Cầu Nguyện, Một Con Đường Sống In E-mail
26/04/2011

Đối với một người chọn con đường dâng hiến, ai mà chẳng biết đến cầu nguyện. Nhưng vấn đề ở đây là: cầu nguyện như thế nào? Khi nào? Và ở đâu? Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su đã nói: “Đối với tôi, cầu nguyện là sự hướng lòng lên, là cái nhìn đơn sơ hướng về trời, là tiếng kêu tri ân và yêu mến cả trong cơn thử thách lẫn trong lúc vui mừng”. Tôi là một người bước theo Chúa Ki-tô, vì thế, tôi nhìn nhận về đời sống cầu nguyện như thế nào? Nó có quan trọng với tôi hay không? Hay chỉ là một phần nhỏ trog đời sống tu trì của tôi? Cầu nguyện có phải là do thói quen hay là một cách sống của tôi? Khi một người hỏi tôi cầu nguyện như thế nào thì tôi phải trả lời với họ ra sao? Đó là những vấn đề mà tôi đặt ra cho mình và tôi đang đi tìm câu trả lời xác đáng.

 

T

rước đây, tôi chỉ cầu nguyện khi tôi gặp khó khăn và khi tôi cần điều gì. Lúc đó, tôi đâu biết cầu nguyện là gì. Khi cầu nguyện, tôi cứ xin điều này điều nọ thật là nhiều; nghĩa là tôi cần gì tôi xin điều đó. Nhưng một điều chắc chắn mà tôi biết chính là trong cuộc sống, tôi xin điều gì thì tôi có được điều đó, nghĩa là Thiên Chúa đã ban cho tôi những gì mà tôi van nài. Những lúc tôi gặp khó khăn, tôi thường chạy đến với Chúa và Chúa đã mở lối thoát cho tôi. Trong cuộc sống của tôi, tôi cảm nghiệm được rằng Chúa luôn đồng hành và ở bên cạnh tôi những lúc tôi cần đến Chúa, chứ Chúa chưa bỏ mặc tôi bao giờ. Tôi nghiệm thấy được Chúa luôn phù trợ thân tội lỗi của tôi.

Từ khi học về cầu nguyện, tôi hiểu ra được nhiều điều mà mình cần phải có trong đời sống cầu nguyện. Tôi hiểu rằng cầu nguyện là cuộc nói chuyện thân mật và trìu mến với Thiên Chúa; là nhiệm vụ quan trọng nhất trong cuộc sống hằng ngày; đưa ta đến chỗ tương giao gần gũi, thân mật và cá biệt với Thiên Chúa; khi cầu nguyện, cần thực hiện hai điều: dâng lên Thiên Chúa lòng yêu mến và tâm tình thờ phượng và nài xin Thiên Chúa ban cho tất cả những gì cần thiết. Hiểu thì có hiểu nhưng tôi lại không thể nạp được vào đầu nhiều để áp dụng cho cuộc sống hiện tại của tôi, vì tôi đã dùng trí thông minh mà Chúa ban cho tôi để suy diễn mọi vấn đề. Do đó, tôi đã gặp không ít khó khăn để tiếp nhận. Có thể nói, tôi càng ngày càng xa Chúa. Tôi không để ý đến những điều người ta nói về cầu nguyện mà tôi chỉ để ý đến cách nói và thực hành sống của họ. Chính tôi đã dùng sự thông minh của mình để ngăn chặn mình tiến gần Thiên Chúa. Tôi đang đi trên con đường phẳng phiu không có một cái hố sâu nào, nhưng chính tôi đã dùng những suy nghĩ, những tư tưởng để tạo một bức tường chắn giữa đường, khiến tôi khựng lại và không thể đi tiếp. Lúc đó, tôi chỉ thấy được bức tường chắn chứa đựng bao nhiêu là cái tôi to lớn của tôi mà tôi chẳng thấy được sau bức tường chắn là cái gì hay là nó như thế nào? Đẹp hay là không? Đầu óc và đôi mắt thiện cận của tôi không thể đi xa được nữa. Tôi cứ loay hoay tìm cách để phá bức tường đó mà tự mình tôi không thể phá nổi. Tôi đã dùng những gì mình có để phá bức tường chắn đó nhưng nó quá dày và cứng nữa nên tôi đành bó tay. Trong một khoảng thời gian, tôi không làm gì nổi thì tôi đứng ngắm nhìn tác phẩm mà chính tôi tạo ra. Bây giờ chính nó lại gây cản trở và khó khăn cho tôi.

