SÁCH LINH THAO CỦA CHA D'ALZON
Văn Hào chuyển ngữ
Lời tựa
Cha d'Alzon nói rơ về
điểm riêng biệt, về nội dung và về cách sử
dụng sách linh thao này.
Các con quí mến,
Nét độc đáo sách linh thao của
chúng ta: Hướng dẫn linh thao mà cha viết cho
các con đây là hoa quả sau bao lần quan sát từ nhiều
năm nay. Cha hay để ư đến một số sự
kiện trong sự quan pḥng đă góp phần tạo nên một
hướng dẫn đặc biệt cho sự phát triển
của Hội Ḍng : v́ vậy giống như mỗi tu sĩ
qua việc khấn hứa, chúng ta có những đặc
tính riêng với tư cách là tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời.
Điều
đó không có ǵ ḱ diệu, nhưng các con cần phải tin,
nếu như gia đ́nh ta, dù có khiêm tốn đến mấy,
được Thiên Chúa ước muốn, phải có một
mục đích và ta phải hướng về mục
đích ấy. Chính nhờ học hỏi tư tưởng
của việc lập Ḍng, các con thăng tiến theo sự
toàn thiên mà các con được mời gọi để trở
thành. Hướng dẫn linh thao trong tay các con có chủ
đích làm cho việc ấy dễ dàng hơn trong cả cuộc
đời.
Những
quan sát ban đầu: Để hiểu rơ cách sử dụng,
cần thiết có ba quan sát sau:
Quan sát thứ nhất là
phải xem đây như chỉ là bài b́nh luận về luật
tu ḍng, nếu bỏ xa việc này th́ sẽ cần phải
biết là các con đang đi ngược lại mục
đích đề ra.
Quan sát thứ hai là việc
muốn dạy các con theo những ư định và tinh thần
nào các con phải tuân theo những điều bắt buộc
của riêng các con, để luôn luôn là sống động
nhờ tư tưởng siêu nhiên.
Quan sát thứ ba là mặc
dù Luật Ḍng nói với những thành phần của Hội
Ḍng nói chung, bài linh thao th́ lại nói riêng với mỗi tu sĩ,
nói với mỗi một tâm hồn riêng biệt trong sâu thẳm
trái tim để chỉ dẫn cho nó những cảm t́nh
ăn sâu vào trong mỗi người, những đức
tính cần vun đắp trong thầm lặng như trong mối
tương quan thân mật với Chúa.
Lời tŕnh bày bài linh thao: Được
chia thành chương nhỏ theo những nguyên tắc, qua
đó rút ra một vài hiệu quả thực tiễn dưới
dạng kiểm điểm lại. Với sự tin tưởng
nhờ đó có thể giúp cho những người sử dụng
khi để dưới mắt họ, theo cách rơ ràng
hơn, phương cách thâu lược những đức
tính bị xem như không thể có, sửa chữa những
nhược điểm mà họ muốn bỏ đi; qua
đó giúp họ việc làm nội tâm và suy tư cá nhân nếu
không mọi việc đều không hữu ích.
Sách này sẽ được chia
làm ba phần: phần một nói về đặc tính của
Ḍng; phần hai nói về những đức tính của
người tu sĩ; phần ba nêu lên những phương
cách thánh hóa hầu giúp mọi người để trong cuộc
sống trở nên hoàn thiện hơn mà các con đă có, và ư
định siêu nhiên theo đó các con phải tuân theo những
bắt buộc chính của luật Ḍng.
Nếu các
con đọc những bài linh thao nhỏ bé này hơi vội
vàng, các con sẽ nhận thấy một số điều
lập lại; nhưng nếu các con suy niệm từng phần
một, các con sẽ hiểu điều đó cần thiết,
ít ra cũng hữu ích biết bao khiến các con suy nghĩ
về một số điểm như là nền tảng của
đời sống tu sĩ.
Lạy Chúa
xin vui ḷng chúc lành cho những bài viết này mà các con là những
người bắt chước, những dụng cụ và
nhờ Mẹ Thiên Chúa, và làm cho các con t́m được niềm
khát khao lớn lao hơn, hầu đạt đến mọi
sự thánh thiện mà các con được mời gọi!
E D'ALZON
PHẦN
MỘT: TINH THẦN CỦA D̉NG MẸ VỀ TRỜI
Chương một
TINH THẦN CỦA
D̉NG
Ḍng Mẹ Về Trời
đặc biệt dâng hiến cho Thiên Chúa. Việc thờ
phượng dành cho Ngài trong sâu thẳm nhất của hữu
thể Ḍng triển nó cách tự nhiên trong t́nh yêu Mẹ
Đồng Trinh, Mẹ của Ngài và của Giáo Hội, hiền
thê của Ngài. Ba đối tượng này trong t́nh yêu
đối với Thiên Chúa, với Mẹ Đồng Trinh
và với Giáo Hội h́nh thành nên, đối với Cha
d'ALZON, một trong những đặc thù của tu sĩ
Ḍng Mẹ Về Trời.
Tinh thần Ḍng Mẹ Về Trời tóm
lược trong mấy từ sau : yêu mến Thiên Chúa, yêu mến
Đức Mẹ Đồng Trinh, Mẹ Ngài, và yêu mến
Giáo Hội, Hiền thê của Ngài (3) .
Yêu mến Thiên Chúa : Theo phẩm chất
tu sĩ, cha đặc biệt là tôi tớ của Đức
Giê Su Ki Tô, mọi sự quí mến của tâm hồn, mỗi
sức mạnh của con người cha phải hướng
về Ngài ; Ngài là cuộc sống của Cha : " Mihi
vivere Christus est. Le Christ est ma
vie) ".
Đức Giê Su Ki Tô có phải là
tất cả của đời tôi ? … Có phải là điều
duy nhất tôi ao ước ?... Tôi có sẵn sàng hy sinh tất
cả cho Người ? Có phải tôi chỉ hướng
duy nhất về Ngài mà thôi ? Phải chăng tôi không c̣n
vương vấn đến ǵ khác ? … Trái tim tôi có hoàn toàn
tự do không ? … T́nh cảm của tôi không hướng về
một ai đó chăng, hay hướng về một cái ǵ
khác khiến t́nh yêu dành cho Giê Su bị trở ngại
nơi tôi ?...
Tự do tuyệt đối nhất
nơi trái tim tôi là cần thiết, và khi nào tôi chưa có
được tự do ấy, tôi sẽ không phải là tu
sĩ Ḍng Mẹ về Trời.
Yêu
mến Mẹ Đồng Trinh và Giáo Hội : Tôi không chỉ
không nên gắn bó với những ǵ cản trở tôi yêu mến
Chúa Giê Su hết sức, hết ḿnh, nhưng c̣n phải yêu
mến tất cả những ǵ Ngài đă yêu thương
nhất v́ t́nh thương của Ngài. Vậy nhưng, hai
t́nh cảm lớn lao nhất của Thiên Chúa khi ở trên
trần gian là Mẹ Maria, Mẹ Người, và Giáo Hội,
Hiền Thế của Người, nhờ máu của
Người.
Đâu là ḷng sùng kính của tôi
đối với Mẹ Maria ?... Tôi có thể nói là con của
Mẹ không?...Đến lúc này tôi đă làm ǵ để tôn
kính Mẹ trong đời sống thực tiễn ?...Ḷng
sùng kính của tôi không phải chỉ tỏ hiện trong một
vài công thức và chút t́nh cảm khó khăn hay sao ?...Tôi có ư
tưởng đầy đủ trong tương quan tuyệt
diệu có thể tồn tại giữa Mẹ Maria và tôi,
nhờ Đức Giê Su, Thầy tôi ?...
Sau Mẹ Người, Chúa Giê Su
đă không yêu thương ǵ hơn bằng Giáo Hội của
Người. Giáo Hội là Hiền Thê của Người,
là thân thể của Người. Giáo Hội của Chúa Giê
Su Ki Tô là ǵ đối với tôi, và đến giây phút hiện
tại này, Giáo Hội đă tạo cho tôi những t́nh cảm
yêu thương nào ?...Tôi làm ǵ cho Giáo Hội ? Tôi đă làm chứng
ǵ về Giáo Hội ?
Chương
II : Yêu mến Thiên Chúa chúng ta.
Chúa chúng ta là gương mẫu
tuyệt vời đối với mỗi đời sống
nội tâm, trước hết với tư cách là Thiên Chúa,
bởi v́ đời sống nội tâm là một phần của
đời sống Thiên Chúa ; tiếp đến với
tư cách là Con Người, bởi v́ trong nhân loại tính rất
thánh của Người phản ánh mọi sự toàn thiện
thiêng liêng. Đó là lí do Cha d'ALZON dành ba chương để
nói về t́nh yêu Thiên Chúa.
T́nh yêu đối với
Thiên Chúa đ̣i hỏi :
1. Tôn thờ Ba ngồi
rất thánh trong đó v́ là Thiên Chúa nên chỉ h́nh thành lên một
bản chất ; 2. Cách hiện diện của Thiên Chúa ; 3.
Học tập về nhân loại tính rất thánh của
Người mà tôi phải áp dụng để xây dựng
tính cách ; 4. Tôn thờ bí tích thanh thể trên bàn thờ
nơi Ngài luôn hiện diện v́ là Thiên Chúa thật và là
Người thật.
Tôn thờ ba ngôi.
Trong Chúa, chúng ta đặc
biệt yêu mến Thiên Chúa. Yêu mến Thiên Chúa là yêu mến
Người v́ Người ngự bên các tạo vật :
tôn thờ là thái độ đầu tiên mà t́nh yêu Chúa chúng
ta mặc lấy. Chúng ta tôn thờ Chúa Cha trong Con của
Người, Đấng mặc khải và trong Thần Khí
yêu thương được ban tặng cho chúng ta : Ba Ngôi
cao cả vui ḷng cho chúng ta thông phần vào trong tương
quan mật thiết ấy.
Tôi có
đủ tin rằng Chúa Giê Su KiTô là Thiên Chúa của tôi ?...Nếu
tôi đủ tin, tại sao tôi không thoát khỏi vực thẳm
chia cắt sự toàn thiện của Người khỏi
hữu thể hư nát của tôi ?...Tại sao tôi c̣n là một
kẻ kiêu căng khi đối diện với một
Đấng toàn nặng như thế ?...
Tôn thờ Chúa Cha : Chúa Giê Su Ki Tô là Thiên Chúa của tôi, và
Người đă xuống thế là chỉ để dạy
tôi tôn thờ Cha Người trong thần khí và sự thật,
sau khi đă ḥa giải thế gian với Đấng tạo
hóa bị xúc phạm. T́nh cảm nào của tôi đối với
Thiên Chúa Cha, tác giả và là nguyên lí của mọi điều
tốt lành và của mọi ơn toàn thiện ?...Tôi có ư
tưởng ǵ về sự thành kính, về việc tôn thờ,
về sự chúc lành, về danh dự mà tôi mắc nợ
Người, trong sự hiệp nhất với việc tôn
thờ và với vinh quang mà Con Một Người đă
làm.
Tôn thờ Chúa Con : Sự sống đời đời của
các thiên thần và các thánh nhằm để biết Thiên
Chúa thật là Đấng duy nhất và Chúa Giê Su Ki Tô
được Ngài sai đến để tỏ hiện
cho loài người. Có sự nhận biết nào mà tôi không
nhờ vào Đấng cứu độ với một
ơn gọi tuyệt vời như thế ?...Cho đến
hiện tại, tôi đă làm chứng điều đó ra
sao ? C̣n bây giờ, tôi muốn làm chứng cho Người
như thế nào ?... "Thiên Chúa Cha đă yêu thế gian
đến nỗi đă ban con một của Người";
khi nào tôi có thể trao tặng toàn thể con người
tôi cho Chúa một cách không khép kín và không sớt chia, trong sự
hiệp thông với con của Người và trong t́nh yêu mà
người Con thắp lên trong tâm hôm tôi nhờ Thánh Thần?
Tôn thờ Thần Khí: T́nh yêu hợp nhất Chúa Cha và Chúa Con
là chính Thiên Chúa, và chính nhờ t́nh yêu này, tức là Thánh Thần,
mà tôi có khả năng yêu mến Thiên Chúa; " bởi v́
t́nh yêu Thiên Chúa đă tuôn tràn vào trong tâm hồn của chúng
ta nhờ Thần Khí được ban cho chúng ta". Thiên
Chúa Cha đă ban tặng Con Một của Người cho
tôi; Chúa Con đă hiến ḿnh v́ tôi và đă ban cho tôi chính t́nh
yêu đă kết hiệp Ngài với Chúa Cha; Người
đă biến tôi thành đến thờ của t́nh yêu ấy.
