SÁCH LINH THAO CỦA CHA D'ALZON

Văn Hào chuyển ngữ

 

Lời tựa

 

    Cha d'Alzon nói rơ về điểm riêng biệt, về nội dung và về cách sử dụng sách linh thao này.

 

       Các con quí mến,

 

           Nét độc đáo sách linh thao của chúng ta: Hướng dẫn linh thao mà cha viết cho các con đây là hoa quả sau bao lần quan sát từ nhiều năm nay. Cha hay để ư đến một số sự kiện trong sự quan pḥng đă góp phần tạo nên một hướng dẫn đặc biệt cho sự phát triển của Hội Ḍng : v́ vậy giống như mỗi tu sĩ qua việc khấn hứa, chúng ta có những đặc tính riêng với tư cách là tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời.

         Điều đó không có ǵ ḱ diệu, nhưng các con cần phải tin, nếu như gia đ́nh ta, dù có khiêm tốn đến mấy, được Thiên Chúa ước muốn, phải có một mục đích và ta phải hướng về mục đích ấy. Chính nhờ học hỏi tư tưởng của việc lập Ḍng, các con thăng tiến theo sự toàn thiên mà các con được mời gọi để trở thành. Hướng dẫn linh thao trong tay các con có chủ đích làm cho việc ấy dễ dàng hơn trong cả cuộc đời.

 

 Những quan sát ban đầu: Để hiểu rơ cách sử dụng, cần thiết có ba quan sát sau:

 Quan sát thứ nhất là phải xem đây như chỉ là bài b́nh luận về luật tu ḍng, nếu bỏ xa việc này th́ sẽ cần phải biết là các con đang đi ngược lại mục đích đề ra.

 Quan sát thứ hai là việc muốn dạy các con theo những ư định và tinh thần nào các con phải tuân theo những điều bắt buộc của riêng các con, để luôn luôn là sống động nhờ tư tưởng siêu nhiên.

 Quan sát thứ ba là mặc dù Luật Ḍng nói với những thành phần của Hội Ḍng nói chung, bài linh thao th́ lại nói riêng với mỗi tu sĩ, nói với mỗi một tâm hồn riêng biệt trong sâu thẳm trái tim để chỉ dẫn cho nó những cảm t́nh ăn sâu vào trong mỗi người, những đức tính cần vun đắp trong thầm lặng như trong mối tương quan thân mật với Chúa.

 

Lời tŕnh bày bài linh thao: Được chia thành chương nhỏ theo những nguyên tắc, qua đó rút ra một vài hiệu quả thực tiễn dưới dạng kiểm điểm lại. Với sự tin tưởng nhờ đó có thể giúp cho những người sử dụng khi để dưới mắt họ, theo cách rơ ràng hơn, phương cách thâu lược những đức tính bị xem như không thể có, sửa chữa những nhược điểm mà họ muốn bỏ đi; qua đó giúp họ việc làm nội tâm và suy tư cá nhân nếu không mọi việc đều không hữu ích.

          Sách này sẽ được chia làm ba phần: phần một nói về đặc tính của Ḍng; phần hai nói về những đức tính của người tu sĩ; phần ba nêu lên những phương cách thánh hóa hầu giúp mọi người để trong cuộc sống trở nên hoàn thiện hơn mà các con đă có, và ư định siêu nhiên theo đó các con phải tuân theo những bắt buộc chính của luật Ḍng.

 Nếu các con đọc những bài linh thao nhỏ bé này hơi vội vàng, các con sẽ nhận thấy một số điều lập lại; nhưng nếu các con suy niệm từng phần một, các con sẽ hiểu điều đó cần thiết, ít ra cũng hữu ích biết bao khiến các con suy nghĩ về một số điểm như là nền tảng của đời sống tu sĩ.

 Lạy Chúa xin vui ḷng chúc lành cho những bài viết này mà các con là những người bắt chước, những dụng cụ và nhờ Mẹ Thiên Chúa, và làm cho các con t́m được niềm khát khao lớn lao hơn, hầu đạt đến mọi sự thánh thiện mà các con được mời gọi!

                                      

                                                                                               E D'ALZON

 

 

                   PHẦN MỘT: TINH THẦN CỦA D̉NG MẸ VỀ TRỜI

 

Chương một

 

 TINH THẦN CỦA D̉NG

 

         Ḍng Mẹ Về Trời đặc biệt dâng hiến cho Thiên Chúa. Việc thờ phượng dành cho Ngài trong sâu thẳm nhất của hữu thể Ḍng triển nó cách tự nhiên trong t́nh yêu Mẹ Đồng Trinh, Mẹ của Ngài và của Giáo Hội, hiền thê của Ngài. Ba đối tượng này trong t́nh yêu đối với Thiên Chúa, với Mẹ Đồng Trinh và với Giáo Hội h́nh thành nên, đối với Cha d'ALZON, một trong những đặc thù của tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời.

 

Tinh thần Ḍng Mẹ Về Trời tóm lược trong mấy từ sau : yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Đức Mẹ Đồng Trinh, Mẹ Ngài, và yêu mến Giáo Hội, Hiền thê của Ngài (3) . 

 

Yêu mến Thiên Chúa : Theo phẩm chất tu sĩ, cha đặc biệt là tôi tớ của Đức Giê Su Ki Tô, mọi sự quí mến của tâm hồn, mỗi sức mạnh của con người cha phải hướng về Ngài ; Ngài là cuộc sống của Cha : " Mihi vivere Christus est. Le Christ est ma vie) ".

  Đức Giê Su Ki Tô có phải là tất cả của đời tôi ? … Có phải là điều duy nhất tôi ao ước ?... Tôi có sẵn sàng hy sinh tất cả cho Người ? Có phải tôi chỉ hướng duy nhất về Ngài mà thôi ? Phải chăng tôi không c̣n vương vấn đến ǵ khác ? … Trái tim tôi có hoàn toàn tự do không ? … T́nh cảm của tôi không hướng về một ai đó chăng, hay hướng về một cái ǵ khác khiến t́nh yêu dành cho Giê Su bị trở ngại nơi tôi ?...

 Tự do tuyệt đối nhất nơi trái tim tôi là cần thiết, và khi nào tôi chưa có được tự do ấy, tôi sẽ không phải là tu sĩ Ḍng Mẹ về Trời.

 

         Yêu mến Mẹ Đồng Trinh và Giáo Hội : Tôi không chỉ không nên gắn bó với những ǵ cản trở tôi yêu mến Chúa Giê Su hết sức, hết ḿnh, nhưng c̣n phải yêu mến tất cả những ǵ Ngài đă yêu thương nhất v́ t́nh thương của Ngài. Vậy nhưng, hai t́nh cảm lớn lao nhất của Thiên Chúa khi ở trên trần gian là Mẹ Maria, Mẹ Người, và Giáo Hội, Hiền Thế của Người, nhờ máu của Người.

 

 Đâu là ḷng sùng kính của tôi đối với Mẹ Maria ?... Tôi có thể nói là con của Mẹ không?...Đến lúc này tôi đă làm ǵ để tôn kính Mẹ trong đời sống thực tiễn ?...Ḷng sùng kính của tôi không phải chỉ tỏ hiện trong một vài công thức và chút t́nh cảm khó khăn hay sao ?...Tôi có ư tưởng đầy đủ trong tương quan tuyệt diệu có thể tồn tại giữa Mẹ Maria và tôi, nhờ Đức Giê Su, Thầy tôi ?...

 

 Sau Mẹ Người, Chúa Giê Su đă không yêu thương ǵ hơn bằng Giáo Hội của Người. Giáo Hội là Hiền Thê của Người, là thân thể của Người. Giáo Hội của Chúa Giê Su Ki Tô là ǵ đối với tôi, và đến giây phút hiện tại này, Giáo Hội đă tạo cho tôi những t́nh cảm yêu thương nào ?...Tôi làm ǵ cho Giáo Hội ? Tôi đă làm chứng ǵ về Giáo Hội ?

 

Chương II : Yêu mến Thiên Chúa chúng ta.

 

         Chúa chúng ta là gương mẫu tuyệt vời đối với mỗi đời sống nội tâm, trước hết với tư cách là Thiên Chúa, bởi v́ đời sống nội tâm là một phần của đời sống Thiên Chúa ; tiếp đến với tư cách là Con Người, bởi v́ trong nhân loại tính rất thánh của Người phản ánh mọi sự toàn thiện thiêng liêng. Đó là lí do Cha d'ALZON dành ba chương để nói về t́nh yêu Thiên Chúa.

 

T́nh yêu đối với Thiên Chúa đ̣i hỏi :

1. Tôn thờ Ba ngồi rất thánh trong đó v́ là Thiên Chúa nên chỉ h́nh thành lên một bản chất ; 2. Cách hiện diện của Thiên Chúa ; 3. Học tập về nhân loại tính rất thánh của Người mà tôi phải áp dụng để xây dựng tính cách ; 4. Tôn thờ bí tích thanh thể trên bàn thờ nơi Ngài luôn hiện diện v́ là Thiên Chúa thật và là Người thật.

 

                   Tôn thờ ba ngôi.

 

              Trong Chúa, chúng ta đặc biệt yêu mến Thiên Chúa. Yêu mến Thiên Chúa là yêu mến Người v́ Người ngự bên các tạo vật : tôn thờ là thái độ đầu tiên mà t́nh yêu Chúa chúng ta mặc lấy. Chúng ta tôn thờ Chúa Cha trong Con của Người, Đấng mặc khải và trong Thần Khí yêu thương được ban tặng cho chúng ta : Ba Ngôi cao cả vui ḷng cho chúng ta thông phần vào trong tương quan mật thiết ấy.

 

Tôi có đủ tin rằng Chúa Giê Su KiTô là Thiên Chúa của tôi ?...Nếu tôi đủ tin, tại sao tôi không thoát khỏi vực thẳm chia cắt sự toàn thiện của Người khỏi hữu thể hư nát của tôi ?...Tại sao tôi c̣n là một kẻ kiêu căng khi đối diện với một Đấng toàn nặng như thế ?...

 

Tôn thờ Chúa Cha : Chúa Giê Su Ki Tô là Thiên Chúa của tôi, và Người đă xuống thế là chỉ để dạy tôi tôn thờ Cha Người trong thần khí và sự thật, sau khi đă ḥa giải thế gian với Đấng tạo hóa bị xúc phạm. T́nh cảm nào của tôi đối với Thiên Chúa Cha, tác giả và là nguyên lí của mọi điều tốt lành và của mọi ơn toàn thiện ?...Tôi có ư tưởng ǵ về sự thành kính, về việc tôn thờ, về sự chúc lành, về danh dự mà tôi mắc nợ Người, trong sự hiệp nhất với việc tôn thờ và với vinh quang mà Con Một Người đă làm.

 

Tôn thờ Chúa Con : Sự sống đời đời của các thiên thần và các thánh nhằm để biết Thiên Chúa thật là Đấng duy nhất và Chúa Giê Su Ki Tô được Ngài sai đến để tỏ hiện cho loài người. Có sự nhận biết nào mà tôi không nhờ vào Đấng cứu độ với một ơn gọi tuyệt vời như thế ?...Cho đến hiện tại, tôi đă làm chứng điều đó ra sao ? C̣n bây giờ, tôi muốn làm chứng cho Người như thế nào ?... "Thiên Chúa Cha đă yêu thế gian đến nỗi đă ban con một của Người"; khi nào tôi có thể trao tặng toàn thể con người tôi cho Chúa một cách không khép kín và không sớt chia, trong sự hiệp thông với con của Người và trong t́nh yêu mà người Con thắp lên trong tâm hôm tôi nhờ Thánh Thần?

 

Tôn thờ Thần Khí: T́nh yêu hợp nhất Chúa Cha và Chúa Con là chính Thiên Chúa, và chính nhờ t́nh yêu này, tức là Thánh Thần, mà tôi có khả năng yêu mến Thiên Chúa; " bởi v́ t́nh yêu Thiên Chúa đă tuôn tràn vào trong tâm hồn của chúng ta nhờ Thần Khí được ban cho chúng ta". Thiên Chúa Cha đă ban tặng Con Một của Người cho tôi; Chúa Con đă hiến ḿnh v́ tôi và đă ban cho tôi chính t́nh yêu đă kết hiệp Ngài với Chúa Cha; Người đă biến tôi thành đến thờ của t́nh yêu ấy. Tâm hồn tôi là nơi Người trao đặt t́nh yêu của Người, tức là Thiên Chúa. Trái tim tôi phải là ǵ và tôi sẽ t́m thấy ở đâu lúc này một nơi chốn mà t́nh thương không được đốt cháy bởi t́nh yêu của Thiên Chúa ?

 

 Kết luận : Thiên Chúa Cha, khi đă tạo dựng nên tôi, đă ban cho tôi con của Người. Chúa Con trao tặng cho tôi để dạy tôi nhận biết và tôn thờ Cha của Người, và ban Thần khí cho tôi, tức Thiên Chúa, Đấng sẽ phù trợ tôi v́ tôi không nhận biết và kêu lên trong tôi : " Lạy Cha, lạy Cha ! ". Nhưng đến bao giờ tôi mới bước vào trong sự sống mới này ?...Đến bao giờ tôi sẽ để cho suối nguồn t́nh yêu là ba Ngôi rất thánh tuôn tràn trong tôi ?...đến bao giờ tôi sẽ trở về với Chúa Cha, với Chúa Con, và với Thánh Thần, nhờ Đức Giê Su Ki Tô, cùng với Đức Giê Su Ki Tô và trong Đức Giê Su Ki Tô ?...Đến bao giờ tôi sẽ dâng lời chúc tụng mọi danh dự, mọi vinh quang, trong thời gian và đến muôn đời (5) ?

 

 

 

               Chương III : Cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa.

 

         Tôn thờ những sự toàn thiện vô cùng của Thiên Chúa và chiêm ngưỡng những công tŕnh của Người qui tụ chúng ta trong một cảm nhận quen dần về sự hiện hữu của Thiên Chúa : dấu chỉ t́nh yêu đích thực của Chúa chúng ta và nguồn đảm bảo cho sự thăng tiến thiêng liêng.

 

Tôi phải không ngừng nghĩ đến yếu tố ảnh hưởng đến tâm hồn tôi. Nếu tôi yêu mến Chúa, tôi phải không ngừng nghĩ đến Người ; nhưng v́ Người là Thiên Chúa, đặc biệt v́ chính Người là Chúa nên tôi phải không ngừng mang lấy tư tưởng của Người hiện diện trong tâm trí và tâm hồn.

 

 Những sự toàn thiện của Chúa chúng ta : Chúa Giê Su là Thiên Chúa của tôi, và v́ là Chúa, Người là sự trọn hảo của hữu thể tôi : " Trong Người, chúng ta có sự sống, hơi thở, và mọi sự ; chính trong Người, chúng ta sống, cử động, và hiện hữu".

 Người lạ sự toàn thiện vô cùng, sắc đẹp tuyệt hảo, và sắc đẹp ấy của Người, Người ghi dấu vào tâm hồn chúng ta : " ánh sáng Người được ghi dấu vào tâm hồn ta ". Vậy nhưng, tội lỗi đă làm do bẩn tâm hồn được tạo dựng theo h́nh ảnh của Người, và phương cách tốt nhất để lấy lại nét đẹp bị đánh mất là ẩn ḿnh dưới gánh nặng của hư không và đến với hồng ân của Chúa nhờ luôn luôn chú tâm đến sự hiện diện của Thiên Chúa.

 

 Thiên Chúa là điều thiện hảo tối cao của tôi ; v́ thế tôi phải t́m cách tiếp cận Người ; hạnh phúc của tôi chính là có Người.

 

Cuộc sống tôi trong sự hiện hữu của Chúa : 

a) Sự trọn vẹn của hữu thể loài người ! Tôi có quen với sự hiện diện của Thiên Chúa ?...Tôi có ở trong sự hiện diện của Người bằng cảm nhận là tôi nhờ Người mọi sự ?...Khi nào c̣n có thể hiện hữu nhờ đức tin, tôi chấp nhận sự toàn vẹn của Người không, và nếu tôi có thể tin như vậy, tôi có chấp nhận sự toàn vẹn của hữu thể hư nát của tôi không ?...Tôi đă suy nghĩ đủ rằng thể xác, những giác quan, tâm hồn, minh trí, tất cả đều bởi Người mà có, tồn tại nơi Người và sẽ không c̣n tồn tại khi ư muốn vô tận Người không muốn ?...

  Tôi không đụng chạm đến ǵ khác ngoài công tŕnh của Thiên Chúa, ngoài sự sở hữu Thiên Chúa. Mọi sự gợi tới Thiên Chúa hay ít ra cũng nhằm để nhắc nhở Thiên Chúa trong tôi.

Tôi có trung thành với con đường này của mỗi tạo vật, con đường dẫn về với tác giả của nó ?...Trong sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng luôn nh́n thấy tôi, tôi có sự kính trọng nào ?... Với t́nh yêu và sự nhận biết nào khi tôi ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng đă ban mọi sự cho tôi ?...

 

b) Sắc đẹp vô tận ! Thiên Chúa là sắc đẹp vô tận, và sắc đẹp ấy, Người đă muốn khắc ghi vào tâm hồn tôi ; nhưng tội nguyên tổ đă phá đi một lần, tội lỗi hiện tại phá hủy mỗi ngày. Trong ḷng tốt không thể xóa nḥa của Người, Người muốn trả lại cho tôi sắc đẹp nguyên sơ ấy, nhờ hồng ân của Người, và Người cũng muốn làm việc để mặc lại sắc đẹp ấy cho tôi nhờ cố gắng của tôi ; nhưng để làm việc đó, Người muốn tôi tiếp cận Người, và khi học hỏi những sự toàn thiện của Người, tôi ghi lại trong ḿnh với tất cả khả năng có được, nhờ những đức tính mà tôi phải đạt được.

 Tôi đă làm việc ấy chưa ?...Tôi có trông mắt nh́n ngắm tấm gương của Thiên Chúa để cứu chữa những tàn phai của hồn tôi khi bắt chước Người ?...Tôi có cố gắng, tôi có học tập để hiệp nhất với Thiên Chúa bằng tư tưởng, để rồi gắn chặt với Người, tôi chỉ c̣n là thần khí với Người, theo lời của Tông Đồ Phao Lô ?...

 

c) Điều thiện tối cao ! Thiên Chúa là sự tốt lành tuyệt vời nhất, điều thiện tối cao ; hạnh phúc của tôi là sở hữu Người muôn đời. Nhưng nếu hạnh phúc lớn lao của tôi là trong việc sở hữu điều thiện như vậy, sao tôi lại không bận tâm nữa đến nó ngay hạ giới này, sao tôi luôn luôn không nghĩ đến nó ?...Sao tư tưởng của tôi lại lạc lỏng nơi khác ?...Tại sao, để có ơn ban tặng tuyệt hảo, tại sao chính tôi lại không trở thành hoàn hảo ?...

 

 Lạy Chúa, xin cho con không ngừng bước đi với sự hiện diện của Chúa, và như thế con đạt đến sự toàn thiện !

 

                        Chương IV : Thần Khí Chúa chúng ta

 

         Chính nhờ nhân tính rất thánh của Con Người mà Thiên Chúa in dấu trong linh hồn chúng ta nên giống với Ba Ngôi đáng tôn thờ. Nếu đặc tính thứ nhất của sự toàn thiện ở trong việc thờ phượng Thiên Chúa cách tuyệt đối nhất, đặc tính thứ hai của sự toàn thiện là sự bắt chước sắc đẹp và những sự toàn thiện của Thiên Chúa, nhờ Chúa Giê Su Ki Tô. Việc đam mê học thuyết, học mầu nhiệm và hành vi của Người nhằm để chúng ta nắm bắt được thần khí phải trở nên sự quan tâm bền bỉ của ta.

 

Để yêu mến Chúa Giê Su Ki Tô, cần phải biết Người, và để biết Người, cần phải t́m hiểu học hỏi những sự toàn thiện của Người. Những điều đó được mạc khải cho chúng ta trong Thánh Kinh, mà mục đích cuối cùng là Chúa Giê Su Ki Tô: Cứu cánh của luật chính là Đức Kito.

 

 Tôi có thể học hỏi về Đức Giê Su Ki Tô, hoặc là trong học thuyết, hoặc là trong những mầu nhiệm, hoặc là trong những hành vi của cuộc đời Người.

 

1. Học thuyết: Tôi sẽ t́m thấy hoặc trong những lời riêng của Người, hoặc trong những giảng dạy của các Tông Đồ để lại. Chúa Giê Su Ki To bởi là Thiên Chúa nên Người là sự thật vĩnh hằng, la Lời tuyệt hảo, càng suy niệm sự thật ấy, tôi càng gần gũi Người, gần gũi chính Thiên Chúa.

 Đức Giê Su Ki Tô đă đến trần gian để mang đến cho tôi ánh sáng và sức mạnh như là sự trợ giúp tôi đến với Chúa, (mỗi nỗ lực của tôi phải hướng đến hoàn thiện sự hiệp nhất này, bởi đó là cứu cánh của định mệnh siêu nhiên, và cứu cánh ấy được thực hiện nhờ hồng ân Đấng Cứu Độ.

 

Cho đến giây phút hiện tại, tôi đă có tôn trọng nào đối với những giảng dạy của Đức Giê Su Ki Tô?...Tôi đă biến đổi Tin Mừng trong trường hợp nào?...Tôi đă đọc Tin Mừng với cảm giác nào?...Tôi đă đánh giá ḷng nhân từ của Vị Thiên Chúa không thỏa măn khi nhập thể nơi một con người, lại c̣n nhập thể trong lời người phàm để đem đến trí óc tôi và chiếu sáng nó?...Tôi đă làm ǵ với bao sáng tỏ như thế?...Tôi đă xem những giải thích của học thuyết về Đức Giê Su Ki Tô được ban cho tôi nhờ các thừa tác viên của Người như thế nào?...Tôi cố gắng suy niệm học thuyết ấy, áp dụng cho tôi, biến thành cái riêng của ḿnh, biến thành lương thực cho ḿnh như thế nào?...Khi không biến tin Mừng thành một trường họp nào, hoặc hầu như không, có ngạc nhiên không khi tôi có tràn đầy ư tưởng loài người và rồi tôi không hiểu biết ǵ về những sự trên trời?...

 

2. Những mầu nhiệm của Người: Cuộc đời Đức Giê Su Ki Tô một mặt là sự sống Thiên Chúa, vô tận, và như vậy, tràn đầy mầu nhiệm. Nhưng những mầu nhiệm ấy, đâu là khó thấu hiểu bởi cơ sở của đức tin, cũng là một giáng diệu ḱ cho hồn tôi. Mặt khác, theo khía cạnh loài người, những mầu nhiệm ấy chiếm lấy tôi bởi ở ngay tôi; về khía cạnh thiên tính, nó nâng tôi lên cao và mang tôi đến trong những tương quan sâu thẳm với Thiên Chúa.

Học hỏi về những mầu nhiệm phải là việc học suốt cả đời tôi, v́ nhờ Chúa Giê Su KiTô, tôi sẽ học nhận biết Thiên Chúa như chúng ta có thể nhận biết Người tại hạ giới này. Nhưng v́ trong cuộc đời Chúa Giê Su Ki Tô, những mầu nhiệm kế tiếp nhau trong mọi lúc, tôi có thể theo một mầu nhiệm nào đó, tùy theo sự chú ư của ḿnh: mầu nhiệm nhập thế, mầu nhiệm ra đời, mầu nhiệm cuộc đời ẩn náu, mầu nhiệm cuộc đời rao giảng công khai, mầu nhiệm những đau khổ, mầu nhiệm những khổ nạn, mầu nhiệm sự chết, mầu nhiệm sự sống lại, có thể nối tiếp nhau định hướng suy nghĩ của tôi; hay là tôi có thể hướng theo một mầu nhiệm đặc biệt trong một thời gian mà tôi sẽ t́m được lương thực nuôi dưỡng tốt nhất cho linh hồn.

 

 Tôi đă đón nhận những mầu nhiệm như thế nào?...Không phải là tôi biến những mầu nhiệm nên như mục tiêu nghiên cứu ṭ ṃ hơn là sự nghiên cứu đam mê về những điều thiện hảo của Chúa?...Sự tôn thờ nào được gởi lên trong hồn tôi?...Những điều thiện hảo không phải đă từng là nguyên lí của sự nhàm chán hay sao?...Không phải là tôi đă từng thỏa măn cho rằng tôi không thể hiểu ǵ cả, thay v́ t́m hiểu với một đức tin khiêm hạ để nắm bắt được điều đặc biệt mà Chúa chúng ta đă muốn để lại?

 

3. Những hành động trong cuộc đời của Chúa chúng ta: Những ǵ Chúa Giê Su Ki Tô đă làm trên trần gian, Ngài đă làm v́ lợi ích chúng ta. Người không phải là một phần nhỏ của cuộc sống riêng chúng ta, nhưng người vốn không thể từ chối mang lại sự sống Thiên Chúa. Mọi chi tiết Ngài chỉ dạy chúng ta phải hoàn tất hành động theo tinh thần nào.

 

 Không phải một lời phải hô lên, một đ̣i hỏi phải làm, một cảm t́nh phải h́nh thành, mà ta không thể thánh hóa khi hiệp nhất với những t́nh cảm, những lời nói, những hành vi của Thầy Chí Thánh. Đức Giê Su Ki Tô đă hoàn thành mọi công lư, để dạy chúng ta hoàn thành điều ấy. Để làm việc đó, tôi chỉ cần đi vào trong sự sống hay trong sự chết của Người với Chúa chúng ta.

 

 Tôi đă t́m cách đối chiếu cuộc sống ḿnh với cuộc sống của Chúa Giê Su Ki Tô như thế nào?...Tôi đă học hỏi những chi tiết của cuộc đời Người, kiểu mẫu cho tôi như thế nào?...Tôi có tin rằng ở trong tôi, dù chỉ là chút ǵ nhỏ bé cũng từ tư tưỏng siêu nhiên mà ra?...Thầy đă làm gương cho anh em, Chúa chúng ta đă dạy như vậy, để đến lượt anh em, anh em cũng làm như vậy.

 Cuộc sống của tôi phải là một bản sao từ bản gốc thiên tính này. Trở nên thực sự Chúa ư?...Và tại sao Chúa trở thành sự thật ?...Không phải là tôi sợ khám phá ra những chi tiết sẽ kết án tôi hay bắt buộc tôi thực hành nhân đức làm lay chuyển bản tính tôi ?...Bao giờ tôi mong muốn một lần nhất định đi đến nơi nào sẽ làm đẹp ḷng Chúa Giê Su dẫn dắt tôi ?

 

                   Chương V : T́nh yêu Đức Mẹ Đồng Trinh

 

          Yêu mến Đức Mẹ Đồng Trinh xuất phát từ t́nh yêu đối với Chúa chúng ta : Ta yêu mến Mẹ Maria bởi v́ Mẹ là t́nh thương đầu tiên của Chúa Giê Su trên trần gian. Mẹ được ban cho chúng ta như tấm gương tương xứng với phần tạo vật của ta và bởi Mẹ của ta dạt dào t́nh thương và sức mạnh. T́nh thương của Mẹ góp phần vào t́nh yêu của ta đối với Chúa thêm phần tươi mát, tinh tế, và mạnh mẽ.

 

 Nhờ sự ban ơn đầy nhân từ, Chúa chúng ta không chỉ hài ḷng ban tặng ḿnh như mẫu mực cho chúng ta, hoặc mẫu mực là Chúa, hoặc mẫu mực là người, Người đă muốn ban cho ta một mẫu mực khác nơi con người Thánh Nữ Đồng Trinh, Mẹ Người, và là Mẹ chúng ta, và là công tŕnh tạo hoàn thiện nhất của Đấng Tối Cao.

Mẹ Maria đồng thời là mẫu mực và là Mẹ của tôi. Mẫu mực của tôi: Tôi phải t́m cách bắt chước Mẹ như khi tôi khấn hứa trong đời tu sĩ theo sự toàn thiện là có khả năng bắt chước Nữ Vương trên Trời và dưới đất ; Mẹ của tôi : Tôi phải có sự tin tưởng, sự dịu dàng tuyệt đối nhất dành cho Mẹ.

 

Maria, mẫu mực của tôi : 1o Tôi chỉ biết những nhân đức của Thánh Nữ Đồng Trinh theo những ǵ Thánh Kinh nói đến, nhưng cũng đủ rồi và tôi không cần thêm nữa.