Thế rồi, một ngày kia, khi tôi đang loay hoay với sản phẩm của mình thì tôi được sự giúp đỡ và chỉ cho cách để phá vỡ bức tường chắn đó. Đó chính là cuốn sách mang tựa đề “Giờ dành cho Chúa” (Le temps pour Dieu của l.m Jacques Philippes). Trước khi đến với cuốn sách này, tôi đã có dịp tiếp xúc với một bài viết của tác giả Hạt Cát mang tựa đề “Biết mình”. Bài viết này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc cầu nguyện của tôi cũng như việc biết mình của tôi. Tôi lại nhận ra những điều mình cần qua những gì tôi đọc hơn là những gì tôi được học. Bài viết nói rằng “Để biết mình, con người cần phải soi gương! Không phải là thứ gương trang thủy bình thường mà là gương tâm linh, gương Lời Chúa, để có thể nhìn thấy được những góc khuất tối tăm mà con mắt xác thịt không thể nhận biết. Không hiểu biết về nội tâm của mình, người ta luôn cảm thấy bất ổn, không thoải mái bên trong và dễ bị tổn thương trước những gì xảy ra bên ngoài. Không biết mình, người ta cảm thấy thật khó khăn để nói ra những điều mình nghĩ, nhận thức điều mình muốn, gọi tên những vấn nạn mình có. Không biết mình thì mối quan hệ với người khác trở thành một gánh nặng”.

Tôi mở trang đầu tiên của cuốn sách, cái đập vào mắt tôi lúc này là mục đề “Cầu nguyện không là một kỹ thuật nhưng là một ơn ban”. Để kiên trì trong cuộc sống cầu nguyện, dĩ nhiên ngay từ ban đầu phải tránh những quan niệm sai lầm về cầu nguyện. Chân lý căn bản đầu tiên mà chúng ta cần phải hiểu, nếu không sẽ không thể tiến xa được, đó là việc cầu nguyện không là kết quả của một kỹ thuật, nhưng là một ơn ban nhưng không của Thiên Chúa. Thánh nữ Jeanne de Chantal nói: “Phương pháp cầu nguyện hay nhất là không có phương pháp nào, vì cầu nguyện đạt được không phải là do kỹ thuật, nhưng là do ân sủng”. Tôi cũng tìm thấy những trang đầu của cuốn sách nói về nền tảng của cầu nguyện đó là Ba Nhân đức đối thần. Đức tin được xtôi như là ý hướng và căn bản nhất trong cầu nguyện.

