Trang Chính arrow Chuyên Mục arrow Suy Tư arrow Con người sống giữa thiên nhiên
Con người sống giữa thiên nhiên In E-mail
29/01/2010
 Con người sống giữa thiên nhiên, đó là phạm trù không thể thiếu được khi suy tư về đời sống của con người. Bởi vì khi con người nhìn lại chính mình và những tác động vào sự sinh tồn của họ thì con người nhận ra rằng, thiên nhiên phụ thuộc vào con người và con người phụ thuộc vào thiên nhiên, đến nỗi người ta ví mối quan hệ này như máu chảy đến từng bộ phận trong cơ thể.

Quả vậy, để có được một suy tư đúng đắn, việc đầu tiên chúng ta phải làm đó là quan sát thiên nhiên vây quanh, đặt những câu hỏi trước các hiện tượng phức tạp của thiên nhiên. Dĩ nhiên, không thể làm việc này trong một sớm một chiều nhưng phải mất cả hàng chục, hàng trăm thế kỷ mới đưa ra được một số định luật sơ đẳng như: Archimède (287 – 212) tìm ra sức đẩy của nước, Newton với định luật vạn vật hấp dẫn (1687), James Watt (1736 – 1819) khám phá và áp dụng định luật sức đẩy hơi nước nóng… Và ngày nay con người đã tiến rất xa trong việc khám phá các định luật của thiên nhiên. Tuy nhiên, chỉ có khám phá thôi thì chưa đủ, con người còn có khả năng và nhiệm vụ vừa tác động vừa chế ngự thiên nhiên bằng nhiều phương thế khác nhau.

Cũng như mọi sinh vật, từ buổi đầu xuất hiện, con người đã tác động vào môi trường xung quanh để tồn tại. Những tác động sơ khai này hầu như không đáng kể để biến đổi thiên nhiên. “Ngôi nhà của họ cũng hết sức đơn sơ, giản dị: vách đá, thềm sông, hang động, hốc cây, mái tranh, túp lều… để cư trú qua đêm, tránh lúc mưa to gió lớn, thú dữ tấn công… Sau đó con người dần dần biến thành kẻ độc tôn chiếm đoạt nguồn lương thực, tài nguyên. Từ đó tác động vào môi trường thiên nhiên ngày một gia tăng, nhà ở đã có dáng vẻ hình hài, kết cấu chắc chắn, và đây được coi là những tác phẩm có nét văn hóa đầu tiên của con người. Nhưng chỉ đặc biệt từ trước và sau Công Nguyên, nhất là trong thế kỷ 20, con người đã hoàn toàn kiểm soát môi trường sống, bằng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vượt bậc và nhân tố xã hội hóa cao đã tác động làm cho hiệu lực của chọn lọc tự nhiên nhanh chóng chuyển sang hệ sinh thái người, tức là môi trường bị biến đổi sâu sắc. Đánh dấu thành quả của giai đoạn này là hàng loạt công trình thế kỷ đã ra đời mang tầm vóc thời đại, nhưng kéo theo đó là hàng loạt những lo âu, trăn trở của con người khi nhìn lại vấn đề mối quan hệ giữa con người vói thiên nhiên.
 
Quả thế, vào buổi sơ khai, khi con người nhìn vào những năng lực của thiên nhiên thì con người thường có thái độ sợ sệt, tự coi mình là dốt nát, không hiểu biết và bất lực. Từ đó đã xuất hiện xu hướng bái vật, thờ thần. Nhưng ngày nay, trước sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và việc tìm ra được những định luật của thiên nhiên, con người đã chế ngự và đứng vững trước một vũ trụ bao la bát ngát. Bên cạnh đó, con người còn tự cho mình là ông chủ của thiên nhiên để rồi không tôn trọng và thiếu sự bảo vệ nó. Và đây là một trong những nguyên nhân làm cho con người đã có những cách nhìn, cách nghĩ không đúng với sự phát triển của thiên nhiên.
 
Ví dụ như:
-         Thế giới có tài nguyên vô tận, cho phép con người sử dụng, không cần phải để dành cho các thế hệ mai sau.
-         Thiên nhiên là một cái gì đó chế ngự, công nghệ trở thành những công cụ để con người chinh phục thiên nhiên. Thế nhưng, chính điều này lại mâu thuẫn với sự phát triển bền vững, vì phát triển bền vững không có nghĩa là con người phải chế ngự thiên nhiên nhiên mà phải tôn trọng sự tồn tại và phát triển của thiên nhiên như là một tất yếu.  