 

a) Trong mầu nhiệm nhập thể : Tôi ngưỡng mộ trước hết sứ thần trong trong câu hỏi Mẹ đặt ra cho sứ thần Thiên Chúa sai đến để kính chào Mẹ nhân danh Chúa. Sự vâng lời và đức tin của Mẹ tỏ ra không kém trong câu trả lời của Mẹ : " Này đây là tôi tá Chúa ". Đức tin ấy là cứu cánh của mỗi điều ḱ diệu được thực hiện nhờ Mẹ, và đó cũng là điều Elisabeth mạc khải cho Mẹ khi công bố rằng Mẹ là " đấng diễm phúc đă tin, v́ nơi mẹ sẽ hoàn tất mọi sự theo lời Đức Chúa đă phán với Mẹ ".

b) Trong lời kính Mangificat : Những nơi sâu thẳm của linh hồn Mẹ Maria tỏ hiện chính là trong cách Mẹ trả lời người chị họ : " Linh hồn tôi tôn vinh Chúa ". Cứu cánh của cuộc đời Mẹ Maria là vinh quang Thiên Chúa ; hạnh phúc của Mẹ là phục vụ Người và khắc ghi trong ḷng về những hồng ân Mẹ đă nhận. Đó là chứng tá về những ǵ Chúa ban tặng cho mỗi linh hồn trung tín, niềm hy vọng và sự tin tưởng ở giữa băo tố. Đó là điều tôi khám phá trong kinh Magnificat của Mẹ Maria.

c) Trong mỗi nẻo đường : Tôi sẽ theo Mẹ về Nazareth, trong công việc thường ngày bên cạnh Giu Se ; ở Betléem nơi Mẹ sinh con Thiên Chúa trong máng cỏ. Tôi sẽ theo Mẹ lên Đền Thờ nói Mẹ sẽ dâng con Mẹ cho Chúa. Tôi sẽ theo Mẹ đi sang Ai Cập nơi Mẹ chạy trốn để bảo vệ con Mẹ khỏi ác ư của vua Hêrôđê. Tôi sẽ theo Mẹ lên Gierusalem, nơi Mẹ mất con Mẹ trong ba ngày. Tôi sẽ theo Mẹ nơi xưởng mộc của Giu Se, nơi Mẹ trải qua 18 năm sống ẩn dật cho đến lúc phân tán, hoặc là v́ việc loan báo Tin Mừng, hoặc là v́ lên đồi Canvê. Trong tất cả sự kiện ấy, bấy nhiêu tấm gương, bấy nhiêu bài học !

 

a) Như Mẹ Maria lúc truyền tin : Tôi có sự cẩn trọng như Mẹ Maria trong những lúc quan trọng của cuộc đời không ?...Tôi có sự cẩn trọng ấy trong tương quan với tha nhân không ?...Tôi có đức vâng lời như Mẹ không, ngay khi ư muốn Thiên Chúa tỏ ra nơi tôi, không chỉ thông qua các bác Bề Trên, mà c̣n qua những ai đại diện Chúa?...Tôi có đức tin như Mẹ để chấp nhận những mệnh lệnh khó khăn nhất không ?...Tôi có tư thế sẵn sàng để đi vào đời sống nội tâm cách nghiêm túc và để ư Chúa muốn và chờ mong tôi phụ theo những khao khát của Người được thực hiện trong tôi không ?...Phải chăng tôi không sợ ?...Phải chăng tôi không hay nghĩ ?...Phải chăng tôi không sợ sai trong công việc yêu cầu phải làm ?...

 

b) Trong kính Magnificat của Mẹ : Trong suốt cuộc đời, tôi có mục đích nào khác ngoài vinh quang Thiên Chúa hay sao ?...Phải chăng khát khao có được vinh quang ấy làm tan biến mọi nỗ lực của tôi ?...Tôi có đạt mọi hạnh phúc của ḿnh trong Chúa ?...Nguồn đỡ nâng, tôi không đặt nơi chính ḿnh hay nơi các tạo vật sao ?...ư định duy nhất đến thẳng với Chúa mà không cần nh́n phải nh́n trái để xem có tồn tại trong sâu thẳm hồn tôi không ? Tôi có t́m hiểu về những ǵ Thiên Chúa thực hiện trong tôi nhờ sức mạnh cánh tay Người, giá như tôi để cho Người hành động trong tôi ?...V́ những ǵ ô uế, ve văn, kiêu căng trong trái tim chỉ làm hại nếu tôi không sợ phó thác những thứ ấy ngự trị trong Đấng Tối Cao.

 

c) Trên mỗi nẻo đường : Trong mỗi thử thách, tôi có đặt trọn niềm hy vọng, sự tin tưởng trong Thầy Cao trọng không ?...Không phải tôi đă chỉ giựa vào Người mà thôi ư ?...Không phải tôi là người nghèo khó của Bethléem sao ?...Không phải tôi là người cần cù lao động ở Nazareth sao ?...Tôi đă dâng trọn đời cho Chúa Chúa ?...Tôi đă trao gửi tất cả cho Người như Mẹ Maria đă làm cho Chúa Giê Su ?...Tôi đă thích đời sống ẩn dật của Chúa ?...Tôi đă chấp nhận một cách rộng lượng những phân chia mà Tỉnh Ḍng đă đặt lên tôi hay có thể đặt lên tôi mỗi ngày ?...Tôi có chấp nhận ngay sự chia cách của Chúa Giê Su ?...Chính nhờ việc suy niệm cuộc đời mẫu mực đáng ngưỡng mộ ấy mà tôi sẽ có tinh thần một tu sĩ thật sự.

 

d) Maria Mẹ tôi : Nhưng Maria không chỉ là mẫu mực cho riêng tôi, Ngài là Mẹ tôi. Ở trên đồi Calvaire, ở dưới chân thập giá của con Mẹ là lúc Mẹ nhận tôi làm con. Mẹ nhận tôi khi theo một cách nào lúc Mẹ đang mang đầy máu Chúa Giê Su đổ ra v́ tôi ; và mặc dù sự ghê tởm tí gây cho Người, v́ nếu Chúa Giê Su chết, đó là do tội lỗi của tôi, Mẹ nhận tôi làm con v́ con của Mẹ. Từ nay, tôi là con Mẹ. Vinh dự nào hơn có một người Mẹ như thế ! Hạnh phúc nào hơn bằng sự trao đổi như thế !...Ḷng biết ơn nào, t́nh thương mến nào tôi không nhớ Mẹ ?...Những sự thương mến, sự biết ơn ấy là ǵ nếu tôi từ chối mỗi ngày bởi một sự sống đối lập với sự sống của Mẹ Maria ?

Nếu yêu mến Mẹ, tôi phải chứng tá khi hoàn thành trong tôi những ǵ đẹp ḷng Mẹ ; bằng cách xem nhẹ những ǵ không xứng đáng về Mẹ trong tâm trí tôi ; bằng cách dành cho Mẹ mối t́nh thương mến tinh tế để chứng tỏ rằng trong tôi Mẹ có một người con thực sự. Cuộc sống tôi có chứng tỏ được cho Mẹ điều đó không ?

 

Chương VI: T́nh yêu Giáo Hội

 

         Chúng ta cũng yêu mến Giáo Hội bởi v́ Chúa Giê Su đă yêu mến Giáo Hội; t́nh yêu dành cho Giáo Hội giúp cho t́nh yêu của ta đối với Chúa tràn lan ra mỗi chiều kích trên thế gian. Cha d'ALZON nhấn mạnh đến sự gắn bó mật thiết và sự nhiệt tâm trọn vẹn mà Giáo Hội phải khơi nguồn cảm hứng nơi chúng ta.

 

         T́nh yêu ấy là quy luật của lời khấn hứa khi được chấp thuận sau một thời gian của các tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời nhằm nhiệt tâm dấn thân v́ sự triện nở của Nước Thiên Chúa trong các linh hồn.

 

1o Tại sao tôi phải yêu mến Giáo Hội?...

 

a) Giáo Hội là ǵ đối với Chúa chúng ta: v́ Chúa chúng ta : Vương Quốc của Chúa chúng ta là ǵ, nếu không phải là hành động của Người trong Giáo Hội ?...Để biết Chúa đă yêu thương Giáo Hội như thế nào, tôi cần quí mến tất cả những ǵ Người đă làm cho Giáo Hội.

 V́ Giáo Hội, Người đă từ trời mà đến, Người đă nhập thể, đă sinh ra trong máng cỏ, đă trải qua 30 năm đời sống lao động vất vả, nghèo khó và ẩn náu ; Người đă chịu phỉ báng, bách hại, xỉ nhục, đau khổ ghê tởm nhất, chịu chết trên tháp tự giá, tất cả những điều đó là v́ Giáo Hội, thân thể huyền nhiệm của Người. Nếu yêu Chúa Giê Su Ki Tô, tôi phải yêu mến những ǵ Người có quí giá nhất ra sao?...

 

 b) Hơn nữa, Giáo Hội là ǵ đối với tôi ?...Giáo Hội là Mẹ tôi. Nơi Giáo Hội và nhờ Giáo Hội, tôi được sinh ra với sự sống mới trong nước phép rửa tội ; nhờ Giáo Hội, Chúa Giê Su Ki Tô ǵn giữ sự sống Thiên Chúa trong tôi, và nhờ trợ giúp của các bí tích mà Giáo Hội là người phân phát. Nhờ Giáo Hội, trí thông minh nơi tôi được sáng tỏ nhờ ánh sáng sự thật đời đời. Giáo Hội được giao phó giảng dạy sự thật ấy với quyền bính không sai lạc. Nhờ Giáo Hội, tôi không ngừng đạt được vô vàn trợ giúp đỡ nâng và khích lệ tôi hướng tới điều thiện. Nhờ Giáo Hội, Hội Ḍng nhỏ bé của chúng ta được chúc phúc trong đó tôi là thành viên. Gia đ́nh mà tôi đă chọn lựa để yêu thương và phục vụ Thiên Chúa tốt hơn. Không có Giáo Hội, tôi sẽ không nhận biết bao nhiêu, tôi sẽ không thể phục vụ tốt Thiên Chúa, Đấng mà tồi tận hiến đời ḿnh.

 

c) V́ những linh hồn khát khao sự toàn thiện : Hiền thê tuyệt hảo của Chúa Giê Su Ki Tô, Giáo Hội gọi những linh hồn được ưu tiên đến lượt họ, trở thành những hiền thê, và trong mầu nhiệm đáng kính này, chính trong lửa của Thánh Thần mà Giáo Hội mời gọi tôi ḥa vào sự hiệp thông khó hiểu giữa tạo hóa và Đấng Tạo Hóa. Điều Chúa Giê Su Ki Tô yêu thích đặc biệt trong Giáo Hội là những linh hồn được thánh hóa. Không phải mọi linh hồn đều được nâng lên cùng một bậc thang của sự toàn thiện, nhưng tất cả đều được mời gọi trở nên toàn thiện. Vậy nhưng, trong ḷng nhân từ vô biên, Chúa chúng ta không muốn hành động đơn độc trong công việc hoán cái và thánh hóa các linh hồn. Người phó thác cho Giáo Hội những người ki tô hữu, chính v́ điều đó mà Người đă lập nên chức linh mục, và người cho phép mọi người đón nhận các hồng ân có chừng mực để cùng chung một việc, tùy theo địa vị của họ, sức mạnh của họ.

 

2o Tôi phải yêumến Giáo Hội như thế nào?...

 

a) Như là quê hương và Mẹ tôi: trước hết, tôi phải yêu mến Giáo Hội như là quê hương tôi. Thực vậy, Giáo Hội chính là quê hương hồn tôi, là xă hội nhờ đó tôi được hiệp nhất với Thiên Chúa ; tiếp đến, tôi phải yêu mến Giáo Hội như là Mẹ tôi. Tôi là con Thiên Chúa. Giáo Hội c̣n chính là bí tích biến tôi trở nên con cái Thiên Chúa, nên con cái Giáo Hội.

 

b) trong mỗi thành phần của Giáo Hội : Tôi phải yêu mến tất cả những ǵ làm Giáo Hội sống động : Người đứng đầu hưu h́nh của Giáo Hội, tức Đức Thánh Cha, Giao Hoàng. Người mà từ thánh Phêrô đă trở nên ḥn đá chắc chắn mà Giáo Hội được xây dựng trên đó. T́nh yêu của tôi dành cho Chúa Giê Su Ki Tô phải nới rộng đến Vị Tổng Quản của Người trên trần gian. Tôi phải yêu mến mỗi phẩm trật trong Giáo Hội và cầu nguyện nhiều để các thành phần trong Giáo Hội có những trợ giúp và những hồng ân cần thiết cho sứ mệnh truyền giáo.

  Tôi phải yêu mến các linh hồn đang tẩy rửa trong lửa luyện ngục để trở nên xứng đáng nh́n xem Thiên Chúa. Tôi phải yêu mến và cầu khẩn những linh hồn công chính đang ngự bên Chúa Giê Su Ki Tô trong Giáo Hội khải hoàn. T́nh yêu của tôi phải hiệp nhất những phần tự khác biệt ấy trong cùng một Giáo Hội.

 

c) Với ḷng nhiệt thành trọn vẹn: Nhưng đôi khi cũng quan trọng đối với tôi là người tận tâm hết ḷng. Như nó phụ thuộc vào tôi bao nhiêu và theo sự yếu đuối của bạn thân, th́ trong Giáo Hội đang tranh đấu trên trần gian bấy nhiêu. Cầu nguyện, hăm ḿnh hành xác trong đớn đau phải mang một dấu ấn đặc biệt bởi ḷng sùng kính, khi tôi nghĩ ḿnh có thể góp phần cứu giúp các linh hồn. Thái độ, hành động, lời nói, giảng dạy, mọi chức năng người khác giao phó cũng qui về một mục đích dù trực tiếp hay gián tiếp, phải thấm nhuần cùng một t́nh cảm và một t́nh yêu.

 

a) Tra vấn lương tâm: đối với t́nh yêu Chúa Giê Su: Tôi đă yêu mến Giáo Hội v́ t́nh yêu Đức Giê Su Ki Tô không?...Tôi đă cảm tạ Thầy Nhân Lành này chưa v́ tất cả những ǵ Người đă làm để lập nên Giáo Hội Công Giáo mà tôi có vinh dự ở trong đó?...Tôi có thỉnh thoảng suy niệm về những ǵ làm mệt mỏi Người, những ǵ hạ nhục Người, những ǵ làm khó Người khi Người lập Giáo Hội?...

 

b) Như là Mẹ tôi: Tôi là con cái của Giáo Hội; tôi có yêu mến Giáo Hội như Mẹ ḿnh không?...Tôi đă biết ơn đầy đủ về sự sống mới nhận được trong Giáo Hội không ?...Về những hồng ân làm nguồn nuôi dưỡng thiêng liêng cho linh hồn tôi?...Về hạnh phúc có thể nuôi dưỡng nhờ ḿnh và máu Chúa trong Giáo Hội?...

 

c) Trong mỗi thành phần của Giáo Hội: Tôi có cảm động về những cuộc bách hai Giáo Hội không?...Tôi đă cầu xin Chúa ban b́nh an và tự do mà Giáo Hội cần đền chưa?...Tôi đă cầu nguyện với trọn niềm sùng kính những linh hồn công chính ở trên trời đến trợ giúp không?...Tôi đă cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện ngục chưa?...Tôi có đủ ḷng thương đối với những linh hồn khốn khổ ấy không?...Tôi có cầu nguyện cho Đức Thánh Cha, Giáo Chủ, để Thiên Chúa làm cho Ngài cai quản Giáo Hội cho nên?...Tôi đă cầu nguyện cho các Giám Mục, các linh mục dâng ḿnh cho ơn cứu rỗi các linh hồn?...

 

d) Với sự phó dâng trọn vẹn: Tôi đă hành hạ ḿnh với đủ ḷng thành kính để có được ơn hối cải của các linh hồn, nhất là với những linh hồn mà tôi có tương quan hơn cả, và được phó thác cho tôi cách đặc biệt ?...Tôi đă có niềm hăng say biến vua David nên đớn đau khi thấy những người tội lỗi?...Tôi đă cố gắng đủ để tuân theo những ǵ một linh hồn cầu xin như ḷng tốt, sự ân cần, những phương cách tốt để hối cải. Nhưng mà tôi không đạt được v́ không đủ can đảm trở thành người xứng đáng nhất bằng chính ḿnh.

 

Chương VII: Khao khát sự toàn thiện

 

         Cha d'ALZON đă sống trong niềm say mê ba mặt của t́nh yêu; Ngài phân biệt rơ những hiệu quả thực tiễn của mỗi mặt. T́nh yêu nhằm đến sự tương đồng: Chúa chúng ta, Đức Tŕnh Nữ, Giáo Hội nhắc nhở chúng ta luôn: Hay là người toàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng toàn thiện. Chương cuối này như phần kết luôn cho phần đầu của DIRECTOIRE.

 

Hiệu quả ba mặt trong t́nh yêu : Ta ước ao là người dễ chịu cho người ta yêu. Nếu tâm hồn tôi trọn vẹn thuộc về Chúa, tôi phải ao ước làm đẹp ḷng Người, và ao ước ấy phải giống như t́nh yêu của tôi đối với Người. Vậy mà, điều Người mong muốn nhất là tôi trở nên thánh. Vậy nếu tôi chỉ có mong ước nhỏ bé trở nên toàn thiện, đó là v́ tôi yêu Người quá ít.

 Ư tưởng về sự toàn thiện ấy, tôi t́m thấy trong chính Chúa, Đấng duy nhất toàn thiên bởi sự hoàn hảo tuyệt đối, và Chúa chúng ta muốn tôi bắt chước khi Ngài phán bảo : " Hăy toàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng toàn thiện ". Bản tính loài người rất thánh của Đấng Cứu Độ cũng là mẫu mực của tôi. Cuối cùng, Mẹ Maria đă được ban cho tôi để tôi bắt chước Mẹ. Bao giờ th́ tôi thực hiện nghiêm túc việc ấy ?...Đời sống tu sĩ  không phải là con đường của sự toàn thiên hay sao ?...

  Tôi có ư tưởng xác thực nào về sự toàn thiện mà Chúa chờ mong nơi tôi ?...Tôi có học hỏi sự toàn thiện mà tôi phải hướng đến, trong cả những sự toàn thiện của Thiên Chúa, và của Con Thiên Chúa, trong cả những nhân đức của Mẹ Maria ?...Tôi có ư tưởng xác thực về tất cả những bổn phận của ḿnh xét theo mỗi chiều hướng ?...Trái lại, không phải tôi là một tu sĩ lạnh nhạt, lười biếng, uể oải ư ?... Tôi có lắng nghe tiếng ḷng trách những lơ là triền miên ấy không ?...Tôi có phủ nhận những ǵ cản trở tự do tâm hồn tôi không ?...Tôi có tránh những rào cản sự thăng tiến thiêng liêng của tôi ?...Những cản trở ấy, tôi có t́m biết không ?...Tôi có một lần nhất định tiến hành việc đó không ?...Phải chăng tôi chưa hề bắt đầu t́m hiểu ǵ cả về những cản trở ấy !...

 

Sự toàn thiện và sự nhiệt thành tín thác : Cảm giác về tính toàn thiện và về sự nhiệt thành tín thác nói cho cùng chỉ là một mà thôi. Tôi chớ nhiệt tâm, hăng say v́ việc thiện ?...Tôi có sẵn sàng hy sinh tất cả để đạt đến sự toàn thiện Thiên Chúa muốn cho tôi ?

  Nếu tôi không thể hy sinh nhiều lúc ban đầu, không phải tôi có thế luôn tập từ từ và xứng đáng nhờ thiện ư ban đầu mà Thiên Chúa tăng thêm sức mạnh và ban cho thiện ư ấy chiến thắng trọn vẹn bản tính và những ghê tởm của nó ?

 

 

 

 

 

 

                         PHẦN HAI : CÁC NHÂN ĐỨC

 

 

 

Cha d'ALZON gắn với những nhân đức nảy sinh trực tiếp từ ḷng mến yêu Chúa, Thánh Nữ Đồng Trinh, và Giáo Hội đ̣i hỏi trước hết nơi các tông đ̣. Đời sống người tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời triển nở nhờ ba mặt của t́nh yêu là một đời sống v́ Chúa. Ta hiệp thông với Chúa và phục vụ Chúa nhờ đức tin, niềm hy vọng và đức ai. Mỗi nhân đức ấy được kèm theo những nhân đức phụ, mang đặc thù ki tô giáo, được ban cho ta hoàn toàn trong công cuộc thánh hóa con người và công việc tông đồ.

 

                Chương một : VỀ ĐỨC TIN

 

 

          Đức tin liên quan đến t́nh yêu Thiên Chúa trở nên nổi bật. Niềm hy vọng, đức ái nảy sinh từ đức tin, như t́nh yêu Mẹ Đồng Trinh, Mẹ Người, và t́nh yêu Giáo Hội, Hiền thê của Người nảy sinh từ t́nh yêu Thiên Chúa. Đức tin xét về mặt nhân đức là đặc tính đầu tiên trong tinh thần Ḍng Mẹ Về Trời.

 

 Nhờ đón nhận đức tin mà tôi tin những ǵ Giáo Hội dạy phải tin, bởi v́ chính Thiên Chúa là sự thật không sai lạc đă mạc khải những điều ấy.

 

Đức tin dẫn Chúa Giê Su đến trong tôi : Một mặt nào đó, Chúa Giê Su, tác nhân và Đấng hoàn mỹ đức tin của tôi, không thể là mẫu mực trong thực hành về đức tin ? Nhưng tôi có Mẹ Maria là người đă xứng đáng làm Mẹ Thiên Chúa nhờ hành vi đức tin cao cả nhất mà một tạo vật có thể làm được, khi Mẹ cộng tác hết sức ḿnh với mầu nhiệm nhập thể. Đức tin có khơi ra trong tôi một mầu nhiệm tương tự.

Đâu là đối tượng của đức tin tôi ?...Không phải là sự thật Thiên Chúa sao ? Không phải là nhờ ánh sáng Chúa Giê Su Ki Tô, Ngôi Lời Vĩnh Cửu, Sự thật vô song mà tôi tin sao ?...Tội lỗi kéo Chúa Giê Su Ki Tô về trong tôi nhờ đức tin ; nhờ đức tin, Người hiện diện trong ḷng tôi, theo ư muốn của thánh Tông đồ : " Nguyện Đức Giê Su Ki Tô cư ngụ trong ḷng anh em nhờ đức tin ".

Đâu là sức mạnh và nguồn năng lực đức tin tôi ? Tôi đă hiểu hạnh phúc của đức tin và trở nên người ki tô hữu công giáo không ? Sự thật có giá trị nào đối với tôi ? Tôi có hiểu rằng nhờ giảng dạy của Giáo Hội mà tôi nhận biết đúng Thiên Chúa ? Tôi có thường tỏ ra những hành vi đức tin vào những mầu nhiệm chính, mà việc suy niệm tóm lại phải là lương thực hàng đầu cho linh hồn tôi ? Tôi có cảm tạ Chúa với tấm ḷng biết ơn sâu sắc đă cho tôi trở nên con cái Giáo Hội công giáo ? Tôi có t́m hiểu những sự thật đức tin cho xứng đáng là một tu sĩ không?

 Nếu tôi phải giảng dạy những sự thật về đức tin, không phải là tôi dùng những suy nghĩ, những tưởng tượng cá nhân với tư cách là giảng dạy của Giáo Hội, hoặc bởi tôi gắn bó với những ư tưởng riêng, hoặc bởi ư tưởng sai lạc của một số người sùng đạo. Họ là những người tuân theo những thực hành của Giáo Hội và họ cho là họ nắm được khoa học về học thuyết đức tin của Giáo Hội.

 

Đức tin đưa tôi vào trong trật tự siêu nhiên : Hiệu quả đầu tiên của đức tin là mạc khải cho tôi trật tự siêu nhiên và và đưa tôi vào trong đó nếu tôi muốn. Đức tin chỉ cho tôi những điều như chính Thiên Chúa xem thấy và đánh giá, ít ra là những ǵ có liên quan trực tiếp đến ơn cứu độ của tôi.

 Tôi có t́m cách đánh giá những sự việc như Thiên Chúa không ? Tôi có t́m cách rút ra những bài học thực tiễn được bày ra cho ḿnh qua những mầu nhiệm cao cả trong Ba Ngôi, Nhập thể, Cứu chuộc, cuộc đời Chúa chúng ta để đem đến một ư nghĩa cho mọi hành động khi ḥa nhập nó với Thiên Chúa và với những ư định của Người Con làm người v́ tôi ? Có lẽ phải hứng chịu những hậu quả của nền giáo dục ít mang phẩm chất ki tô giáo, nên tôi xem nhẹ những sự việc hoặc liên quan đến những sự thật mà Giáo Hội rao giảng, hoặc liên quan đến những thực hành mà Giáo Hội khuyên làm, hoặc liên quan đến đồ vật Giáo Hội tôn thờ ? Những vật có vẻ ít quan trọng dưới mặt tôi, không phải là tôi nâng cao lư lẽ của ḿnh ngang tầm với nó sao ? Và không phải là tôi đă chiều theo những phản bác hay sao ? Cuối cùng, nếu cần thiết, tôi có thể sẵn sàng đổ máu để làm chứng về đức tin nơi Chúaa và nơi Giáo Hội, như các vị tử đạo không ? Và sự kính trọng tha nhân không phải đă làm tôi hổ thẹn khi có hành vi nào đó làm tổn thương ḷng tự ái nơi tôi, ngay ở giữa người anh em, chứng kiến sự gia nhập của tôi vào đời sống đức tin ? 

 

                               Chương II : Đức khiêm nhường

 

 Hai nhân đức phân biệt nhau trong    ánh sáng đức tin : khiêm nhường và vâng lời. Trong Hội Ḍng Mẹ Về Trời, ta có cách lắng nghe và thực hành những nhân đức ấy theo gương mẫu Đức Ki Tô, nền tảng của đời sống tu sĩ và chỉ ra cho ta những dấu ấn siêu nhiên.

 

 

Thực hành trong Hội Ḍng : Nhân đức cần thiết nhất đối với tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời trong mỗi nhân đức chắc chắn là nhân đức khiêm nhường, v́ dùng theo lời của thánh Phao lồ : dù kiến thức có làm ta kiêu căng, ta cũng không thể phủ nhận rằng ta bị rơi vào những mối nguy lớn v́ những công việc mà ta sẽ được tuyển dùng. Mối nguy hại ở ngay trong những việc làm tốt mà ta được mời gọi để làm, và chính v́ vậy mà ta phải cố gắng không ngừng mang ư chí thuần khiết trong mỗi hành vi của cuộc sống nhờ đức khiêm nhường ; v́ sợ rằng ta đặt tính tự ái ở địa vị vinh quang Thiên Chúa mà ta phải t́m kiếm. Ta sẽ không ngừng hướng tâm tư ta về với Đấng là nguyên thế và cũng đích của mỗi cử động nơi ta, v́ e sợ chỉ t́m phần thưởng cho hành động nào đó trong sự thánh hóa con người ta. Hành động ấy có thể tự nó là hành động tốt, nhưng ta chưa hướng đủ về với Chúa.

 

Nguyên tắc đời sống tu sĩ của ta : Đức khiêm nhường tháo gỡ ta khỏi ư muốn riêng tư, v́ sợ rằng ta sẽ không lắng nghe được lời đáng sợ này : " Này đây trong những hy tế của ngươi tồn tại ư muốn của riêng ngươi ", quá gắn bó với vật chất bởi sự kết hợp cá nhân, thay v́ chỉ gắn bó duy nhất làm đẹp ḷng Chúa.

 Đức khiêm nhường sẽ là căn nguyên của đức vâng lời, đủ những hy sinh đ̣i hỏi ta có khó khăn đến mấy, v́ sự ngờ vực về chính ta sẽ cho ta hiểu nhu cầu cần được dẫn dắt, và cảm giác về sự yếu đuối sẽ nảy sinh trong ta một sự tin tưởng lớn mạnh hơn nơi Thiên Chúa.

 

  Đức khiêm nhường sẽ là căn nguyên để mở của tâm hồn với Các Vị Bề Trên trong việc tra xét lương tâm, trong việc thú nhận lỗi lầm, cấm giờ, nhọc nhằn, nhu cầu, mọi bệnh tật trong con người. Đức khiêm nhường sẽ giúp ta chấp nhận mọi mệnh lệnh, mọi công việc thấp hèn và những t́nh huống đáng khinh thường nhất. Đức khiêm nhường sẽ làm cho ta kính trọng, đón nhận những nguyên tắc áp dụng trong cộng đoàn, ngay cả khi ta không hiểu được những nguyên tắc ấy. Đức khiêm nhường sẽ giúp hạn chế miệng lưỡi của ta, sẽ tạo nên tính nghiêm trang tương xứng với một vị tu sĩ. Đức khiêm nhường sẽ là căn nguyên của đức khiêm tốn phải có trong tương quan với những người anh em và với đồng loại.

 

  Cuối cùng, đức khiêm nhường sẽ giúp người tu sĩ chấp nhận sự khinh thường t́nh yêu (của người khác) đối với Chúa chúng ta, Đấng đă chịu bao nhiêu điều xỉ nhục. Và đức khiêm nhường sẽ ban thêm sức mạnh cho người tu sĩ trở nên một cộng sự biết vâng nghe, sẵn sàng với mọi điều thiện hảo làm triển nở Nước Thiên Chúa, giữa bàn tay Thiên Chúa và bàn tay của những người đại diện Ngài.