Tâm hồn tôi là nơi Người trao đặt t́nh yêu của
Người, tức là Thiên Chúa. Trái tim tôi phải là ǵ và tôi
sẽ t́m thấy ở đâu lúc này một nơi chốn
mà t́nh thương không được đốt cháy bởi
t́nh yêu của Thiên Chúa ?
Kết luận : Thiên Chúa Cha,
khi đă tạo dựng nên tôi, đă ban cho tôi con của
Người. Chúa Con trao tặng cho tôi để dạy tôi
nhận biết và tôn thờ Cha của Người, và ban
Thần khí cho tôi, tức Thiên Chúa, Đấng sẽ phù trợ
tôi v́ tôi không nhận biết và kêu lên trong tôi : " Lạy
Cha, lạy Cha ! ". Nhưng đến bao giờ tôi mới
bước vào trong sự sống mới này ?...Đến
bao giờ tôi sẽ để cho suối nguồn t́nh yêu là
ba Ngôi rất thánh tuôn tràn trong tôi ?...đến bao giờ
tôi sẽ trở về với Chúa Cha, với Chúa Con, và với
Thánh Thần, nhờ Đức Giê Su Ki Tô, cùng với Đức
Giê Su Ki Tô và trong Đức Giê Su Ki Tô ?...Đến bao giờ
tôi sẽ dâng lời chúc tụng mọi danh dự, mọi
vinh quang, trong thời gian và đến muôn đời (5) ?
Chương
III : Cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa.
Tôn
thờ những sự toàn thiện vô cùng của Thiên Chúa và
chiêm ngưỡng những công tŕnh của Người qui tụ
chúng ta trong một cảm nhận quen dần về sự
hiện hữu của Thiên Chúa : dấu chỉ t́nh yêu
đích thực của Chúa chúng ta và nguồn đảm bảo
cho sự thăng tiến thiêng liêng.
Tôi phải
không ngừng nghĩ đến yếu tố ảnh hưởng
đến tâm hồn tôi. Nếu tôi yêu mến Chúa, tôi phải
không ngừng nghĩ đến Người ; nhưng v́
Người là Thiên Chúa, đặc biệt v́ chính Người
là Chúa nên tôi phải không ngừng mang lấy tư tưởng
của Người hiện diện trong tâm trí và tâm hồn.
Những sự toàn thiện của
Chúa chúng ta : Chúa Giê Su là Thiên Chúa của tôi, và v́ là Chúa,
Người là sự trọn hảo của hữu thể
tôi : " Trong Người, chúng ta có sự sống, hơi
thở, và mọi sự ; chính trong Người, chúng ta sống,
cử động, và hiện hữu".
Người lạ sự toàn thiện
vô cùng, sắc đẹp tuyệt hảo, và sắc đẹp
ấy của Người, Người ghi dấu vào tâm hồn
chúng ta : " ánh sáng Người được ghi dấu
vào tâm hồn ta ". Vậy nhưng, tội lỗi đă
làm do bẩn tâm hồn được tạo dựng theo
h́nh ảnh của Người, và phương cách tốt
nhất để lấy lại nét đẹp bị
đánh mất là ẩn ḿnh dưới gánh nặng của
hư không và đến với hồng ân của Chúa nhờ
luôn luôn chú tâm đến sự hiện diện của Thiên
Chúa.
Thiên Chúa là điều thiện hảo
tối cao của tôi ; v́ thế tôi phải t́m cách tiếp
cận Người ; hạnh phúc của tôi chính là có Người.
Cuộc sống tôi
trong sự hiện hữu của Chúa :
a) Sự
trọn vẹn của hữu thể loài người ! Tôi
có quen với sự hiện diện của Thiên Chúa ?...Tôi
có ở trong sự hiện diện của Người bằng
cảm nhận là tôi nhờ Người mọi sự
?...Khi nào c̣n có thể hiện hữu nhờ đức tin,
tôi chấp nhận sự toàn vẹn của Người
không, và nếu tôi có thể tin như vậy, tôi có chấp
nhận sự toàn vẹn của hữu thể hư nát của
tôi không ?...Tôi đă suy nghĩ đủ rằng thể xác,
những giác quan, tâm hồn, minh trí, tất cả đều
bởi Người mà có, tồn tại nơi Người
và sẽ không c̣n tồn tại khi ư muốn vô tận
Người không muốn ?...
Tôi không đụng chạm đến
ǵ khác ngoài công tŕnh của Thiên Chúa, ngoài sự sở hữu
Thiên Chúa. Mọi sự gợi tới Thiên Chúa hay ít ra cũng
nhằm để nhắc nhở Thiên Chúa trong tôi.
Tôi có trung thành với
con đường này của mỗi tạo vật, con
đường dẫn về với tác giả của nó
?...Trong sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng
luôn nh́n thấy tôi, tôi có sự kính trọng nào ?... Với
t́nh yêu và sự nhận biết nào khi tôi ở trong sự
hiện diện của Thiên Chúa, Đấng đă ban mọi
sự cho tôi ?...
b) Sắc
đẹp vô tận ! Thiên Chúa là sắc đẹp vô tận,
và sắc đẹp ấy, Người đă muốn khắc
ghi vào tâm hồn tôi ; nhưng tội nguyên tổ đă phá
đi một lần, tội lỗi hiện tại phá hủy
mỗi ngày. Trong ḷng tốt không thể xóa nḥa của
Người, Người muốn trả lại cho tôi sắc
đẹp nguyên sơ ấy, nhờ hồng ân của
Người, và Người cũng muốn làm việc
để mặc lại sắc đẹp ấy cho tôi nhờ
cố gắng của tôi ; nhưng để làm việc
đó, Người muốn tôi tiếp cận Người,
và khi học hỏi những sự toàn thiện của
Người, tôi ghi lại trong ḿnh với tất cả khả
năng có được, nhờ những đức tính mà
tôi phải đạt được.
Tôi đă làm việc ấy chưa
?...Tôi có trông mắt nh́n ngắm tấm gương của
Thiên Chúa để cứu chữa những tàn phai của hồn
tôi khi bắt chước Người ?...Tôi có cố gắng,
tôi có học tập để hiệp nhất với Thiên
Chúa bằng tư tưởng, để rồi gắn chặt
với Người, tôi chỉ c̣n là thần khí với
Người, theo lời của Tông Đồ Phao Lô ?...
c) Điều
thiện tối cao ! Thiên Chúa là sự tốt lành tuyệt vời
nhất, điều thiện tối cao ; hạnh phúc của
tôi là sở hữu Người muôn đời. Nhưng nếu
hạnh phúc lớn lao của tôi là trong việc sở hữu
điều thiện như vậy, sao tôi lại không bận
tâm nữa đến nó ngay hạ giới này, sao tôi luôn luôn
không nghĩ đến nó ?...Sao tư tưởng của
tôi lại lạc lỏng nơi khác ?...Tại sao, để
có ơn ban tặng tuyệt hảo, tại sao chính tôi lại
không trở thành hoàn hảo ?...
Lạy Chúa, xin cho con không ngừng
bước đi với sự hiện diện của
Chúa, và như thế con đạt đến sự toàn thiện
!
Chương IV : Thần Khí Chúa
chúng ta
Chính
nhờ nhân tính rất thánh của Con Người mà Thiên
Chúa in dấu trong linh hồn chúng ta nên giống với Ba
Ngôi đáng tôn thờ. Nếu đặc tính thứ nhất
của sự toàn thiện ở trong việc thờ phượng
Thiên Chúa cách tuyệt đối nhất, đặc tính thứ
hai của sự toàn thiện là sự bắt chước
sắc đẹp và những sự toàn thiện của
Thiên Chúa, nhờ Chúa Giê Su Ki Tô. Việc đam mê học thuyết,
học mầu nhiệm và hành vi của Người nhằm
để chúng ta nắm bắt được thần khí
phải trở nên sự quan tâm bền bỉ của ta.
Để
yêu mến Chúa Giê Su Ki Tô, cần phải biết Người,
và để biết Người, cần phải t́m hiểu
học hỏi những sự toàn thiện của Người.
Những điều đó được mạc khải
cho chúng ta trong Thánh Kinh, mà mục đích cuối cùng là Chúa
Giê Su Ki Tô: Cứu cánh của luật chính là Đức Kito.
Tôi có thể học hỏi về
Đức Giê Su Ki Tô, hoặc là trong học thuyết, hoặc
là trong những mầu nhiệm, hoặc là trong những
hành vi của cuộc đời Người.
1. Học thuyết:
Tôi sẽ t́m thấy hoặc trong những lời riêng của
Người, hoặc trong những giảng dạy của
các Tông Đồ để lại. Chúa Giê Su Ki To bởi là Thiên
Chúa nên Người là sự thật vĩnh hằng, la Lời
tuyệt hảo, càng suy niệm sự thật ấy, tôi
càng gần gũi Người, gần gũi chính Thiên Chúa.
Đức Giê Su Ki Tô đă đến
trần gian để mang đến cho tôi ánh sáng và sức
mạnh như là sự trợ giúp tôi đến với
Chúa, (mỗi nỗ lực của tôi phải hướng
đến hoàn thiện sự hiệp nhất này, bởi
đó là cứu cánh của định mệnh siêu nhiên, và cứu
cánh ấy được thực hiện nhờ hồng
ân Đấng Cứu Độ.
Cho đến giây phút hiện
tại, tôi đă có tôn trọng nào đối với những
giảng dạy của Đức Giê Su Ki Tô?...Tôi đă biến
đổi Tin Mừng trong trường hợp nào?...Tôi
đă đọc Tin Mừng với cảm giác nào?...Tôi
đă đánh giá ḷng nhân từ của Vị Thiên Chúa không thỏa
măn khi nhập thể nơi một con người, lại
c̣n nhập thể trong lời người phàm để
đem đến trí óc tôi và chiếu sáng nó?...Tôi đă làm ǵ
với bao sáng tỏ như thế?...Tôi đă xem những
giải thích của học thuyết về Đức Giê
Su Ki Tô được ban cho tôi nhờ các thừa tác viên của
Người như thế nào?...Tôi cố gắng suy niệm
học thuyết ấy, áp dụng cho tôi, biến thành cái
riêng của ḿnh, biến thành lương thực cho ḿnh
như thế nào?...Khi không biến tin Mừng thành một
trường họp nào, hoặc hầu như không, có ngạc
nhiên không khi tôi có tràn đầy ư tưởng loài người
và rồi tôi không hiểu biết ǵ về những sự
trên trời?...
2. Những mầu nhiệm
của Người: Cuộc đời Đức Giê Su
Ki Tô một mặt là sự sống Thiên Chúa, vô tận, và
như vậy, tràn đầy mầu nhiệm. Nhưng những
mầu nhiệm ấy, đâu là khó thấu hiểu bởi
cơ sở của đức tin, cũng là một giáng diệu
ḱ cho hồn tôi. Mặt khác, theo khía cạnh loài người,
những mầu nhiệm ấy chiếm lấy tôi bởi ở
ngay tôi; về khía cạnh thiên tính, nó nâng tôi lên cao và mang tôi
đến trong những tương quan sâu thẳm với
Thiên Chúa.
Học hỏi về những
mầu nhiệm phải là việc học suốt cả
đời tôi, v́ nhờ Chúa Giê Su KiTô, tôi sẽ học nhận
biết Thiên Chúa như chúng ta có thể nhận biết
Người tại hạ giới này. Nhưng v́ trong cuộc
đời Chúa Giê Su Ki Tô, những mầu nhiệm kế tiếp
nhau trong mọi lúc, tôi có thể theo một mầu nhiệm
nào đó, tùy theo sự chú ư của ḿnh: mầu nhiệm nhập
thế, mầu nhiệm ra đời, mầu nhiệm cuộc
đời ẩn náu, mầu nhiệm cuộc đời
rao giảng công khai, mầu nhiệm những đau khổ,
mầu nhiệm những khổ nạn, mầu nhiệm sự
chết, mầu nhiệm sự sống lại, có thể nối
tiếp nhau định hướng suy nghĩ của tôi;
hay là tôi có thể hướng theo một mầu nhiệm
đặc biệt trong một thời gian mà tôi sẽ t́m
được lương thực nuôi dưỡng tốt
nhất cho linh hồn.