Thật vậy, chúng ta không nên phản bác hay lên án sự phát triển của khoa học kỹ thuật bởi vì sự phát triển này là một sản phẩm kỳ diệu của óc sáng tạo. Tuy nhiên, đi kèm với sự chấp nhận này, chúng ta không quên tham chiếu công nghệ khoa học với việc tôn trọng con người và các sinh vật khác, đến nỗi, khi cần phải thay đổi điều gì đó nơi chúng, con người phải xét tới bản chất của mỗi hữu thể và những mối liên kết hỗ tương của hữu thể ấy trong một hệ thống đã được sắp đặt. Như thế, phải thừa nhận những khả năng đáng nể của công trình khoa học đang gây ra nhiều điều lo ngại, trong khi chúng ta chưa ở trong vị thế sẳn sàng để tiếp nhận các sự đảo lộn trong sinh học do vận dụng khoa di truyền một cách thiếu thận trọng và do phát triển một số hình thức mới của một số thực vật và động vật một cách bừa bãi.
 

Chúng ta biết, ngày nay tình trạng tăng dân số, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng dẫn đến “đất chật người đông” và “tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt” – “người khôn của khó”, các chất phế thải tràn ngập làm thiên nhiên bị ô nhiễm ngày càng thêm trầm trọng. Điều này đồng nghĩa với sự phát sinh thiên tai, bệnh tật. Bước ra khỏi cửa là bụi, là ồn ào, là không khí cay nồng, ngột ngạt, nước sạch ngày một khan hiếm, bữa ăn chẳng hề được yên tâm vì nạn thực phẩm nhiễm khuẩn, nhiễm độc từ phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo quản, pha chế…
  
Như vậy, để có được một sự hiểu biết đúng đắn khi con người nhìn vào thiên nhiên và những giá trị của nó, điều trước tiên phải nhìn nhận đó là: Phải coi thiên nhiên là một huyền nhiệm: Đây là công của phong trào triết học hiện sinh hữu thần. Phản ứng lại chủ nghĩa duy lý quá trớn trong phạm vi khoa học, chủ nghĩa này cố làm công việc tìm tòi ra được một hình ảnh về thiên nhiên, tìm một quan niệm duy nhất có thể bao quát được tất cả để thiên nhiên trở thành một toàn khối và tự đóng kín trong mình. Công việc này tuy là một nhu cầu tự nhiên và chính đáng nhưng đây lại là một sai lầm mà cho tới ngày nay người ta mới khám phá ra rõ rệt. Bởi vì thiên nhiên thực sự bao la và huyền diệu, những gì con người biết chỉ là một phần rất nhỏ của những bí mật và những vẻ phong phú, mặc dầu khoa học mỗi ngày một khám phá thêm trên cả ba bình diện vật lý, sinh học và tâm linh.
 

Thứ hai, con người phải nhìn vào thiên nhiên bằng chiều sâu. Thật vậy, nhìn vào chiều sâu là một cuộc thám hiểm thiên nhiên theo tính cách triết học, phân biệt với việc khảo sát có tính hoàn toàn khoa học. Khi nhìn vào chiều sâu như vậy, con người coi thiên nhiên như là một rừng biểu tượng.  Bởi vì đây là cái nhìn của triết gia lẫn thi sĩ. Con người không thể nhìn thiên nhiên như là một tổng thể các hiện tượng, cũng không thể nhìn thiên nhiên như toàn bộ vật thể với cơ cấu lý hóa, hoặc với cơ cấu siêu hình. Nhưng là nhìn thiên nhiên như là biểu tượng, có nghĩa là nhìn nó trong tương quan với cái gì khác nó, và vượt lên trên nó.


Tóm lại, con người suy tư về môi trường mình sống, một môi trường hết sức phức tạp, đa dạng, có lúc thuận lợi nhưng cũng có lúc đối nghịch với mình. Tuy nhiên, để làm biến đổi chính mình và làm biến đổi thiên nhiên, con người phải lao động. Chính lao động là một tiến trình giúp con người gắn kết với thiên nhiên và qua đó thiết lập nên một sự chuyển hóa chất liệu. Và như vậy, nếu như con người can thiệp vào thiên nhiên bằng việc lao động mà không lạm dụng hay phá hoại thiên nhiên thì chúng ta khẳng định một điều chắc chắn rằng, con người can thiệp không phải để làm thay đổi cho bằng tạo điều kiện cho thiên nhiên phát triển theo sự sống riêng của chính mình, sự phát triển của thụ tạo mà Đấng Tạo Hóa đã nhắm tới.
 
Fx. Phan Dương
 
< Trước   Tiếp >
2010 Dòng Anh Em Đức Mẹ Lên Trời.  Our site is valid CSS Our site is valid XHTML 1.0 Transitional