 

 

Đức khiêm nhường nảy sinh từ đức tin và chỉ cho tôi :

 

a) Sự hư không nơi tôi : Đức tin chỉ cho tôi nhận thấy trong ánh sáng rằng Thiên Chúa là tất cả và tôi chỉ là hư không. Chính Thiên Chúa là nguồn dư đầy của hữu thể, và của chính tôi. Tôi không là ǵ cả. Càng t́m cách hiểu biết Thiên Chúa nhờ đức tin, tôi càng mệt mỏi bởi vinh quang cao cả của Người, và so sánh với Người, tôi lại càng thấy ḿnh là người hư không hơn nữa, tôi có thể khẳng định như vậy.

 Tin tưởng với cái nh́n ấy, vậy đâu là chỗ của tính kiêu căng ? Tôi không biết ǵ cả. Và chính v́ sự vô tri ấy mà sự kiêu căng nơi tôi trở nên khó chịu hơn, hoặc là từ thỏa măn nơi chính nó hay nó t́m sự tán thành và hoan nghênh nơi người khác, hoặc là nó tự tuân theo những đ̣i hỏi tự nó đặt ra hay là theo tính nhảy cảm của riêng nó, hoặc là nó tự khép ḿnh trong đơn độc và cái bóng ích kỷ của nó.

 Nếu Chúa là tất cả, tôi chẳng là ǵ. Tôi phải kết hợp mọi sự với Chúa và không nên tôn vinh ǵ nơi tôi. Thế nhưng, tôi là người kiêu căng, khoe khoang, hay đ̣i hỏi, dễ mất mặt mặt; và nếu tất cả những tính t́nh ấy không thể hiện cùng một lúc trong tôi, hoặc tôi khám phá từ từ, hoặc linh hồn tôi đặc biệt bị giơ bẩn bởi một trong những tính t́nh ấy.

 

b) Tội lỗi tôi : Nhưng tôi không chỉ là hư không bởi nguồn gốc, hữu thể tôi c̣n bị giơ bẩn thêm do tội lỗi. Tội lỗi đă đặt vào trong hữu thể mà Thiên Chúa đă ban cho tôi, sự đảo lộn hoàn toàn ngoài ư muốn của tôi. Là người tội lỗi, tôi chỉ xứng với cơn thỉnh nộ và h́nh phạt của Thiên Chúa v́ sự công minh của Người. Thiên Chúa đă thứ tha cho tôi, đă tẩy rửa tôi trong máu của Người Con, và với sự trao đổi ân huệ vô tường ấy, tôi phải tranh đấu mỗi ngày, v́ tội lỗi của ḿnh, tôi là một quái vật phản loạn.

 

  Hư không, tội lỗi, vô ơn, đó là định nghĩa đúng nhất về tôi đối với Thiên Chúa.

 

Kiểm điểm bạn thân : Khi trở về trong chính ḿnh, ít ra tôi có biết cảm nhận thấp bé, đứng vững ở địa vị ḿnh, hổ thẹn về trạng thái con người tôi không ? Tóm lại tôi có khiêm nhường không ? Tôi có hiểu biết rằng v́ những lỗi lầm, v́ thiếu ḷng biết ơn, tôi mắc nợ cái ǵ đó ở sự công chính và ở t́nh yêu Thiên Chúa bị xúc phạm ? Tôi có biết hạ thấp ḿnh không ? Tôi có biết hổ thẹn về tội lỗi ḿnh không ? Tôi có biết đứng trong vị trí của ḿnh là chỗ sau hết không ? Chúa Giê Su Ki Tô, để phá đi tính kiêu căng nơi tôi, đă muốn gánh chịu tất cả mọi lăng nhục. Tôi làm ǵ để bắt chước Thầy tôi ? Tôi có chấp nhận những va chạm không tranh nổi trong ḷng tự ái không ? Tôi có chấp nhận những nhục nhă ? Tôi có t́m những nhục nhă để phá tan những kiêu hănh nơi tôi ? Tôi có thích những giải pháp làm tan biến đi tính kiêu căng ? Là người hay đ̣i hỏi, tôi co ư thức được rằng ḿnh chẳng có quyền ǵ ? Là người hay giữ bí mật trong ḷng, tôi có nhận rơ những ǵ làm tôi tức giận không ? Là người ích kỷ, tôi có nhất trí rằng tất cả không phải là của tôi ?

 Một lần nữa, tôi có phải là người khiêm nhường ? Tôi có thực hành đức khiêm nhường ? Tôi có tiếp nhận những lăng nhục để bắt chước đức khiêm hạ của Chúa Giê Su?

 

Chương III: Đức vâng lời

 

Thực thi đức vâng lời trong Ḍng Mẹ Về Trời theo gương mẫu Đức Ki Tô: Nếu v́ tự trao ban vật ǵ bởi ḷng nghèo khó, trao ban thân ḿnh và những giác quan ḿnh bởi ḷng khiết trinh, người đó trao ban trọn vẹn chính ḿnh nhờ đức vâng lời. Đó là nhân đức mà lời khấn hứa là sợi dây của đời sống tu tŕ. Nhân đức ấy ḥa biến sự hy sinh cả con người cách trọn vẹn. V́ vậy, phải t́m căn nguyên của nó ngay trong ḷng mầu nhiệm Ba Ngôi, đang tôn thờ và trong sự vâng lời đời đời của con Thiên Chúa, Ngôi Lời không phải tạo thành, theo ư muốn Thiên Chúa Cha.

 V́ thế Chúa Giê Su Ki Tô đă muốn được gọi là Con Chiên bị hiến tế ngay từ lúc khai sinh của thế giới. Người cho biết rơ là muốn những ǵ Cha Ngài muốn, rằng luật của Ngài được ghi khắc trong sâu thẳm tâm hồn Ngài : " Con t́m theo thánh ư Ngài, Lạy Chúa, và thánh chỉ Ngài ở trong trái tim con ".

 Chính v́ điều đó mà thánh Phao Lồ dạy ta và Giáo Hội luôn nhắc nhở lại trong kinh nguyện tuần thánh rằng Chúa Giê Su Ki Tô đă làm người v́ chúng ta và đă vâng lời cho đến chết và chết trên tháp giá.

 Để sự vâng lời của chúng ta được Thiên Chúa đón nhận, đó phải là sự vâng lời khiêm nhường, hiền ḥa, mau lẹ, trung tín, không độ lượng và không nhát hèn.

 

Kính trọng những giới luật của Thiên Chúa mạc khải nhờ đức tin : Đức tin là hành vi tuân phục của tâm trí theo sự thật được Thiên Chúa mạc khải. Nhưng khi dạy ta những ǵ phải tin, đức tin cũng dạy ta những ǵ phải thực hành. Khi chỉ ra cho ta những quan hệ giữa Chúa và ta, đức tin c̣n chỉ cho ta những bổn phận đối với Chúa. Nếu Chúa là Thầy tối cao của vạn vật, nếu ta là những tôi tớ của Ngài ; nếu nhờ hồng ân, ta trở nên con cái Người. Vậy với hai chức dành do, ta phải gắn bó tuyệt đối với Người.

 Những sự nhiệt thành của ta muốn chứng tỏ cho Người sự tuân phục ấy có thể vượt ra ngoài những mệnh lệnh của Người. Ta có thể t́m kiếm những khao khát của Người và biến nó trở thành thánh chỉ cho ta. Đức vâng lời mang đặc tính về sự toàn thiện, t́nh yêu được thể hiện qua lời tuyên khấn: Đó là sợi dây đầu tiên của đời sống tu sĩ. Đức vâng lời hiểu theo nghĩa ấy là sự hy sinh của ư muốn riêng mà tôi từ bỏ để chỉ thực thi ư Chúa vốn được tỏ hiện cho tôi qua các Bề Trên của tôi.

 

Tra vấn lương tâm : Tôi khấn hứa đức vâng lời ; tôi đă hoàn thành lời khấn hứa ấy ra sao đến giây phút hiện tại?...ư muốn của tôi có được hy sinh trọn vẹn không ? Phải chăng tôi vâng lời một cách không hạn chế và không suy nghĩ kỹ ? Phải chăng tôi không thường xuyên tra vấn chính ḿnh về quyền bính qua các Bề Trên, về sự lạm dụng quyền hành của họ ? Tôi có cuốn theo những phán xét của tôi, ngay cả trong luật phép ? Không phải là thỉnh thoảng tôi thảo luận với các anh em khác về những hành vi của quyền hành? Tôi có tuân phục vị Bề Trên mà các Vị Bề Trên chọn lựa cho tôi? Tôi có tuân phục những việc làm được giao phó cho tôi, vượt ngoài khả năng của tôi? Tôi có noi theo tư thế sẵn sàng của Mẹ Maria: " Này đây tôi là tôi tá Chúa, nguyện được làm theo như lời Ngài phán".

 Trong những cám giỗ chống lại đức vâng lời, tôi có nhớ rằng Đức Giê Su Ki Tô, vốn là Thiên Chúa, đă vâng theo Cha Ngài, và Ngài đă vâng lời cho đến chết, và chết trên tháp giá, trong khi Ngài không bắt buộc phải làm việc đó ?

 Tôi có tin rằng tôi chỉ phải tuân theo mệnh lệnh rơ ràng, nhưng tôi quên rằng sự vâng lời thật chấp nhận những chỉ dẫn tối thiểu nhất ? Trái lại, không phải là tôi lặp đi lặp lại một ư nghĩ ? Hoặc là tôi lạc lỏng trong giải thích để đạt được điều cho phép mà người khác không muốn ? Không phải là tôi đă đi loanh quanh, hay căi lại những mệnh lệnh được ban bố cho tôi, hay là cứ phê b́nh nong cạn một đoạn Luật Ḍng nào đó?

 

 

                                     Chương IV : Hy vọng

 

          Hy vọng, nhân đức trung gian, như Mẹ Maria là Trinh Nữ trung gian, giựa theo sự toàn nặng nhân từ của Thiên Chúa. Hy vọng nâng đỡ chúng ta trong mọi thử thách và bảo đảm chúng ta những trợ cứu của hồng ân có khi tiềm thức chúng ta không biết đến.

 

         Hy vọng là nhân đức nhờ đó ta có sự tin tưởng vững chắc, theo những công trạng của Chúa Giê Su Ki Tô. Sử dụng tốt những hồng ân Thiên Chúa ban trong cuộc sống này, ta sẽ c̣n có măi trong sự sống đời sau.

 

         Thực hành nhân đức hy vọng trong Hội Ḍng : Chúng ta chỉ đặt tin tưởng nơi một ḿnh Chúa, không bao giờ nơi những phương thế loài người. Sự nghèo khó nơi Tin Mừng sẽ là, đối với ta, như là bằng chứng khách quan  cho việc thực hành niềm hy vọng. Chúng ta cũng rút ra được nơi đó tinh thần khiêm nhường thật sự, tức là sự coi thường và khinh dễ chính bạn thân ta ; cuối cùng, ta rút ra được tinh thần cầu nguyện, nhờ đó ta sẽ cầu xin những hồng ân cần thiết để hoàn thiện thánh chỉ của Chúa và những khuyên răn của Ngài. Ta vững tin rằng những ǵ không thuộc về Thiên Chúa và không dẫn về Thiên Chúa th́ không xứng với ta.

 

Những hiệu quả đặc biệt hơn : Niềm hy vọng thực hành như vậy sẽ linh hứng cho ta có sự biết ơn sâu sắc nhất đối với những hồng ân Thiên Chúa, linh hứng ta nhớ măi những lời của thánh Tông Đồ kêu mời ta cảm tạ Chúa về những ǵ đến với ta : " Hăy cảm tạ Chúa v́ mọi sự ".

Với ta, niềm hy vọng sẽ là căn nguyên cho sự tin tưởng tuyệt đối đối với Thiên Chúa trong mội thử thách. Chính trong lúc khổ nạn, Người nói với các Tông Đồ : " Mong ḷng anh em dừng xao xuyến và đừng sợ hăi : Anh em tin vào Thiên Chúa, th́ cũng hăy tin vào thầy ". Dù thử thách nào đến với ta, ta luôn tin tưởng rằng Ngài sẽ không từ bỏ ta, miễn là ta trung thành với Người, v́ chính Người đă hứa sự bách hại cùng lúc với chiến thắng : " Nếu người ta đă bách hại Thầy, người ta cũng sẽ bách hại anh em. Trên thế gian, anh em sẽ lo buồn, nhưng hăy tin tưởng ! Thầy đă chiến thắng thế gian".

 

Những khuynh hướng mà niềm hy vọng dơi bước chúng ta: Trong mọi sự, các tu sĩ của tiểu gia đ́nh ta cần nhớ:

1. Đừng bao giờ cầu xin ǵ mà không hướng về vinh quang cao cả nhất của Thiên Chúa.

2. Trong những thử thách Thiên Chúa gửi đến ta, đừng bao giờ cầu xin được cất đi khi nào mà sự giải thoát đó sẽ góp vào sự triển nở lớn lao nhất của Nước Chúa Giê Su Ki Tô

3. Khi t́m cách vượt qua những thử thách tạm bỡ, các tu sĩ hăy chỉ đặt ra tính hoạt bát đối với việc phục vụ Thiên Chúa mà ḿnh đă hoàn toàn và tuyệt đối tận hiến.

4. Các tu sĩ nhớ rằng nếu Chúa Giê Su đă cứu thế gian nhờ cây thấp giá, đó là v́ trong t́nh yêu thập giá mà các tu sĩ phải t́m được ích lợi, sức mạnh và sự nghỉ ngơi.

 Cuối cùng, các tu sĩ hăy sâu lắng tin tưởng rằng những thử thách của họ không là ǵ so với những thử thách mà Chúa Giê Su đă chịu, và rằng nếu họ yêu mến Thầy nhân lành ấy, họ phải quên đi khó nhọc riêng của họ, khi đối diện với những nhọc nhằn mà Người đă chịu, và Giáo Hội, là Hiền Thê của Người, mỗi ngày hướng về những khó nhọc ấy. Hơi giống như đứa trẻ đâu nhè nhẹ sớm quên cơn đau đó đi, để chỉ quan tâm đến người mẹ bỗng dưng ôm chặt lấy nó. Chính trong t́nh cấm ấy mà rèn luyện để quên đi chính ḿnh, các tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời sẽ hiến dâng cho Chúa hiện diện trong nhà tạm, tâm hồn và sức mạnh chịu đựng, tránh những ǵ xúc phạm đền Chúa và phản lại Giáo Hội.

 

Thiên Chúa: đối tượng trước tiên của hy vọng: Niềm hy vọng chỉ cho ta thấy Thiên Chúa là cứu cánh của những nỗ lực của ta. Giựa vào riêng ḿnh, ta không thể đạt được Người; hồng ân Thiên Chúa góp công vào việc ta đạt được mối tương quan sở hữu Người. Thiên Chúa, lợi ích cao cả mà ta hướng tới nhờ sự khát khao hạnh phúc phú bẩm trong ta. Ngay cả khi ta không biết Người, Thiên Chúa muốn trao ban cho ta như là phần thưởng: "Ta sẽ là phần thưởng dồi dào cho con". Đức tin chỉ cho ta Thiên Chúa là, cho ta thấy điều ta là nhờ Người. Niềm hy vọng chỉ cho ta thấy nguồn của mọi phú quí và mọi sự toàn thiện, của thẩm mỹ vô tận, của sự chói lọi nói vinh quang vĩnh cửu, căn nguyên của mọi niềm vui, vực thẳm của t́nh yêu, như là cứu cánh của mỗi công lao chúng ta.

 

Hồng ân : đối tượng thứ hai của hy vọng : Tôi không chỉ có thể sở hữu Thiên Chúa, nhưng c̣n phải hy vọng sở hữu Người một ngày nào đó, nếu tôi muốn dùng những phương tiện mà Người ban nhờ ḷng nhân hậu để đến được với Người. Bởi riêng tôi th́ không thể được, nhưng tôi có thể làm tất cả nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi nhờ hồng ân. Hy vọng trông cậy vào hồng ân mà Chúa Giê Su Ki Tô đă hứa ban. Tôi không thể làm ǵ nếu không có hồng ân. Nhờ hồng ân, tôi có thể trong tất cả mọi sự. Từ đó phát sinh hai hiệu quả thực tiễn rất quan trọng:

 

 1. Nếu tôi không thể làm ǵ khi không có hồng ân, tôi là kẻ tự phụ khi tôi hy vọng có thể thực hiện cái ǵ đó bằng chính khả năng cá nhân tôi. Hồng ân thôi cũng đủ với tôi. Nhưng tôi cần hồng ân. Tôi phải gắng hết ḿnh để lôi cuốn hồng ân về với ḿnh. Tôi phải trông cậy vào hồng ân suốt cuộc đời tôi. 

2. Nếu tôi có thể làm tất cả nhờ hồng ân, tôi là kẻ ngư dân và kẻ vô ơn nếu tôi để cuốn theo sự chán năn và thất vọng. Thiên Chúa ở với tôi, tôi c̣n sợ ǵ ai ? Tôi không được phép để sự chán năn và thất vọng xâm chiếm trái tim tôi.

 Những điều thoát ra từ cái có trước, đó là tôi phải có ḷng kính quí hồng ân mà những lao công vô tận của Đấng Cứu Độ đạt được trên tháp tự giá. Hồng ân là cái giá phải trả bằng máu Người, là cái giá từ trời ban cho tôi. Nếu tôi sử dụng hồng ân để hoàn thành những ư định của Người trên tôi, không ǵ là cao quí hơn nữa đối với tôi ở hạ thế này. Tất cả đến với tôi nhờ hồng ân. Đó là kho tàng của tôi ở trần gian này, cũng như Thiên Chúa là kho tàng của tôi trên trời.

 

a) Tra vấn lương tâm : Về Thiên Chúa : Đối tượng hy vọng trước tiên của tôi : Niềm hy vọng có kết gắn vào trong tâm hồn người tu sĩ nơi tôi không ? Tôi có khát khao Nước Trời không ? Có phải khát khao duy nhất của tôi là sở hữu Thiên Chúa trong tương quan với Người ? Tôi có gắn bó đủ để hiểu rằng Thiên Chúa là lợi ích duy nhất, sẽ chia duy nhất của ḿnh đến muôn đời ; rằng nếu tôi gắn bó với một vật nào đó trên trần gian không nhằm đến Thiên Chúa, điều đó có nghĩa là tôi đang đi ngược lại mục đích của tôi ?

 Tôi có hiểu được sự điên rồ khi để tạo vật nào đó chiếm lấy trái tim tôi ở hạ giới này. Tôi có hiểu rằng những ǵ thiết chặt tôi với trần gian là sợi dây cản trở tôi hướng về Nước Trời ? Đă bao giờ tôi chỉ đặt hy vọng vào Chúa mà thôi ? Đă bao giờ tôi cầu xin ơn Chúa ? Đă bao giờ tôi tín thác vào hồng ân Người ? Không phải là đôi khi tôi đă mang tính tự phụ? Trong ḷng tôi, không phải là tôi đă tự cho ḿnh là tốt ? Chắc hẳn, tôi đă nói to những lời về đức khiêm hạ, nhưng trong ḷng tôi đâu là cảm nhận về điều tôi nói ? Tôi đă tự phụ với sức mạnh riêng tôi, v́ thế Chúa để tôi sa ngă ?

 

b) Về hồng ân, đối tượng thứ hai của nó : Tin tưởng! Mặt khác, tôi có tin tưởng đủ vào hồng ân không? Bản tính tôi, bị rơi vào chán năn, bị qủi ma quậy phá, đă thường khiến tôi cho rằng tôi không c̣n có thể ǵ nữa, rằng tôi đă quá lạm dụng hồng ân, rằng Thiên Chúa không ban hồng ân cho tôi, rằng Người không ban cho tôi dư giă. Với những ư nghĩ sai lạc này, không phải là tôi bị rơi vào trong vực thẳm của thất vọng sao?

 

Tra xét: Cuối cùng, tôi có đón nhận hồng ân với tất cả sự tôn kính ? Tôi có khinh dễ hồng ân? Tôi có thấy hồng ân đ̣i hỏi tôi quá ? Không phải tôi bị phân tán trong lúc đọc sách, suy niệm, rước lệ ? Không phải là tôi thấy sẽ phải đi quá xa, nếu làm theo ư muốn của ân sủng sao? Không phải tôi đă run sợ v́ biết bao hy sinh tôi sẽ phải làm, một khi ân sủng chiếm lấy tôi hoàn toàn ?

 

Từ bỏ : Hôm nay tôi đang ở mức độ nào đối với tất cả những điều ấy ? Rút cục, phải chăng tôi đă giải thoát được mọi cản trở đối với hành động của ân sủng trên linh hồn tôi ? Rút cục, phải chăng tôi cho rằng, khi Thiên Chúa trao ban chính Người cho tôi để trở thành hạnh phúc triền miên của tôi, và rằng Chúa Giê Su Ki Tô, để giúp tôi có được hạnh phúc ấy, ban tặng ân sủng Người phải trả bằng máu. Ít ra, cũng v́ vậy mà tôi quyết tâm phó thác chính ḿnh không chút do dự vào những đ̣i hỏi rất thánh của ân sủng, trong niềm hy vọng được ân sủng đền đáp ?

 

Chương V : Cầu nguyện

 

         Cầu nguyện là tiếng van xin của niềm hy vọng. Nếu chúng ta không thể làm ǵ khi không có ân sủng, ân sủng được bảo đảm trong cầu nguyện và ân sủng khai mào lời cầu nguyện không bao giờ bị chối từ : cầu nguyện là vũ khí tiêu biểu nhất.

 

         Thực hành trong Ḍng : Đời sống các tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời sẽ là một đời sống kinh nguyên và tĩnh tâm trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Cầu nguyện phải là vũ khí tiêu biểu nhất của các tu sĩ để xua đuổi những cám giỗ, đánh đuổi kẻ thù của ơn cứu độ, để chiến thắng mọi cản trở đối với những việc lành. Các tu sĩ của ḍng phải nhận thấy vui sướng thăng tiến trong đời sống nội tâm. Cầu nguyện là phương thức chính của sự thăng tiến ấy. Các tu sĩ sẽ không ngừng bước đi trong sự hiện diện của Thiên Chúa để trở nên hoàn thiện. Cảm nhận về sự hiện hữu của Thiên Chúa sẽ là căn nguyên của việc tĩnh tâm và ḷng khiêm tốn nơi những người tu sĩ.

 Các tu sĩ sẽ áp dụng cầu nguyện Thiên Chúa khắp mọi nơi, tri ân Người về những hồng ân cao cả, hoặc về những giải thoát khỏi những x́-căng-đan vây quanh tứ bề. Họ sẽ cầu nguyện đặc biệt theo ư của Chúa, thấy hạnh phúc để hiệp nhất những ư nguyện của họ với những ư nguyện mà Tông Ṭa không ngừng dâng lên Chúa Cha, thay cho những người tội lỗi. Họ sẽ cầu nguyện cho những nhu cầu của Giáo Hội. Và chính trong lời cầu nguyện của những người con nhiệt tâm mà họ sẽ được thôi thúc đến ngọn lửa nhiệt thành v́ sự cao trọng của Nước Chúa Giê Su Ki Tô.

 Nếu lời cầu nguyện của họ được thấm nhuần bởi tinh thần đức tin tương hợp với các tu sĩ. Họ hăy bảo đảm rằng việc cầu nguyện sẽ mạnh hơn mọi phương thế khác của con người, được linh hứng bởi tinh thần trong xác thịt. Họ sẽ không làm ǵ mà không cầu khẩn Thiên Chúa. Nhưng họ cũng nhớ rằng không ǵ lôi kéo ân sủng từ trời bằng ḷng biết ơn. Họ sẽ cầu nguyện để cảm tạ Chúa về những điều tốt lành cũng như những khó khăn trong cuộc sống. V́ nếu một mặt, tất cả đều qui về những lợi ích cao cả nhất của những ai yêu mến Chúa; mặt khác, Thánh Tông Đồ dạy ta cảm tạ Chúa trong mọi sự: anh em hăy cảm tạ Thiên Chúa trong mọi sự.

 

Lời cầu nguyện theo ánh sáng của niềm hy vọng: Niềm hy vọng từ trời được giựa trên hồng ân Thiên Chúa được tiên báo cho ta. Thiên Chúa ban cho ta hồng ân trước tiên là hồng ân cầu nguyện và Người muốn ta cầu xin mọi hồng ân ta cần, ngay cả hồng ân muốn được cầu nguyện tốt hơn mọi ngày : " Hăy xin và anh em sẽ nhận được ! ", Chúa phán như thế. Vậy nên ta phải cầu xin. Càng cầu xin, ta sẽ càng được nhậm lời, miễn là ta cầu xin tốt. Thiên Chúa dư đầy hồng ân trong tay. Người chỉ muốn mở rộng tay ban phát cho ta. Và nếu Người khép bàn tay, đó là v́ Người tiên đoán rằng v́ ta chưa sẵn sàng tận dụng tốt những hồng ân Người, ta sẽ thêm sự vô ơn vào trong vô vàn tội lỗi của ta, nếu Người ban những hồng ân cho ta. Người muốn ta khát khao ơn Người. Người muốn ta khấn xin ơn Người. Người muốn ta ở trong tư thế sẵn sàng cần thiết để đón nhận và tận dụng hồng ân Người ban.

 Lời nguyền cầu hiểu như thế là hơi thở của hồn tôi về với Chúa, tiếng kêu van xin của tôi và tiếng kêu khốn khổ của tôi. Tiếng kêu ấy xuất phát từ vực thẳm nhưng tới lời tôi. Tiếng kêu ấy cố gắng tiến lên ngai ṭa của ḷng nhân từ Thiên Chúa. Lời nguyện cầu, theo nhăn quan ấy, đ̣i hỏi nhất, nhưng nó cũng có khả năng mang lấy gánh nặng tội lỗi và thanh tẩy tôi. Lời nguyện cầu cảm tạ Thiên Chúa về ơn nhận được để xứng đáng đón nhận hơn nữa. Lời nguyện cầu cũng thờ phượng Thiên Chúa tối cao về mọi điều thiện hảo, về chính Người là nguồn thiện hảo tuyệt vời nhất. Nhưng theo quan điểm của niềm hy vọng, mục đích đặc biệt của cầu nguyện là cầu xin. Tôi phải phó dâng linh hồn trước Chúa với tâm tư sâu lắng rằng hồn tôi chẳng là ǵ. Rằng hồn tôi trông chờ tất cả nơi Chứa. Tâm t́nh ấy làm đẹp ḷng Thiên Chúa : Người thích nhậm lời tiếng kêu cứu của người nghèo khó.

 

Tra xét lương tâm : Hiện tại, tôi cầu nguyện ra sao ? Tôi có quí mến hồng ân hơn tất cả mỗi thứ khác, bởi v́ nhờ hồng ân tối có thể trở nên xứng đáng sở hữu Chúa ? Tôi có chú tâm đừng để mất đi những hồng ân đă được ban cho tôi? Tôi có mang tâm t́nh cầu nguyện với những ư trong lành cần thiết để lời nguyện cầu của tôi được đẹp ḷng Chúa? Tôi có thành tâm ao ước được nhầm lời ? Không phải là có khi tôi sợ hồng ân và v́ thế tôi sợ cầu xin hồng ân ? Tôi có cầu nguyện với tấm ḷng bền bỉ ? Không phải là tôi thường lạnh nhạt, số sai trong việc cầu nguyện v́ tôi cảm thấy không được nhậm lời ? Tôi có cầu nguyện với sự kính trọng đầy đủ ? Không phải là đôi khi tôi bị lạc lơng bởi trí tưởng tưởng, hay làm vơi đi ḷng mến cầu nguyện v́ lười biếng ? Và tôi nhận thấy rất ḱ lạ rằng Chúa không nhậm lời tôi !

 Tôi có khát khao đủ muốn được có Chúa ? Tôi có khát khao khá lớn mạnh được hiệp nhất với Chúa, được có Người trong đời sau ? Tôi có thực thi những hy sinh phải làm để có được nơi Người sự trao đổi nội tâm mà Thiên Chúa ban cho những linh hồn trung tín với hồng ân của Người, và đó là một trong những cái bảo đảm chắc chắn nhất cho sự hiệp nhất của tôi với Thiên Chúa trong đời sau ?

 

 

                                              Chương VI Nghèo khó

 

Nghèo khó là sự xác minh cho niềm hy vọng. Nó làm ta không vương vấn cơi trần. Nó đưa ta vào trong việc phục vụ người nghèo theo gương Đức Ki Tô. Nó dẫn ta đến với những người nghèo bởi họ là những người duy nhất đón nhận phước lành của Chúa. Nó dẫn ta vào trong thực hành công việc. Nó tôi luyện các tính cách và bảo đảm tính độc lập trong hoạt động tông đồ.