Nhờ ơn Chúa đã soi sáng tâm trí tôi, cùng với Chúa, tôi mới có thể khoan thủng được một lỗ nho nhỏ ở bức tường chắn kia nhưng người tôi không thể đi qua nổi. Tôi muốn nó to mà tôi có thể đi qua hoặc có thể phá vỡ bức tường này càng tốt, vì tôi muốn nhìn thấy con đường phía sau bức tường này có đẹp hay không. Chính tôi muốn tự mình khám phá con đường mà tôi đang đi dang dở. Do đó, mỗi ngày tôi phải cố gắng đập vỡ từng mảnh nhỏ để mở rộng lỗ nhỏ đó càng ngày càng lớn; để tôi có thể đi một cách thoải mái hơn. Nhờ cuốn sách này mà tôi mới có thể đi vào giờ cầu nguyện một cách suôn sẻ hơn, nghĩa là nhờ nó mà tôi biết cách cầu nguyện đúng đắn và tìm được con đường cầu nguyện của riêng mình. Tôi đã thiết lập mối tương quan với Thiên Chúa. Sau đó trong đời sống hằng ngày, tôi cố gắng thiết lập mối tương quan với anh tôi. Khi cầu nguyện, tôi đặt Thiên Chúa làm trung tâm điểm của mọi lời cầu nguyện. Tôi cứ để Thiên Chúa đi vào hồn tôi một cách tự nhiên mà không có sự kháng cự của lý trí nữa. Tôi đã tìm thấy được bình an trong Tình yêu của Chúa. Tôi tìm thấy được nguồn hạnh phúc trong cầu nguyện. Nếu tôi không dùng trí thông minh hay tính kiêu ngạo của mình để ngăn cản Lời Chúa đi vào tâm hồn tôi, thì tôi cảm thấy con người tôi tràn ngập niềm vui và hạnh phúc. Qua đó, tôi mới cảm nghiệm được cầu nguyện là trung tâm điểm của đới sống tu trì của tôi. Khi đó, tôi mới thấu hiểu nhiều điều, những điều mà tôi đã được học. Có biết bao tấm gương cầu nguyện trong Cựu Ước: Tổ phụ Áp-ra-ham, Mô-sê, vua Đa-vít và các ngôn sứ mà tôi có thể học hỏi được. Mỗi người có một cách cầu nguyện riêng không ai giống ai. Tôi học được ở Tổ phụ Áp-ra-ham là cha của những kẻ tin, cho dù hoàn cảnh có như thế nào đi chăng nữa, ông vẫn luôn tin tưởng vào Thiên Chúa. Trái tim ông hoàn toàn suy phục Lời Chúa. Vì ông tin tưởng vào Chúa nên ông luôn cầu nguyện cùng Thiên Chúa, có khi như nói chuyện với một người bạn vậy. Còn ông Mô-sê, cho tôi thấy rằng, nhờ ông sống thân mật với Thiên Chúa thành tín, chậm giận và giàu tình thương, ông đã kín múc được sức mạnh và sự kiên trì để chuyển cầu cho dân. Ông không cầu xin cho bản thân nhưng là cho dân mà Thiên Chúa đã chọn làm dân riêng của Ngài; nghĩa là, ông luôn cầu nguyện cho dân, chứ không cho bản thân ông. Còn vua Đa-vít là vị vua đẹp lòng Thiên Chúa, là mục tủ cầu nguyện cho toàn dân và nhân danh toàn dân, là con người mà sự tuân phục thánh ý Thiên Chúa, việc ngợi khen Thiên Chúa và lòng ăn năn thống hối của ông sẽ là mẫu mực cho việc cầu nguyện của dân. Trước khi làm việc gì, ông luôn cầu nguyện cùng Thiên Chúa, rồi mới đi làm. Khi tôi có một con đường cầu nguyện đúng đắn, tôi đã hăng say trong cầu nguyện hơn. Vì thế, tôi luôn có khao khát đến với Chúa. Tôi không còn coi cầu nguyện là một gánh nặng như trước đây nữa, mà là một cách sống của tôi. Những điều tôi nhận thấy đây không phải tự tôi làm được mà là do ân sủng của Thiên Chúa ban cho tôi qua sự khẩn khoản nài xin của tôi. Tôi cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa dành cho tôi lớn lao dường bao.

Bức tường càng ngày đã được mở rộng hơn và tôi có thể nhìn rõ hơn khung cảnh đằng sau bức tường này, nhưng vẫn chưa rõ ràng cho lắm. chỉ nhìn thôi thì chưa đủ, tôi muốn tự mình khám phá phần con đường nằm sau bức tường chắn này.

Điều mà đánh động tôi nhất trong cuốn sách “Giờ dành cho Chúa”, đó là vấn đề “khiêm nhường giả”. Thánh Tê-rê-xa thành Avila đã nói “Tôi thật bất xứng đến trước mặt Chúa khi tôi không thể dâng cho Người tất cả, đó quả là nhạo báng Người, thà là tôi ngừng cầu nguyện…(Tự Thuật)”. Đây là điều mà tôi nhận thấy tôi có không chỉ trong cầu nguyện mà còn trong cả đời sống của tôi nữa. Nói chung, tôi chẳng nhận ra được điều này ở bản thân tôi, nếu tôi không đọc cuốn sách này; nghĩa là tôi thiếu cái sự khiêm nhường trong mọi hoàn cảnh, trong mọi lĩnh vực. Chính vì điều này mà tôi luôn khặp khó khăn. Khi cầu nguyện, tôi nhận ra những lỗi lầm, những biếng trễ, những bất trung, khô khan nguội lạnh. Tôi nhận thấy sự bất toàn trong con người mình nhưng cố gắng thế nào đi nữa thì tôi cảm thấy không hài lòng; đã cố gắng sửa đổi nhưng vẫn chưa được như mình mong muốn. Do đó, nhiều lúc tôi cũng bị cám dỗ bỏ cầu nguyện. Bởi vì tôi nhận thấy rằng tôi đầy tính hư tật xấu, tôi không tiến được, tôi không thể cải hóa và yêu mến Chúa cách đúng đắn được, đến với Chúa với tâm trạng này quả là giả hình, và tôi nhận thấy tôi chẳng hơn gì những người không cầu nguyện. Dường như tôi đã nóng vội trong cách thực hành sống trong cuộc sống hằng ngày của mình. Chính cái tính nóng vội, muốn là làm cho được nên tôi lại thấy trắc trở trong đời sống cầu nguyện cũng như cuộc sống thường ngày. Tôi đã có ý định bỏ cầu nguyện nhưng tôi không làm được. Không làm được đã đành, tôi lại càng khao khát đến với Chúa. Dường như, tôi hy vọng vào Thiên Chúa nhiều hơn tôi tưởng. Bây giờ tôi cảm thấy rằng tôi giống như người góa phụ quấy rầy quan tòa được nhắc tới trong tin Mừng của Thánh Luca (x. lc 18,1-8).