Tôi đă đón nhận những mầu
nhiệm như thế nào?...Không phải là tôi biến những
mầu nhiệm nên như mục tiêu nghiên cứu ṭ ṃ
hơn là sự nghiên cứu đam mê về những điều
thiện hảo của Chúa?...Sự tôn thờ nào được
gởi lên trong hồn tôi?...Những điều thiện hảo
không phải đă từng là nguyên lí của sự nhàm chán
hay sao?...Không phải là tôi đă từng thỏa măn cho rằng
tôi không thể hiểu ǵ cả, thay v́ t́m hiểu với một
đức tin khiêm hạ để nắm bắt
được điều đặc biệt mà Chúa chúng ta
đă muốn để lại?
3. Những hành động
trong cuộc đời của Chúa chúng ta: Những ǵ Chúa
Giê Su Ki Tô đă làm trên trần gian, Ngài đă làm v́ lợi
ích chúng ta. Người không phải là một phần nhỏ
của cuộc sống riêng chúng ta, nhưng người vốn
không thể từ chối mang lại sự sống Thiên
Chúa. Mọi chi tiết Ngài chỉ dạy chúng ta phải
hoàn tất hành động theo tinh thần nào.
Không phải một lời phải
hô lên, một đ̣i hỏi phải làm, một cảm t́nh
phải h́nh thành, mà ta không thể thánh hóa khi hiệp nhất
với những t́nh cảm, những lời nói, những
hành vi của Thầy Chí Thánh. Đức Giê Su Ki Tô đă
hoàn thành mọi công lư, để dạy chúng ta hoàn thành
điều ấy. Để làm việc đó, tôi chỉ cần
đi vào trong sự sống hay trong sự chết của
Người với Chúa chúng ta.
Tôi đă t́m cách đối chiếu
cuộc sống ḿnh với cuộc sống của Chúa Giê
Su Ki Tô như thế nào?...Tôi đă học hỏi những
chi tiết của cuộc đời Người, kiểu
mẫu cho tôi như thế nào?...Tôi có tin rằng ở trong
tôi, dù chỉ là chút ǵ nhỏ bé cũng từ tư tưỏng
siêu nhiên mà ra?...Thầy đă làm gương cho anh em, Chúa
chúng ta đă dạy như vậy, để đến
lượt anh em, anh em cũng làm như vậy.
Cuộc sống của tôi phải
là một bản sao từ bản gốc thiên tính này. Trở
nên thực sự Chúa ư?...Và tại sao Chúa trở thành sự
thật ?...Không phải là tôi sợ khám phá ra những chi tiết
sẽ kết án tôi hay bắt buộc tôi thực hành nhân
đức làm lay chuyển bản tính tôi ?...Bao giờ tôi
mong muốn một lần nhất định đi đến
nơi nào sẽ làm đẹp ḷng Chúa Giê Su dẫn dắt
tôi ?
Chương
V : T́nh yêu Đức Mẹ Đồng Trinh
Yêu mến Đức Mẹ Đồng
Trinh xuất phát từ t́nh yêu đối với Chúa chúng ta
: Ta yêu mến Mẹ Maria bởi v́ Mẹ là t́nh
thương đầu tiên của Chúa Giê Su trên trần
gian. Mẹ được ban cho chúng ta như tấm
gương tương xứng với phần tạo vật
của ta và bởi Mẹ của ta dạt dào t́nh
thương và sức mạnh. T́nh thương của Mẹ
góp phần vào t́nh yêu của ta đối với Chúa thêm phần
tươi mát, tinh tế, và mạnh mẽ.
Nhờ sự ban ơn đầy
nhân từ, Chúa chúng ta không chỉ hài ḷng ban tặng ḿnh
như mẫu mực cho chúng ta, hoặc mẫu mực là
Chúa, hoặc mẫu mực là người, Người
đă muốn ban cho ta một mẫu mực khác nơi con
người Thánh Nữ Đồng Trinh, Mẹ Người,
và là Mẹ chúng ta, và là công tŕnh tạo hoàn thiện nhất
của Đấng Tối Cao.
Mẹ Maria đồng
thời là mẫu mực và là Mẹ của tôi. Mẫu mực
của tôi: Tôi phải t́m cách bắt chước Mẹ
như khi tôi khấn hứa trong đời tu sĩ theo sự
toàn thiện là có khả năng bắt chước Nữ
Vương trên Trời và dưới đất ; Mẹ của
tôi : Tôi phải có sự tin tưởng, sự dịu dàng
tuyệt đối nhất dành cho Mẹ.
Maria, mẫu mực của
tôi : 1o Tôi chỉ biết những nhân đức của
Thánh Nữ Đồng Trinh theo những ǵ Thánh Kinh nói đến,
nhưng cũng đủ rồi và tôi không cần thêm nữa.
a) Trong mầu nhiệm
nhập thể : Tôi ngưỡng
mộ trước hết sứ thần trong trong câu hỏi
Mẹ đặt ra cho sứ thần Thiên Chúa sai đến
để kính chào Mẹ nhân danh Chúa. Sự vâng lời và
đức tin của Mẹ tỏ ra không kém trong câu trả
lời của Mẹ : " Này đây là tôi tá Chúa ".
Đức tin ấy là cứu cánh của mỗi điều
ḱ diệu được thực hiện nhờ Mẹ, và
đó cũng là điều Elisabeth mạc khải cho Mẹ
khi công bố rằng Mẹ là " đấng diễm phúc
đă tin, v́ nơi mẹ sẽ hoàn tất mọi sự
theo lời Đức Chúa đă phán với Mẹ ".
b) Trong lời kính Mangificat : Những
nơi sâu thẳm của linh hồn Mẹ Maria tỏ hiện
chính là trong cách Mẹ trả lời người chị họ
: " Linh hồn tôi tôn vinh Chúa ". Cứu cánh của cuộc
đời Mẹ Maria là vinh quang Thiên Chúa ; hạnh phúc của
Mẹ là phục vụ Người và khắc ghi trong ḷng về
những hồng ân Mẹ đă nhận. Đó là chứng
tá về những ǵ Chúa ban tặng cho mỗi linh hồn
trung tín, niềm hy vọng và sự tin tưởng ở giữa
băo tố. Đó là điều tôi khám phá trong kinh Magnificat của
Mẹ Maria.
c) Trong mỗi nẻo
đường : Tôi sẽ
theo Mẹ về Nazareth, trong công việc thường ngày
bên cạnh Giu Se ; ở Betléem nơi Mẹ sinh con Thiên Chúa
trong máng cỏ. Tôi sẽ theo Mẹ lên Đền Thờ
nói Mẹ sẽ dâng con Mẹ cho Chúa. Tôi sẽ theo Mẹ
đi sang Ai Cập nơi Mẹ chạy trốn để
bảo vệ con Mẹ khỏi ác ư của vua Hêrôđê. Tôi
sẽ theo Mẹ lên Gierusalem, nơi Mẹ mất con Mẹ
trong ba ngày. Tôi sẽ theo Mẹ nơi xưởng mộc của
Giu Se, nơi Mẹ trải qua 18 năm sống ẩn dật
cho đến lúc phân tán, hoặc là v́ việc loan báo Tin Mừng,
hoặc là v́ lên đồi Canvê. Trong tất cả sự kiện
ấy, bấy nhiêu tấm gương, bấy nhiêu bài học
!
a) Như Mẹ Maria
lúc truyền tin : Tôi có sự
cẩn trọng như Mẹ Maria trong những lúc quan trọng
của cuộc đời không ?...Tôi có sự cẩn trọng
ấy trong tương quan với tha nhân không ?...Tôi có đức
vâng lời như Mẹ không, ngay khi ư muốn Thiên Chúa tỏ
ra nơi tôi, không chỉ thông qua các bác Bề Trên, mà c̣n qua những
ai đại diện Chúa?...Tôi có đức tin như Mẹ
để chấp nhận những mệnh lệnh khó
khăn nhất không ?...Tôi có tư thế sẵn sàng để
đi vào đời sống nội tâm cách nghiêm túc và để
ư Chúa muốn và chờ mong tôi phụ theo những khao khát của
Người được thực hiện trong tôi không
?...Phải chăng tôi không sợ ?...Phải chăng tôi
không hay nghĩ ?...Phải chăng tôi không sợ sai trong công
việc yêu cầu phải làm ?...
b) Trong kính Magnificat của
Mẹ : Trong suốt cuộc
đời, tôi có mục đích nào khác ngoài vinh quang Thiên Chúa
hay sao ?...Phải chăng khát khao có được vinh quang ấy
làm tan biến mọi nỗ lực của tôi ?...Tôi có đạt
mọi hạnh phúc của ḿnh trong Chúa ?...Nguồn đỡ
nâng, tôi không đặt nơi chính ḿnh hay nơi các tạo vật
sao ?...ư định duy nhất đến thẳng với
Chúa mà không cần nh́n phải nh́n trái để xem có tồn
tại trong sâu thẳm hồn tôi không ? Tôi có t́m hiểu về
những ǵ Thiên Chúa thực hiện trong tôi nhờ sức mạnh
cánh tay Người, giá như tôi để cho Người
hành động trong tôi ?...V́ những ǵ ô uế, ve văn, kiêu
căng trong trái tim chỉ làm hại nếu tôi không sợ
phó thác những thứ ấy ngự trị trong Đấng Tối
Cao.
c) Trên mỗi nẻo
đường : Trong mỗi
thử thách, tôi có đặt trọn niềm hy vọng, sự
tin tưởng trong Thầy Cao trọng không ?...Không phải
tôi đă chỉ giựa vào Người mà thôi ư ?...Không
phải tôi là người nghèo khó của Bethléem sao ?...Không
phải tôi là người cần cù lao động ở
Nazareth sao ?...Tôi đă dâng trọn đời cho Chúa Chúa
?...Tôi đă trao gửi tất cả cho Người như
Mẹ Maria đă làm cho Chúa Giê Su ?...Tôi đă thích đời
sống ẩn dật của Chúa ?...Tôi đă chấp nhận
một cách rộng lượng những phân chia mà Tỉnh
Ḍng đă đặt lên tôi hay có thể đặt lên tôi mỗi
ngày ?...Tôi có chấp nhận ngay sự chia cách của Chúa
Giê Su ?...Chính nhờ việc suy niệm cuộc đời
mẫu mực đáng ngưỡng mộ ấy mà tôi sẽ
có tinh thần một tu sĩ thật sự.
d) Maria Mẹ tôi : Nhưng Maria không chỉ là mẫu mực
cho riêng tôi, Ngài là Mẹ tôi. Ở trên đồi Calvaire, ở
dưới chân thập giá của con Mẹ là lúc Mẹ nhận
tôi làm con. Mẹ nhận tôi khi theo một cách nào lúc Mẹ
đang mang đầy máu Chúa Giê Su đổ ra v́ tôi ; và mặc
dù sự ghê tởm tí gây cho Người, v́ nếu Chúa Giê Su
chết, đó là do tội lỗi của tôi, Mẹ nhận
tôi làm con v́ con của Mẹ. Từ nay, tôi là con Mẹ. Vinh
dự nào hơn có một người Mẹ như thế
! Hạnh phúc nào hơn bằng sự trao đổi như
thế !...Ḷng biết ơn nào, t́nh thương mến nào
tôi không nhớ Mẹ ?...Những sự thương mến,
sự biết ơn ấy là ǵ nếu tôi từ chối mỗi
ngày bởi một sự sống đối lập với
sự sống của Mẹ Maria ?
Nếu yêu mến Mẹ,
tôi phải chứng tá khi hoàn thành trong tôi những ǵ đẹp
ḷng Mẹ ; bằng cách xem nhẹ những ǵ không xứng
đáng về Mẹ trong tâm trí tôi ; bằng cách dành cho Mẹ
mối t́nh thương mến tinh tế để chứng
tỏ rằng trong tôi Mẹ có một người con thực
sự. Cuộc sống tôi có chứng tỏ được
cho Mẹ điều đó không ?
Chương
VI: T́nh yêu Giáo Hội
Chúng
ta cũng yêu mến Giáo Hội bởi v́ Chúa Giê Su đă yêu
mến Giáo Hội; t́nh yêu dành cho Giáo Hội giúp cho t́nh yêu của
ta đối với Chúa tràn lan ra mỗi chiều kích trên thế
gian. Cha d'ALZON nhấn mạnh đến sự gắn bó mật
thiết và sự nhiệt tâm trọn vẹn mà Giáo Hội
phải khơi nguồn cảm hứng nơi chúng ta.