 

          Thực hành trong Ḍng: Sự giàu sang của gia đ́nh ta phải nhằm vào trong sự tách ĺa tuyệt đối những của cải trần gian: Chúa chúng ta đă dạy: "Chim trời có tổ, con chồn có hang, nhưng con người không có chỗ tựa đầu". Chúng ta sẽ hổ thẹn v́ những hy sinh vô dụng cho thân thể. Chúa chúng ta đă không muốn nêu gương về những việc hèn hạ thân xác cách thái quá theo bề ngoài, trong thời gian hoạt động rao giảng. Ít ra, chúng ta cũng t́m cách bắt chước Người về sự nghèo khó trong mọi sự. Chúng ta sẽ rất khắt khe với thời gian biểu v́ chính lí do đó. Chúng ta là những người nghèo cần phải làm việc để sinh tồn.

 

Sự nghèo khó theo ánh sáng của niềm hy vọng: Ước muốn có được Thiên Chúa phải làm tôi khinh dễ những ǵ không phải là Người, hoặc không liên quan đến Người. Tôi có thể tách trái tim ḿnh khỏi của cải trần gian và hưởng thụ, nhưng từ chối dù là cái ǵ và thánh hóa việc ấy bằng lời khấn hứa đức khó nghèo c̣n là việc làm hoàn thiện hơn. Thành ra, tôi không thể có ǵ trừ khi các Bề Trên cho phép. Và hoặc là tôi đă đem lại cho Hội Ḍng số tiền đáng kể, hoặc là tôi đă dâng toàn vẹn con người và công việc ḿnh cho Hội Ḍng. Tôi không sở hữu riêng ǵ cả.

 Nếu tôi là một tu sĩ tốt, sự nghèo khó này phải làm tôi vui vẻ. Không chỉ tôi phải thực hành đức nghèo khó ấy theo Luật Ḍng đề ra, mà tôi c̣n được phép mang trong ḿnh đến nơi nào mà t́nh yêu dành cho Thiên Chúa linh hướng tôi. Không ai có thể phục vụ hai chủ. Sự khước từ của cải trong tâm hồn sẽ là phương kế tốt nhất để Thiên Chúa ngủ sâu hơn nữa trong hồn tôi. Chính tôi phải nh́n xem tôi là người nghèo khó ở mức độ nào.

 

  Không phải đôi khi tôi tiếc nuối ít nhiều sự thích thú mà của cải mang lại ? Không phải tôi thích thú một vật dù là nhỏ lí tí ? Tôi có tách rời tất cả không ? Không phải là tôi để một số khát khao hay một số luyến tiếc về những ǵ không c̣n nữa được h́nh thành trong tôi ? Tôi có trở nên một với Chúa Giê Su nghèo hèn trong hang đá Bethléem, nghèo hèn trong lao nhọc ở Nazareth, không có một ḥn đá để gối đầu trong cuộc đời công khai ? Sự nghèo khó rất thánh của Thầy có cuốn hút tôi, có đem lại cho tôi niềm đam mê trở nên như Người không ? Bằng tinh thần nghèo khó, tôi bảo quản như thế nào những đồ vật, sách vở, quần áo được giao phó cho tôi ?

 

Khó nghèo và việc làm : Nghèo khó buộc phải làm việc. Nếu tôi nghèo khó, tôi phải làm việc để kiếm sống. Việc làm là một h́nh phạt do tội lỗi, nhưng cũng là một điều kiện đối với cuộc đời túng quẫn. Tôi đă sử dụng thời gian như thế nào ? Với sự chu đáo như thế nào ? Không phải tôi là người lười biếng ư ? Không phải tôi dễ bị sự lười biếng lôi kéo trong nhiều lúc ? Chán việc làm không phải đă thường làm tôi mất thời gian sao. Một ngày nào đó, tôi sẽ phải tính số như thế nào ? Giờ đây, tôi muốn sử dụng như thế nào, khi nghĩ rằng mâtt thời giờ  trong những hội thoại vô ích, hay nói khác đi, tôi thiếu sự nghèo khó và tôi làm cho các anh em trở nên thiếu đức nghèo khó ? Theo quan điểm này, không phải là tôi đưa ra nhiều gương xấu để tự trách ḿnh, và tôi muốn sửa đổi như thế nào ?

 

 

Chương VII : Đức ái

 

 

          Đức ái, biến h́nh ảnh ta giống với Chúa Ki Tô trở nên hoàn thiện hơn trong ân sủng tuyệt đối về sức mạnh yêu thương của ta, nhờ liên kết với t́nh yêu Giáo Hội. Đức ái dưới con mắt của cha d'ALZON là một mầu nhiệm lớn lao của sự hiệp nhất. Hiệp nhất của mỗi thành phần của Thành Thánh ; sự hiệp nhất không thể xóa nḥa giữa con người với Thiên Chúa ; sự hiệp nhất trọn vẹn t́nh thân hữu giữa gia đ́nh nhỏ bé của Ḍng Mẹ Về Trời.

 

 Thực hành trong Hội Ḍng : Đức ái đặc biệt là v́ chúng ta: t́nh yêu Trinh Nữ, mẹ Chúa Giê Su Ki Tô và là đâng chuyển cầu đặc biệt cho ta ; t́nh yêu Giáo Hội, mà mọi lợi ích là của ta ; tôn sùng các thánh thần, nhất là các thần bảo trợ anh em, và t́nh thương đối với những linh hồn được phó thác cho ta.

 T́nh yêu tha nhân sẽ được tỏ hiện bằng sự dịu dàng khi chịu đựng đớn đâu, bằng tinh thần sẵn sàng phục vụ người đồng loại theo như ơn gọi của ta, bởi t́nh thân hữu và ḷng nhiệt thành trong mọi việc, trong đó chúng ta chịu gánh vác những lợi ích của các linh hồn.

  Cuối cùng, đức ái mạc khải cho ta tinh thần hiệp nhất mà Chúa đă cầu xin Thiên Chúa Cha lúc người lập bí tích Thánh thể, khi người sắp đổ máu v́ ơn cứu độ muôn người : " Để tất cả nên một. Để t́nh yêu Cha mà Cha đă yêu con cũng ở nơi họ và con cũng ở với họ ».

 V́ Thiên Chúa là t́nh yêu, theo lời thánh Gioan. Và ai ở trong t́nh yêu của Người th́ ở trong Người, ta sẽ không ngừng cầu xin Thần Khí t́nh yêu bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, kết hiệp chúng ta nên một với Chúa, với Chúa Giê Su ki Tô, với Giáo Hội, với anh em và với mọi linh hồn được phó thác cho tôi bằng một sợi giây không thể chia cắt.

 

         Thiên Chúa : căn nguyên đầu tiên của bác ái : Tôi không chỉ phải hy vọng có được Thiên Chúa ; nhưng nhờ hồng ân Thiên Chúa, tôi phải yêu Người hết linh hồn, hết sức mạnh và nhờ đức ái, tôi hiệp nhất với Người. Thiên Chúa là t́nh yêu. Ai ở lại trong t́nh yêu th́ ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người đó. Cả cuộc đời tôi là thế : ở lại trong Thiên Chúa nhờ đức ái.

 Bởi chính riêng tôi th́ không là ǵ cả, tôi không thể làm ǵ cả. Nhưng nhờ hồng ân Thiên Chúa, tôi có thể làm cho lớn lên những hạn chế trong trái tim và được như điều Người đă làm với Salomon. Nơi người này, Thiên Chúa ban cho trái tim rộng lớn như cát bờ biển. Trái tim tôi có thể chứa đựng đại dương t́nh yêu : tôi có thể hiệp nhất với Chúa. Tôi có thể được ḥa biến, trong hiệp nhất, theo như lời đă dạy của Đấng Cứu Thế.

 Sự hiệp nhất ấy, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, là mầu nhiệm; nhưng cuối cùng, nhưng v́ linh mục khi ḥa nước vào rượu, cầu xin cho ta được tham dự vào bản tính Thiên Chúa, như Chúa Giê Su Ki Tô gia nhập bản tính loài người chúng ta. Đó là cái đích tôi phải đạt đến. Mọi tư tưởng, mọi khát khao, mọi cảm hứng phải hướng về mục tiêu cao cả này.

 Nếu niềm hy vọng thể hiện cho tôi Thiên Chúa là lợi ích tối cao, đức ái thể hiện cho tôi Thiên Chúa là căn nguyên duy nhất của t́nh yêu tôi. Tôi đă nói với Chúa: " Ngài là Chúa của con". Chính Người, và điều đó là đủ cho tôi. Việc tôi sẵn sàng trao tặng cho Người không là ǵ cả. Và nếu mọi người ki tô hữu buộc phải yêu mến Thiên Chúa  trên hết mọi sự, th́ đối với người tu sĩ như tôi, điều đó phải trở thành tôi tớ của Người bằng việc thánh hiến ! Đó phải là sự trong sạch của trái tim ! Bởi những ngọn lửa nào lại không phải đốt lên, và như thế, tôi lại càng phải sẵn sàng hy sinh những ǵ không thuộc về Thiên Chúa !

 

 Trái tim tôi có hoàn toàn trong sạch ? Trong sâu thẳm con người tôi có thực tuyệt đối được Thiên Chúa sở hữu? Tất cả trong con người tôi có được đức ái điều khiển? Đôi khi, không phải là tôi đă dành một phần trái tim dành cho tạo vật hay sao ? Giữa Thiên Chúa và tôi phải chăng là không có cản trở nào ?

 

Cản trở với đức ái : Tôi nặng phải chết phá hủy t́nh yêu Thiên Chúa trong con người. Tôi không muốn dừng lại tại suy nghĩ khủng khiếp rằng tôi đă phá hủy t́nh yêu Thiên Chúa trong tôi v́ một lỗi lầm nào đó, nhưng không phải là tôi thường làm cho t́nh yêu do yêu đắn đo v́ những tội nhẹ. Tôi không phải tự trách ḿnh v́ một thói quen sai lạc gây giơ bẩn linh hồn không kém một cách rất nguy hiểm đối với t́nh yêu mà tôi phải dành cho Thiên Chúa, là tội nhẹ sao ?

 

 T́nh yêu này là ghen tị. Tôi có luôn uốn theo những thánh chỉ của t́nh yêu Thiên Chúa ? Tôi đă không sợ sao? Không phải là tôi đă ẩn náu trong nhiều lí do để tránh hiểu biết và tránh thực thi mệnh lệnh của Chúa Thánh Thần trong sâu thẳm hồn tôi ?

 T́nh yêu của Thiên Chúa là ngọn lửa bị tắt đi khi nó không phát triển nữa. Tôi đă làm cho ngọn lửa t́nh yêu ấy phát triển đủ mạnh trong tôi chưa ? Tôi có thể nói rằng ngọn lửa ấy ngày càng lớn mạnh hơn trong tôi ?

Không phải là tôi đă tuân theo sự phai nhạt có tội ? Sự tôn sùng ban đầu của tôi ở đâu rồi ? Tôi đă làm ǵ để ǵn giữ nó, để làm lớn mạnh nó ? Tóm lại, đối diện với t́nh yêu Thiên Chúa đối với tôi, tôi có thể nói rằng tôi yêu Thiên Chúa ?

 

Thực hành đức ái giữa anh em trong Hội Ḍng : Nếu như t́nh yêu các linh hồn là một trong những đặc tính của gia đ́nh nhỏ bé của ta, các tu sĩ phải yêu thương đặc biệt là các linh hồn của các anh em trong Ḍng và của các Vị Bề Trên; cũng như các Vị Bề Trên phải có t́nh thương mến đặc biệt đối với các tu sĩ được giao phó cho họ. Mong mọi người áp dụng để dành cho nhau một t́nh nhân ái tràn đầy t́nh thương mến, sự quí mến nhau, tôn trọng nhau, tính nghiêm trang. Mong mọi tu sĩ nhận thấy những h́nh ảnh sống động của Chúa Giê Su Ki Tô, những đền thơ của Chúa Thánh Linh, những người con của Đức Tŕnh Nữ, mẹ chung của chúng ta nơi mọi thành phần của Hội Ḍng nhỏ bé của chúng ta. Mong tất cả các tu sĩ tránh xa những sự thân thiện không phù hợp, mọi t́nh cảm mến thương đặc biệt bởi đó là 'con sâu' nguy hại đối với các công đoàn. Tránh mọi ác cảm có thể tháo gỡ những mối giây liên kết của t́nh thương yêu thánh thiện. Tránh mọi lời nói làm tổn thương, mối quan hệ có khả năng sinh ra những căi cọ gây xí-căng-đan. Khi cần thiết các tu sĩ nên cảnh báo cho nhau; và ít ra hành động không tỏ ra công khai. Các tu sĩ nên tránh nhắc lại những ǵ đă thấy và có thể gây xí-căng-dân. Nếu cần thiết th́ chỉ có thể nói với những người nên nói để điều không hay sẽ được sửa đổi nhanh chóng và cách hiệu quả nhất có thể được; miễn là đức ái không bị tổn hại quá nặng nề.

  Trong tương quan kế tiếp với nhau, anh em sẽ nhớ rằng t́nh cảm thương mến quí hơn cả sau Chúa Giê Su Ki Tô, Trinh Nữ Maria, Giáo Hội và Đức Thánh Cha, Giáo Hoàng, đó là Hội Ḍng nhỏ bé của ta. Nhưng phải yêu mến Hội Ḍng trong Thiên Chúa. Nên tránh thứ t́nh yêu mang tính loại trừ, thứ t́nh yêu mà chỉ nh́n nhận những ǵ tốt được làm nơi chúng ta và bởi chúng ta.

  Mong trong hội thoại với nhau, các tu sĩ nói chuyện về những điều hữu ích và mang tính xây dựng. Hăy tránh những sự khinh thường nhau, những tranh căi bạo lực, tất cả những ǵ có thể làm tổn hại đến ḷng khiêm tốn và những tương xứng trong đời từ. Mong các tu sĩ không vào pḥng các anh em khác khi không được phép. Mong các tu sĩ tránh tất cả những ǵ làm khổ tâm những anh em các nước khác. Cuối cùng, mong các tu sĩ nói thực về ḿnh điều mà Thánh Thần chứng thực về những ki tô hữu đầu tiên: Đông đảo những kẻ tin chỉ có một ḷng, một ư.

                                                         

Chương VIII: Tinh thần hy sinh

 

                                     Đức ái là ngọn lửa của lễ toàn  thiêu nhờ nhiều hy sinh

 

 "Thầy đă nêu gương cho anh em, để đến lượt anh em, anh em cũng làm như vậy. Chúa đă phạm lỗi lầm khi Người sẵn sàng tiến lên đồi Calvaire và hiến tế ḿnh thập giá v́ con người. Hy sinh ấy không ngừng được tái tạo lại trên bàn thờ phải là gương mẫu của tôi. Tôi nên hy sinh v́ Chúa. Những t́nh cảm mến thương trong ḷng v́ Đấng mà tôi hy sinh chính ḿnh sẽ vô vị, nếu như tôi không dâng hiến cả những yếu đuối không ngừng nảy sinh từ bản chất tôi, nếu tôi không nhiệt tâm phục vụ người, nếu tôi toan tính, nếu tôi hạn chế, nếu tôi không chịu đựng ngay những ǵ khó nhọc nhất theo chỉ dạy của đức vâng lời, tôi không xứng đáng với Người.

  Sau bao thánh lễ, nơi tôi đă tham giự vào hiến tế thập giá, sau bao lần rước lễ, tôi rước vào ḷng Đấng Hy Sinh là Thiên Chúa. Cái ǵ khiến tôi có tinh thần hy sinh? Cái ǵ khiến tôi là người hy sinh chính ḿnh? Tôi có thể hy sinh bằng ngh́n cách : nhờ đức vâng lời, đức ái, sự lao khổ bản thân, sự nhiệt thành, nhờ mọi nhân đức mà một tu sĩ phải thực hành với mức độ cao nhất.

  Tóm lại, tôi có được hy sinh không ? Tôi có được đặt lên bàn thờ hy lễ một lần nhất định và tôi có nói với Chúa : « lạy Chúa, hăy hiến tế con như chính Chúa đă được hiến tế, để con minh chứng t́nh yêu con nơi Chúa, như chính Chúa đă minh chứng t́nh yêu Chúa cho con ? ». Tôi có thực sự là người hy sinh không ?

                                           

Chương IX : Đức khiết tịnh

 

         Đức khiết tịnh rất quí với ta bởi v́ nó là bằng chứng rất đặc biệt của t́nh yêu đối với Thiên Chúa, đối với Thánh Nữ Đồng Trinh, hoa quả tuyệt vời nhất  của việc thờ kính phép thánh thể.

 

Thực hành trong Hội Ḍng : Chính nhờ việc tôn thờ Chúa Giê Su trong nhà tạm và trong t́nh thương mến đối với Mẹ Đồng Trinh mà những thành phần của gia đ́nh nhỏ bé chúng ta lấy sức mạnh cần thiết để giữ lời khấn hứa này. Nên tránh những hội thoại vô ích. Cuộc sống luôn phải bận rộn. Nên khiếp sợ những hội thoại nguy hiểm. Nên luôn luôn sẵn sàng ư thức những hành động của ḿnh. Nên nhớ rằng đời sống tông đồ là đời sống các thiên thần. Nên có những nhân đức của các thiên thần. Chỉ với tấm ḷng trong lành, hồn nhiên mới có thể đón nhận những giao tiếp của Đấng được gọi là vinh quang muôn đời của Chúa Cha.

 

  Các Vị Bề Trên hăy nhớ rằng cứu cánh của ơn gọi là Thiên Chúa và có được măi măi Thiên Chúa. Chỉ có sự trong sạch tuyệt đối nhất mới sẽ có thể đạt được cứu cánh đó, theo lời của Chúa đă phán: « Phúc cho những ai có ḷng trong sạch v́ họ sẽ được nh́n xem Thiên Chúa”.

Đức khiết tịnh theo ánh sáng của đức ái : Bằng chứng lớn lao nhất mà tôi có thể dành cho Thiên Chúa v́ t́nh yêu đối với Người, đó là từ chối mọi quyến luyến v́ Chúa, để bảo vệ đức khiết tịnh, cho dù là hợp lí. Đức khiết tịnh phải quí giá với tôi bởi nó biến tôi trở nên con của Mẹ Maria hơn và là bạn của Chúa Giê Su.

  Có thể nói ǵ về nhân đức này, khi chuẩn bị ḿnh để nh́n xem Thiên Chúa gần hơn? Phải chăng tôi nên im lặng và rộng mở cửa ḷng ḷng những hành vi nhỏ bé nhất, những lời nói tối thiểu nhất, những linh cảm mờ nhất nhất làm giảm sắc màu rực rỡ của bông hoa đẹp này th́ hơn ?

  Trong việc tôn thờ phép thánh thể, tôi sẽ cầu xin Thầy Chí Thánh cho tôi ḷng ngất ngây nhờ rượu làm phát sinh những trinh nữ, và sẽ cầu xin các thánh thần ngự bên Ngai Ṭa Người để biến tấm ḷng và tâm hồn tôi nên trong sạch như họ.

 

Chương X : Việc khổ hành thân xác

 

Sự dồi dào của đức ái theo Cha d’ALZON ở trong sức mạnh chịu đựng. “Mẹ Maria là người trong sạch nhất giữa các tạo vật chỉ v́ để làm người cộng tác toàn thiện nhất với Chúa Giê Su Ki Tô trong mầu nhiệm cứu chuộc nhờ ḷng trắc ẩn”.

 

 Thực hành trong Hội Ḍng: Các tu sĩ sẽ phải biết rằng họ hy sinh cuộc đời khi vào Hội Ḍng. Cuộc sống không thuộc về họ nữa. Cuộc sống dù dài hay ngắn đều không quan trọng, miễn là nó được sử dụng theo ư muốn Thiên Chúa. Bởi vậy, không lí do sức khỏe nào sẽ được chấp nhận để không làm những việc được yêu cầu. Cũng vậy, khi được yêu cầu chữa bệnh, họ phải vâng lời để thực thi những ǵ đẹp ḷng Chúa nhất.

  Người tu sĩ là một người lính đấu tranh hoặc treo vũ khí theo lệnh của thầy. Phải luôn có trước mắt cứu cánh của ơn gọi, đó là chiến thắng trần gian, chiến thắng chính ḿnh, và sự tỏ hiện của Chúa Giê Su bị đóng đinh. Để có thể chiến thắng chính ḿnh, ăn năn sám hối là cần thiết, nhưng phải tương xứng với tinh thần của Tu Viện chúng ta. Ăn năn sám hối được tỏ hiện nhất trong nghèo khó, kinh nguyện, học tập, kiên nhẫn trong việc làm, nâng đỡ của tha nhân và chuyên cần.

 Việc ăn chay và những khổ hành khác sẽ không cần thiết như trong các tôn giáo khác, bởi v́ phải làm suy yếu thân xác trong những việc nhằm cứu vớt các linh hồn. Đôi khi, những khổ hành ấy không những không bị cấm, trái lại cũng được khuyến khích thực hiện.

  Một trong những nguyên do khiến ta ăn năn sám hối cách đặc biệt sẽ đạt được, hoặc là thành công trong công lao, hoặc là sự trở lại của những người tội lỗi, hoặc là sửa chữa những tai tiếng làm suy nhược Giáo Hội. Chính để thúc dục bản thân nên ta hay suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giê Su Ki Tô.

 

Khổ hành thân xác theo tiếng gọi của đức khiết tịnh và t́nh yêu : Nơi người tôi yêu thương như bông hoa huệ giữa gai góc, Phu Thê trên trời đă nói như thế. Nếu tôi muốn bông hoa khiết tịnh của ḿnh bảo tồn được vẻ tươi sáng, tôi phải bảo vệ nó bằng gái góc. Có nghĩa là bằng Thần khí và những thực hành khổ hành thân xác. Dù sự khổ hành không phải là một trong những đặc tính của Hội Ḍng Mẹ Về Trời, đối với tôi, nó như là một điều kiện của mỗi cuộc đời ki tô hữu, như là người bảo trợ cho sự khiết tịnh, và như là chứng tá của ḷng sùng kính đốt cháy tấm ḷng thừa tác viên của Chúa Ki Tô.

  Là người Ki Tô hữu, tôi nên nhớ rằng tôi là người tội lỗi, rằng tôi phải trả giá cho món nợ tội lỗi bằng việc ăn năn sám hối. Là bạn của Chúa Giê Su, tôi phải ư thức mạnh mẽ về khả năng tôi có thể bảo quản kho tàng quí giá nhất của ḿnh. Là người tu sĩ, tôi phải mang những linh cảm của Chúa và hoàn thành nơi xác thịt những ǵ c̣n thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa Giê Su Ki Tô.

 

Tra vấn lương tâm : Việc làm khổ thân xác của tôi phải là một sự ăn năn thống hối với sự thỏa ḷng, mang tính đề pḥng, mang t́nh yêu thương.

 

a) Sự thỏa ḷng : Tôi có ư thức được tôi phải trả giá cho chính tôi về cái ǵ ? Nếu chết đi, và sa luyện nguc, tôi sẽ phải tôi luyện bao lâu ở đó ? Tôi sẽ phải chịu khổ những ǵ ? Và thế nhưng, chướng ngại vật tối thiểu nhất, chút bất tiện tối thiểu nhất đă làm tôi hoảng hốt. Tôi không biết chịu đựng ǵ cả. Tôi chỉ dâng hiến chút ǵ đó trong hàng ngàn công lao trong cuộc sống với nỗi ghê sợ tột độ và nó sẽ là những khổ hành thân xác quí hiếm, nếu như tôi muốn điều ấy.

 

b) Sự đề pḥng : Tôi làm ǵ để bảo quản nhân đức khiết tịnh ? Bằng những pḥng ngừa nào tôi đă giữ nó khỏi những hơi thở ô uế ? Trong các đàm thoại, việc đọc sách báo, cái nh́n, rèn luyện trí tưởng tượng, có ǵ phải cắt bỏ đi không ? Tôi đă đón nhận những việc khổ hành trong đời sống tu sĩ như thế nào ? Tôi có chăm chú trốn tránh những ǵ gai mắt làm tôi mệt mỏi ? Tôi có ghê tởm nào đối với những gai góc mà Chúa Giê Su muốn tôi bao quanh ḷng ḿnh ?

 

c) T́nh yêu : Nếu tôi đặc biệt chuyên tâm phục vụ bàn thờ, tôi không thể đến với Thầy Chí Thánh mà không cầu xin Người xót thương dân Người, mà không ban tặng chính ḿnh tôi như người hy sinh để xóa dịu cơn thỉnh nộ của Người. Tôi muốn thêm ǵ vào lời nguyện để được nhẫm lời ? Chúa Giê Su đạt được ơn cứu độ cho người tội lỗi trên cây thập giá, giữa những đớn đau tột độ trong linh hồn và nơi thân xác. Tôi muốn dâng hiến ǵ cho người tội lỗi khi hiệp thông với Chúa Giê Su ?

 Nếu tôi sống đời sống chiêm niệm dưới chân Phép Thánh thể, tôi phải sống đôi kinh nguyện và sám hối ăn năn. Tôi đă làm ǵ cho đến lúc này để sống cuộc sống này và để chuẩn bị vào cuộc sống ấy theo tinh thần Luật Ḍng ?

 

Chương XI : Ḷng nhiệt thành đối với ơn cứu chuộc các linh hồn.

 

         Bởi ơn gọi và khẩu hiệu : Nguyên Nước Cha trị đến, chúng ta tồn tại để phục vụ các linh hồn. Ḷng nhiệt thành, hoa quả vượt trội của đức ái, bao trùm mọi nhân đức và nhấn mạnh đặc điểm hoạt động tông đồ mà những nhân đức ấy mặc lấy trong Hội Ḍng.

 

I

 

Thực hành trong Hội Ḍng : V́ tinh thần của Ḍng đặc biệt là tinh thần tông đồ, chúng ta phải áp dụng để đạt được những nhân đức mà ơn gọi cao cả này đ̣i hỏi, chừng nào c̣n phụ thuộc vào ta. V́ thế ta sẽ nhớ rằng Chúa chúng ta đă đến trong thế gian không phải để được phục vụ, mà để phục vụ. Và chúng ta áp dụng đưa ḿnh vào trong tính phụ thuộc khiêm nhường vào các linh hồn mà ta được mời gọi làm việc thiện. Ta sẽ nhớ rằng các linh hồn ấy có quyền trên chúng ta. Ta chỉ có quyền trên các linh hồn theo sự tín thác của Chúa Giê Su Ki Tô để dẫn dắt họ đến sự toàn thiện, theo những phương cách được trao ban.

  Sự tôn kính phát sinh từ tính phụ thuộc này sẽ cứu giúp các linh hồn và cứu giúp ta. Chính ở trong ḷng Chúa Giê Su Ki Tô mà các linh hồn nên quí báu với ta. Chúa Giê Su Ki Tô đă minh chứng t́nh yêu cho họ khi đổ máu đào ra v́ họ. T́nh yêu phải là thước đo những nỗ lực của ta để dẫn dắt họ đến sự thánh thiện, theo ơn gọi của họ.

 Dù ǵ đi nữa, mọi tu sĩ phải sẵn sàng đón nhận mọi công việc mà Các Bề Trên đề nghị, trong hạn chế của Tu Viện chúng ta. Tuy nhiên, Các Vị Bề Trên phải chăm sóc xem xét cẩn thận tu sĩ nào làm tốt công việc nào hơn tùy theo khả năng, phẩm chất tự nhiên của họ, nhất là tùy theo những đặc sủng được ban cho họ để hành động.

 

Phẩm chất của ḷng nhiệt thành : Chúng ta sẽ mang, trong việc tốt ta làm, mối quan tâm vô vị lợi có thể được, nhất là sự quan tâm đến vinh quang ảo. Ta sẽ vui hưởng phúc lộc mà những người khác thực hiện mà ta đă cho là không xứng đáng làm, và trong những bối cảnh mà những người khác thực thi công tŕnh của Thiên Chúa, ngay ở những nơi mà ta dường như có quyền thực thi việc ấy, ta sẽ nói như Môi-sen : Hăy làm đẹp ḷng Chúa, nguyện mong tất cả nói tiên tri. » Ḷng nhiệt thành của chúng ta sẽ khiêm nhường, chúng ta nhớ đến lời của Chúa Giê Su Ki Tô với các tông đồ : « Khi anh em làm những ǵ đă được yêu cầu, anh em hăy trở về và thưa lại : chúng tôi là những tôi tớ vô dụng. » (Lc 17, 10)

 Sau hết, ḷng nhiệt thành của ta sẽ bền bỉ, v́ những thánh Thư không ngừng cho ta những điển h́nh về cách thức Thiên Chúa làm cho thành công những công việc Người muốn, trong khi những công việc ấy dường như gây thất vọng ; v́ khi con người đầu tư ít hơn, Thiên Chúa góp công nhiều hơn nữa.

