bàn để giết anh Ladarô khi hay tin Đức Giê-su làm cho anh sống lại. (Ga 12, 11).       

Anh Ladarô đã chết, và người an táng anh như bao người khác. Không ai còn có thể giao tiếp với anh được, kể cả Mát-ta, Maria chị của anh, cũng như những người bạn của anh. Chỉ duy Chúa Giê-su mới có thể giao tiếp với anh, Ngài nói với anh và ra lệnh cho anh ra khỏi mồ. « Ladarô, hãy ra khỏi mồ. » Không biết là tình bạn hay quyền năng của Chúa Giê-su đã giải phóng cho Ladarô khỏi sự chết ? Đoạn kinh thánh mà chúng vừa nghe dường như đề cập tới quyền năng của Chúa Giê-su đã làm cho Ladarô sống lại. Làm cho Ladarô trở lại cuộc sống, tức là Ladarô trở lại cuộc sống hay hư mất của kiếp người. Nhưng mà, kể từ nay, anh sẽ là một con người đứng thẳng, ra khỏi mồ, thoát khỏi sự sợ hãi. Chúa Giê-su yêu cầu người ta « cởi khăn liệm cho anh và để anh đi. » Những hạn từ « thoát khỏi » hay « bó buộc » thường được sử dụng trong các Tin Mừng để diễn tả sự tha thứ cho nhau trong cuộc sống của Giáo Hội. Ra khỏi mồ, anh Ladarô cần được cộng đoàn đón nhận, tức là được gia nhập lại với cộng đoàn. Từ đây, anh sẽ được tự do, cùng lúc được giải thoát và được tự do, quá khứ của anh được tha thứ, giờ đây anh sẵn sàng cho cuộc sống mới, cuộc sống trong tự do mà Chúa Giê-su ban cho anh. Trong suốt câu chuyện, chúng ta không thấy anh Ladarô nói tiếng nào cả, không yêu cầu gì cả, và cũng không tuyên xưng niềm tin của mình, cũng như không nói lên lòng biết ơn của mình đối với Chúa cũng như đối với cộng đoàn. Tuy nhiên, với lời nói của Chúa, anh đã ra khỏi mồ, anh được cộng đoàn đón nhận và anh có thể tự do đi lại. Trong cộng đoàn chúng ta, trong xã hội ngày nay của chúng ta, có rất nhiều những con người sống mà như đã chết. Trong sâu thẳm con người của chúng ta, có một phần của con tim chúng ta được gọi anh Ladarô trong mồ, tức là từ chối cuộc sống, không thích sống, hay sống mà như đã chết.           

Chúng ta thấy có 3 nhân vật chính trong câu chuyện này : Mát-ta, Maria và Chúa Giê-su. Qua đoạn Tin Mừng của thánh Luca kể về việc cô Mát-ta lo lắng phục vụ Chúa mà chúng ta biết rằng Mát-ta và Maria là chị của anh Ladarô (Lc 10, 38-41). Trong câu chuyện hôm nay, cả hai chị em này cùng nói với Chúa Giê-su một lời như nhau : « Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, thì em con không chết. » Sau khi nói những lời đó, Maria khóc nức nở. Trong khi đó, Mát-ta lại khác, cô chứng tỏ niềm tin của cô. « Nhưng con biết rằng, ngay lúc này, Thiên Chúa sẽ nhậm lời Thầy nếu Thầy cầu xin bất cứ điều gì. » (Ga 11, 22). Cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và cô Mát-ta tiếp tục. Mát-ta tin vào sự sống lại trong ngày sau hết. Nhưng Chúa Giê-su nói với cô : « Ta là sự sống lại và là sự sống. » Và cô Má-tta đã tuyên xưng đức tin của mình : « Thầy là Đấng Ki-tô, con tin rằng Thầy là Con Thiên Chúa. » Mát-ta đã chấp nhận cái chết của em mình trong một niềm tin vững chắc. Trong lòng cô, một nổi đau khôn tả, nhưng cô không nổi dậy, cô không kêu gào, cô không khóc. Cô có một niềm hy vọng lớn lao khi gặp được Đức Giê-su Ki-tô.           