T́nh
yêu ấy là quy luật của lời khấn hứa khi
được chấp thuận sau một thời gian của
các tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời nhằm nhiệt tâm dấn
thân v́ sự triện nở của Nước Thiên Chúa
trong các linh hồn.
1o Tại sao tôi phải
yêu mến Giáo Hội?...
a) Giáo Hội là ǵ
đối với Chúa chúng ta:
v́ Chúa chúng ta : Vương Quốc của Chúa chúng ta là ǵ, nếu
không phải là hành động của Người trong Giáo
Hội ?...Để biết Chúa đă yêu thương Giáo Hội
như thế nào, tôi cần quí mến tất cả những
ǵ Người đă làm cho Giáo Hội.
V́ Giáo Hội, Người đă từ
trời mà đến, Người đă nhập thể,
đă sinh ra trong máng cỏ, đă trải qua 30 năm đời
sống lao động vất vả, nghèo khó và ẩn náu ;
Người đă chịu phỉ báng, bách hại, xỉ nhục,
đau khổ ghê tởm nhất, chịu chết trên tháp tự
giá, tất cả những điều đó là v́ Giáo Hội,
thân thể huyền nhiệm của Người. Nếu
yêu Chúa Giê Su Ki Tô, tôi phải yêu mến những ǵ Người
có quí giá nhất ra sao?...
b) Hơn nữa, Giáo Hội là ǵ
đối với tôi ?...Giáo
Hội là Mẹ tôi. Nơi Giáo Hội và nhờ Giáo Hội,
tôi được sinh ra với sự sống mới trong
nước phép rửa tội ; nhờ Giáo Hội, Chúa Giê
Su Ki Tô ǵn giữ sự sống Thiên Chúa trong tôi, và nhờ
trợ giúp của các bí tích mà Giáo Hội là người phân
phát. Nhờ Giáo Hội, trí thông minh nơi tôi được
sáng tỏ nhờ ánh sáng sự thật đời đời.
Giáo Hội được giao phó giảng dạy sự thật
ấy với quyền bính không sai lạc. Nhờ Giáo Hội,
tôi không ngừng đạt được vô vàn trợ giúp
đỡ nâng và khích lệ tôi hướng tới điều
thiện. Nhờ Giáo Hội, Hội Ḍng nhỏ bé của
chúng ta được chúc phúc trong đó tôi là thành viên. Gia
đ́nh mà tôi đă chọn lựa để yêu
thương và phục vụ Thiên Chúa tốt hơn. Không có
Giáo Hội, tôi sẽ không nhận biết bao nhiêu, tôi sẽ
không thể phục vụ tốt Thiên Chúa, Đấng mà tồi
tận hiến đời ḿnh.
c) V́ những linh hồn
khát khao sự toàn thiện :
Hiền thê tuyệt hảo của Chúa Giê Su Ki Tô, Giáo Hội
gọi những linh hồn được ưu tiên đến
lượt họ, trở thành những hiền thê, và trong
mầu nhiệm đáng kính này, chính trong
lửa của Thánh Thần mà
Giáo Hội mời gọi tôi ḥa vào sự hiệp thông khó hiểu
giữa tạo hóa và Đấng Tạo Hóa. Điều Chúa
Giê Su Ki Tô yêu thích đặc biệt trong Giáo Hội là những
linh hồn được thánh hóa. Không phải mọi linh
hồn đều được nâng lên cùng một bậc
thang của sự toàn thiện, nhưng tất cả đều
được mời gọi trở nên toàn thiện. Vậy
nhưng, trong ḷng nhân từ vô biên, Chúa chúng ta không muốn
hành động đơn độc trong công việc hoán
cái và thánh hóa các linh hồn. Người phó thác cho Giáo Hội
những người ki tô hữu, chính v́ điều đó
mà Người đă lập nên chức linh mục, và
người cho phép mọi người đón nhận các hồng
ân có chừng mực để cùng chung một việc, tùy
theo địa vị của họ, sức mạnh của
họ.
2o Tôi phải yêumến
Giáo Hội như thế nào?...
a) Như là quê
hương và Mẹ tôi: trước hết, tôi phải yêu
mến Giáo Hội như là quê hương tôi. Thực vậy,
Giáo Hội chính là quê hương hồn tôi, là xă hội nhờ
đó tôi được hiệp nhất với Thiên Chúa ;
tiếp đến, tôi phải yêu mến Giáo Hội như
là Mẹ tôi. Tôi là con Thiên Chúa. Giáo Hội c̣n chính là bí tích biến
tôi trở nên con cái Thiên Chúa, nên con cái Giáo Hội.
b) trong mỗi thành phần
của Giáo Hội : Tôi phải yêu mến tất cả những
ǵ làm Giáo Hội sống động : Người đứng
đầu hưu h́nh của Giáo Hội, tức Đức
Thánh Cha, Giao Hoàng. Người mà từ thánh Phêrô đă trở
nên ḥn đá chắc chắn mà Giáo Hội được
xây dựng trên đó. T́nh yêu của tôi dành cho Chúa Giê Su Ki Tô
phải nới rộng đến Vị Tổng Quản của
Người trên trần gian. Tôi phải yêu mến mỗi
phẩm trật trong Giáo Hội và cầu nguyện nhiều
để các thành phần trong Giáo Hội có những trợ
giúp và những hồng ân cần thiết cho sứ mệnh
truyền giáo.
Tôi phải yêu mến các linh hồn
đang tẩy rửa trong lửa luyện ngục để
trở nên xứng đáng nh́n xem Thiên Chúa. Tôi phải yêu mến
và cầu khẩn những linh hồn công chính đang ngự
bên Chúa Giê Su Ki Tô trong Giáo Hội khải hoàn. T́nh yêu của
tôi phải hiệp nhất những phần tự khác biệt
ấy trong cùng một Giáo Hội.
c) Với ḷng nhiệt
thành trọn vẹn: Nhưng đôi khi cũng quan trọng
đối với tôi là người tận tâm hết ḷng. Như
nó phụ thuộc vào tôi bao nhiêu và theo sự yếu đuối
của bạn thân, th́ trong Giáo Hội đang tranh đấu
trên trần gian bấy nhiêu. Cầu nguyện, hăm ḿnh hành xác
trong đớn đau phải mang một dấu ấn
đặc biệt bởi ḷng sùng kính, khi tôi nghĩ ḿnh có
thể góp phần cứu giúp các linh hồn. Thái độ,
hành động, lời nói, giảng dạy, mọi chức
năng người khác giao phó cũng qui về một mục
đích dù trực tiếp hay gián tiếp, phải thấm
nhuần cùng một t́nh cảm và một t́nh yêu.
a) Tra vấn
lương tâm: đối với t́nh yêu Chúa Giê Su: Tôi đă
yêu mến Giáo Hội v́ t́nh yêu Đức Giê Su Ki Tô
không?...Tôi đă cảm tạ Thầy Nhân Lành này chưa v́ tất
cả những ǵ Người đă làm để lập
nên Giáo Hội Công Giáo mà tôi có vinh dự ở trong
đó?...Tôi có thỉnh thoảng suy niệm về những
ǵ làm mệt mỏi Người, những ǵ hạ nhục
Người, những ǵ làm khó Người khi Người
lập Giáo Hội?...
b) Như là Mẹ tôi:
Tôi là con cái của Giáo Hội; tôi có yêu mến Giáo Hội
như Mẹ ḿnh không?...Tôi đă biết ơn đầy
đủ về sự sống mới nhận được
trong Giáo Hội không ?...Về những hồng ân làm nguồn
nuôi dưỡng thiêng liêng cho linh hồn tôi?...Về hạnh
phúc có thể nuôi dưỡng nhờ ḿnh và máu Chúa trong Giáo Hội?...
c) Trong mỗi thành phần
của Giáo Hội: Tôi có cảm động về những
cuộc bách hai Giáo Hội không?...Tôi đă cầu xin Chúa ban
b́nh an và tự do mà Giáo Hội cần đền
chưa?...Tôi đă cầu nguyện với trọn niềm
sùng kính những linh hồn công chính ở trên trời đến
trợ giúp không?...Tôi đă cầu nguyện cho các linh hồn
trong luyện ngục chưa?...Tôi có đủ ḷng
thương đối với những linh hồn khốn
khổ ấy không?...Tôi có cầu nguyện cho Đức
Thánh Cha, Giáo Chủ, để Thiên Chúa làm cho Ngài cai quản
Giáo Hội cho nên?...Tôi đă cầu nguyện cho các Giám Mục,
các linh mục dâng ḿnh cho ơn cứu rỗi các linh hồn?...
d) Với sự phó dâng
trọn vẹn: Tôi đă hành hạ ḿnh với đủ ḷng
thành kính để có được ơn hối cải của
các linh hồn, nhất là với những linh hồn mà tôi
có tương quan hơn cả, và được phó thác cho
tôi cách đặc biệt ?...Tôi đă có niềm hăng say
biến vua David nên đớn đau khi thấy những
người tội lỗi?...Tôi đă cố gắng đủ
để tuân theo những ǵ một linh hồn cầu xin
như ḷng tốt, sự ân cần, những phương
cách tốt để hối cải. Nhưng mà tôi không
đạt được v́ không đủ can đảm
trở thành người xứng đáng nhất bằng
chính ḿnh.
Chương
VII: Khao khát sự toàn thiện
Cha
d'ALZON đă sống trong niềm say mê ba mặt của t́nh
yêu; Ngài phân biệt rơ những hiệu quả thực tiễn
của mỗi mặt. T́nh yêu nhằm đến sự
tương đồng: Chúa chúng ta, Đức Tŕnh Nữ,
Giáo Hội nhắc nhở chúng ta luôn: Hay là người toàn
thiện như Cha anh em trên trời là Đấng toàn thiện.
Chương cuối này như phần kết luôn cho phần
đầu của DIRECTOIRE.
Hiệu
quả ba mặt trong t́nh yêu : Ta ước ao là người
dễ chịu cho người ta yêu. Nếu tâm hồn tôi trọn
vẹn thuộc về Chúa, tôi phải ao ước làm
đẹp ḷng Người, và ao ước ấy phải
giống như t́nh yêu của tôi đối với Người.
Vậy mà, điều Người mong muốn nhất là
tôi trở nên thánh. Vậy nếu tôi chỉ có mong ước
nhỏ bé trở nên toàn thiện, đó là v́ tôi yêu Người
quá ít.
Ư tưởng về sự toàn thiện
ấy, tôi t́m thấy trong chính Chúa, Đấng duy nhất
toàn thiên bởi sự hoàn hảo tuyệt đối, và
Chúa chúng ta muốn tôi bắt chước khi Ngài phán bảo
: " Hăy toàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng
toàn thiện ". Bản tính loài người rất thánh của
Đấng Cứu Độ cũng là mẫu mực của
tôi. Cuối cùng, Mẹ Maria đă được ban cho tôi
để tôi bắt chước Mẹ. Bao giờ th́ tôi thực
hiện nghiêm túc việc ấy ?...Đời sống tu sĩ không phải là con đường
của sự toàn thiên hay sao ?...
Tôi có ư tưởng xác thực nào
về sự toàn thiện mà Chúa chờ mong nơi tôi ?...Tôi
có học hỏi sự toàn thiện mà tôi phải hướng
đến, trong cả những sự toàn thiện của
Thiên Chúa, và của Con Thiên Chúa, trong cả những nhân đức
của Mẹ Maria ?...Tôi có ư tưởng xác thực về
tất cả những bổn phận của ḿnh xét theo mỗi
chiều hướng ?...Trái lại, không phải tôi là một
tu sĩ lạnh nhạt, lười biếng, uể oải
ư ?... Tôi có lắng nghe tiếng ḷng trách những lơ
là triền miên ấy không ?...Tôi có phủ nhận những
ǵ cản trở tự do tâm hồn tôi không ?...Tôi có tránh những
rào cản sự thăng tiến thiêng liêng của tôi ?...Những
cản trở ấy, tôi có t́m biết không ?...Tôi có một
lần nhất định tiến hành việc đó không
?...Phải chăng tôi chưa hề bắt đầu t́m
hiểu ǵ cả về những cản trở ấy !...
Sự
toàn thiện và sự nhiệt thành tín thác : Cảm giác về
tính toàn thiện và về sự nhiệt thành tín thác nói cho
cùng chỉ là một mà thôi. Tôi chớ nhiệt tâm, hăng
say v́ việc thiện ?...Tôi có sẵn sàng hy sinh tất cả
để đạt đến sự toàn thiện Thiên
Chúa muốn cho tôi ?