 Những cuộc gặp gỡ định kỳ đã giúp tôi có thể thông hiểu những vấn đề mà tôi vấp phải. Một linh mục đã nói với tôi: “Để từ bỏ một nết xấu hay rèn luyện một nhân đức không phải ngày một ngày hai mà có được, có khi phải nỗ lực suốt cả cuộc đời; bởi thế mà Chúa đã nói: Ai bền độ đến cùng, kẻ ấy mới được cứu độ. Điều cần bàn là, hôm nay khá hơn hôm qua và ngày mai khá hơn hôm nay là được; khá hơn nhiều hay ít thì không quan trọng”. Thánh Phao-lô nói: “Tôi coi mọi sự đều là thua thiệt trước cái lợi độc nhất là Chúa Ki-tô”. Tôi thấy những điều đó là đúng và tôi đã tìm cách để mình có thể chỉnh sửa được, không còn bi quan. Tôi nhận ra rằng đời tu là đời tìm Chúa, nghĩa là cả cuộc đời của mình luôn luôn tìm thánh ý của Thiên Chúa. Đã nói là đi tìm, tôi có thể gặp và cũng có thể là không. Vấn đề hệ tại nó nằm ở đâu? Đó là chính bản thân của tôi. Tôi đã hiểu rõ mình hay chưa? Chúa đã hứa sẽ nhận lời cầu nguyện của loài người: “Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, và hãy gõ thì sẽ mở cho”. Trong thông điệp Mùa Chay 2001, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II đã nói: “Chỉ có sự cầu nguyện thiết tha và tin tưởng vào Thiên Chúa mới giúp ta chào đón và sống tình yêu của Chúa Ki-tô một cách quảng đại và vui mừng hơn bao giò hết”.

Tấm gương cầu nguyện cho tôi học hỏi suốt cả cuộc đời, đó chính là Chúa Giê-su. Nhìn vào đời sống của Chúa Giê-su, từ khi Chúa còn là niên thiếu cho đến lúc Người chịu chết trên cây Thánh Giá, cả cuộc đời của Người là cầu nguyện. Người sống đời cầu nguyện trong sự kết hiệp với Chúa Cha trong tình yêu, một tình yêu hiến tế chính thân mình để làm giá cứu chuộc con người. Hình ảnh Chúa Giê-su dang tay trên Thánh Giá luôn mãi là tư thế cầu nguyện, mời gọi mọi người bước vào đời sống cầu nguyện với Người, nhờ Người và trong Người để được thông phần vào sự sống mới trong vinh quang của Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần. vào thời niên thiếu, cũng như những trẻ Do Thái khác, Chúa Giê-su cũng phải học cầu nguyện từ Mẹ Maria và Thánh Giu-su, từ lời kinh của dân Chúa nơi hội đường và Đền thờ.

Đặc biệt, là năm 12 tuổi, Chúa Giê-su đã bộc lộ suối nguồn thầm kín trong cầu nguyện bằng tâm tình hiếu thảo với Chúa Cha. Bước vào cuộc sống công khai, Chúa Giê-su cho ta thấy Người thường xuyên cầu nguyện hầu như mọi nơi mọi lúc: nơi cô tịch, trên núi cao, giữa đêm khuya, ngay khi rao giảng và chữa lành bệnh tật. Đặc biệt, Người cầu nguyện trong những thời điểm có tính quyết định trong sứ vụ của mình: chịu phép rửa, chọn 12 tông đồ, biến hình… Lời nguyện của Người luôn là tâm tình chúc tụng, ngợi khen, tạ ơn Chúa Cha trong sự nồng thắm của tình yêu và của sự hiệp thông sâu xa. Tính cách, hành động, thái độ và nội dung rao giảng tuyệt vời của Người cho ta thấy Người bộc lộ những gì sâu kín nhất trong cầu nguyện, bởi vì Người cầu nguyện thế nào, Người cũng sống và thể hiện như vậy. Còn tôi, có thể tôi có tâm tình cầu nguyện với Chúa thật tốt nhưng lại không thể sống đúng với những điều mà tôi đã cầu nguyện. Tôi cứ nghĩ một điều là nếu tôi cầu nguyện tốt thì tôi sẽ sống tốt, nhưng không phải vậy. Cầu nguyện tốt là một chuyện nhưng để sống những điều đó lại là một chuyện khác nữa. Chỉ mình tôi không thể làm nổi mà phải nhờ hồng ân của Thiên Chúa ban cho tôi thì tôi mới có thể sống tốt như lời cầu nguyện của tôi được. Tôi tin rằng Chúa sẽ làm tôi trở nên tốt hơn trong đời sống cầu nguyện cũng như trong đời sống thường ngày của tôi nếu tôi tin tưởng, phó thác mọi sự cho Chúa.