 

II

 

Việc chiêm ng      ắm và hành động được hiệp nhất v́ chúng ta trong một mục đích : phục vụ cho Nước Chúa Giê Su Ki Tô lớn mạnh khi cầu nguyện âm thầm, như Mẹ Maria Mẹ ta, hoặc là khi lo những việc góp phần vào việc thiện của Giáo Hội. Dù ở dưới mái nhà nào, tôi luôn làm việc để minh chứng t́nh yêu của tôi đối với Chúa Giê Su Ki Tô và lôi kéo các linh hồn về với Giáo Hội.

 

Việc chuẩn bị của cá nhân đến từ lời khấn hứa thứ tư : Tôi sẽ đặc biệt chăm lo những mục đích khác nhau ấy, nhưng tôi muốn xem xét trước mắt Thiên Chúa, để biết đâu là những việc mà một tu sĩ phải chuẩn bị thực hiện hay c̣n có nghĩa là người đă tuyên khấn lời hứa thứ tư của ḿnh.

 

1.      Tôi phải ở trong mọi cảm t́nh của Chúa khi Người đến trong thế gian. « Thầy đă đến ném lửa vào mặt đất, và thầy những ước mong phải chi lửa ấy đă bùng lên? » (Lc 12, 49) Tôi phải muốn nung đốt các linh hồn bằng ngọn lửa thiêng liêng này, và đời sống tôi phải luôn hướng về mục đích này.

 

2.      Tôi phải ở trong mọi khổ nạn mà Chúa Giê Su đă chịu đựng trong cuộc đời phải chết của Người. Việc làm, mệt nhọc trong hoạt động rao giảng, mồ hôi, bị bỏ rơi, những đối lập, những bách hại, những sự vô ơn mà chính người là nạn nhân. Lời nguyện cầu của Người trong giờ hấp hối ở vườn Ô-liu, những đớn đau trong cuộc khổ nạn, những trả tấn, lúc khát nước, lúc bị bỏ rơi phải đối diện với tử thần : tất cả những điều ấy phải hiện diện luôn trong tôi để gởi lên trong ḷng ư tưởng về t́nh yêu mà Thiên Chúa đă mang đến cho các linh hồn được cứu chuộc bằng máu của Người, và bởi cái giá Người đă trả để cứu chuộc họ.

 

3.      Tôi phải yêu mến các linh hồn và không ngừng nhiệt tâm v́ họ : yêu thương các linh hồn công chính v́ những nhân đức của họ, và muốn họ ngày càng được thánh hiến để đem lại niềm ủi an cho Chúa và cho vinh quang của Người ; yêu thương các linh hồn tội lỗi và khát khao hết linh hồn ḿnh sự trở lại của họ, để sự hy sinh trên đồi Can-Vê không vô dụng đối với họ.  Ḷng nhiệt thành của tôi về điểm này phải thận trọng. Nếu tôi phải coi sóc các trẻ em, hay những người hưu dưỡng, hay bất cứ người nào mà tôi muốn làm điều thiện. Ḷng nhiệt thành của tôi phải được đức vâng lời chỉ dẫn, và tôi phải suy nghĩ thật tốt điều này rằng nếu muốn làm việc quá mức hoặc qúa nhanh, tôi không làm được ǵ hoặc tôi làm giở, làm sai ; nhưng đồng thời cũng cần phải mạnh mẽ như Thầy Chí Thánh. Tôi phải sẵn sàng với mọi thứ để cứu vớt các linh hồn, theo những chỉ dẫn của Luật Ḍng và của Các Vị Bề Trên. Nếu tôi ở trong tập viên, chính bằng lời cầu nguyện và việc sám hối, nếu được phép, mà tôi phải minh chứng t́nh yêu của tôi đối với các linh hồn ; chính ở dưới chân Phép Thánh thể mà tôi phải tuôn đổ những khát khao, những giọt nước mắt, v́ sự thánh hóa của những người công chính, sự trở về của những người tội lỗi, tán dương Ṭa Thánh, sự thánh thiện của giới giáo sĩ, tự do của Giáo Hội, sự lẫn lộn những kẻ thù của Thiên Chúa, chiến thắng của Chúa Giê Su Ki Tô, ngay ở hạ giới này.

Do sẽ phải là những việc tôi phải chuẩn bị ; những việc đó thực ra là ǵ ? Ḷng sùng kính của tôi không phải mang chút ǵ đó ích kỷ sao ? Hành động của tôi không phải có chút ǵ đó chỉ liên quan đến ai đó mà thôi sao, chứ không phải v́ Thiên Chúa, nhưng v́ người đó? Tôi có trái tim mạnh mẽ cho Chúa và đối với những ǵ Người yêu thích? Tôi muốn cầu nguyện không ? Tôi muốn đau khổ ? Tôi muốn đấu tranh ? Tôi có muốn là một v́ tông đồ cho Người tùy theo hạn chế của ḿnh ?

 

 

PHẦN BA : CÁC PHƯƠNG CÁCH THÁNH HÓA

 

 

Về những nhân đức siêu nhiên hóa sức mạnh hành động, cha d’ALZON nhắc đến những hành vi thể hiện và làm phát triển nó trong ḍng chảy của cuộc sống thường ngày. Sự thật thà và liênm khiết, luôn được cha Sáng Lập khuyên bảo v́ đó là những dấu ấn về phong cách sống của chng ta.

 Ba chương đâu miêu tả bầu khí của cuộc sống toàn thiện: cuộc sống nghiêm túc, tuân theo việc kiểm soát của các Bề trên, cuộc sống được mặc lấy thinh lặng.

 Mươi lăm chương tiếp theo gởi lên cho ta, lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn “ lúc ta lấy kinh nghiệm về sự chết ”, những sự chuẩn bị nội tâm sẽ làm hưng phấn những bước đi của ta. Chương XIX đến XXIII bàn về những cách kiểm điểm và thanh tẩy dành cho những tu sĩ được dâng hiến đến sự toàn thiện.

Cuối cùng, chương “ đời sống nội tâm” được xem là phần kết luận thông thường của DIRECTOIRE.

 

 

Chương một: Quy tắc

 

         Cuộc sống thường nhật phải là một cuộc sống theo qui tắc, tuân theo sự kiểm soát của các Bề Trên, một cuộc sống có sự âm đêm thinh lặng !

 

Luật Ḍng có thể được nh́n nhận theo hai phương diện: phần chính của luật và tinh thần luật.

Phần chính của luật là tổng thể những luật được Giáo Hội khởi xướng để nêu ra những điều bắt buộc chung về đời sống tu tŕ, thêm vào đó là những qui tắc chung phải tuân thủ của Hội Ḍng. Đó là những sự chuẩn bị mà kinh nghiệm, thời gian, sự thận trọng của Các Vị Sáng lập, sự phê chuẩn của Giáo Hội đă chứng thực là hữu ích nhất cho việc thánh hóa các linh hồn; và bởi v́ tôi có phúc được mời gọi vào đời sống tu tŕ v́ sự thánh hóa linh hồn tôi cách đặc biệt, theo quan điểm thứ nhất này, tôi phải có sự kính trọng lớn lao nhất đối với bộ Luật của ḿnh.

 Nhưng quan điểm thứ hai mới quan trọng nhất, đó là tinh thần của Luật, đó là việc b́nh luận Tin Mừng không chỉ nêu lên những đ̣i hỏi để vào nước trời, mà cả những khuyên răn để đạt đến sự toàn thiện. Hơn nữa, đó lại là bài b́nh luận thích nghi với những nhu cầu của hồn tôi trong ơn gọi đặc biệt này. Mọi khát vọng sự thánh thiện không phải nằm trong mỗi điều luật ; hẳn là có những nét lôi cuốn khác nhau ; những điều mà mọi điều luật đ̣i hỏi, đó là áp dụng luật theo tinh thần Luật.

 Tôi đang ở mức độ nào về mối quan hệ này (luật và tinh thần luật) ? Bộ luật của tôi không phải thường bị tôi vi phạm và bởi những lí do nhỏ nhen hay sao ? Không phải là tôi thường chu toàn bộ luật của ḿnh với sự hèn nhát ? Không phải tôi thường thực thi luật theo lời pharisiêu ? Bộ luật không phải thường xuyên là nguyên do của biết bao th́ thầm và nổi loạn sao ? Đến bao giờ tôi quyết tâm thực thi với ḷng mến v́ sự thánh hóa con người tôi và v́ vun xây con người của các anh em tôi ? Khi phạm luật, tôi có cảm thấy đau khổ v́ gây ra việc tai tiếng ?

 

 

Chương II: Các Vị Bề Trên.

 

          Đời sống tu sĩ của ta không những phải tuân theo sự kiểm soát thầm kín của Bộ Luật, mà c̣n đặc biệt ở dưới sự kiểm soát sống động của Các Vị Bề Trên.

 

  Thánh Phao Lô đă nói: “ Hăy vâng lời những người lănh đạo anh em và hăy phục tùng họ, v́ họ chăm sóc linh hồn anh em như những người phải trả lẽ với Thiên Chúa. Như thế, họ sẽ vui vẻ thi hành phận sự của ḿnh mà không than thở, bởi v́ điều đó chẳng ích ǵ cho anh em”. (Dt 13, 17)

         Thực vậy, Các Vị Bề Trên là ǵ với tôi? Họ là những người đại diện cho Thiên Chúa, mang trách nhiệm đối với Người về ơn cứu độ của tôi và của Hội Ḍng, hoặc về một phần của Hội Ḍng được giao phó cho họ. Họ đáp lại linh hồn tôi, và đó là một trong những lí do lớn nhất về sự vâng lời của tôi. Tôi không thể tẩy họ ra khỏi trách nhiệm về linh hồn tôi bởi tính độc lập, v́ lời khấn hứa ấy liên kết tôi với họ và liên kết họ với tôi. Tôi thuộc thành phần của Hội Ḍng, tôi không có toàn quyền, và Các Vị Bề Trên của tôi cũng không có toàn quyền. Họ đă nhận quyền từ Hội Ḍng. Họ buộc phải thi hành. Theo chức năng, họ phải chăm sóc lợi ích chung của mỗi cộng đoàn hoặc của một cộng đoàn đặc biệt nào đó được giao phó cho họ. Và nếu tôi không có toàn quyền gây rối luật lệ, tôi cũng không có toàn quyền để luật lệ bị rối ren.

 Tôi có thường xuyên rên rỉ Các Vị Bề Trên ? Không phải tôi đă chỉ trích, khiển trách, và thấy rằng việc quản lí nhà cửa, công việc, các lớp học, các tu sĩ, sẽ tốt hơn nếu họ tham khảo ư kiến tôi?

 Không phải tôi đă trao đổi những cảm nghĩ với những người khác? Không phải tôi đă vui sướng nắm bắt những yếu đuối, những nhược điểm của các Vị Bề Trên? Những điều ấy đă làm phấn khích tính độc lập nơi tôi về cái ǵ? Sự toàn thiện của tôi đă được ǵ bởi những phẫn nộ, những tâm trạng bực bội, những tính khí thất thường, những hờn dỗi, mà tôi đă có khi chán ngấy? Tôi đă khiến các Bề Trên than phiền, tôi đă làm cho cộng đoàn sa sút, tôi đă thiếu đức vâng lời; tôi đă lơi lỏng, nếu không phải là đă làm tan nát sợi dây liên kết những lời khấn hứa của tôi.

 Đến bao giờ tôi mới là người giản dị, hiền lành, dễ uốn nắn, vâng nghe những người mang trách nhiệm về tôi. Những người mang trọng trách lớn hơn khi được phó thác nhiều người mời gọi nên thánh thiện, họ phải t́m thấy niềm vui dâng ḿnh cho Chúa Ki Tô Giê Su mà họ đại diện. Và tôi phải nh́n thấy thường xuyên nơi họ là những tôi tớ đầy nhiệt thành theo ư hướng mà Thầy nhân lành muốn ban cho họ qua những kẻ được Người sai đến.

 

 

 

 

CHƯƠNG III : Thinh lặng

 

 

  Không chương nào nhấn mạnh sự thinh lặng hơn vị trí ưu tiên mà cha d’ALZON dành cho chương này.

 

Thực hành trong Hội Ḍng : Càng buộc phải sống trên thế giới này, ta càng phải cố gắng t́m sự cô quạnh trong ḷng theo những giai đoạn nhất định.

 Mỗi năm, anh em sẽ đi tĩnh tâm mười ngày, và mỗi tháng tĩnh tâm một ngày theo thánh chỉ của Đức Chúa đă ban bố. Phải nhận ra rằng chính nhờ sự cố gắng để tĩnh tâm mà anh em có thể duy tŕ sự hiệp nhất với Chúa và với t́nh yêu của Chúa Giê Su Ki Tô vốn là lí do bền bỉ của những gắng công nơi anh em.

 Bởi v́ mục đích ấy mà anh em sẽ giữ thinh lặng cách đều đặn theo những bắt buộc của riêng anh em cho phép. Anh em tập luôn đi vào trong chính con người anh em ngay giữa những phân tán đôi khi do công việc riêng phải làm. Khi anh em làm mất sự thinh lặng, là v́ anh em hoàn toàn bị bắt bưộc. Điều đó là hiển nhiên.

 

Tầm quan trọng của thinh lặng: Một trong những sức mạnh lớn nhất của linh hồn người tu sĩ là sự thinh lặng. Ngôn sứ đă nói : sức mạnh các ngươi ở trong thinh lặng và hy vọng, tức là cầu nguyện. Hai phương cách thánh hóa cao quí này trợ lực nhau : không có sự thinh lặng, không hề có sự tĩnh tâm ; không có sự tĩnh tâm, cũng không có đời sống nội tâm. Thực vậy, nếu nói quá nhiều, làm sao có thể hy vọng lắng nghe trong tôi tiếng nói của Chúa, Thiên Chúa của tôi ? Làm sao tôi có thể hy vọng được hiệp nhất với Người ? Làm sao tôi có thể chuẩn bị cho sự hiệp nhất ấy, hoặc bằng việc trở lại quá khứ sẽ làm tôi ghét lỗi lầm và thanh tẩy tâm hồn, hoặc bằng những hành vi thờ phượng và yêu thương những ai muốn b́nh an và sự cô quạnh trong linh hồn?

 

 Xâm phạm sự thinh lặng : Đến hiện nay, đâu là những nguyên nhân khiến tôi xúc phạm sự thinh lặng? Khi t́m nó, tôi thấy được nguyên do : 1. sự khinh suất của tôi : tôi không muốn chú tâm chút nào ; dần dần tôi chán ngấy những ư tưởng nghiêm túc. Nó làm tôi mệt mỏi. Nó làm tôi kiệt sức. Tôi không chịu nổi gánh nặng đó nữa. 2. sự tưởng tượng của tôi : muốn lạc lơng và thích nói những lời vô vàn. 3. Tính ṭ ṃ của tôi : muốn biết mọi chuyện, chất vấn về những ǵ liên quan và không liên quan đến nó. 4. Tính chỉ trích của tôi : mà trọng tâm luôn được dựng nên để nêu ra những ǵ được làm và được nói ra xung quanh tôi. 5. Tính độc lập của tôi : luôn ngh́n lần bác bé không chịu tuân theo mệnh lệnh ban bố khi tốt hơn là tôi nên thinh lặng và vâng nghe trong sự hiệp nhất với sự vâng lời của Chúa Giê Su và của Mẹ Maria. Nỗi khiếp sợ khi khám phá con người tôi khiến tôi quan tâm đến mọi thứ, trừ những nhược điểm nơi tôi. 7. Nhu cầu : tôi cần trải theo trạng thái linh hồn tôi để biện minh, khi điều đó sẽ được diễn tả ngắn gọn nếu như tôi thú nhận nhanh tính kiêu ngạo nơi tôi, tính lạc lơng nơi tôi, tính xấu nơi tôi hay mọi nhược điểm khác mà tôi có thể có.

 Bao giờ tôi sẽ bắt chước sự thinh lặng của Chúa Giê Su trong cuộc khổ nạn và trong nhà tạm ? Bao giờ tôi sẽ t́m cách giảm nói với các tạo vật và nghe Thiên Chúa thêm chút nữa ?

 

 

Chương IV : Thức dậy

 

          Quên thức dậy đúng giờ là một hy sinh bảo đảm mọi diện tiến trong ngày dành cho Chúa.

 

         Hy sinh đầu tiên cho Chúa là sự hy sinh giấc ngủ ; và v́ sức khỏe thường là lí do để nghĩ ngơi thêm, chỉ có sự vâng lời là phương cách duy nhất giúp tôi phân rơ vấn đề lười biếng và thận trọng.

 

 Lúc thức dậy, khi đă dâng trái tim cho Chúa, tôi sẽ cho rằng ḿnh ra khỏi giường như Chúa ra khỏi mồ, có nghĩa là đổi mới tất cả và với quyết tâm sống cuộc đời mới. Tôi sẽ xin Chúa mặc lấy tôi những nhân đức và hồng ân của Người, theo như lời thánh Tông đồ khuyên ta mặc lấy Chúa Giê Su Ki Tô ; và mặc lấy trang phục được chúc lành như cái tủ nhắc nhở tôi rằng, dù yếu đuối, cuộc sống tôi được thánh hiến bởi ḷng nhiệt thành với Giáo Hội. Nếu tư tưởng kiêu căng đến trong tôi, tôi sẽ cho rằng dưới mặt Chúa, trang phục là dấu chỉ nhục nhă do tội lỗi bởi tôi sinh ra trong tội lỗi. Tôi sẽ cầu khẩn Thánh Nữ Đồng Trinh, thiên thần tốt lành, đấng bảo trợ của tôi. Và tôi sẽ xem xét cách khôn ngoan.

 

 

Chương V : Kinh nguyện

 

          Ba việc làm cũng mang một tầm quan trọng : kinh nguyện, thánh Lễ, Rước lễ mở đầu ngày mới.

 

         Kinh nguyện là sự tranh đấu giữa Thiên Chúa và linh hồn, được Thiên Chúa chinh phục và tẩy rửa linh hồn bằng mọi thử thách theo ư Người, cho đến khi linh hồn đạt đến sự toàn thiện hoàn hảo, trông chừng mực mà linh hồn có thể tồn tại ở hạ giới này giữa hữu thể hư không của ta và hữu thể vô tận của Thiên Chúa. Bởi vậy tôi không nên ngạc nhiên rằng kinh nguyện khiến tôi mệt nhọc, buồn, chán, khô khan, đau đớn ; nhưng quan trọng là vượt qua mọi thử thách và đến với Người như ư muốn của Người.

 Tôi có nghiêm túc trong kinh nguyện không ? Không phải tôi thường thực hành kinh nguyện nhưng tôi lại ở đâu khác sao ? Không phải tôi đă phí thời gian trong kinh nguyện sao ? Đâu là những ư nghĩ vô vàn trong tôi ? Thời gian của tôi được dành cho việc kinh nguyện, nhưng làm ǵ ? Tôi có tiến thẳng đến cái hữu ích không, và tôi có làm mất th́ giờ trong những việc nguyện ngắm vô dụng bởi không có ǵ liên quan với thực tế ?

 Nếu tôi ra khỏi giờ kinh nguyện với tâm t́nh đức tin, tâm t́nh hy vọng, tâm t́nh bác ái, tâm t́nh khiêm hạ, và tâm t́nh ăn năn tội lỗi mạnh mẽ hơn, đó là v́ tôi sợ rằng tôi đă mất thời gian dành cho kinh nguyện. Nếu cuộc sống tôi không ngày càng trở nên thánh thiện hơn, nếu những lỗi lầm của tôi không mất đi, nếu tính t́nh tôi không cải thiện hơn, nếu các nhân đức tu sĩ không phát triển, những kinh nguyện dài nhất và sùng kính nhất theo vẻ bề ngoài cũng không có, tóm lại, những kinh nguyện khô khan ?

 Tôi đă có được những giải pháp nào khi kết thúc giờ kinh nguyện ? Và nguyện ngắm từ lâu, những giải pháp đó đă trở nên như thế nào ?

 

 

Chương VI : Thánh Lễ

 

          Thánh Lễ là sự diễn tả lại cách không đổ máu về hiến tế đẫm máu trên cây thập giá. Đó là lúc tôi hiến tế ḿnh.

 

         Nếu hàng ngày, khi tham dự Thánh Lễ hay khi cử hành Thánh Lễ, nhờ tưởng nhớ đến đồi Can-vê tôi đi lên, tôi nằm lên cây thập giá với Thầy Chí Thánh, tới tham giự vào mọi đau khổ của Người, việc dâng bánh rượu của Người, sự chết mà Người đă chịu đựng v́ tôi. Nếu tôi tái diễn lại t́nh yêu mà tôi muốn đốt cháy lên cho Người, nếu tôi chấp nhận Người sai tôi đi với những ǵ đẹp ḷng Người, trong sự hiệp thông với những khổ đau của Người, không khép ḿnh, không hạn chế. Nếu tôi cầu nguyện theo mọi ư nguyện này : cho những người tội lỗi, cho các linh hồn luyện ngục, cho Đức Thánh Cha, cho Giáo Hoàng, cho Giáo Hội. Giá mà tôi dâng hiến cuộc đời tôi cho Người và mọi chi tiết của cuộc đời tôi. Giá mà tiếp đến tôi ẩn ḿnh như Mẹ Maria xuống đồi Can-vê, và với cảm giác rằng Mẹ Thiên Chúa đă mang lấy giây phút kinh hoàng và long trọng ấy. Cuộc sống tôi sẽ là ǵ trong phần c̣n lại của ngày, sau những ǵ đức tin chỉ cho tôi và những lời hứa mà tôi đă thốt lên ?

 Tôi đă tham dự Thánh Lễ như thế nào hiện nay ? Với tinh thần nào ? Sự hững hờ nào ? Sự lạnh nhạt nào? Sự phân tán nào mà tôi không có? Tôi đă lấy những quyết định nào ? Đâu là nguồn năng lực, và tôi đă duy tŕ nó như thế nào ?

 

 

Chương VII : Rước lễ

 

 Nếu rước lễ là giây phút quí giá nhất trong cuộc đời người ki tô hữu trên trần gian, th́ giây phút ấy càng quí hơn nữa đối với một tu sĩ mà tinh thần phải là một t́nh yêu đặc biệt với với Đấng Cứu Độ ?

 Tôi rước lễ nhiều lần hàng tuần, mỗi ngày nếu tôi dâng Lễ, và tôi không phải là một Đức Giê Su Ki Tô khác ! Tuy nhiên đó là mầu nhiệm hiệp thông : trở nên một với Con Người-Chúa.

Khi Người phải đến trong nhà tôi (ngủ vào ḷng tôi), tôi chuẩn bị như thế nào ? Đâu là sự trong sạch của ḷng tôi ? Đâu là lửa nơi ḷng tôi ?

Khi Người ở trong tôi, cái ǵ diễn ra trong đó ? Người có là Thầy tuyệt đối của tôi không ? Có phải tôi không bao giờ từ chối ǵ Người ? Người có thể vào tận trong nét gấp cuối cùng của con người tôi mà không hổ thẹn về những cảm giác ẩn trong đó ? Tôi có khát khao cho ḷng ḿnh trở nên như pha lê, để cho Người đem vào những tia sáng? Tôi có hoàn toàn thuộc về Người, như Người hoàn toàn thuộc về tôi?

 Sau khi rước Người vào nhà ḿnh, đâu là tâm t́nh cảm tạ của tôi? Đâu là những hiệu quả ? Tôi được nuôi dưỡng bằng bản chất Thiên Chúa, cuộc sống tôi phải trở nên như Người. Ở ngoài c̣n hoài nghi, nhờ sự biến đổi sự sống nơi tôi mà Thiên Chúa đă viếng thăm tôi ?

 

 

Chương VIII: Học tập

 

Học tập là bổn phận đầu tiên của chúng ta với mục đích giảng dạy mà ta xem là phương cách mạnh nhất để làm lớn mạnh Nước Chúa Giê Su Ki Tô, dưới mọi tŕnh độ.

 

         Thiên Chúa phán bảo con người khi đuổi con người khỏi vườn địa đàng : " Ngươi sẽ ăn cơm bánh bằng mồ hôi nước mắt ngươi " ; và dù những lời ấy được áp dụng vào những công việc nói chung, nó cũng có thể có một ư nghĩa đặc biệt đối với tôi, nếu tôi có bổn phận học tập. Học tập phải là sự trừng phạt đối với tôi, một sự ăn năn đền tội. Và đó là lí do khiến tôi can đảm làm việc, học tập dù nó làm tôi ghê tởm. V́ đó không phải là vấn đề thích hay không, mà là một sự bắt buộc.

Người lao động ruộng đồng không hề chọn lựa công việc của họ, tôi cũng không phải chọn lựa công việc của ḿnh. Tôi chỉ biết chấp nhận phần ruộng đồng mà người ta giao cho tôi vụn trồng. Hơn nữa, Chúa chúng ta đă thánh hóa công việc bằng 18 năm sống ở Nazareth, tôi phải bước theo dấu chân Người. Và nếu Người đă làm việc với t́nh yêu đối với tôi, tôi có thể làm việc tốt bằng t́nh yêu đời với Người.

Cuối cùng, Thiên Chúa là Thiên Chúa mọi hiểu biết và hiểu biết là một trong những đặc ân của Chúa Thánh Thần, tôi có thể hiệp nhất với Thần Khí một cách đặc biệt khi học tập theo những thiên hướng của đức tin và sự khiêm nhường mà Người sẽ ban cho tôi nếu tôi cầu xin.

Tôi đă học tập ra sao ? Không phải tôi đă trốn học ư ? Không phải tôi đă chọn học những ǵ theo ảo tưởng của tôi sao? Không phải tôi đă mất thời gian khi học những môn không mang lại lợi ích sao ? Tôi có học với tinh thần hối cải và làm khổ hành thân xác không? Tôi có học tập trong tinh thần hiệp thông với Chúa khi Người ở Nazareth ? Tôi có học tập dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tôi có cầu khẩn Người khi bắt đầu giờ học? Việc học tập không phải đă làm tôi mất can đảm sao ? Không phải nó đă làm tôi kiêu căng sao ? Có phải v́ Chúa mà tôi học tập ? Có phải luôn luôn v́ tôi mà tôi học tập ? Trong học tập, tôi có t́m kiếm Chúa Giê Su Kí Tô, sự thật đời đời ẩn náu trong mỗi sự thật ? Nhờ cái ǵ mà tôi cố gắng để t́m thấy Người trong mọi sự, theo lời Thánh Kinh : " Cứu cánh của Lề Luật là Chúa Ki Tô ".

 Nếu tôi yêu Thầy Chí Thánh, tôi phải yêu mến gặp lại Người dưới mọi h́nh thức đến với tôi. Và nhờ đức tin, học tập chắc chắn là phương cách để tôi hiệp nhất với Người.

 

Chương IX : Giảng dạy

 

  I. Vị trí của việc giảng dạy trong Hội Ḍng : Chúng ta dự định cách đặc biệt hơn làm rộng mở Nước Chúa Giê Su Ki Tô bằng những việc sau:

 Giảng dạy hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ, nghĩa là trường trung học, Chủng Viện, Cao Đẳng. Ta sẽ dạy ở cấp tiểu học như một hoạt động cho không.

 Ta sẽ cố gắng đào tạo những người ki tô hữu gắn bó mật thiết với Giáo Hội, và cố gắng thể hiện tính cần thiết tuyệt đối của sự hiệp nhất sống động, không chỉ trong tín điều, mà cả trong môn học, dưới sự chỉ đạo ngày càng được tôn trọng của Tông Ṭa tối cao.

 V́ nếu một trong những tệ nạn lớn nhất của thời đại hiện đại là tính chia rẽ nhằm chia cắt những mối liên kết trong xă hội trí thức, v́ vậy một trong những lí do tồn tại của Hội ḍng nhỏ bé của chúng ta phải thể hiện trong những cố gắng của mỗi thành viên để xích lại những tâm trí và những tấm ḷng trong một môi trường chung mà Chúa Giê Su Ki Tô đă ban cho Giáo Hội.

 

II. Những khuynh hướng đối với giảng dạy : Giảng dạy là một trong những phương tiện mạnh nhất để hoàn thành lời khấn làm rộng mở Nước Chúa Giê Su Ki Tô và dù tôi tham gia vào việc giảng dạy một cách xa hay gần, th́ tôi cũng phải nhận thấy vui được xứng đáng với danh dự đó.

Song le, tôi cần chuẩn bị có những khuynh hướng nào để giảng dạy ? Tôi có can đảm hoc những môn khó và khô khan thuộc chương tŕnh học không ? Tôi có nhận định đầy đủ rằngít a với tinh thần đức tin và khiêm nhường, tôi có thể giảng dạy những tư duy của tôi, nhưng không phải là của Chúa chúng ta và ít ra tôi luôn luôn tuân theo tác động của Thánh Thần, tôi có thể lúc nào cũng để cho ư riêng tôi xuất hiện ?...