Nếu tôi không thể hy sinh nhiều
lúc ban đầu, không phải tôi có thế luôn tập từ
từ và xứng đáng nhờ thiện ư ban đầu mà
Thiên Chúa tăng thêm sức mạnh và ban cho thiện ư ấy
chiến thắng trọn vẹn bản tính và những ghê
tởm của nó ?
PHẦN HAI : CÁC NHÂN ĐỨC
Cha d'ALZON
gắn với những nhân đức nảy sinh trực
tiếp từ ḷng mến yêu Chúa, Thánh Nữ Đồng
Trinh, và Giáo Hội đ̣i hỏi trước hết nơi
các tông đ̣. Đời sống người tu sĩ Ḍng Mẹ
Về Trời triển nở nhờ ba mặt của t́nh
yêu là một đời sống v́ Chúa. Ta hiệp thông với
Chúa và phục vụ Chúa nhờ đức tin, niềm hy vọng
và đức ai. Mỗi nhân đức ấy được
kèm theo những nhân đức phụ, mang đặc thù ki
tô giáo, được ban cho ta hoàn toàn trong công cuộc thánh
hóa con người và công việc tông đồ.
Chương một : VỀ ĐỨC
TIN
Đức tin liên quan đến
t́nh yêu Thiên Chúa trở nên nổi bật. Niềm hy vọng,
đức ái nảy sinh từ đức tin, như t́nh yêu
Mẹ Đồng Trinh, Mẹ Người, và t́nh yêu Giáo Hội,
Hiền thê của Người nảy sinh từ t́nh yêu
Thiên Chúa. Đức tin xét về mặt nhân đức là
đặc tính đầu tiên trong tinh thần Ḍng Mẹ Về
Trời.
Nhờ đón nhận đức
tin mà tôi tin những ǵ Giáo Hội dạy phải tin, bởi
v́ chính Thiên Chúa là sự thật không sai lạc đă mạc
khải những điều ấy.
Đức tin dẫn
Chúa Giê Su đến trong tôi : Một mặt nào đó, Chúa
Giê Su, tác nhân và Đấng hoàn mỹ đức tin của
tôi, không thể là mẫu mực trong thực hành về
đức tin ? Nhưng tôi có Mẹ Maria là người
đă xứng đáng làm Mẹ Thiên Chúa nhờ hành vi đức
tin cao cả nhất mà một tạo vật có thể làm
được, khi Mẹ cộng tác hết sức ḿnh với
mầu nhiệm nhập thể. Đức tin có khơi ra
trong tôi một mầu nhiệm tương tự.
Đâu là đối
tượng của đức tin tôi ?...Không phải là sự
thật Thiên Chúa sao ? Không phải là nhờ ánh sáng Chúa Giê Su
Ki Tô, Ngôi Lời Vĩnh Cửu, Sự thật vô song mà tôi
tin sao ?...Tội lỗi kéo Chúa Giê Su Ki Tô về trong tôi nhờ
đức tin ; nhờ đức tin, Người hiện
diện trong ḷng tôi, theo ư muốn của thánh Tông đồ
: " Nguyện Đức Giê Su Ki Tô cư ngụ trong ḷng
anh em nhờ đức tin ".
Đâu là sức mạnh
và nguồn năng lực đức tin tôi ? Tôi đă hiểu
hạnh phúc của đức tin và trở nên người
ki tô hữu công giáo không ? Sự thật có giá trị nào
đối với tôi ? Tôi có hiểu rằng nhờ giảng
dạy của Giáo Hội mà tôi nhận biết đúng Thiên
Chúa ? Tôi có thường tỏ ra những hành vi đức
tin vào những mầu nhiệm chính, mà việc suy niệm
tóm lại phải là lương thực hàng đầu cho
linh hồn tôi ? Tôi có cảm tạ Chúa với tấm ḷng biết
ơn sâu sắc đă cho tôi trở nên con cái Giáo Hội công
giáo ? Tôi có t́m hiểu những sự thật đức tin
cho xứng đáng là một tu sĩ không?
Nếu tôi phải giảng dạy
những sự thật về đức tin, không phải
là tôi dùng những suy nghĩ, những tưởng tượng
cá nhân với tư cách là giảng dạy của Giáo Hội,
hoặc bởi tôi gắn bó với những ư tưởng
riêng, hoặc bởi ư tưởng sai lạc của một
số người sùng đạo. Họ là những người
tuân theo những thực hành của Giáo Hội và họ cho
là họ nắm được khoa học về học
thuyết đức tin của Giáo Hội.
Đức tin
đưa tôi vào trong trật tự siêu nhiên : Hiệu quả
đầu tiên của đức tin là mạc khải cho
tôi trật tự siêu nhiên và và đưa tôi vào trong đó nếu
tôi muốn. Đức tin chỉ cho tôi những điều
như chính Thiên Chúa xem thấy và đánh giá, ít ra là những
ǵ có liên quan trực tiếp đến ơn cứu độ
của tôi.
Tôi có t́m cách đánh giá những sự
việc như Thiên Chúa không ? Tôi có t́m cách rút ra những bài học
thực tiễn được bày ra cho ḿnh qua những mầu
nhiệm cao cả trong Ba Ngôi, Nhập thể, Cứu chuộc,
cuộc đời Chúa chúng ta để đem đến một
ư nghĩa cho mọi hành động khi ḥa nhập nó với
Thiên Chúa và với những ư định của Người
Con làm người v́ tôi ? Có lẽ phải hứng chịu
những hậu quả của nền giáo dục ít mang phẩm
chất ki tô giáo, nên tôi xem nhẹ những sự việc hoặc
liên quan đến những sự thật mà Giáo Hội rao
giảng, hoặc liên quan đến những thực hành mà
Giáo Hội khuyên làm, hoặc liên quan đến đồ vật
Giáo Hội tôn thờ ? Những vật có vẻ ít quan trọng
dưới mặt tôi, không phải là tôi nâng cao lư lẽ của
ḿnh ngang tầm với nó sao ? Và không phải là tôi đă chiều
theo những phản bác hay sao ? Cuối cùng, nếu cần
thiết, tôi có thể sẵn sàng đổ máu để
làm chứng về đức tin nơi Chúaa và nơi Giáo Hội,
như các vị tử đạo không ? Và sự kính trọng
tha nhân không phải đă làm tôi hổ thẹn khi có hành vi
nào đó làm tổn thương ḷng tự ái nơi tôi, ngay ở
giữa người anh em, chứng kiến sự gia nhập
của tôi vào đời sống đức tin ?
Chương
II : Đức khiêm nhường
Hai nhân đức phân biệt nhau
trong ánh sáng đức tin :
khiêm nhường và vâng lời. Trong Hội Ḍng Mẹ Về
Trời, ta có cách lắng nghe và thực hành những nhân
đức ấy theo gương mẫu Đức Ki Tô, nền
tảng của đời sống tu sĩ và chỉ ra cho
ta những dấu ấn siêu nhiên.
Thực
hành trong Hội Ḍng : Nhân
đức cần thiết nhất đối với tu sĩ
Ḍng Mẹ Về Trời trong mỗi nhân đức chắc
chắn là nhân đức khiêm nhường, v́ dùng theo lời
của thánh Phao lồ : dù kiến thức có làm ta kiêu
căng, ta cũng không thể phủ nhận rằng ta bị
rơi vào những mối nguy lớn v́ những công việc
mà ta sẽ được tuyển dùng. Mối nguy hại ở
ngay trong những việc làm tốt mà ta được mời
gọi để làm, và chính v́ vậy mà ta phải cố gắng
không ngừng mang ư chí thuần khiết trong mỗi hành vi của
cuộc sống nhờ đức khiêm nhường ; v́ sợ
rằng ta đặt tính tự ái ở địa vị
vinh quang Thiên Chúa mà ta phải t́m kiếm. Ta sẽ không ngừng
hướng tâm tư ta về với Đấng là nguyên thế
và cũng đích của mỗi cử động nơi
ta, v́ e sợ chỉ t́m phần thưởng cho hành động
nào đó trong sự thánh hóa con người ta. Hành động
ấy có thể tự nó là hành động tốt, nhưng
ta chưa hướng đủ về với Chúa.
Nguyên tắc
đời sống tu sĩ của ta : Đức khiêm nhường tháo gỡ
ta khỏi ư muốn riêng tư, v́ sợ rằng ta sẽ
không lắng nghe được lời đáng sợ này :
" Này đây trong những hy tế của ngươi tồn
tại ư muốn của riêng ngươi ", quá gắn bó
với vật chất bởi sự kết hợp cá nhân,
thay v́ chỉ gắn bó duy nhất làm đẹp ḷng Chúa.
Đức khiêm nhường sẽ
là căn nguyên của đức vâng lời, đủ những
hy sinh đ̣i hỏi ta có khó khăn đến mấy, v́ sự
ngờ vực về chính ta sẽ cho ta hiểu nhu cầu
cần được dẫn dắt, và cảm giác về
sự yếu đuối sẽ nảy sinh trong ta một sự
tin tưởng lớn mạnh hơn nơi Thiên Chúa.
Đức khiêm nhường sẽ
là căn nguyên để mở của tâm hồn với Các
Vị Bề Trên trong việc tra xét lương tâm, trong việc
thú nhận lỗi lầm, cấm giờ, nhọc nhằn,
nhu cầu, mọi bệnh tật trong con người.
Đức khiêm nhường sẽ giúp ta chấp nhận mọi
mệnh lệnh, mọi công việc thấp hèn và những
t́nh huống đáng khinh thường nhất. Đức
khiêm nhường sẽ làm cho ta kính trọng, đón nhận
những nguyên tắc áp dụng trong cộng đoàn, ngay cả
khi ta không hiểu được những nguyên tắc ấy.
Đức khiêm nhường sẽ giúp hạn chế miệng
lưỡi của ta, sẽ tạo nên tính nghiêm trang
tương xứng với một vị tu sĩ. Đức
khiêm nhường sẽ là căn nguyên của đức
khiêm tốn phải có trong tương quan với những
người anh em và với đồng loại.
Cuối cùng, đức khiêm
nhường sẽ giúp người tu sĩ chấp nhận
sự khinh thường t́nh yêu (của người khác)
đối với Chúa chúng ta, Đấng đă chịu bao
nhiêu điều xỉ nhục. Và đức khiêm nhường
sẽ ban thêm sức mạnh cho người tu sĩ trở
nên một cộng sự biết vâng nghe, sẵn sàng với
mọi điều thiện hảo làm triển nở
Nước Thiên Chúa, giữa bàn tay Thiên Chúa và bàn tay của
những người đại diện Ngài.
Đức khiêm
nhường nảy sinh từ đức tin và chỉ cho
tôi :
a) Sự
hư không nơi tôi : Đức tin chỉ cho tôi nhận
thấy trong ánh sáng rằng Thiên Chúa là tất cả và tôi chỉ
là hư không. Chính Thiên Chúa là nguồn dư đầy của
hữu thể, và của chính tôi. Tôi không là ǵ cả. Càng t́m
cách hiểu biết Thiên Chúa nhờ đức tin, tôi càng mệt
mỏi bởi vinh quang cao cả của Người, và so
sánh với Người, tôi lại càng thấy ḿnh là người
hư không hơn nữa, tôi có thể khẳng định
như vậy.
Tin tưởng với cái nh́n ấy,
vậy đâu là chỗ của tính kiêu căng ? Tôi không biết
ǵ cả. Và chính v́ sự vô tri ấy mà sự kiêu căng
nơi tôi trở nên khó chịu hơn, hoặc là từ thỏa
măn nơi chính nó hay nó t́m sự tán thành và hoan nghênh nơi
người khác, hoặc là nó tự tuân theo những đ̣i
hỏi tự nó đặt ra hay là theo tính nhảy cảm của
riêng nó, hoặc là nó tự khép ḿnh trong đơn độc
và cái bóng ích kỷ của nó.