Trong thời gian cuối cuộc đời của Chúa Giê-su, việc cầu nguyện của Người đạt tới đỉnh cao khi mà cầu nguyện và tự hiến chỉ còn là một. Người đã chu toàn ý định yêu thương của Chúa Cha cho đến cùng, bằng cách mang vào mình mọi lo âu thống khổ và tội lỗi của nhân loại, cũng như mọi lời van xin và chuyển cầu sâu thẳm nhất  trải dài trong toàn thể lịch sử cứu độ. Trong giây phút cuối cùng, Người đã hoàn toàn phó thác vào tay Chúa Cha và dâng lên Chúa Cha tất cả. Chúa Cha đã đón nhận Người trong vinh quang, vượt quá mọi niềm hy vọng khi Người sống lại từ cõi chết. Chúa Giê-su là Chúa mà còn cầu nguyện liên lỉ như thế. Còn tôi, chỉ là một tội nhân trước mặt Chúa mà tôi không thể nào tạ ơn, chúc tụng Thiên Chúa bằng việc cầu nguyện sao?

Tôi nhận thấy rằng để cầu nguyện tốt với Thiên Chúa thì trước tiên phải có tính khiêm nhường; nghĩa là để cho Lời Chúa đi vào tâm hồn tôi một cách tự nhiên mà không có sự ngăn cản nào. Có như thế thì tôi mới có cuộc nói chuyện thân tình với Thiên Chúa được. Khi đó, tôi mới có thể để Chúa đi vào tâm hồn tôi, biến đổi tâm can tôi từng ngày trong cuộc sống. Tôi có điều đó thì tôi mới có thể nâng tâm hồn mình lên cùng Thiên Chúa, là nguồn mạch tình yêu. Thánh Tê-rê-xa thành Avila đã quả quyết “Tất cả tòa nhà cầu nguyện được xây dựng trên nền tảng khiêm nhường”. Thực tế, cho tôi thấy rằng tôi nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống của tôi, thì cuộc sống tôi sẽ tốt đẹp hơn, an bình hơn và hạnh phúc hơn. Nếu ngày nào, giờ nào hay giây phút nào, tôi nghĩ đến Thiên Chúa thì ngày đó, giờ đó và giây phút đó tôi tràn ngập niềm vui và trào tràn nguồn ân sủng mà Thiên Chúa ban cho tôi. Nhưng cuộc sống muôn màu muôn vẻ, nó không đi theo một lối suy nghĩ của tôi mà đó là Thiên Chúa tạo dựng từ muôn đời muôn thuở và nó mãi là như vậy.

Lạy Chúa, cuộc sống con sẽ đi về đâu nếu từng ngày đời con vắng Chúa? Bao công việc con làm có ý nghĩa gì nếu lòng con xa Chúa? Bao điều con đạt được có giá trị gì nếu tâm hồn con thiếu Chúa? Bao điều con hiểu biết có ích chi nếu trí con bên ngoài Chúa? Bao điều con tìm kiếm có lợi gì nếu bản thân con không gặp Chúa? Tất cả chỉ là trống rỗng nếu không có Chúa ở trong con. Mọi cái chỉ là hư vô nếu con không ở trong Chúa. Ai sẽ cứu độ con há chẳng phải là Ngài? Lạy Chúa, một mình Chúa con mãi đợi trông, một mình Chúa luôn khát mong. Tâm hồn con tháng năm mòn mỏi như đát đai khô cằn trông trời mưa rơi. Mỗi ngày xin cho con biết đặt mình bên cạnh Chúa, được sống với Chúa, được nhìn ngắm Chúa, được lắng nghe tiếng Chúa, được gặp gỡ Chúa, và được chìm sâu trong Chúa, Đấng cứu độ con.

 

M.Augustin

 
< Trước   Tiếp >

Blog Sao Khue

2012 Dòng Anh Em Đức Mẹ Lên Trời.  Our site is valid CSS Our site is valid XHTML 1.0 Transitional