Trong khi theo học trên lớp, tôi đă không cảm thấy quá thỏa măn với những thành quả, nhưng lại quá chán năn về thất bại ? Không phải tôi đă dành cho chính ḿnh vui thú mà lẽ ra tôi đă đem lại cho các em học sinh cảm nếm khi tôi giảng dạy ? Không phải tôi đă gán cho mọi nguyên do khác thay v́ cho tôi sự chán học của hoc sinh v́ tôi dạy kém ?

 Đâu là tinh thân giảng dạy của tôi ? Có phải là dạy để biết Chúa Giê Su Ki Tô, để yêu mến Giáo Hội? Tôi có quan tâm đầy đủ đến tiến bộ của trẻ em? Phải chăng tôi đă thích những em khác hơn khi tôi đă tạo được ích lợi cho chúng ? Phải chăng tôi ghen tị về lợi ích mà những người khác mang lại cho chúng ?

 

III : Khuynh hướng căn bản : Đây không phải là nơi xem xét những nguyên tắc trọng yếu về giảng dạy ki tô giáo ; nhưng không phải là trên mỗi lư thuyết, có một việc giảng dạy thực tế xuất phát từ sự hy sinh chính ḿnh của người thầy giáo đối với học tṛ v́ t́nh yêu Thiên Chúa. Điều đó thúc đẩy học tṛ không phải đến với người giảng dạy, mà là với Người mà người thầy giao giảng dạy. Tôi có khuynh hướng chung của việc từ bỏ chính ḿnh ( từ bỏ cái tôi cá nhân) không ? Tôi có bận tâm duy nhất về sự khải hoàn của Chúa trong các linh hồn không ? Và nếu không có, tôi phải thấy ngạc nhiên cho đến bây giờ rằng tôi đă làm quá ít việc hữu ích, rằng việc giảng dạy của tôi đă mang lại quá ít hoa quả cho sự sống đời đời ?

 Tôi có giảng dạy trong tinh thần nhẹ nhàng, như thánh Phao lồ, hay là tôi đă để lộ ra những nhược điểm trong tính cách khi giảng dạy, đến mức mà học sinh nhận thấy nơi tôi thứ hiểu biết ngạo nghễ, chứ không phải là đức ái nêu gương đạo đức ?

 

CHƯƠNG X : COI SÓC TRẺ EM

 

 Lên lớp giảng dạy vào những giờ nhất định mà thôi th́ không đủ ; nếu ta muốn đào tạo các trẻ em, tập phải trông coi luôn. Có lẽ đó là phần khó khăn nhất, đáng sợ nhất trong việc giáo dục.

 Coi sóc trẻ em đủ để ngăn cản chúng làm sai và để tranh mọi hiểm nguy trước sự ngây ngô của chúng. Làm cho chúng yêu thích người thầy coi sóc chúng. Không làm chúng trở nên quá khó chịu về cuộc sống. Đôi mắt tinh vi phải không ngừng được chú ư đến những hành vi nhỏ nhất của chúng. Đem tính sáng tạo trong mỗi lúc, sự hưng phấn cản trở quan tâm để việc khác hơn là về những ư tưởng hay mà người ta gợi lên cho chúng. Bỏ đi một số lạm dụng nơi những người có tuổi hơn, mà không thửc tỉnh những tưởng tượng c̣n mê muội. Biến gánh nặng nên dễ thương hơn. Làm cho cảm thấy gánh nặng là nhu cầu, để tạo ra thói quen trong luật lệ, thực hành bổn phận, và nếu có thể, yêu thích cố gắng ; học những đức tính, rèn luyện nó trong chừng mục có thể : đó là một việc khó, nhưng lại được tín thác cho tôi mỗi ngày để chăm sóc trẻ em.

 Biết bao khó khăn, và đâu là sự quan tâm bền bỉ mà tôi không phải thực thi trên chính bạn thân tôi, để làm mọi điều tốt có thể được mà không để cản trở bởi một bước lỗi lầm, một phút nóng giận làm tôi mất uy tín.

 

 Trẻ em có tin tôi nhiệt tâm với chúng v́ Chúa ? Chúng có cảm thấy không hề có sự thiện cảm nơi tôi ? Chúng có thấy nơi tôi sự bất công trong đối xử? Tôi có là người khá đạo đức dưới mắt chúng? Tôi có hành động với chúng như tôi có khả năng hành động v́ việc tốt ? Tóm lại, tôi có mang sự khổ đau của Thánh Tông Đồ t́m cách làm cho Chúa Giê Su Ki Tô đến trong các linh hồn, theo như người đă được tín thác để loan báo Tin Mừng? Tôi đă góp phần làm cho Chúa sinh ra trong bao nhiêu linh hồn qua việc chu toàn nhiệm vụ coi sóc trẻ em ?

 

CHƯƠNG XI : LAO ĐỘNG CHÂN TAY

 

 Có thể tôi chỉ được mời gọi đóng góp trách nhiệm vào trong Hội Ḍng bằng việc lao động chân tay. Ví dụ, nếu tôi là người quản lí những hiện vật trong phụng vụ, nếu tôi là y tá, nếu tôi là thầy cần vụ vv. Nhưng đó không phải là lí do để tôi danh giá thấp con người ḿnh.

 Mẹ Maria và thánh Giu Se đă làm ǵ trong cuộc sống của các Ngài ? Chính Chúa Giê Su đă làm việc ǵ trong  những năm đầu của cuộc sống ? Thánh Giu Se làm việc để kiếm sống cho cả gia đ́nh. Mẹ Maria chuẩn bị việc nội trợ cho Chúa Giê Su và thánh Giu Se. Ngay cả Chúa Giê Su, lúc con thơ ấu đă giúp đỡ Mẹ và Cha nuôi của Người. C̣n tấm gương nào hơn và c̣n bạn đồng hành nào hơn nếu tôi làm việc trong sự hiệp nhất với họ, nếu tôi nuôi ư chí quan tâm đến các Ngài, nếu tôi t́m cách vào trong mỗi ư tưởng của các ngài, nếu tôi bắt chước sự hồi tâm và sự thinh lặng của các Ngài, nếu tôi làm việc như các Ngài làm việc !

 Không có việc làm ǵ mà Chúa Giê Su, Mẹ Maria và thánh Giu Se không nêu gương cho tôi. Công việc vất vả, công việc tối tăm âm thầm, công việc mà nhiều người không thích : Giê Su, Maria, Giuse đă trải qua mọi thứ đó. Giuse đă tuôn đổ mồ hôi để nuôi sống Con Thiên Chúa cũng như tôi phải làm việc để nuôi sống những tôi tớ Chúa Giê Su Ki Tô. Mẹ Maria đă làm những việc b́nh thường nhất, v́ vậy tôi phải noi theo v́ lợi ích của Hội Ḍng. Chính Chúa Giê Su, khi lao ḿnh vào trong những công việc nặng nhọc, dạy cho tôi rằng không có ǵ phải là khó khăn nếu tôi muốn trở nên giống như Người.

 Khi tôi lao động chân tay, tôi có thói quen xếp ḿnh vào trong hàng ngũ của gia đ́nh thánh ? Tôi có phàn nàn th́ thầm công việc? Tôi có chú toàn công việc trong tinh thần ăn năn, khiêm hạ và bác ái? Và nếu tôi đă không thánh hóa công việc bằng những tư tưởng mà đức tin gởi lên cho tôi, tôi có sợ rằng dưới mặt Chúa đó sẽ là một công việc không mang lại lợi ích?

 

CHƯƠNG XII :  CÁC BỮA ĂN

 

  Sự bồi duỡng thân thể bằng việc ăn uống và bồi dưỡng tinh thần bằng những giờ giải trí phải tạo điều kiện cho chúng ta cống hiến hơn nữa cho công việc với nhiều cố gắng hơn nữa và với tinh thần siêu nhiên.

 

 Nhắc nhở Hội Ḍng về một số cảnh báo : Mong các tu sĩ nhớ tất cả những ǵ mà các tôi tớ Thiên Chúa đă giảng dạy về những nguy hiểm mà lương thực mang lại. Chính bởi lương thực mà Satan đă cám dỗ con người đầu tiên. Chính về vấn đề lương thực mà dân Do Thái đă luôn làm Thiên Chúa phẫn nộ trong sa mạc ; và khi họ đói là lúc Con Thiên Chúa cho phép qủi cám dỗ Người. Mặt khác, Chúa cảnh báo ta rằng chính bằng việc cầu nguyện và ăn chay mà ta có thể chiến thắng một số loại qủi ma. Mong các tu sĩ thận trọng hơn nữa để trong bữa ăn ǵn giữ tính đạm bạc và sự khổ hạnh phù hợp với trạng thái mọi người.

 

Thánh hóa các bữa ăn : Ơn gọi tôi không nhằm vào những việc khổ hạnh khủng khiếp như thế và cũng không nhằm vào những việc ăn chay triền miên theo cuộc sống của những tu sĩ đầu tiên được kể cho ta nghe. Không tham vọng có thể kiêng cữ như các tu sĩ đầu tiên ấy, phải nhận thấy rằng xác thịt thèm muốn và chống lại tinh thần và tinh thần chống lại xác thịt, rằng hai yếu tố đó luôn gây chiến với nhau măi măi. Đâu là yếu tố trong hai yếu tố ấy chế ngự trong tôi ?

 Tôi đă dùng bữa với tinh thần nào ? Bắt chước thánh BERNARD, tôi có dùng bữa như là cực h́nh ? Tôi có hài ḷng về những ǵ có trong bữa ăn ? Không phải là tôi thận trọng, và không phải là tôi đă làm hại sức khỏe khi dùng những thức ăn dễ chịu hay có hại? Tôi có thực hành sự khổ hạnh thân xác khi tuân theo một chế độ khi được yêu cầu? Không phải tôi đă tuân theo một số hành vi của cảm giác khiến tôi tiếc nuối những thứ mà đời sống tu sĩ ngăn cấm? Tôi có để ư vào bài đọc? Tôi có thực sự để ư không? Không phải tôi đă t́m cớ để ngồi vào bàn thứ hai, trong khi tôi có thể ngồi ở ban đầu ? Tôi đă từng ăn những thứ không cần thiết ngoài bữa ăn mà không được phép? Tóm lại, có phải tôi là chủ nhân của những tính khí thất thường trong ăn uống?

 

CHƯƠNG XIII: GIỜ GIẢI TRÍ

 

 Hai h́nh thức giải trí trong Hội Ḍng: Những việc giải trí của các tu sĩ sẽ thuộc về hai loại: giải trí với học sinh, và giải trí riêng giữa các tu sĩ với nhau.

 Giờ giaỉ lao với học sinh phải là mục đích cho việc chăm sóc đặc biệt đối với chúng. Các tu sĩ phải tránh mọi sự thân thiện, tránh những lời nói thô bảo. Các tu sĩ có thể vui chơi, và sẽ phải vui chơi để tạo cho học sinh bầu khí sinh động. Phải trông coi đừng để học sinh tṛ chuyện với nhau quá lâu, và đùng để chúng tạo ra những nhóm riêng. Phải trông coi hết mực đến những học sinh đáng dè chừng. Phải tránh những lời thô tục và những lời nói khiến chúng cảm thấy sự khinh bi và cằn nhằn. Thỉnh thoảng nói chuyện với trẻ em về Chúa, nhưng không kiểu cách. Phải tạo nên cho chúng một chứng tá về sự thân t́nh. Phải tránh những giải pháp không thẳng thắn để lôi cuốn sự tin tưởng của chúng. Những giờ giải lao là lúc ta có thể làm những việc tốt cho chúng, nhưng cũng có thể những việc xấu, bởi v́ trong những giây phút hoan hỉ ấy, ḷng ta mở ra dễ dàng hơn với những tác động vui sướng hoặc những tác hại.

 Trong giờ giải lao, các tu sĩ sẽ cố gắng siết chặt mối giây đoàn kết thân t́nh và sự quyến luyến  Thay giờ nghỉ quí giá nhất mà họ sẽ lại có trong những giờ giải lao khác. Bề Trên sẽ cố gắng tham gia vào giờ giải lao của các tu sĩ đến mức có thể. Trong những giờ giải trí đó, ta thường dễ làm tổn thương đức ái và đức vâng lời bằng những xét đoán ít mang tính thần ki tô giáo: Chỉ có sự hiện diện của Bề Trên có thể cản trở những lạm dụng ấy. Không ai tự ư vắng mặt trong giờ giải lao nếu không xin phép trước. Sự vắng mặt sẽ chỉ được chấp thuận v́ những lí do nghiêm chỉnh.

 

Thánh hóa những giờ giải lao: Tôi có thể thánh hóa những giờ giải lao như những việc làm khác trong ngày. Dùng thời gian nghĩ ngơi cần thiết, tôi có thể luôn luôn nêu gương đạo đức qua trang phục tu sĩ, bởi thường th́ ta có khuynh hướng quên việc này; bằng tính t́nh dễ thương, mà những tính thô lộ thường được thế hiện dễ dàng trong những lúc giải lao, bằng việc thực hành tính tập trung và sự khôn ngoan, mà không vượt qúa những giới hạn của lễ độ ki tô giáo. Cuối cùng, chúng ta nêu gương đạo đức khi biết chấp nhận những buồn chán nhỏ  ngoài ư muốn trong thâm tâm.

 Tôi có thể rèn luyện tính toàn thiện bằng việc im lặng hoặc nói năng cho phù hợp: chú tâm lắng nghe khi những người khác nói, cố gắng góp phần đối thoại khi giờ giải lao có nguy cơ thiếu sinh động. Phải là người tin tưởng rằng món quà đẹp ḷng Chúa nhất là tính nhă nhặn, tử tế đối với bạn hữu, để làm cho họ vui trong phục vụ, và để mang những điều đó cách năng động hơn nữa vào những chuyện nghiêm túc hơn sau giờ giải lao, giữa những món quà khác nhau.

 

 Xem xét lương tâm: Những giờ giao lao có ư nghĩa ǵ với tôi? Không phải tôi quá chạy theo tính nghịch ngợm? Tôi có nói qúa lời không? Tôi có tham vọng muốn người khác chỉ nghe ḿnh nói mà thôi? Hay là tôi không quá tập trung vào việc giải trí? Không phải tôi thường đem lại những bầu khí u ám, và hay cáu giận ? Không phải tôi đă giữ sự thinh lặng có ảnh hưởng xấu ? Không phải tôi đă tỏ ra những tính khí thất thường, những ác cảm, những giận giữ, những lời nói thô tục trong giờ giải lao ? Tôi có luôn luôn có ḷng bác ái, ḷng tốt, tính hiền lành, tính khiêm nhường, tính khôn ngoan trong giờ giải lao ? Tôi đă làm ǵ cho người khác và cho tôi một sự nghỉ ngơi thực sự, nhằm để chuẩn bị phục vụ Chúa tốt hơn trong phần thời gian c̣n lại trong ngày ?

 

CHƯƠNG XIV : TƯƠNG QUAN VỚI THA NHÂN

 

 Ta không bao giờ nên quên những đ̣i hỏi của câu khẩu hiệu: "Nguyện Nước Cha trị đến" tương quan với tha nhân.

 

 Những quan hệ bên ngoài Hội Ḍng:  

 Mong rằng trong những mối quan hệ bên ngoài, anh em hăy nêu gương đạo đức mà anh em có thể tỏ hiện, v́ cũng như tai tiếng mà có thể anh em là nguyên nhân, nếu như anh em không xử sự theo tư cách của những người tu sĩ thật sự. Mong tất cả đều khiêm tốn trong tư cách của  tu sĩ, trong ăn mặc, cũng như đồ đạc trong nhà. Mong sự khiêm tốn làm cho cảm thấy nhất là trong mối tương quan với tha nhân. Mong các tu sĩ nhớ rằng sự khiêm tốn thể hiện những mối quan hệ ấy với con người như là chủ nhân của chính những mối tương quan ấy, là những bản sao sống động của Chúa Giê Su Ki Tô, và biến tư cách họ trở nên sự rao giảng có hiệu quả hơn những bài nói dài ḍng.

 

Thánh hóa những tương quan ấy : Cuộc sống tôi không nên khép kín trong ngôi nhà kín, và v́ tôi được mời gọi phải có một số quân hệ, lời khấn hứa thứ bốn bắt buộc tôi thánh hóa những mối quan hệ khi nó c̣n phụ thuộc vào tôi. Vị thánh nào mà đă không yêu mến Chúa. Ai đă không yêu thích mạnh mẽ quyến rũ các linh hồn về với Người, hoặc bằng lời cầu nguyện, hoặc bằng lối sống khắc khổ, hoặc bằng lời nói ?

 Có thể sự ảnh hưởng tiếng nói của tôi bị hạn chế, những khi tiếp đón người khác, tôi nói nhiều hơn về những đề tài liên quan đền ơn cứu độ. Tôi gạt bỏ những nguy hiểm, tôi tránh  những cuộc đàm thoại vô ích, tôi không để thời gian lăng phí ! Chắc chắn, tôi có thể nói về những đề tài khác ngoài đề tài tôn sùng đạo, nhưng có thể tôi qúa quên rằng nếu sự tôn sùng đạo không là cái hồn của cuộc hội thoại của một tu sĩ, người đời trước tiên sẽ ngạc nhiên về điều đó, rồi họ cũng thỏa ḷng về cách hội thoại ngoài đời diễn ra trong pḥng tiếp khách, biện bạch cho những cuộc đàm thoại thường ngày của họ. Những cuộc đàm thoại như thế có một thứ tiện lợi, mà kết quả chắc chắn không phải là sự đánh giá của người đă cho phép, nhờ ngôn ngữ, một thứ tiếng cười cũng quá ít mang tinh thần ki tô hữu.

 Trái lại, nếu trong những quan hệ của tôi với người khác, tôi chỉ có mục đích là ích lợi cho các linh hồn, cuộc khải hoàn của Chúa, biết bao thứ hữu ích, tốt lành, tôi nói đến mà không có vẻ ǵ cả ; biết bao thiện cảm tôi đă giao tiếp bằng từ cách duy nhất ; biết bao xét đoán không mang tính bác ái, tôi sẽ không tiếp tục nữa, chỉ có thể nhờ vào sự thinh lặng mà thôi !

 Chắc chắn, tôi có thể không có ơn nói giỏi về Thiên Chúa, nhưng tôi phải có nhân đức biết im lặng ; và nếu tôi biết hy vọng hành động của ḿnh sẽ hữu ích, tại sao ḷng nhiệt thành mà tôi phải làm cháy bỏng v́ Chúa và v́ Giáo Hội lại không gợi lên cho tôi phương cách làm gương cho những người tôi buộc phải nh́n thấy ?

  Nhất là tôi phải làm việc lành cho những thành phần của gia đ́nh ḿnh, và bởi v́ họ đến t́m tôi, sao tôi lại không tận dụng chức vị của ḿnh để mạnh dạn nói chuyện với họ về ơn cứu độ của họ ? Trong mọi trường hợp, tôi phải tin mạnh mẽ rằng sự dịu dàng của họ làm họ trở nên rất đ̣i hỏi, và sự bất toàn thiện ở mức tối thiểu mà họ sẽ khám phá nơi tôi đối với họ là một loại chiến thắng sẽ đền bù cho họ khỏi những mệt nhọc khi họ để tôi giao tiếp với họ.

 Pḥng tiếp khách không phải thường làm tan nát ḷng tôi do những cuộc viếng thăm trao đổi quá lâu, do một số buổi gặp gỡ trao đổi vừa kéo dài và vừa vô ích ? Không phải tôi đă chạy theo tính ṭ ṃ, và những chất vấn của tôi không phải đă vượt giới hạn trong việc giữ bí mật trong đời tư ?

 

Kiểm tra những mối quan hệ : Việc lành tôi có thể làm, việc xấu tôi có thể vấp phải trong những mối tương quan với bên ngoài chứng tỏ cho tôi tính cần thiết thận trọng, và sự vâng lời các Bề Trên quan trọng biết bao. Kinh nghiệm mỗi ngày chỉ cho thấy rằng v́ quá muốn làm việc lành, ta lại thường làm việc xấu, và đó là lí do khiến tôi phải nhờ người hướng dẫn, khi nào mà các Bề Trên c̣n chưa đảm bảo là tôi chưa đủ chín chắn để đứng vững một ḿnh, và v́ lí do đó tôi rộng mở ḷng ḿnh với họ với sự thẳng thắn trọn vẹn nhất, về mối quan hệ của tôi với người khác, cũng như những ǵ c̣n lại, Bộ Luật Ḍng qui định cho tôi.

 

CHƯƠNG XV : ĐỌC SÁCH THIÊNG LIÊNG

 

 Ba hoạt động thiêng liêng khác kết thúc một ngày sống và làm việc của ta : Vả lại nó rất có thể xen vào giữa những bận bịu để ta đứng vững trong cảm nhận về sự hiện diện của Thiên Chúa.

 

 Người ta thường hay nói với tôi : trong kinh nguyện, tôi nói chuyện với Thiên Chúa ; trong những bài giáo huấn mà tôi nghe, trong những bài đọc, chính Thiên Chúa nói với tôi. Để tận dụng điều ấy, tôi phải đọc sách nhiều :

1. Cảm nhận đức vâng lời trong việc chọn những quyển sách được cho tôi mượn. Khi nhận sách từ tay các Bề Trên, tôi gần gũi hơn với tiếng nói của Thiên Chúa.

2. Cảm nhận đức tin giúp tôi đón nhận những ǵ được bàn đến trong sách theo quan điểm siêu nhiên và tránh xa những vấn đề được đề ra bởi tính ṭ ṃ của con người. Chúa Giê Su Ki Tô là cứu cánh của lề luật. Trong việc đọc sách, tất cả phải dẫn tôi đến với Người ; và nếu tôi không đến với sự thật đời đời, nhờ việc rèn luyện này, thời gian của tôi bị lăng phí, và có thể được sử dụng cách nguy hiểm.

3. Cảm nhận tính giản dị giúp tôi đón nhận mỗi thứ với tính tích cực, thẳng thắn mau lẹ, chứ không ngại ngùng, đắn đo trong cái đầu chật hẹp.

4. Cảm nhận tính thành thật sẽ không cho tôi ảo tưởng và cho phép tôi tận hưởng những sáng tỏ quá việc đọc sách thiên liêng có thể mang lại trong tâm trí, khiến tôi đi đến nơi mà Thiên Chúa thúc đẩy tôi đi và không đến những nơi mà Người không muốn tôi đi.

5. Cuối cùng, sự chú ư nghiêm túc giúp tôi ǵn giữ trong ḷng, như Mẹ Maria, điều đánh động tôi và sự niềm nở như Mẹ Maria, để rút ra những hoa trái thực tiễn cho sự thăng tiến thiêng liêng. Có phải tôi đọc sách với tâm t́nh đó không ? Có phải tính ṭ ṃ là động cơ khiến tôi đọc sách? Tôi có luôn chấp nhận thành thật những sáng tỏ được ban cho tôi qua việc đọc sách? Có phải tôi chỉ t́m kiếm Đức Giê Su Ki Tô và những giảng dạy của Người trong việc đọc sách? Từ khi tôi học tập nghiên cứu, trong việc đọc sách, những nguyên tắc và những phương tiện của sự toàn thiện, tôi trở nên hoàn thiện hơn về mặt ǵ?

 

 

CHƯƠNG XVI: CHUỖI MÂN CÔI

 

 Tràng mân côi nhắc nhở tôii những mầu nhiệm chính yếu về cuộc đời Chúa Giê Su Ki Tô và về Mẹ Người. Nếu tôi lần chuỗi mân côi trong ư thức và trong tâm trí, tôi có thể t́m được đề tài suy niềm tuyệt vời: miễn là tôi tuân theo trật tự những mầu nhiệm và biết áp dụng cách hữu ích cho linh hồn ḿnh, cho đến khi tràng mân côi trở thành một loại tạp chí những nhân đức tu sĩ đối với tôi, trong đó tôi xem xét lại ḿnh thực hành những mầu nhiệm tràng mân côi như thế nào, tôi c̣n thiếu cái ǵ, và tiếp đến tôi cầu xin ơn để có được những nhân đức ḿnh chưa có?

 Chính với Đức Maria, Mẹ tôi, mà tôi trao đổi về những nhân đức ấy. Mẹ là gương mẫu đối với tôi, và cũng như những sự toàn thiện của con Mẹ. Tràng mân côi phải giúp tôi vào sâu hơn nữa trong sự sống Chúa Giê Su và Mẹ Maria.

 Làm sao tôi làm tṛn sự thực hành sừng đạo này ? Không phải là bằng thói quen cổ hủ hay sao, không hề ư thức, phân tán luôn ? Tràng mân côi có phải đă là một sự thực hành sùng kính thật sự, hay đúng hơn nó chỉ thường là một việc làm máy móc mà thôi? Trong tràng mân côi, sự kính trọng nào tôi dành cho Mẹ Maria mà tôi cầu khẩn, v́ những mầu nhiệm lớn lao tôi phải suy niệm, và sự suy niệm nghiêm túc đă tạo nên biết bao ích lợi cho tôi ?

 

 

CHƯƠNG XVII: KINH NHẬT TỤNG

 

 Kinh nguyện phụng vụ mang ư nghĩa trên hết là sự diễn tả tuyệt vời nhất bởi ḷng sùng kính, sau việc tôn thờ Bí Tích Thánh Thế: Đó là trường dạy của Đức Ki Tô nơi ta tự rèn luyện ḿnh theo tinh thần siêu nhiên.

 

Thực hành trong Hội Ḍng: Khi đọc kinh nhật tụng chung, ta xin làm những việc sau:

1. Làm khổ hạnh bản thân v́ chúng ta, trong sự tăng mạnh những mệt mỏi mà giờ kinh nhật tụng có thể gây nên.

2. Lí do nêu gương cho trẻ em ở trường học nơi ta đọc kinh.

3. Trong tương quan với tha nhân, coi trọng những kinh nguyên quan trọng của Giáo Hội trên vô số thực hành mà ta không chê trách, nhưng ta tuân theo những kinh nguyện long trọng ấy như là kinh nguyện chung tốt nhất.

 

Nét đẹp của kinh nhật tụng: Kinh nhật tụng ở thế gian là chức năng của các thiên thần trên trời: Họ ca tụng Chúa với những nguồn linh hứng của Thiên Chúa. Tôi giám làm việc ǵ khi ca tụng Chúa với những lời Thánh Kinh, với những kinh nguyện được Giáo Hội cho phép? Khi đọc kinh nhật tụng, tôi phải góp phần vào sự chuẩn bị của thiên thần.

 Kinh nhật tụng có nghĩa là bổn phận phải làm. Kinh nhật tụng với một nghĩa nào đó là bổn phận trên hết mà Giáo Hội phục vụ Thiên Chúa, tức là sự tôn thờ chung, cầu nguyện, tôn thờ trên khắp hoàn cầu.

 Khi đọc kinh nhật tụng, tôi phải vào trong mỗi ư nguyện của Giáo Hội, tức là nơi hội tụ của các thánh trả nợ cho Thiên Chúa, khi thỉnh cầu sự bền bỉ của những người công chính và sự trở lại của những người tội lỗi. Chính Giáo Hội cũng chỉ cầu nguyện nhân danh Chúa Giê Su Ki Tô. Giáo Hội tiếp tục cầu nguyện ở trần gian này, như Tông Ṭa tối cao không ngừng đưa ra những kinh nguyện của Giáo Hội, từ trời cao, đến Thiên Chúa Cha. Tôi cầu nguyện trong sự hiệp nhất với Chúa Giê Su Ki Tô. Và thực vậy, nếu tôi hiệp nhất với Đấng Trung Gian của Thiên Chúa và con người, lời nguyện của tôi sẽ được Chúa nhậm lời.

 

Tra xét lương tâm : Cho đến bây giờ, tôi đọc kinh nhật tụng với ḷng tôn kính nào ? Tôi đă hiểu được danh dự khi thuộc về một Hội Ḍng nơi tôi dâng kinh nguyện chung lời nguyện long trọng nhất của Giáo Hội? Tôi đă thấm nhuần như thế nào những ư nguyện mà lời nguyện của Giáo Hội gợi lên? Với ḷng sùng kính nào, tôi hiệp nhất với hàng ngũ các thiên thần và các thánh ở trên trời đang không ngừng ca tụng Thiên Chúa? Tôi có t́m để chỉ muốn nên một với Chúa Giê Su Ki Tô, Đấng hằng sống luôn chuyển cầu cho chúng ta? Không phải là tôi thường hay để bị phân tán, chạy theo tính vô kỷ cương, theo buồn chán ? Và sự sống trên trời mà kinh nhật tụng mời gọi tôi gia nhập không phải đă từng là nguồn chán ngấy và thiếu tôn kính?     