Nếu Chúa là tất cả, tôi chẳng
là ǵ. Tôi phải kết hợp mọi sự với Chúa và
không nên tôn vinh ǵ nơi tôi. Thế nhưng, tôi là người
kiêu căng, khoe khoang, hay đ̣i hỏi, dễ mất mặt
mặt; và nếu tất cả những tính t́nh ấy không
thể hiện cùng một lúc trong tôi, hoặc tôi khám phá từ
từ, hoặc linh hồn tôi đặc biệt bị
giơ bẩn bởi một trong những tính t́nh ấy.
b) Tội
lỗi tôi : Nhưng tôi không
chỉ là hư không bởi nguồn gốc, hữu thể
tôi c̣n bị giơ bẩn thêm do tội lỗi. Tội lỗi
đă đặt vào trong hữu thể mà Thiên Chúa đă ban
cho tôi, sự đảo lộn hoàn toàn ngoài ư muốn của
tôi. Là người tội lỗi, tôi chỉ xứng với
cơn thỉnh nộ và h́nh phạt của Thiên Chúa v́ sự
công minh của Người. Thiên Chúa đă thứ tha cho tôi,
đă tẩy rửa tôi trong máu của Người Con, và với
sự trao đổi ân huệ vô tường ấy, tôi phải
tranh đấu mỗi ngày, v́ tội lỗi của ḿnh, tôi
là một quái vật phản loạn.
Hư không, tội lỗi, vô
ơn, đó là định nghĩa đúng nhất về
tôi đối với Thiên Chúa.
Kiểm
điểm bạn thân : Khi
trở về trong chính ḿnh, ít ra tôi có biết cảm nhận
thấp bé, đứng vững ở địa vị ḿnh,
hổ thẹn về trạng thái con người tôi không ?
Tóm lại tôi có khiêm nhường không ? Tôi có hiểu biết
rằng v́ những lỗi lầm, v́ thiếu ḷng biết
ơn, tôi mắc nợ cái ǵ đó ở sự công chính và ở
t́nh yêu Thiên Chúa bị xúc phạm ? Tôi có biết hạ thấp
ḿnh không ? Tôi có biết hổ thẹn về tội lỗi
ḿnh không ? Tôi có biết đứng trong vị trí của
ḿnh là chỗ sau hết không ? Chúa Giê Su Ki Tô, để phá
đi tính kiêu căng nơi tôi, đă muốn gánh chịu tất
cả mọi lăng nhục. Tôi làm ǵ để bắt
chước Thầy tôi ? Tôi có chấp nhận những va
chạm không tranh nổi trong ḷng tự ái không ? Tôi có chấp
nhận những nhục nhă ? Tôi có t́m những nhục nhă
để phá tan những kiêu hănh nơi tôi ? Tôi có thích những
giải pháp làm tan biến đi tính kiêu căng ? Là người
hay đ̣i hỏi, tôi co ư thức được rằng
ḿnh chẳng có quyền ǵ ? Là người hay giữ bí mật
trong ḷng, tôi có nhận rơ những ǵ làm tôi tức giận
không ? Là người ích kỷ, tôi có nhất trí rằng tất
cả không phải là của tôi ?
Một lần nữa, tôi có phải
là người khiêm nhường ? Tôi có thực hành đức
khiêm nhường ? Tôi có tiếp nhận những lăng nhục
để bắt chước đức khiêm hạ của
Chúa Giê Su?
Chương III:
Đức vâng lời
Thực
thi đức vâng lời trong Ḍng Mẹ Về Trời theo
gương mẫu Đức Ki Tô: Nếu v́ tự trao ban vật ǵ bởi
ḷng nghèo khó, trao ban thân ḿnh và những giác quan ḿnh bởi ḷng
khiết trinh, người đó trao ban trọn vẹn chính
ḿnh nhờ đức vâng lời. Đó là nhân đức mà
lời khấn hứa là sợi dây của đời sống
tu tŕ. Nhân đức ấy ḥa biến sự hy sinh cả
con người cách trọn vẹn. V́ vậy, phải t́m
căn nguyên của nó ngay trong ḷng mầu nhiệm Ba Ngôi,
đang tôn thờ và trong sự vâng lời đời đời
của con Thiên Chúa, Ngôi Lời không phải tạo thành, theo
ư muốn Thiên Chúa Cha.
V́ thế Chúa Giê Su Ki Tô đă muốn
được gọi là Con Chiên bị hiến tế ngay từ
lúc khai sinh của thế giới. Người cho biết
rơ là muốn những ǵ Cha Ngài muốn, rằng luật của
Ngài được ghi khắc trong sâu thẳm tâm hồn
Ngài : " Con t́m theo thánh ư Ngài, Lạy Chúa, và thánh chỉ
Ngài ở trong trái tim con ".
Chính v́ điều đó mà thánh Phao
Lồ dạy ta và Giáo Hội luôn nhắc nhở lại
trong kinh nguyện tuần thánh rằng Chúa Giê Su Ki Tô đă
làm người v́ chúng ta và đă vâng lời cho đến
chết và chết trên tháp giá.
Để sự vâng lời của
chúng ta được Thiên Chúa đón nhận, đó phải
là sự vâng lời khiêm nhường, hiền ḥa, mau lẹ,
trung tín, không độ lượng và không nhát hèn.
Kính trọng
những giới luật của Thiên Chúa mạc khải nhờ
đức tin : Đức
tin là hành vi tuân phục của tâm trí theo sự thật
được Thiên Chúa mạc khải. Nhưng khi dạy
ta những ǵ phải tin, đức tin cũng dạy ta những
ǵ phải thực hành. Khi chỉ ra cho ta những quan hệ
giữa Chúa và ta, đức tin c̣n chỉ cho ta những bổn
phận đối với Chúa. Nếu Chúa là Thầy tối
cao của vạn vật, nếu ta là những tôi tớ của
Ngài ; nếu nhờ hồng ân, ta trở nên con cái Người.
Vậy với hai chức dành do, ta phải gắn bó tuyệt
đối với Người.
Những sự nhiệt thành của
ta muốn chứng tỏ cho Người sự tuân phục
ấy có thể vượt ra ngoài những mệnh lệnh
của Người. Ta có thể t́m kiếm những khao
khát của Người và biến nó trở thành thánh chỉ
cho ta. Đức vâng lời mang đặc tính về sự
toàn thiện, t́nh yêu được thể hiện qua lời
tuyên khấn: Đó là sợi dây đầu tiên của đời
sống tu sĩ. Đức vâng lời hiểu theo nghĩa
ấy là sự hy sinh của ư muốn riêng mà tôi từ bỏ
để chỉ thực thi ư Chúa vốn được tỏ
hiện cho tôi qua các Bề Trên của tôi.
Tra vấn
lương tâm : Tôi khấn
hứa đức vâng lời ; tôi đă hoàn thành lời khấn
hứa ấy ra sao đến giây phút hiện tại?...ư muốn
của tôi có được hy sinh trọn vẹn không ? Phải
chăng tôi vâng lời một cách không hạn chế và không
suy nghĩ kỹ ? Phải chăng tôi không thường
xuyên tra vấn chính ḿnh về quyền bính qua các Bề Trên,
về sự lạm dụng quyền hành của họ ?
Tôi có cuốn theo những phán xét của tôi, ngay cả trong
luật phép ? Không phải là thỉnh thoảng tôi thảo
luận với các anh em khác về những hành vi của quyền
hành? Tôi có tuân phục vị Bề Trên mà các Vị Bề
Trên chọn lựa cho tôi? Tôi có tuân phục những việc
làm được giao phó cho tôi, vượt ngoài khả
năng của tôi? Tôi có noi theo tư thế sẵn sàng của
Mẹ Maria: " Này đây tôi là tôi tá Chúa, nguyện
được làm theo như lời Ngài phán".
Trong những cám giỗ chống lại
đức vâng lời, tôi có nhớ rằng Đức Giê
Su Ki Tô, vốn là Thiên Chúa, đă vâng theo Cha Ngài, và Ngài đă
vâng lời cho đến chết, và chết trên tháp giá,
trong khi Ngài không bắt buộc phải làm việc đó ?
Tôi có tin rằng tôi chỉ phải
tuân theo mệnh lệnh rơ ràng, nhưng tôi quên rằng sự
vâng lời thật chấp nhận những chỉ dẫn
tối thiểu nhất ? Trái lại, không phải là tôi lặp
đi lặp lại một ư nghĩ ? Hoặc là tôi lạc
lỏng trong giải thích để đạt được
điều cho phép mà người khác không muốn ? Không phải
là tôi đă đi loanh quanh, hay căi lại những mệnh lệnh
được ban bố cho tôi, hay là cứ phê b́nh nong cạn
một đoạn Luật Ḍng nào đó?
Chương IV : Hy vọng
Hy vọng, nhân đức trung gian,
như Mẹ Maria là Trinh Nữ trung gian, giựa theo sự
toàn nặng nhân từ của Thiên Chúa. Hy vọng nâng đỡ
chúng ta trong mọi thử thách và bảo đảm chúng ta
những trợ cứu của hồng ân có khi tiềm thức
chúng ta không biết đến.
Hy
vọng là nhân đức nhờ đó ta có sự tin tưởng
vững chắc, theo những công trạng của Chúa Giê Su
Ki Tô. Sử dụng tốt những hồng ân Thiên Chúa ban
trong cuộc sống này, ta sẽ c̣n có măi trong sự sống
đời sau.
Thực
hành nhân đức hy vọng trong Hội Ḍng : Chúng ta chỉ đặt tin tưởng
nơi một ḿnh Chúa, không bao giờ nơi những
phương thế loài người. Sự nghèo khó nơi
Tin Mừng sẽ là, đối với ta, như là bằng
chứng khách quan cho việc thực
hành niềm hy vọng. Chúng ta cũng rút ra được
nơi đó tinh thần khiêm nhường thật sự, tức
là sự coi thường và khinh dễ chính bạn thân ta ;
cuối cùng, ta rút ra được tinh thần cầu nguyện,
nhờ đó ta sẽ cầu xin những hồng ân cần
thiết để hoàn thiện thánh chỉ của Chúa và những
khuyên răn của Ngài. Ta vững tin rằng những ǵ
không thuộc về Thiên Chúa và không dẫn về Thiên Chúa
th́ không xứng với ta.
Những
hiệu quả đặc biệt hơn : Niềm hy vọng thực hành như vậy
sẽ linh hứng cho ta có sự biết ơn sâu sắc nhất
đối với những hồng ân Thiên Chúa, linh hứng
ta nhớ măi những lời của thánh Tông Đồ kêu mời
ta cảm tạ Chúa về những ǵ đến với ta
: " Hăy cảm tạ Chúa v́ mọi sự ".
Với ta, niềm hy vọng
sẽ là căn nguyên cho sự tin tưởng tuyệt
đối đối với Thiên Chúa trong mội thử
thách. Chính trong lúc khổ nạn, Người nói với các
Tông Đồ : " Mong ḷng anh em dừng xao xuyến và đừng
sợ hăi : Anh em tin vào Thiên Chúa, th́ cũng hăy tin vào thầy
". Dù thử thách nào đến với ta, ta luôn tin tưởng
rằng Ngài sẽ không từ bỏ ta, miễn là ta trung
thành với Người, v́ chính Người đă hứa sự
bách hại cùng lúc với chiến thắng : " Nếu
người ta đă bách hại Thầy, người ta cũng
sẽ bách hại anh em. Trên thế gian, anh em sẽ lo buồn,
nhưng hăy tin tưởng ! Thầy đă chiến thắng
thế gian".
Những khuynh hướng
mà niềm hy vọng dơi bước chúng ta: Trong mọi sự,
các tu sĩ của tiểu gia đ́nh ta cần nhớ:
1. Đừng bao giờ cầu
xin ǵ mà không hướng về vinh quang cao cả nhất của
Thiên Chúa.
2. Trong những thử
thách Thiên Chúa gửi đến ta, đừng bao giờ cầu
xin được cất đi khi nào mà sự giải thoát
đó sẽ góp vào sự triển nở lớn lao nhất
của Nước Chúa Giê Su Ki Tô
3. Khi t́m cách vượt
qua những thử thách tạm bỡ, các tu sĩ hăy chỉ
đặt ra tính hoạt bát đối với việc phục
vụ Thiên Chúa mà ḿnh đă hoàn toàn và tuyệt đối tận
hiến.
4. Các tu sĩ nhớ rằng
nếu Chúa Giê Su đă cứu thế gian nhờ cây thấp
giá, đó là v́ trong t́nh yêu thập giá mà các tu sĩ phải
t́m được ích lợi, sức mạnh và sự nghỉ
ngơi.
Cuối cùng, các tu sĩ hăy sâu lắng
tin tưởng rằng những thử thách của họ
không là ǵ so với những thử thách mà Chúa Giê Su đă chịu,
và rằng nếu họ yêu mến Thầy nhân lành ấy, họ
phải quên đi khó nhọc riêng của họ, khi đối
diện với những nhọc nhằn mà Người
đă chịu, và Giáo Hội, là Hiền Thê của Người,
mỗi ngày hướng về những khó nhọc ấy.