Thái độ của Maria thì lại khác. Cũng như chị của mình, cô nói : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, thì em con không chết.” Cô chỉ nói vậy thôi, rồi cô ngồi dưới chân Chúa mà khóc. Cô ngất đi vì đau thương, cô không yêu cầu gì cả, cũng không tuyên xưng niềm tin. Hình như Maria chết lã đi trong đau thương. Trong xã hội ngày hôm nay, chúng ta thấy có nhiều người không còn biết khóc trước người chết. Không còn có cảm xúc thương cảm trước người gặp nạn. Hơn nữa, có những người khi lỡ gây ra tai nạn cho ai đó lại không thèm dừng lại để giúp đỡ. Không những thế mà còn cán cho nạn nhân chết luôn.      

Nhân vật trung tâm của câu chuyện là Chúa Giê-su. Đoạn Tin Mừng hôm nay trình bày một Chúa Giê-su như người Thầy của Sự sống : “Ta là sự sống lại và là sự sống.” Thái độ của Chúa trước hoàn cảnh này thật phức tạp; một mặt Ngài tỏ ra rất bị tổ thương trước cảnh tang thương, mặt khác Ngài lại rất mạnh mẽ trong đức tin.          

Chúng ta thấy rất ít khi Tin Mừng đề cập tới chuyện Chúa Giê-su có bạn bè. Dường như Ngài là một con người huyền bí. Tin Mừng chỉ thuật lại cho chúng ta 3 người bạn của Ngài là cô Mát-ta, cô Maria, và anh Ladarô. Trong cuộc thương khó của Ngài, cô Maria sẽ xức một bình dầu thơm nguyên chất lên đầu Ngài. Chúa Giê-su không vào làng Bê-ta-ni-a ngay lập tức. Mát-ta tới gặp Ngài và sau đó cô Maria cũng ra để gặp Ngài. Khi Chúa Giê-su nhìn thấy cô Maria khóc, thì đoạn tin mừng nói rằng Ngài “thổn thức trong lòng và xao xuyến” (Ga 11,33). Ngài quyết định tới ngôi mộ. Đoạn tin mừng còn nói thêm : “Chúa Giê-su lại thổn thức, và Ngài đi tới ngôi mộ.” (Ga 11, 38). Có một số người, đặc biệt là phái phiếm thần Docétisme, cho rằng Chúa Giê-su sống siêu phàm, nhưng quả thực chúng ta thấy Chúa Giê-su cũng vui, cũng buồn, cũng khóc và cũng đau khổ một cách rất là con người.       

Nhưng Chúa Giê-su còn là một con người hoàn toàn đặt niềm tin tưởng vào Thiên Chúa và phó thác một cách tuyệt đối vào Thiên Chúa cả niềm tin yêu tín thác của mình. Sự đấu tranh của anh Ladarô với cái chết một phần đã nói trước về cái chết của Ngài. Cái chết luôn luôn là cái thách thức cuối cùng của đức tin bởi vì cần phải cá cực tất cả trong Thiên Chúa để được sống. Chúa Giê-su xác tín điều đó. Ngài nói với Mát-ta : “ Nếu con tin, con sẽ nhìn thấy ving quang của Thiên Chúa.” (Ga 11, 40). Sau đó Ngài cầu xin Thiên Chúa Cha với cả niềm tin của Ngài : “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quyanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” (Ga 11, 41-42).        

Chúa Nhật thứ 5 Mùa chay, câu chuyện Ladarô ra khỏi mồ đánh dấu một đỉnh. Đó là một câu chuyện nói về đức tin, đức tin vào Chúa Giê-su, đức tin vào Đấng Phụ Sinh, Ngài chính là Sự sống lại và là Sự sống. Mùa chay là một con đường dẫn tới sự sống, dẫn tới sự đổi mới đức tin, dẫn tới sự ra khỏi mồ. Trong con người của mỗi chúng ta đều có con người Ladarô, là con người từ chối sự sống và co cụm trong sự chết. Trong con người của mỗi chúng ta đều có con người Maria làng Bêtania, lả đi trong đau thương. Trong con người của mỗi chúng ta đều có con người Mát-ta trên đường hướng về đức tin. Trên ngã tư của cuộc đời chúng ta, có Đức Giê-su đang mời gọi chúng ta can đảm sống, ra khỏi sự sợ hãi, giúp chúng ta thoát khỏi xiềng xích gôm cùm để sống như những con người đã được phục sinh. Amen.

Lm Phêrô Trần Văn Huyền, AA

 

           

 

 

           

 

 
< Trước   Tiếp >

Blog Sao Khue

2012 Dòng Anh Em Đức Mẹ Lên Trời.  Our site is valid CSS Our site is valid XHTML 1.0 Transitional