 

 

CHƯƠNG XVIII : GIỜ NGỦ

 

 Một ngày nào đó tôi phải chết, và mỗi khi vào giấc ngủ, tôi sống kinh nghiệm về sự chết (ngôi mộ). Một ngày nào đó, tôi sẽ không thúc dậy lại nữa ; người ta sẽ đem tôi đến nơi an nghỉ trong ḷng đất và trông chờ sự thức giấc đời đời.

 Mỗi khi buồn ngủ, tôi có tin rằng ḿnh sẽ thức giấc trở lại trên trần gian này, và Chú rể sẽ không đến vào giờ tôi không ngờ như những trinh nữ trong dụ ngôn hay sao ? Tôi có chuẩn bị đèn dầu không ? Trái lại, không phải đèn dầu của tôi đang tắt dần sao ? Không phải nó đă tắt hẳn rồi sao ? Đó là điều tôi phải tự hỏi ḿnh mỗi lúc đi ngủ. Ôi ! nếu như, thay v́ tiếng chuông, như sẽ xảy đến một ngày nào đó, th́ lại là tiếng kèn tù và phán xét đến chớp lấy giấc ngủ, tôi sẽ xuất hiện như thế nào trước mắt đấng thẩm phán công chính ? Tôi có sẵn sàng chưa ? Và nếu chưa sẵn sàng, làm sao tôi có sự can đảm ngủ yên khi lương tâm rối bời ?

 Sự thing lặng trong đêm có thể là điều hữu ích và thánh thiện đối với tôi. "Tôi ngủ, nhưng ḷng vẫn thức", hiền thê trong sách Diễm Ca nói. Trong đó có một lời nói làm yên ḷng mà tôi có thể sử dụng để hiệp nhất hơn nữa với Thầy Chí Thánh. Chính trong sự thinh lặng ấy mà tôi có thể cầu nguyện với sự tập trung cao độ hơn. " Thứ thái b́nh an vừa nằm con đă ngủ", và sự tách khỏi những tạo vật, do sự yếu đuối của tự nhiên đ̣i buộc, đối với tôi có thể là một thử nghiệm việc chia li một cách trọn vẹn hơn, thức dậy và tràn đầy ư muốn, ngày mai tôi sẽ hoàn thành để t́m được sự yên nghỉ trong Chúa mà thôi.

 

 

 

 

 

CHƯƠNG XIX: SỰ XEM XÉT ĐẶC BIỆT

 

 

 Phần cuối của tập chỉ dẫn (Directoire), cha d'ALZON đă tạo thành một nhóm các phương cách kiểm tra, thanh tẩy bắt buộc đối với các tu sĩ tuyên khấn theo sự toàn thiên.

 

 Chỉ có không ngừng học tập th́ tôi sẽ mới biết được con người ḿnh. Việc xem xét đặc biệt là một sự rèn luyện rất hữu ích nhằm đem lại cho tôi nhận biết chính bản thân khi mạc khải cho tôi sự hư không và tội lỗi tôi. Nó cũng mạc khải cho tôi những nhược điểm vốn là căn nguyên của tội lỗi tôi. Nó cũng giúp tôi khám phá phương châm cứu chữa đối với mầm mống sự ác, sự dữ.

 Tôi làm ǵ để nhận biết tốt về bản thân? Với tính thành thật và tính nghiêm khắc nào tôi kiểm điểm bản thân ḿnh? Việc tra vấn lương tâm giúp tôi khám phá sự khiếp sợ nào về tính lạc lơng và những sa ngă của tôi trong cuộc sống thường ngày? Không phải tôi thường hay coi nhẹ vấn đề đó sao? Tôi có làm việc đó với ư chí quyết tâm đầy nghị lực để từ bỏ những ǵ không tốt mà tôi phát hiện ra trong tôi ? Tôi có đề ra cho ḿnh một sự ăn năn hữu ích nào đó khi nhận ra một số sa ngă quen thuộc ? Hay tôi luôn vẫn như cũ, bởi v́ tôi nghi ngờ ánh sáng sẽ to cho tôi thấy những nhược điểm, và bởi v́ tôi thiếu năng lực cần thiết để triệt tiêu nó tận gốc rễ ?

 

 

CHƯƠNG XX : XƯNG TỘI

 

 

  Xưng tội thường xuyên được yêu cầu đối với những người hay lo âu về sự toàn thiên : việc xưng tội ǵn giữ họ trong tinh thần khiêm hạ, đền bù và sửa chữa lỗi lầm.

 

 Tôi là một người tội lỗi, và Thiên Chúa, trong ḷng nhân từ, không ngừng dâng hiến máu của Con Người để tẩy rửa tôi trong bể thống hối. Tôi tiếp cận một bí tích để đón nhận ơn tha thứ tội lỗi nhờ công lao của máu Con Thiên Chúa với sự kính trọng nào !

 Việc tra xét lương tâm phải nghiêm túc. Xưng tội phải thành thật, thẳng thắn sẽ giúp nhanh gọn hơn. Sự ăn năn của tôi phải là lí do khiến tôi ư tứ cách nghiêm chỉnh hơn bao giờ hết ; bởi v́ nói chung, nếu tôi chỉ phạm những tội nhẹ phải xưng, quan trọng không phải là liệt kê dài ḍng mọi chi tiết về những lỗi lầm ấy, mà quan trọng là cảm giác đau đớn khi tôi thú nhận tội lỗi và quyết tâm mạnh mẽ để không mắc phạm lại những lỗi lầm đó nữa, nhờ hồng ân Thiên Chúa.

 Tôi xưng thú những ǵ ? Có phải là những chuyện kể hơn là những cáo tội ? Không phải tôi thường thích thú trong những chi tiết vô ích ? Tôi có thường t́m trong bí tích giải tội được ơn tha thứ tội lỗi, chứ không t́m trong đó như một sự thỏa măn của con người muốn bỏ đi những nặng nề trong ḷng ḿnh? Tôi có nhận ra Thầy ḿnh đang sẵn sàng tha thứ cho tôi tại ṭa cáo giải, ăn năn?

 Tôi có luôn ăn năn sám hối thật ḷng? Tôi có học nhận ra trong ơn tha thứ tội lỗi và trong sự kích thích sự ăn năn hối cải một lí do để yêu mến Chúa hơn nữa, Đấng phó ḿnh v́ tôi, để minh chứng t́nh yêu cho tôi ?

 Tôi đă chu toàn sự ăn năn sám hối đ̣i buộc như thế nào ? Có phải tôi chỉ thường ăn năn sám hối trên môi miệng mà thôi, trong khi tôi phải làm việc đó với tất cả ḷng sùng kính mà tôi có thể, cảm tạ Thiên Chúa trừng phạt tôi rất nhẹ nhàng do những tội lỗi tôi vừa thú nhận ?

 

 

CHƯƠNG XXI : VIỆC TÍNH TIỀN CHI TIÊU

 

 

 Một trong những phương tiện thánh hóa mạnh mẽ nhất trong đời sống tu sĩ, chắc chắn là việc tính chi tiêu. Nhưng để việc này sinh ra những hiệu quả như mong muốn, tôi phải thực hiện :

1. Trong tinh thần đức tin: dù người mà tôi tính tiền tiêu là ai, dù người đó cũng có lỗi lầm thiếu sót, người đó vẫn là người đại diện Thiên Chúa cho tôi. Vậy, không chỉ tôi phải nh́n nhận người đó, mà c̣n là Thiên Chúa Đấng tôi cầu xin sự trợ giúp, ánh sáng và khuyên răn.

2. Việc tính tiền của tôi phải đơn giản, rơ ràng, chính xác. Mọi úp mở khiến tôi mất lời nói rút cục chỉ là những mưu mẹo của ḷng tự ái, những t́m ṭi, tính khéo léo ngu xuẩn, hậu quả từ một nhu cầu quá đáng chăm lo cho cái tôi của ḿnh, hay tính bất lợi do tính khí rối rắm.

3. Tôi phải tránh những giải thích vô dụng và những lời xin lỗi triền miên. Kinh nghiệm minh chứng rằng, nói chung, những việc đó chỉ làm mất thời gian mà thôi. Thời gian của các Bề Trên là quí giá, và nhất là trong những nhà đông người. Cái ǵ tôi cho là quá vô ích với ḿnh, tôi bỏ đi v́ cần thiết cho những anh em khác. Tính trung thực không phải là sự dài ḍng. Càng ngắn gọn, có tính tốt, tôi càng trung thực. Vậy nhưng, nếu tính trung thực trọn vẹn không ở giữa trong việc tính chi tiêu, việc làm ấy của tôi là hoàn toàn vô ích.

Với lí do muốn nói hết mọi điều, nếu tôi phải tranh không ngừng lập lại những đề tài như nhau, như vậy làm cho những quan hệ trong lương tâm không bao giờ giải tỏa với các Bề Trên. Cũng vậy, hiển nhiên khi sẽ cần thiết, tôi phải biết dùng mọi thời gian của ḿnh. Quy luật tốt nhất cho việc đó là nói với họ. Khi hiểu vấn đề, họ sẽ nói cho tôi biết. Và như vậy hoàn toàn vô ích t́m cách minh chứng để họ nhận ra là họ không hiểu ǵ. Tôi buộc họ phải trả lời theo ư muốn của tôi, trong những bối cảnh ấy, khổ nỗi là câu trả lời hầu như không bao giờ là ư Chúa.

 Những nhược điểm trên được tránh, chắc rằng việc tính toán trong chi tiêu có thể là một tính hữu ích nhất đối với tôi. Nó mở ra và cũng khép lại tâm hồn tôi, để hồn tôi an b́nh hơn giữa bàn tay của những người mà linh hồn tôi được tín thác. Nó làm sáng tỏ những nghi vấn, làm cho tôi nên mạnh mẽ, khích lệ tôi và kích động tôi đối xử rộng lượng và nhiệt t́nh hơn. Cuối cùng, nó đưa tôi cận kề với Chúa, Đấng mà tôi phải đón nhận những tiếng nói từ môi miệng những người hướng dẫn tôi.

 

CHƯƠNG XXII : THÚ NHẬN LẦM LỖI

 

 Chương này nhắc nhở ta bổn phận phải nhắc nhở và sửa đổi cho nhau trong t́nh huynh đệ. Một việc làm hay bị né tránh một cách khéo léo, trong khi đó là một trong những hoa trái tế nhị nhất của đức ái.

 

 Chương về thu nhận tội lỗi được lập nên để tự thân rèn luyện đức khiêm hạ. Đó là một thực hành rất ghê tởm đối với bản tính vốn ít thỏa ḷng nh́n nhận những nhược điểm nơi bản thân; đồng thời là một sự rèn luyện mà tôi phải thực thi đức ái trong những lời tuyên bố mà tôi được mời gọi thi hành.

 Phần này rất quan trọng trong đời sống tu sĩ, có thể đối với tôi là một hành vi không có tầm quan trọng, buồn cười, nguyên cớ của sự nổii dậy nội tâm, một nhục nhă ê chề, nếu như tôi chỉ đón nhận với những từ thế của con người. Nó có thể có những kết quả quí giá nhất, nếu như tôi dự phần vào đó với đức tin, đức ái và đức khiêm nhường.

 Đức tin có thể hiệp nhất tôi với những nhục nhă của Chúa khi Người đứng trước ṭa xét xử ở Giêrusalem. Đức ái có thể khiến tôi có những ư kiến kinh khiếp, nhưng đức ái cũng tạo cho tôi có thể thể hiện đủ những tố chất siêu nhiên để chấp nhận những ư tưởng khủng khiếp đó. Cuối cùng, đức khiêm nhường khích lệ tôi chấp nhận những ư kiến được đem đến cho tôi, ví dụ như ư kiến tố cáo những nhược điểm của tôi với mục đích giúp đỡ và sửa chữa tôi.

 Chương về sự thú nhận tội lỗi đă là ǵ đối với tôi ? Với những thái độ nào, tôi đă thú nhận tội lỗi của ḿnh ? Tôi có đón nhận những ư khuyên và những việc ăn năn sám hối mà người khác đă chỉ cho tôi ?

 

 

CHƯƠNG XXIII : ĐỜI SỐNG NỘI TÂM

 

 Sách hướng dẫn (chỉ dẫn) chỉ là một lời khích lệ để sống sự sống của Chúa Ki Tô. Sự sống này được ban tặng cho ta từ Trời Cao nhưng với điều kiện và với chừng mực từ sự từ bỏ của ta ; ḷng sùng đạo không nên uể oải, với lí do là phải nhẹ nhàng, mềm mại ; con đường của ḷng sùng đạo thật là con đường Calvaire.

 

 Những điều kiện không thể tránh : Đời sống tu sĩ nói riêng chỉ là đời sống toàn thiên hơn của Thiên Chúa trong linh hồn ta, và sự sống đó chỉ có thể được thiết lập nhờ cái chết hoàn toàn nơi chúng ta. Để chết đi chính ḿnh, cần thực hiện :

1. Chết đi những giác quan, chinh phục nó cho đến khi nó hoàn toàn bị khuất phục và đến khi nó không c̣n chế ngự nào nữa trên chúng ta.

2. Chết đi những ham muốn xác thịt. Đến bao giờ c̣n ham muốn ǵ khác ngoài Chúa hay cái ǵ không liên quan đến vinh quang Thiên Chúa, tôi sẽ chưa chết đi những dục vọng.

3. Chết đi những t́nh cảm lưu luyến đặc biệt. Lời Chúa ăn sâu vào trong tôi hơn lưỡi gươm hai lưỡi. Lời Chúa thấm sâu vào tôi đến tận đáy ḷng. Thiên Chúa là Đấng ghen tị, Người muốn là Thầy duy nhất của hồn tôi.

4. Chết đi những tạo vật. Từ khi tôi là người tu sĩ, thế gian đă chết đối với tôi và tôi cũng chết đi trong thế gian. Khi nào c̣n có cái tôi chưa từ bỏ, tôi sẽ c̣n sống sự sống loài người, tôi sẽ chưa thể đạt đến sự toàn thiện của sự sống nội tâm.

5. Chết đi chính ḿnh tôi. Đó là việc khó khăn nhất, và thế nhưng tôi phải làm cho bằng được. Rất có thể sự chết này không thực hiện được mà không phải chịu đ̣n đau. Trong sự chết này tôi phải chịu đựng như trong giờ hấp hối của linh hồn, giờ mà linh hồn được tẩy rửa. Phải đi qua nhọc nhằn, buồn chán, khó khăn, cám dỗ đủ thứ. Đó là những điều kiện của đời sống nội tâm.

 

Tra xét lương tâm : Rốt cuộc, tôi có quyết định đi qua bằng những con đường ấy không ? Tôi có muốn từ bỏ những giác quan và làm lay chuyển tính tàn bạo của nó không ? Tôi có muốn chỉ khát khao những sự trên trời, những t́nh thương quyến luyến dành cho Chúa mà thôi ? Những ham muốn xác thịt của tôi có bị chế ngự không ? Những t́nh thương quyến luyến của tôi có bị khuất phục không ? Trọn tấm ḷng tôi có được thiếu hủy bởi t́nh yêu Thiên Chúa ? Những tạo vật là ǵ đối với tôi ? Nó có c̣n làm tôi bận tâm nữa không ? Tôi có cho đi tất cả những ǵ xung quanh tôi và ở trong tôi ? Tôi có chấp nhận những điều kiện của sư từ bỏ tuyệt đối này , của sự trần truồng của linh hồn mà tôi phải chịu đựng, nếu tôi muốn được mặc lấy Đức Giê Su Ki Tô ? Tôi đă chết để cho sự sống của tôi được ẩn náu với Chúa Giê Su Ki Tô trong Thiên Chúa ?

 Nhưng tôi không thể yêu mến Chúa Giê Su Ki Tô mà không muốn mọi tạo vật yêu mến Người, và đó là li do về đặc tính tông đồ trong cuộc sống tôi.

 

Lời cầu nguyện kết thúc : Ôi lạy Chúa, đây là mục đích cuộc đời con : từ bỏ mọi sự, tránh xa mọi sự, để được mặc lấy Con của Chúa và măi măi hiệp nhất với Chúa. Xin ban cho con ánh sáng để nh́n thấy những ǵ con đang thiếu. Xin ban cho con sức mạnh để đạt được những nhân đức không có. Xin ban cho con hồng ân theo đuổi ơn gọi của con, ngox hầu khi làm con thật sự của Giáo Hội và của Trinh Nữ rất Thánh, con không quá bất xứng được bắt chước những nhân đức của Chúa Giê Su, Thầy con.

 Ôi lạy Chúa, nguyện sự hiệp nhất của con với Chúa được bắt đầu trên trần gian này, được thiêu hủy muôn đời trong đại dương của ḷng nhân từ, t́nh yêu, và những sự toàn thiện vô tận! Nguyện được như vậy!

 

 

 

 

II. NHỮNG GIẢNG DẠY TẠI KỲ BẾ MẠC TÔNG TU NGHỊ

 

          Những kỳ tổng tu nghị từ năm 1868 đến 1873 và bốn lá thư gửi Cha giáo tập (1868-1869)

 

                                   Bài dẫn nhập thứ nhất

 

Bài giảng ngày 17 tháng 9 năm 1868, lúc kết thúc kỳ họp chung, và những "lá thư gửi Cha Giáo Tập" viết vào những năm 1868 và 1869 gắn liền rất chặt chẽ với phần Linh Thao vừa mới được chính thức công nhận. Giống như phần chỉ dẫn linh thao, phần giảng dạy được phát triển trong bộ khung của ba mặt trong t́nh yêu Thiên Chúa, t́nh yêu Thánh Nữ Đồng Trinh, Mẹ Người, và t́nh yêu Giáo Hội, Hiền Thê của Người. Nhưng trước đó, tầm quan trọng của khẩu hiệu ADVENIAT REGNUM TUUM đă được nhắc lại rất rơ cho chúng ta. Ngay từ ban đầu lúc lập Ḍng mà câu nguyện xin thứ hai trong kinh lạy Cha đă được thông qua như là bản năng cho khẩu hiệu của Tu Viện mới. Ba khía cạnh trong t́nh yêu sẽ chỉ được diễn tả lên sau này, trong giai đoạn cha d’Alzon gặp phải những thử thách về sức khỏe từ năm 1854 đến 1858, như là một sự đào sâu về mặt thiêng liêng về  khẩu hiệu A.R.T.: Tinh thần phục vụ hào hiệp v́ Nước Trời đ̣i hỏi một t́nh yêu trọn vẹn đối với Đức Ki Tô. Cha d'ALZON muốn đưa chủ đề NƯỚC TRỜI vào trong phần Chỉ dẫn linh thao, nhưng cha cho rằng tốt hơn khi bàn thảo chủ đề này cách riêng, kỹ lưỡng hơn vào một dịp thuận tiện. Đây là việc Ngài đă làm, nhằm đáp ứng mong mỏi của Kỳ Họp năm 1868, một cách thân mật hơn, nhưng luôn luôn sâu sắc, trong những "bức thư gửi Cha Giáo Tập".

 

 

                                        BÀI GIẢNG DẠY

 

được đọc vào lúc kết thúc Kỳ Tổng Tu Nghị của các Cha (Thầy) Augustinô Mẹ Về Trời ngày 17 tháng 9 năm 1868

 

Sollociti servara unitatem spiritus in vinculo pacis (ép IV, 3).

 Bài giảng dạy này, vả lại đă được trích vào rất khéo trong in ấn của cha Picard, en 1884, là bài b́nh luận được đặc biệt đánh giá tốt về phần thứ nhất trong Phần chỉ dẫn linh thao.

 Bắt đầu từ khẩu hiệu này, cha Picard nhấn mạnh về những đặc điểm nổi bật nhất của t́nh yêu chúng ta đối với Thiên Chúa, đối với Thánh Nữ Đồng Trinh, Mẹ Người, và đối với Giáo Hội, Hiền Thê của Người. Và luôn luôn từ khẩu hiệu này, cha Picard nêu ra những chú trọng chính yếu trong hoạt động tông đồ kêu gọi ta thực hiện, trong những thử thách hiện tại của Giáo Hội, trong sự hài ḥa hoàn hảo với ba khía cạnh trong t́nh yêu.

 

 Cảm tạ vi tính nghiêm trang của Tu Nghị: Các cha, các con, cha rất vui muợn những lời này của thành Phao lồ, bởi v́ cha thấy đó là đại ư về những công việc và những lần hội họp rất quan trọng, quí giá mà ta kết thúc hôm nay. Một tinh thần hiệp nhất mạnh mẽ hơn trong những nguyên tắc được đề ra rơ ràng hơn. Mối dây của t́nh bác ái đă trở nên mạnh mẽ, sâu lắng, triển nở hơn bao giờ hết, nhờ những trao đổi trong t́nh thân hữu này, ta đă cố gắng tạo ra sự trong sáng như tinh thể cho ḷng trí chúng ta, bởi v́ chúng ta không có ǵ phải che dấu, không có ǵ để giữ kín: đó sẽ và măi măi là lí do việc ta ơn của chúng ta đối với Chúa Cha của mỗi ánh sáng, nơi Người tuôn chảy mọi ơn toàn thiện, nơi Người ta đă đón nhận biết bao đặc ân trong suốt những ngày được chúc phúc này.

 

Đề nghị của Cha d'ALZON: Lúc chia tay nhau, cha muốn tín thác cho anh em, nếu cha có thể nói như vậy, di chúc về suy nghĩ chung và về những cảm nhận chung, nhắc nhở anh em một lần nữa, có thể là lần cuối cùng, công việc của Ḍng Mẹ Về Trời dựa vào cơ sở nào, nền tảng nào, và bằng phương tiện nào chúng ta muốn phát triển công việc của ta hơn bao giờ hết .

 Có lẽ cha không dạy ǵ mới mẽ cho các con. Cha sẽ không nói ǵ với các con v́ các con đă suy nghĩ tốt hơn nhiều khả năng diễn đạt của cha. Tuy nhiên, những lời của cha có thể tạo ra tính nghiêm trang hùng vĩ hơn cho buổi lễ tổng kết này. Những lời ấy cũng có thể được dùng cho lần bế mạc kỳ họp lần sau bởi chúng ta cảm thấy buồn đến giờ bế mạc chia tay, nhưng cũng có thể là một sự nhấn mạnh về sự tin tưởng trong những mối dây siết chặt chúng ta, v́ không ǵ hơn sự xa cách chỉ dạy cho anh em  biết có khả năng yêu thương nhau.

 

 Công việc của Ḍng Mẹ Về Trời dựa trên nền tảng nào

 

L'A.R.T và ba khía cạnh trong t́nh yêu là nền tảng cho công việc : Đời sống thiêng liêng, bản chất người tu sĩ, lí do hiện hữu với tư cách là Tu sĩ Augustinô Ḍng Mẹ Về Trời của ta nằm trong khẩu hiệu : ADVENIAT REGNUM TUUM. Triều đại Nước Thiên Chúa trong linh hồn ta, bằng những thực hành các nhân đức ki tô giáo và các lời khuyên của Tin mừng, tương xứng với ơn gọi của ta ; Triều đại Nước Thiên Chúa trên trần gian bằng sự tranh đấu chống lại Satan và cuộc phục chinh những linh hồn được Chúa Ki Tô cứu chuộc và thế nhưng vẫn đang ch́m ngập trong bóng tối của lỗi lầm và tội lỗi. C̣n ǵ đơn giản hơn ! C̣n ǵ tầm thường hơn h́nh dáng t́nh yêu này của Thiên Chúa! nếu cha có thể nói như vậy. Nếu các con thêm t́nh yêu Chúa Giê Su Ki Tô, t́nh yêu Thánh Nữ Đồng Trinh, Mẹ Người, và t́nh yêu Giáo Hội, Hiền Thê của Người vào trong t́nh yêu chính thế ấy, các con sẽ biết dưới thành ngữ vắn gọn nhất tinh thần của Ḍng Mẹ Về Trời.

 

Không ǵ đơn giản và thành thật hơn người công giáo: Những có ǵ đặc biệt trong đó? Mọi người ki tô hữu thực sự có thể chấp nhận không? Những tư tưởng nào, dưới những tư tưởng căn bản này có thể phân biệt chúng ta với những gia đ́nh tu sĩ khác không? Không phải các tu sĩ và những người ki tô hữu ngày nào cũng nhắc lại Kinh Lạy Cha tiếng kêu mà chúng ta muốn biến thành tiếng kêu mang tính khẩu hiệu: ADVENIAT REGNUM TUUM? Những người ki tô hữu và các tu sĩ không phải tất cả đều phải yêu mến Chúa Giê Su, Thánh Nữ Đồng Trinh, Giáo Hội hay sao? Một lần nữa, tại sao muốn biến di sản chung của tất cả mọi người thành đặc điểm riêng của Hội Ḍng?

 Trước hết cần nhận ra đặc tính đầu tiên của Tu Viện chúng ta: Tính đơn giản về những phương châm.

 Người ta cho rằng cái hiếm nhất trên trần gian, đó là quan điểm chung. Khẳng định rằng trong thế giới công giáo cái hiếm hoi nhất là quan điểm chung công giáo có phải là một nghịch lí không? Chính v́ điều đó mà ta t́m cách lấy nó làm của ḿnh như một nét độc đáo. Chúng ta đơn giản là người công giáo, nhưng là những người công giáo hết khả năng của ḿnh. Chúng ta là người công giáo cùng một khối, và bởi v́ với thời gian trôi qua, nhiều người chỉ là bạn-công giáo, nhiều người công giáo trong thời đại họ, những người công giáo bằng việc ḥa giải, những công giáo tự tin là công giáo, c̣n chúng ta, chúng ta là những người công giáo thành thật, trước hết mọi sự, toàn vẹn, chúng ta bước qua những con mắt của đám đông để đến với những người ở cách biệt, nếu không phải là những người đặc biệt. Đó là đặc tính đầu tiên của tu sĩ Augustino Ḍng Mẹ Về Trời.

 

a) T́nh yêu của ta đối với Chúa. Đối diện với sự cứng tin thời hiện đại, nhận ra những quyền của Chua

 Sẽ c̣n được tỏ hiện rơ hơn nữa, nếu ta nói về t́nh yêu của ta đối với Chúa Giê Su Ki Tô. Bị tấn công tứ phía, Thầy Chí Thánh là sự điên rồ cực độ trong sự khéo léo của con người hiện đại. Ngài là x́-căng-đan của Do Thái Giáo chiếu theo lề luật, theo thuyết duy cảm tàn nhẫn hay tinh vi.

 Vậy th́ ngày nay ai muốn Đức Giê Su Ki Tô? C̣n sót một người nào không lên án Người? Chính viên đá ấy, trưởng tử các thánh tông đồ nói như vậy với dân thành Giêrusalem, năm mươi ngày sau cái chết của Đấng Cứu Thế, chính tảng đá này, ôi những thơ xây bất cẩn, mà các người đă vứt bỏ, nhưng nó đă được thiết lập như tảng đá góc tường : (Cv 4, 2). Vâng, luôn luôn chính viên đá khiếp sợ đó, chính Đấng Cứu Độ đă nói về viên đá ấy : " Kẻ nào vấp phải viên đá ấy sẽ bị ngă, và kẻ nào bị viên đá ấy rơi xuống sẽ bị tan nát ". (Mt 21, 44). Vậy, chính trên tảng đá này, theo gương Thiên Chúa, chúng ta muốn xây dựng, bởi v́ tảng đá ấy là nền tảng đức tin chúng ta. Đối với ta tất cả được đổi mới lại trong Đức Giê Su Ki Tô. Đó là lời rao giảng duy nhất của ta, bởi v́ đó là nguồn hiểu biết duy nhất của ta. Nhờ Người và chỉ nhờ Người mà thôi, ta đến với Chúa Cha, và trong Người những kho tàng ơn khôn ngoan và hiểu biết về Thiên Chúa được ẩn chứa. Nơi Người sự toàn thiện dồi dào ngự trị. Ta đă thấy nhiều hồng ân và sự thật, sự thật để xua đuổi những bóng tối, những hồng ân để ta vượt qua sự dữ, sự ác. Chúng ta không cần nghe một thầy nào khác nữa. Người có lời ban sự sống đời đời: Domine, ad quên ibimus?