Hơi giống như đứa trẻ đâu nhè nhẹ sớm
quên cơn đau đó đi, để chỉ quan tâm đến
người mẹ bỗng dưng ôm chặt lấy nó.
Chính trong t́nh cấm ấy mà rèn luyện để quên
đi chính ḿnh, các tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời sẽ
hiến dâng cho Chúa hiện diện trong nhà tạm, tâm hồn
và sức mạnh chịu đựng, tránh những ǵ xúc phạm
đền Chúa và phản lại Giáo Hội.
Thiên Chúa: đối tượng trước
tiên của hy vọng: Niềm hy vọng chỉ cho ta thấy
Thiên Chúa là cứu cánh của những nỗ lực của
ta. Giựa vào riêng ḿnh, ta không thể đạt được
Người; hồng ân Thiên Chúa góp công vào việc ta đạt
được mối tương quan sở hữu Người.
Thiên Chúa, lợi ích cao cả mà ta hướng tới nhờ
sự khát khao hạnh phúc phú bẩm trong ta. Ngay cả khi ta
không biết Người, Thiên Chúa muốn trao ban cho ta
như là phần thưởng: "Ta sẽ là phần
thưởng dồi dào cho con". Đức tin chỉ cho
ta Thiên Chúa là, cho ta thấy điều ta là nhờ Người.
Niềm hy vọng chỉ cho ta thấy nguồn của mọi
phú quí và mọi sự toàn thiện, của thẩm mỹ
vô tận, của sự chói lọi nói vinh quang vĩnh cửu,
căn nguyên của mọi niềm vui, vực thẳm của
t́nh yêu, như là cứu cánh của mỗi công lao chúng ta.
Hồng ân : đối tượng thứ hai của
hy vọng : Tôi không chỉ có thể sở hữu Thiên
Chúa, nhưng c̣n phải hy vọng sở hữu Người
một ngày nào đó, nếu tôi muốn dùng những
phương tiện mà Người ban nhờ ḷng nhân hậu
để đến được với Người. Bởi
riêng tôi th́ không thể được, nhưng tôi có thể
làm tất cả nhờ Đấng ban sức mạnh cho
tôi nhờ hồng ân. Hy vọng trông cậy vào hồng ân mà
Chúa Giê Su Ki Tô đă hứa ban. Tôi không thể làm ǵ nếu
không có hồng ân. Nhờ hồng ân, tôi có thể trong tất
cả mọi sự. Từ đó phát sinh hai hiệu quả
thực tiễn rất quan trọng:
1. Nếu tôi không thể làm ǵ khi
không có hồng ân, tôi là kẻ tự phụ khi tôi hy vọng
có thể thực hiện cái ǵ đó bằng chính khả
năng cá nhân tôi. Hồng ân thôi cũng đủ với
tôi. Nhưng tôi cần hồng ân. Tôi phải gắng hết
ḿnh để lôi cuốn hồng ân về với ḿnh. Tôi phải
trông cậy vào hồng ân suốt cuộc đời
tôi.
2. Nếu tôi có thể
làm tất cả nhờ hồng ân, tôi là kẻ ngư dân và
kẻ vô ơn nếu tôi để cuốn theo sự chán
năn và thất vọng. Thiên Chúa ở với tôi, tôi c̣n sợ
ǵ ai ? Tôi không được phép để sự chán năn và
thất vọng xâm chiếm trái tim tôi.
Những điều
thoát ra từ cái có trước, đó là tôi phải có ḷng
kính quí hồng ân mà những lao công vô tận của Đấng
Cứu Độ đạt được trên tháp tự
giá. Hồng ân là cái giá phải trả bằng máu Người,
là cái giá từ trời ban cho tôi. Nếu tôi sử dụng hồng
ân để hoàn thành những ư định của Người
trên tôi, không ǵ là cao quí hơn nữa đối với tôi ở
hạ thế này. Tất cả đến với tôi nhờ
hồng ân. Đó là kho tàng của tôi ở trần gian này, cũng
như Thiên Chúa là kho tàng của tôi trên trời.
a) Tra vấn
lương tâm : Về Thiên
Chúa : Đối tượng hy vọng trước tiên của
tôi : Niềm hy vọng có kết gắn vào trong tâm hồn
người tu sĩ nơi tôi không ? Tôi có khát khao Nước
Trời không ? Có phải khát khao duy nhất của tôi là sở
hữu Thiên Chúa trong tương quan với Người ?
Tôi có gắn bó đủ để hiểu rằng Thiên
Chúa là lợi ích duy nhất, sẽ chia duy nhất của ḿnh
đến muôn đời ; rằng nếu tôi gắn bó với
một vật nào đó trên trần gian không nhằm đến
Thiên Chúa, điều đó có nghĩa là tôi đang đi
ngược lại mục đích của tôi ?
Tôi có hiểu được sự
điên rồ khi để tạo vật nào đó chiếm
lấy trái tim tôi ở hạ giới này. Tôi có hiểu rằng
những ǵ thiết chặt tôi với trần gian là sợi
dây cản trở tôi hướng về Nước Trời
? Đă bao giờ tôi chỉ đặt hy vọng vào Chúa mà
thôi ? Đă bao giờ tôi cầu xin ơn Chúa ? Đă bao giờ
tôi tín thác vào hồng ân Người ? Không phải là đôi
khi tôi đă mang tính tự phụ? Trong ḷng tôi, không phải
là tôi đă tự cho ḿnh là tốt ? Chắc hẳn, tôi
đă nói to những lời về đức khiêm hạ,
nhưng trong ḷng tôi đâu là cảm nhận về điều
tôi nói ? Tôi đă tự phụ với sức mạnh riêng
tôi, v́ thế Chúa để tôi sa ngă ?
b) Về hồng ân,
đối tượng thứ hai của nó : Tin tưởng! Mặt khác, tôi có tin
tưởng đủ vào hồng ân không? Bản tính tôi, bị
rơi vào chán năn, bị qủi ma quậy phá, đă thường
khiến tôi cho rằng tôi không c̣n có thể ǵ nữa, rằng
tôi đă quá lạm dụng hồng ân, rằng Thiên Chúa không
ban hồng ân cho tôi, rằng Người không ban cho tôi
dư giă. Với những ư nghĩ sai lạc này, không phải
là tôi bị rơi vào trong vực thẳm của thất vọng
sao?
Tra xét: Cuối cùng, tôi có đón nhận hồng
ân với tất cả sự tôn kính ? Tôi có khinh dễ hồng
ân? Tôi có thấy hồng ân đ̣i hỏi tôi quá ? Không phải
tôi bị phân tán trong lúc đọc sách, suy niệm, rước
lệ ? Không phải là tôi thấy sẽ phải đi quá
xa, nếu làm theo ư muốn của ân sủng sao? Không phải
tôi đă run sợ v́ biết bao hy sinh tôi sẽ phải làm,
một khi ân sủng chiếm lấy tôi hoàn toàn ?
Từ bỏ : Hôm nay tôi đang ở mức độ
nào đối với tất cả những điều ấy
? Rút cục, phải chăng tôi đă giải thoát
được mọi cản trở đối với
hành động của ân sủng trên linh hồn tôi ? Rút cục,
phải chăng tôi cho rằng, khi Thiên Chúa trao ban chính
Người cho tôi để trở thành hạnh phúc triền
miên của tôi, và rằng Chúa Giê Su Ki Tô, để giúp tôi có
được hạnh phúc ấy, ban tặng ân sủng
Người phải trả bằng máu. Ít ra, cũng v́ vậy
mà tôi quyết tâm phó thác chính ḿnh không chút do dự vào những
đ̣i hỏi rất thánh của ân sủng, trong niềm hy
vọng được ân sủng đền đáp ?
Chương V : Cầu
nguyện
Cầu
nguyện là tiếng van xin của niềm hy vọng. Nếu
chúng ta không thể làm ǵ khi không có ân sủng, ân sủng
được bảo đảm trong cầu nguyện và
ân sủng khai mào lời cầu nguyện không bao giờ bị
chối từ : cầu nguyện là vũ khí tiêu biểu nhất.
Thực
hành trong Ḍng : Đời sống các tu sĩ Ḍng Mẹ Về
Trời sẽ là một đời sống kinh nguyên và tĩnh
tâm trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Cầu nguyện
phải là vũ khí tiêu biểu nhất của các tu sĩ
để xua đuổi những cám giỗ, đánh đuổi
kẻ thù của ơn cứu độ, để chiến
thắng mọi cản trở đối với những
việc lành. Các tu sĩ của ḍng phải nhận thấy
vui sướng thăng tiến trong đời sống nội
tâm. Cầu nguyện là phương thức chính của sự
thăng tiến ấy. Các tu sĩ sẽ không ngừng
bước đi trong sự hiện diện của Thiên
Chúa để trở nên hoàn thiện. Cảm nhận về
sự hiện hữu của Thiên Chúa sẽ là căn nguyên
của việc tĩnh tâm và ḷng khiêm tốn nơi những
người tu sĩ.
Các tu sĩ sẽ áp dụng cầu
nguyện Thiên Chúa khắp mọi nơi, tri ân Người
về những hồng ân cao cả, hoặc về những
giải thoát khỏi những
x́-căng-đan vây quanh tứ bề. Họ sẽ cầu
nguyện đặc biệt theo ư của Chúa, thấy hạnh
phúc để hiệp nhất những ư nguyện của họ
với những ư nguyện mà Tông Ṭa không ngừng dâng lên
Chúa Cha, thay cho những người tội lỗi. Họ sẽ
cầu nguyện cho những nhu cầu của Giáo Hội.
Và chính trong lời cầu nguyện của những người
con nhiệt tâm mà họ sẽ được thôi thúc đến
ngọn lửa nhiệt thành v́ sự cao trọng của
Nước Chúa Giê Su Ki Tô.
Nếu lời cầu nguyện của
họ được thấm nhuần bởi tinh thần
đức tin tương hợp với các tu sĩ. Họ
hăy bảo đảm rằng việc cầu nguyện sẽ
mạnh hơn mọi phương thế khác của con
người, được linh hứng bởi tinh thần
trong xác thịt. Họ sẽ không làm ǵ mà không cầu khẩn
Thiên Chúa. Nhưng họ cũng nhớ rằng không ǵ lôi kéo
ân sủng từ trời bằng ḷng biết ơn. Họ
sẽ cầu nguyện để cảm tạ Chúa về
những điều tốt lành cũng như những khó
khăn trong cuộc sống. V́ nếu một mặt, tất
cả đều qui về những lợi ích cao cả nhất
của những ai yêu mến Chúa; mặt khác, Thánh Tông Đồ
dạy ta cảm tạ Chúa trong mọi sự: anh em hăy cảm
tạ Thiên Chúa trong mọi sự.
Lời
cầu nguyện theo ánh sáng của niềm hy vọng: Niềm hy vọng từ trời
được giựa trên hồng ân Thiên Chúa được
tiên báo cho ta. Thiên Chúa ban cho ta hồng ân trước tiên là hồng
ân cầu nguyện và Người muốn ta cầu xin mọi
hồng ân ta cần, ngay cả hồng ân muốn được
cầu nguyện tốt hơn mọi ngày : " Hăy xin và
anh em sẽ nhận được ! ", Chúa phán như thế.
Vậy nên ta phải cầu xin. Càng cầu xin, ta sẽ càng
được nhậm lời, miễn là ta cầu xin tốt.
Thiên Chúa dư đầy hồng ân trong tay. Người chỉ
muốn mở rộng tay ban phát cho ta. Và nếu Người
khép bàn tay, đó là v́ Người tiên đoán rằng v́ ta
chưa sẵn sàng tận dụng tốt những hồng
ân Người, ta sẽ thêm sự vô ơn vào trong vô vàn tội
lỗi của ta, nếu Người ban những hồng
ân cho ta. Người muốn ta khát khao ơn Người.
Người muốn ta khấn xin ơn Người.
Người muốn ta ở trong tư thế sẵn sàng cần
thiết để đón nhận và tận dụng hồng
ân Người ban.