 

Càng thẳng thắn và hăng say nồng nhiệt v́ Chúa th́ càng bị lăng quên và bị bác bỏ : Đúng vậy, ta đến với Chúa Giê Su Ki Tô, ta khẳng định về Chúa Giê Su Ki Tô trước mắt những kẻ phủ nhận Người, hay thù ghét Người, hay từ bỏ Người; sự phụ nhận của kẻ cứng tin, sự hận thù của kẻ ô uế, sự bỏ rơi của kẻ lạnh nhạt thờ ơ hay của kẻ phản bội đối với chúng ta là biết bao nguyên do để ta quây quần bên Đức Giê Su Ki Tô bằng một t́nh yêu nồng nhiệt hơn, năng động hơn, mềm mại hơn, và tỏ hiện cách long trọng hơn. Trong Người ta yêu mến Thiên Chúa, và dù không xứng đáng, ta tuyên xưng thiên tính của Người ; ta yêu con người, có nghĩa là con người hoàn thiện nhất giữa mọi mẫu mực và nhẹ nhàng nhất giữa các bạn hữu. Ta yêu con Người-Chúa ; tức là Đấng ban b́nh an từ trời và đất, tiến sĩ thực thụ về luật, finis legis Christus, Đấng dẫn đưa vào thế giới siêu nhiên, khi rửa ta trong máu của Người, Người mang lấy ta bằng sức mạnh và ḷng nhân từ của Người trong những phạm vi bậc cao mà con người ngày nay không ước muốn nữa. Bởi v́ những phạm vi đó là đế chế thực sự của Đấng tối cao mà người ta không muốn, hơn nữa thậm chí v́ những hồng ân của Người. Thật vậy, ta yêu mến Người bởi v́ Người mang đến cho ta ánh sáng thật và ích lợi thật. Ta yêu mến Người bằng tính yêu của những thời đại ban đầu, bởi v́ thù địch ta gặp ngày nay cũng như ngày xưa, bằng t́nh yêu làm cho Tông Đồ mạnh mẽ nói : " Nếu kẻ nào không yêu mến Chúa Giê Su Ki Tô, đó là kẻ bị kết án : Si quis non amat Dominum Jesum Christum, sít anathema ! ". Có thể điều đó không có tính rộng lượng, nhưng anh em biết rằng ai yêu nhiều th́ dung thứ ít, và nói cách riêng khác, bản tính thật sự của t́nh yêu ở trong sự rắn rỏi, mạnh mẽ của sự bất dung thứ cao thượng và thẳng thắn. Những lúc không c̣n năng lực nữa để yêu thương hay để hận thù, con người không nhận ra rằng sự rộng lượng thứ tha của họ là một dạng thức mới của sự yếu đuối nơi họ. Chúng ta từ chỗ là những người bất dung thứ, bởi v́ chúng ta lấy sức mạnh trong t́nh yêu ta dành cho Đức Giê Su Ki Tô. Đó là một đặc tính phân biệt rất rành mạch. Đặc tính ấy phân biệt ta với nhiều người khác.

 

b) T́nh yêu ta dành cho Thánh Nữ Đồng Trinh, gương mẫu gần gũi nhất : T́nh yêu dành cho người Con dẫn ta đến với t́nh yêu người Mẹ. T́nh cảm tŕu mến của ta đối với Thánh Nữ Đồng Trinh không có giới hạn, cũng như t́nh thương của Mẹ dành cho ta không có giới hạn. Đức Giê Su Ki Tô là gương mẫu hoàn thiện nhất của tất cả mọi người. Nhưng Đức Giê Su Ki Tô là Chúa. Mẹ Maria chỉ là tạo vật, song Mẹ cũng là một gương mẫu ít làm nản ḷng tính yếu đuối của ta v́ tính toàn thiện kém tuyệt đối hơn, nếu tôi dám nói như vậy. Mẹ là gương mẫu cho các con nuôi của Mẹ. Các con nuôi của Mẹ muốn theo Mẹ vượt qua những mức độ thánh thiện và mọi nhân đức mà sự thánh thiện chứa đựng. Mẹ là gương mẫu được nêu ra cho mọi người ki to hữu, nhất là cho các linh hồn ưu tú mà nhu cầu có một sự sống hoàn thiện hơn, trong sạch hơn, được hy sinh nhiều hơn làm cho đau đớn, và ta thường được phó thác dẫn dắt.

 

Trong những thử thách về đời sống siêu nhiên : Cuộc đời Mẹ Maria ở giữa vẻ đẹp do ân huệ đặc biệt v́ việc Mẹ sinh ra không tỳ vết và sự biến đổi hầu như là thiên tính bởi lên việc Mẹ lên Trời đầy khải hoàn. Như vậy chứng tỏ rằng ngay cả tạo vật cũng có thể được nâng lên nhờ nhịn nhục, hy sinh, đau khổ, từ bỏ, tra vấn trong ḷng cao độ nhất. Cuộc sống dạy ta những nghiêm khắc mà Thiên Chúa sử dụng đối với các linh hồn ưu tú. Đó là tính toàn thiện, tính tế nhị, những thử thách theo trật tự siêu nhiên được đặt ra cho ta trước hết. Đó c̣n là giảng dạy mà ta được giao để mạc khải cho những ai muốn thấy được tóm lược trong một linh hồn tất cả những sự vừa ư của Thiên Chúa đối với tạo vật mà Người đă yêu thương nhất.

 

Trong những đau khổ của chức tông đồ: Sự vô tội không thể so sánh của Mẹ Maria và những đau khổ của Mẹ cũng không thể so sánh đem lại cho ta, trong mâu thuận theo vẻ bên ngoài, mầu nhiệm mà con người không thể hiểu thấu, hạnh phúc minh chứng t́nh yêu bằng đau khổ và bằng sức mạnh hy sinh khi t́nh yêu là căn nguyên. Hơn nữa, Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giê Su, không phải Mẹ có thể là gương mẫu của ta trong mầu nhiệm nhập thế? Đúng vậy, về mặt này, Mẹ sẽ là gương mẫu cho chúng ta nhờ tính nhiệt tâm mà Mẹ linh hứng cho ta và khát mong sinh ra những linh hồn cho Chúa Giê Su Ki Tô và sinh Chúa Giê Su Ki Tô trong các linh hồn : Filioli quos iterum parturio, donec Christus formetur in vobis. Đó là tiếng kêu do những mối lo sợ trong công cuộc rao giảng tông đồ. Tiếng kêu cứu này đối với chúng ta cũng như đối với Mẹ Maria, khởi đầu tại hang đá và chỉ kết thúc ở cây thập giá. Thế nhưng, ḷng sùng kính hiểu như vậy có thể là khá xa cách ḷng sùng kính uể oải với lí do muốn nhẹ nhàng, không có năng lực, số x́-căng-đan. Những nhượng bộ, những phản bội của báo chí không c̣n biết chỉ ra cây Thập giá đầy hoa và thuốc thơm và đồi Calvaire bị ch́m trong khí uất lờ mờ.

 

c) T́nh yêu đối với Giáo Hội. Mầu nhiệm Giáo Hội : Tôi có thể nói ǵ về t́nh yêu đối với Giáo Hội ? Giáo Hội là cái ǵ đó rất đáng ngưỡng mộ mà mọi thành ngữ dường như không đủ dưới bút danh của các nhà văn thiêng liêng để nói lên những ḱ diệu của Giáo Hội, những giàu có, sức mạnh, vẻ đẹp, vinh quang của Giáo Hội. Hăy lắng nghe Giáo Hội nói với anh em rằng Giáo Hội là nhà tạm của Thiên Chúa với con người, là cột trụ và là nền tảng không thể lay chuyển của sự thật đời đời. Rằng Giáo Hội là thân thể huyền nhiệm và là nét toàn thiện cuối cùng của Chúa Giê Su Ki Tô. Rằng Giáo Hội c̣n là Hiền Thê không tỳ vết và hoàn toàn đẹp đẽ của Người. Đối với Giáo Hội, Con Thiên Chúa đă đến trần gian và đă hiệp nhất với nhân loại. Người muốn dùng Giáo Hội để mở rộng cái lều của Người. Giáo Hội là nơi Người ưa thích hơn hết, là đội binh nhờ đó mà Người hủy diệt kẻ thù. Tất cả mọi danh hiệu ấy của Giáo Hội, danh hiệu đánh động ta nhất là danh hiệu Hiền Thê. Hiền Thê là lí do của những ưa thích nhất đầy tính ghen tị của người Phu Thê là Thiên Chúa. Ta yêu mến Giáo Hội bởi v́ Đức Giê Su Ki Tô đă yêu thương Giáo Hội. T́nh yêu của ta mang ba đặc tính: siêu nhiên, táo bạo, vô vị lợi.

 

Đặc tính t́nh yêu này: siêu nhiên đối diện với chủ nghĩa tự nhiên thời hiện đại: T́nh yêu là siêu nhiên. Chính trật tự siêu nhiên này làm ta vui thích tràn đầy ḷng cảm phục đối với Giáo Hội. Mọi sự được thực hiện cho những người được chọn với mục đích chỉ ở trong Giáo Hội. Nếu có khi nào sự tranh đấu giữa sự lành và sự dữ (giữa thiện và ác), giữa thật và giả, giữa Giêrusalem và Babylon, giữa thiên đàng và địa ngục, giữa Giáo Hội và Cách mạng, đă được tỏ hiện, cuộc tranh đấu đó chắc chắn diễn ra chính hôm nay. Hăy nghe con người lập lại lời của Satan: "Tôi sẽ không vâng nghe, tôi sẽ lên trời và sẽ trở nên như Đấng Tối Cao: Non serviam, in coelum conscendam, et similis ero Altissimo ". Con người đi đến phủ nhận Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa gây chướng ngại cho con người khi đạt vào con người cái ách của lương tâm, của bổn phận, của nhân đức. Cái ách ấy, để có thể bẻ găy nó, con người không có cách nào khác ngoài việc nói lên rằng: Thiên Chúa không tồn tại. C̣n ta, đối diện với những vấn đề tương tự như vậy, như xếp trưởng của đoàn binh trên trời, ta phải không ngừng lập lại lời này: "Kẻ nào có thể như Chúa? Quis ut Deus?" Satan, để lật đổ Giáo Hội, cố gắng lật đổ mọi trật tự xă hội, và năm mươi hoặc sáu mươi ngai ṭa bị suy sụp từ một thế kỉ này do Satan đều là kinh nghiệm từ những cố gắng cuối cùng để nó lật đổ ngai Ṭa của Đấng đại diện Đức Giê Su Ki Tô trên trần gian, trong sự bất lực của nó khi muốn lật đổ chính ngai ṭa của Đức Giê Su Ki Tô trên trời. Nolumus hunc regnare super nos! Bọn ở địa ngục la lên, và theo chúng là dân cứng tin, dân ô uế, dân tứ tung đủ mọi thuyết giáo, tất cả đều là nô lệ của người đàn bà đị điếm mà thánh tông đồ nh́n thấy ngồi trên con vật đầy những phạm thượng. Bà ta mặc đồ phẩm tía, tay cầm chén chứa đầy điều ghê tởm, và đầy vật hoen úa bởi tội thông dâm, và trên trán của bà được ghi ḍng chữ này : Bí nhiệm làm sao ! Babylon vĩ đại, mẹ của mỗi điều ghê tởm trên trần gian.

 Anh em có thể t́m thấy một bức tranh mang tính ngôn sứ nào khác hơn, mang tính chính xác hơn về Cuộc cải cách? Đó là kẻ thù rùng rợn của Thiên Chúa và của Giáo Hội. T́nh yêu ta dành cho Giáo Hội sẽ có được chừng mực nhờ ḷng nhiệt thành để lật độ Cách mạng (cuộc cải cách?). Vậy nhưng, ta yêu mến Giáo Hội bởi v́ Giáo Hội chứa đựng mọi kho tàng siêu nhiên đă được Phu Thê Trên trời (Thiên Chúa) tín thác và chính Cách mạng ghét bỏ. Trong Giáo Hội, ta t́m thấy lời rao giảng về sự thật, luật toàn thiện, mầm mống của mọi nhân đức. Trong Giáo Hội ta t́m thấy Vương Quốc thật sự của Thiên Chúa ở hạ thế, ta cũng t́m thấy sự qui tụ đông đảo của các thánh và các môn đệ Chúa Giê Su Ki Tô. Trong Giáo Hội, ta chiêm ngắm tính vững bền ở giữa các xă hội đang bị suy tàn. Nhờ Giáo Hội, ta có niềm hy vọng thiêng liêng đến một hạnh phúc mà con người sống biệt lập sẽ không thể với tới được. Nhờ Giáo Hội, ta cảm nhận được sức mạnh để vươn lên từ cơi lưu đày trên trần gian để về quê trời, tổ quốc vĩnh cửu và vinh quang của ta. Những tất cả những điều đó đều vượt qua bản tính tự nhiên. Nó thuộc về trật tự siêu nhiên mà chỉ Chúa Giê Su Ki Tô qua Giáo Hội mới có thể dẫn đưa ta vào. Và v́ điều đó mà t́nh yêu ta dành cho Giáo Hội trước hết là một t́nh yêu siêu nhiên.

 

Sự táo bạo, mạnh dạn trong cuộc hội ngộ với tính thận trọng quá nhân trần : Hơn nữa, t́nh yêu này là táo bạo. Khi những hiểm nguy thôi thúc, khi những vực thẳm được đào sâu, quá sâu dưới chân ta, khi những hy vọng từ địa ngục tỏ hiện bằng những tiếng than tai họa như những người ta nghe mỗi ngày bùng phát niềm vui hoang dại, chạy theo những lí thuyết thận trọng nơi xác thịt, có nghĩa là những quyền lợi của con người, và những phối hợp chính trị. Hơn cả sự hèn nhát, đó là sự phản bội, là sư phạm thượng. Người ta tố cáo ta quá làm hại thanh danh của ḿnh, và đó chính là vinh quang của ta.

Ôi những kẻ thận trọng, tôi e rằng các ngươi sẽ nhận thấy Giê Su Ki Tô rất liều lĩnh khi Người làm liên lụy đến công việc của Giáo Hội khi chết trên cây thập giá. Các đấng tử đạo cũng là những người điên dại. Các tông đồ là những người ngu ngơ khi họ can đảm làm chứng cho Sự Phục Sinh của Đấng Cứu Độ dưới những cơn bách hại của dân do thái và dân ngoại. Đối với ta, trong sự điện rồ, ta ghen tị về tính táo bạo của đấng tử v́ đạo, về tính liều lĩnh của các Tông Đồ, và chính với tính táo bạo này mà ta mang ư định yêu mến Giáo Hội, phục vụ Giáo Hội hết sức ḿnh, luôn nhớ rằng thế gian đă được cứu nhờ sự điên rồ rao giảng và sự táo bạo có vẻ khinh suất của những người rao giảng.

Đó là t́nh yêu của người đứng đầu các tông đồ (thánh Phêrô) và của nhà rao giảng cho mọi nước (thánh Phao lồ). Thật vô ích cho rằng t́nh yêu mạnh mẽ, táo bạo này rất hiếm trong thời đại chúng ta. Nó c̣n khắc ghi một dấu ấn đặc biệt. Nó là một lí do mới đối với chúng ta để sống theo như ta mong muốn.

 

Cho không như mối t́nh yêu đích thực : Cuối cùng, t́nh yêu của chúng ta là cho không, tôi không dám nói là hào hiệp, như mọi sự thiết lập vĩ đại các ḍng tu trong thuở ban đầu. Thật buồn khi thấy con người nhận hết về ḿnh ít việc lành mà con người có khả năng thực hiện, khi con người muốn thực hiện một ḿnh và cản trở những người khác thực hiện việc ấy, khi chính con người không thể làm mọi việc. Ôi ! thưa anh em, mong đó không phải là sự cám dỗ của ta. Anh em hăy yêu thương Giáo Hội để vui mừng về những việc lành mà các con cái của Giáo Hội hoàn thành và v́ sự chiến thắng của Giáo Hội, đừng loại bỏ một h́nh thức thánh thiện nào, dùng loại bỏ h́nh thức bác ái nào. Ta không thể gánh vác hết tất cả mọi việc cho ḿnh. Hăy yêu thương, hăy mến phục, hăy khích lệ những người khác khả năng mà chính chúng ta không thể có. Mong lợi ích chung là bận tâm duy nhất của chúng ta ; như Môi Sen đă nói : utinam et omnes prophetent ! Cầu xin tất cả mọi dân đều có thể rao giảng tiên tri ! Sự khải hoàn của Giáo Hội sẽ trở nên nhiều hơn và t́nh yêu ta dành cho Giáo Hội sẽ được ủi an nhiều hơn nếu như chiến thắng khải hoàn của Giáo Hội là khát khao vô vị lợi của t́nh yêu ta, khi bỏ qua những lí do tỳ tiện và cá nhân. Đó là sự cho không trong t́nh yêu mà cha không biết làm thế nào đề nghị anh em cho phải lẽ. Nếu anh em cho điều đó ít có tính chung, cha sẽ nhắc lại một lần nữa rằng khi có được t́nh yêu vô vị lợi ấy trong tầm rộng lớn và tính quảng đại của nó, ta sẽ phân biệt rơ cách dễ dàng hơn để nhận biết trên con đường ta bước đi.

 Anh em hăy yêu mến Giáo Hội cách siêu nhiên, và anh em sẽ thấy biết bao chúc lành ngay ở trần thế này, biết bao phần thưởng dành cho anh em ở trên quê trời Thiên Chúa sẽ dành cho bởi những công việc của ta, và nếu như người đời không thấy anh em khéo léo như một số người, ta không phải hổ thẹn về lí do ấy.

 

 

II

 

Bằng những phương tiện nào, những Việc làm của Ḍng Mẹ Về Trời phát triển hơn bao giờ hết.

 

Anh em cho phép cha chỉ ra cho anh em cách ngắn gọn những kết luận thực tiễn để ta rút ra những ư nghĩ căn bản mà cha vừa mới nói với anh em ?

 

Khẩu hiệu của ta thánh hiến ta bằng chức vụ tông đồ đầy ḷng nhiệt thành cũng như đầy tính vô vị lợi : Từ câu khẩu hiệu ADVENIAT REGNUM TUUM, hiển nhiên chúng ta rằng Tu Viện của ta là một Tu Viện hoạt động tông đồ. Ḷng nhiệt thành đối với quyền lợi của Thiên Chúa trên trần gian và ơn cứu độ của các linh hồn. Đó chính là thể thức thiết yếu của ḷng bác ái chúng ta. Quên đi chính ḿnh, sự tử bỏ được áp đặt lên ta trước hết. Ta không chú trọng đến những ǵ lên quan đến ta, miễn là Đức Giê Su Ki Tô được rao giảng : dummodo Christus annuntiertur. Ta không t́m cách nắm bắt mọi nguyên nhân từ những môi bất ḥa nội bộ của con cái Thiên Chúa. V́ quyền lợi, nhân phẩm ki tô giáo, họ làm tan biến những cố gắng đấu tranh chống lại kẻ thù chung. Thay vào đó, họ chú trọng đến những đấu tranh giữa anh em. Khi những người ki tô hưu và những người điều hành họ không c̣n muốn đến ta trong nước họ nữa, ta sẽ đi đến một nước khác. Đó là giới răn của Chúa, Đấng sẽ luôn để cho ta tự do cần thiết với tư cách là những công nhân làm việc tông đồ.

 

a) T́nh yêu đối với Thiên Chúa đ̣i hỏi ta học tập những sự toàn thiện của Người : Ignoti nulla cupido. Đức Giê Su Ki Tô, để được yêu thương, muốn được biết đến. Đặc biệt ta học về Người trong những sách được linh hứng. Đức Giê Su Ki Tô sẽ là kho tàng được đào bới dưới những bức màn của những thánh thư. Ta sẽ cố gắng nhận ra Người là Thiên Chúa, là Người và là Đấng phân phát mọi ơn siêu nhiên để ḥa giải ta với Chúa Cha. Thánh Augustinô, giáo trưởng của ta, sẽ là người dẫn đắt chính của ta. Chuyên luận về Ba Ngôi Vị nơi Thiên Chúa và những sách đáng để tâm đến của Ngài đă làm cho Giáo Hội hoàn cầu gọi ngài là tiến sĩ về ân sủng. Đó là những cột mốc trong học tập của ta về những vấn đề trọng yếu này. Ta cũng thấy trong lá thư gửi cho Volusien, ngài bàn về việc Nhập Thể, và, những chuyên luận của ngài như : chống lại các triết giáo theo trường phái Platon (académicien ?) để dẫn nhập tới thứ triết học đích thật, về tự do ư chí và lá thư gửi Dioscore.

 

Truyền đạt nguồn thông hiểu, những chuyên luận do bằng việc thuyết giảng, giáo dục... Chúa Giê Su Ki Tô, Đấng được ta biết đến, là nguồn thông hiểu mà ta t́m cách truyền đạt cách ưu tiên nhất, trước hết là bằng việc thuyết giảng : Nos autem praedicamus Christum crucifixum, và đó là đặc tính phân cách ta khỏi việc giảng dạy nhạt nhẽo, mang tính nhân trần, mang chủ nghĩa tự nhiên khiến người ta hầu như không dám rao giảng Đức Giê Su Ki Tô nữa, nhất là không c̣n dám nói về thập giá của Người ; tiếp nữa, bằng giáo dục và giảng dạy. Nếu ai đó hỏi giáo dục là ǵ với chúng ta, ta sẽ trả lời : giáo dục là sự đào tạo Đức Giê Su Ki Tô trong các linh hồn v́ giảng dạy là việc sáng tỏ các linh hồn nhờ ánh sáng rực rỡ của Đức Giê Su Ki Tô. Ta không mang tư tưởng chủ chốt  nào khác trong các trường học mà tà đạo tạo, và nếu bao giờ ta có được Trường Đại Học Công Giáo, trên mặt chính của trường ta sẽ ghi : ut cognoscant te solum Deum verum et quem misisti Jesum Christum.

 

b) T́nh yêu đối với Thánh Nữ Đồng Trinh mời gọi ta đến với một sự toàn thiện ở mức độ cao hơn : T́nh yêu của Chúa Giê Su và của Mẹ Maria h́nh thành nên nguồn thông hiểu về đời sống huyền nhiệm đối với ta. Những sự toàn thiện của Chúa Giê Su Ki Tô được tỏ hiện trong Tấn Ước. Những nhân đức của Mẹ Maria được mạc khải trong sâu thẳm linh hồn tạo nên như hai quyển sách mà ta suy niệm về sự thánh thiện ta được mời gọi thông phần.

Và ta thánh hóa vào những việc thờ kính các ơn gọi đồng trinh : T́nh yêu của Mẹ rất thánh Đồng Trinh linh hứng cho ta một t́nh yêu khác được tồn tại măi trong thế gian nhờ việc thờ kính Mẹ Thiên Chúa. Cha nói về t́nh yêu đức trong sạch, và đức khiết tịnh. Ngay ban đầu, đó đă là một nét nổi bật của những người hoạt động tông đồ và những sứ giả của Giáo Hội dạy ta rằng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc tử đạo của thánh Phêrô  và thánh Phao lồ là sự cố gắng bền bỉ của hai thánh tông đồ để đào luyện những người trinh khiết trung thành ở Rôma vốn chưa biết Chúa và cho đến tận cung lầu của để chế Néron.

 Chúng ta muốn giúp đỡ Mẹ Maria, Nữ Vương của ta, dẫn về nhiều tŕnh nữ đến với Vua bất tử đời đời : Adducentur Regi virgines post eam, và cảm nhận về những vẻ đẹp mà một linh hồn khiết tịnh và trong sạch chứa đựng nhằm nâng ta lên cao hơn, như trên cánh cửa các thiên thần, về ngai ṭa của Con Chiên không tỳ vết. Và nếu người ta trách chúng ta quá ưu tiên những ơn gọi tu tŕ, ta sẽ trả lời rằng điều tiếc nuối duy nhất của ta là không ưu tiên việc đó.

 

c) T́nh yêu của ta đối với Giáo Hội thánh hiến ta để bảo vệ Giáo Hội trong thời đại ta lại bị rối ren : Cuối cùng, t́nh yêu Giáo Hội ban tặng cho ta, trong thời đại hiện tại, một chân trời hoàn toàn mới. Hay ghé mắt nh́n quanh các con : các con không nhận thấy rằng các vực thẳm trở nên sâu hơn, rằng những suy sụp chồng chất nhau, rằng những thảm họa sắp xảy ra hay sao ? ở giữa những lay chuyển này, Giáo Hội, đứng vững trên đá tảng của ḿnh, nh́n thấy thế giới cứ bị ch́m đắm, như từ những bờ sông Hippone thánh Âu Tinh chiêm ngắm thành Rôma của Sésars bị tràn ngập bởi những làn sóng thúc ép của bọn man rợ gây nên.

 Quyển sách mang tên Thành đô của Thiên Chúa (la Cité de Dieu) đối với ta là sự mạc khải thứ hai, và càng nghiên cứu, ta càng có thể t́m thấy trong đó bí mật của tương lai nhờ vào phép loại suy. Biết bao nỗi buồn, biết bao nản chí không phải do những đống vôi gạch đổ nát bởi lưỡi gươm và bỏi ngọn đuốc đốt cháy của Attila, của Genséri hay sao ? Tuy nhiên, chính Thiên Chúa quyét sạch cái xă hội thối nát ấy để chuẩn bị một xă hội mới. Các Đức Giám Mục Xứ Gaules nhất thiết không được coi khinh. Hăy thông minh như các tổ phụ chúng ta. Các ngài đă đón chào và biến đổi sự man rợ phong kiến. Đối với ta, hăy chào đón và hăy biến đổi sự man rợ của chế độ dân chủ. Có thể nói những vị giám mục xưa của xứ Gaules và Rôma có ít nhiều uy thế bị tiêu tan ; các ngài là những thành phần không nhỏ của nuớc Pháp, và những đàn ong h́nh thành tổ ong, ta cũng hăy làm như thế : không tiếc nuối quá vô ích trong quá khứ, không hy vọng quá thất vọng trong tương lai, hăy theo đuổi công việc của các con đúng như Thiên Chúa đề ra. Có lẽ công việc ấy sẽ c̣n lớn hơn với các dân trở nên ki tô hữu là với những kẻ man rợ quá thô thiển bởi một thế giới hoang dại.

 Ở đây, xuất hiện hai câu hỏi : Ai sẽ là người hướng dẫn ta ? Đâu là những công việc của ta ?

 

Lấy Đức Giáo Hoàng là người hướng dẫn : Ai sẽ là người hướng dẫn ta? Đức Giáo Hoàng. Có thể nói rằng chính trị, từ thời Philippe le Bel, đă là sự mưu phản mảnh mẽ chống lại Giáo Hoàng. Các vua không c̣n muốn Giáo Hoàng nữa như thế nào; th́ ngày nay, ta thấy mọi dân cũng không muốn các vua như vậy. Ta đi về đâu v́ ḷng hận thù phản lại chế độ quân chủ này ? Có ǵ quan trọng ? Quyền thế là cần thiết, nhưng không cần thiết giao phó quyền thế cho vua chúa. Thiên Chúa xem lời thỉnh cầu muốn có Vua của các con ông Giacob như một lời nhục mă. Đừng nhấn mạnh đến nữa. Nhưng tại sao lại phủ nhận? Nếu chuyện đă rành mạch, đó là v́ làn sóng dân chủ tràn lan mỗi ngày. Nhiều cuộc cách mạng. Ai biết được đâu là hạt cất mà bọt băo tố sẽ đến làm cho tan nát? Đối với cha, cha thấy Giáo Hội, thấy việc Giáo Hội làm trước kia, và cha chờ đợi.

 Không phải nỗi buồn quá mức, cũng không phải niềm hy vọng cực đoan ; mà là sự tin tưởng vào Đức Giê Su Ki Tô, nơi Mẹ Maria, nơi Giáo Hội, công việc bền bỉ, và những ǵ c̣n lại có ǵ quan trọng ? Cha nhầm. Ai có thể cho rằng những nỗ lực của ta sẽ không vui, miễn là những nỗ lực ấy chứa tính thông minh ; và nhờ đó cha bắt đầu trả lời câu hỏi thứ hai mà cha đă đặt ra vừa rồi : Đâu sẽ là những công việc của ta ?

 

Đó là mọi công việc tái tạo tô giáo từ những người nghèo và những người giàu : Ngoài những yếu tố mà cha đă nêu ra, những việc mà qua đó quần chúng (giáo dân) có thể được nâng cao giá trị, được giáo huấn, được rắn bảo, những việc mà qua đó chế độ dân chủ có thể được biến thành ki tô giáo. Đó là những công việc ta phải làm. Việc thăm các bệnh nhân, việc rao giảng tin mừng cho những người nghèo, việc chỉ đạo những trại mồ côi, việc phổ biến những quyển sách tốt, và nhiều việc khác nữa không thể nêu ra hết v́ nó nảy sinh ra mỗi ngày cũng là một cánh đồng mênh mông. Đôi khi phải có một điều kiện, đó là việc bố thí vật chất sẽ là phương cách bố thí thiêng liêng đối với ta. Ta giảm nhẹ gánh nặng thế xác để có đến tận trong sâu thẳm linh hồn. Một vài xu đặt vào tay người ăn xin là bước khởi đầu của những kho tàng đức tin được tuôn đổ vào trong các linh hồn khao khát sự thật, và không c̣n cảm nhận được nữa cái nhu cầu ấy v́ bị mất đi.

 Bằng những công việc cho người nghèo, ta đến ngay cả những người giàu, kinh nghiệm cho thấy rằng ta đạt được họ dễ dàng hơn, và một cách xứng đáng hơn về ta và về Chúa khi ta mời gọi họ dấn thân vào môi trường bác ái.