Lời nguyền cầu hiểu
như thế là hơi thở của hồn tôi về với
Chúa, tiếng kêu van xin của tôi và tiếng kêu khốn khổ
của tôi. Tiếng kêu ấy xuất phát từ vực thẳm
nhưng tới lời tôi. Tiếng kêu ấy cố gắng
tiến lên ngai ṭa của ḷng nhân từ Thiên Chúa. Lời nguyện
cầu, theo nhăn quan ấy, đ̣i hỏi nhất, nhưng
nó cũng có khả năng mang lấy gánh nặng tội lỗi
và thanh tẩy tôi. Lời nguyện cầu cảm tạ
Thiên Chúa về ơn nhận được để xứng
đáng đón nhận hơn nữa. Lời nguyện cầu
cũng thờ phượng Thiên Chúa tối cao về mọi
điều thiện hảo, về chính Người là nguồn
thiện hảo tuyệt vời nhất. Nhưng theo quan
điểm của niềm hy vọng, mục đích đặc
biệt của cầu nguyện là cầu xin. Tôi phải
phó dâng linh hồn trước Chúa với tâm tư sâu lắng
rằng hồn tôi chẳng là ǵ. Rằng hồn tôi trông chờ
tất cả nơi Chứa. Tâm t́nh ấy làm đẹp
ḷng Thiên Chúa : Người thích nhậm lời tiếng kêu cứu
của người nghèo khó.
Tra xét
lương tâm : Hiện tại,
tôi cầu nguyện ra sao ? Tôi có quí mến hồng ân hơn
tất cả mỗi thứ khác, bởi v́ nhờ hồng
ân tối có thể trở nên xứng đáng sở hữu
Chúa ? Tôi có chú tâm đừng để mất đi những
hồng ân đă được ban cho tôi? Tôi có mang tâm t́nh cầu
nguyện với những ư trong lành cần thiết để
lời nguyện cầu của tôi được đẹp
ḷng Chúa? Tôi có thành tâm ao ước được nhầm lời
? Không phải là có khi tôi sợ hồng ân và v́ thế tôi sợ
cầu xin hồng ân ? Tôi có cầu nguyện với tấm
ḷng bền bỉ ? Không phải là tôi thường lạnh
nhạt, số sai trong việc cầu nguyện v́ tôi cảm
thấy không được nhậm lời ? Tôi có cầu
nguyện với sự kính trọng đầy đủ ?
Không phải là đôi khi tôi bị lạc lơng bởi trí
tưởng tưởng, hay làm vơi đi ḷng mến cầu
nguyện v́ lười biếng ? Và tôi nhận thấy rất
ḱ lạ rằng Chúa không nhậm lời tôi !
Tôi có khát khao đủ muốn
được có Chúa ? Tôi có khát khao khá lớn mạnh
được hiệp nhất với Chúa, được
có Người trong đời sau ? Tôi có thực thi những
hy sinh phải làm để có được nơi Người
sự trao đổi nội tâm mà Thiên Chúa ban cho những
linh hồn trung tín với hồng ân của Người, và
đó là một trong những cái bảo đảm chắc
chắn nhất cho sự hiệp nhất của tôi với
Thiên Chúa trong đời sau ?
Chương VI Nghèo khó
Nghèo khó là
sự xác minh cho niềm hy vọng. Nó làm ta không vương
vấn cơi trần. Nó đưa ta vào trong việc phục vụ
người nghèo theo gương Đức Ki Tô. Nó dẫn
ta đến với những người nghèo bởi họ
là những người duy nhất đón nhận phước
lành của Chúa. Nó dẫn ta vào trong thực hành công việc.
Nó tôi luyện các tính cách và bảo đảm tính độc
lập trong hoạt động tông đồ.
Thực hành trong Ḍng: Sự
giàu sang của gia đ́nh ta phải nhằm vào trong sự
tách ĺa tuyệt đối những của cải trần
gian: Chúa chúng ta đă dạy: "Chim trời có tổ, con
chồn có hang, nhưng con người không có chỗ tựa
đầu". Chúng ta sẽ hổ thẹn v́ những hy
sinh vô dụng cho thân thể. Chúa chúng ta đă không muốn
nêu gương về những việc hèn hạ thân xác cách
thái quá theo bề ngoài, trong thời gian hoạt động
rao giảng. Ít ra, chúng ta cũng t́m cách bắt chước
Người về sự nghèo khó trong mọi sự. Chúng ta
sẽ rất khắt khe với thời gian biểu v́ chính
lí do đó. Chúng ta là những người nghèo cần phải
làm việc để sinh tồn.
Sự
nghèo khó theo ánh sáng của niềm hy vọng: Ước muốn có được
Thiên Chúa phải làm tôi khinh dễ những ǵ không phải là
Người, hoặc không liên quan đến Người.
Tôi có thể tách trái tim ḿnh khỏi của cải trần
gian và hưởng thụ, nhưng từ chối dù là cái ǵ
và thánh hóa việc ấy bằng lời khấn hứa đức
khó nghèo c̣n là việc làm hoàn thiện hơn. Thành ra, tôi không
thể có ǵ trừ khi các Bề Trên cho phép. Và hoặc là tôi
đă đem lại cho Hội Ḍng số tiền đáng kể,
hoặc là tôi đă dâng toàn vẹn con người và công việc
ḿnh cho Hội Ḍng. Tôi không sở hữu riêng ǵ cả.
Nếu tôi là một tu sĩ tốt,
sự nghèo khó này phải làm tôi vui vẻ. Không chỉ tôi phải
thực hành đức nghèo khó ấy theo Luật Ḍng đề
ra, mà tôi c̣n được phép mang trong ḿnh đến
nơi nào mà t́nh yêu dành cho Thiên Chúa linh hướng tôi. Không
ai có thể phục vụ hai chủ. Sự khước từ
của cải trong tâm hồn sẽ là phương kế tốt
nhất để Thiên Chúa ngủ sâu hơn nữa trong hồn
tôi. Chính tôi phải nh́n xem tôi là người nghèo khó ở mức
độ nào.
Không phải đôi khi tôi tiếc
nuối ít nhiều sự thích thú mà của cải mang lại
? Không phải tôi thích thú một vật dù là nhỏ lí tí ?
Tôi có tách rời tất cả không ? Không phải là tôi để
một số khát khao hay một số luyến tiếc về
những ǵ không c̣n nữa được h́nh thành trong tôi ?
Tôi có trở nên một với Chúa Giê Su nghèo hèn trong hang đá
Bethléem, nghèo hèn trong lao nhọc ở Nazareth, không có một
ḥn đá để gối đầu trong cuộc đời
công khai ? Sự nghèo khó rất thánh của Thầy có cuốn
hút tôi, có đem lại cho tôi niềm đam mê trở nên
như Người không ? Bằng tinh thần nghèo khó, tôi bảo
quản như thế nào những đồ vật, sách vở,
quần áo được giao phó cho tôi ?
Khó nghèo
và việc làm : Nghèo khó buộc
phải làm việc. Nếu tôi nghèo khó, tôi phải làm việc
để kiếm sống. Việc làm là một h́nh phạt
do tội lỗi, nhưng cũng là một điều kiện
đối với cuộc đời túng quẫn. Tôi đă
sử dụng thời gian như thế nào ? Với sự
chu đáo như thế nào ? Không phải tôi là người
lười biếng ư ? Không phải tôi dễ bị sự
lười biếng lôi kéo trong nhiều lúc ? Chán việc làm
không phải đă thường làm tôi mất thời gian
sao. Một ngày nào đó, tôi sẽ phải tính số như
thế nào ? Giờ đây, tôi muốn sử dụng như
thế nào, khi nghĩ rằng mâtt thời giờ trong những hội thoại vô
ích, hay nói khác đi, tôi thiếu sự nghèo khó và tôi làm cho
các anh em trở nên thiếu đức nghèo khó ? Theo quan
điểm này, không phải là tôi đưa ra nhiều
gương xấu để tự trách ḿnh, và tôi muốn
sửa đổi như thế nào ?
Chương VII : Đức ái
Đức ái, biến h́nh ảnh
ta giống với Chúa Ki Tô trở nên hoàn thiện hơn
trong ân sủng tuyệt đối về sức mạnh
yêu thương của ta, nhờ liên kết với t́nh yêu
Giáo Hội. Đức ái dưới con mắt của cha
d'ALZON là một mầu nhiệm lớn lao của sự hiệp
nhất. Hiệp nhất của mỗi thành phần của
Thành Thánh ; sự hiệp nhất không thể xóa nḥa giữa
con người với Thiên Chúa ; sự hiệp nhất trọn
vẹn t́nh thân hữu giữa gia đ́nh nhỏ bé của
Ḍng Mẹ Về Trời.
Thực hành trong Hội Ḍng :
Đức ái đặc biệt là v́ chúng ta: t́nh yêu Trinh Nữ,
mẹ Chúa Giê Su Ki Tô và là đâng chuyển cầu đặc
biệt cho ta ; t́nh yêu Giáo Hội, mà mọi lợi ích là của
ta ; tôn sùng các thánh thần, nhất là các thần bảo trợ
anh em, và t́nh thương đối với những linh hồn
được phó thác cho ta.
T́nh yêu tha nhân sẽ được
tỏ hiện bằng sự dịu dàng khi chịu đựng
đớn đâu, bằng tinh thần sẵn sàng phục vụ
người đồng loại theo như ơn gọi của
ta, bởi t́nh thân hữu và ḷng nhiệt thành trong mọi việc,
trong đó chúng ta chịu gánh vác những lợi ích của
các linh hồn.
Cuối cùng, đức ái mạc
khải cho ta tinh thần hiệp nhất mà Chúa đă cầu
xin Thiên Chúa Cha lúc người lập bí tích Thánh thể, khi
người sắp đổ máu v́ ơn cứu độ
muôn người : " Để tất cả nên một.
Để t́nh yêu Cha mà Cha đă yêu con cũng ở nơi họ
và con cũng ở với họ ».
V́ Thiên Chúa là t́nh yêu, theo lời
thánh Gioan. Và ai ở trong t́nh yêu của Người th́ ở
trong Người, ta sẽ không ngừng cầu xin Thần
Khí t́nh yêu bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, kết hiệp chúng
ta nên một với Chúa, với Chúa Giê Su ki Tô, với Giáo Hội,
với anh em và với mọi linh hồn được phó
thác cho tôi bằng một sợi giây không thể chia cắt.
Thiên
Chúa : căn nguyên đầu tiên của bác ái : Tôi không chỉ
phải hy vọng có được Thiên Chúa ; nhưng nhờ
hồng ân Thiên Chúa, tôi phải yêu Người hết linh hồn,
hết sức mạnh và nhờ đức ái, tôi hiệp
nhất với Người. Thiên Chúa là t́nh yêu. Ai ở lại
trong t́nh yêu th́ ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại
trong người đó. Cả cuộc đời tôi là thế
: ở lại trong Thiên Chúa nhờ đức ái.
Bởi chính riêng tôi th́ không là ǵ cả,
tôi không thể làm ǵ cả. Nhưng nhờ hồng ân Thiên
Chúa, tôi có thể làm cho lớn lên những hạn chế
trong trái tim và được như điều Người
đă làm với Salomon. Nơi người này, Thiên Chúa ban
cho trái tim rộng lớn như cát bờ biển. Trái tim
tôi có thể chứa đựng đại dương t́nh
yêu : tôi có thể hiệp nhất với Chúa. Tôi có thể
được ḥa biến, trong hiệp nhất, theo như
lời đă dạy của Đấng Cứu Thế.
Sự hiệp nhất ấy, không
c̣n nghi ngờ ǵ nữa, là mầu nhiệm; nhưng cuối
cùng, nhưng v́ linh mục khi ḥa nước vào rượu,
cầu xin cho ta được tham dự vào bản tính
Thiên Chúa, như Chúa Giê Su Ki Tô gia nhập bản tính loài
người chúng ta. Đó là cái đích tôi phải đạt
đến. Mọi tư tưởng, mọi khát khao, mọi
cảm hứng phải hướng về mục tiêu cao cả
này.
Nếu niềm hy vọng thể
hiện cho tôi Thiên Chúa là lợi ích tối cao, đức ái
thể hiện cho tôi Thiên Chúa là căn nguyên duy nhất của
t́nh yêu tôi. Tôi đă nói với Chúa: " Ngài là Chúa của
con". Chính Người, và điều đó là đủ
cho tôi. Việc tôi sẵn sàng trao tặng cho Người
không là ǵ cả. Và nếu mọi người ki tô hữu
buộc phải yêu mến Thiên Chúa
trên hết mọi sự, th́ đối với người
tu sĩ như tôi, điều đó phải trở thành tôi
tớ của Người bằng việc thánh hiến ! Đó
phải là sự trong sạch của trái tim ! Bởi những
ngọn lửa nào lại không phải đốt lên, và
như thế, tôi lại càng phải sẵn sàng hy sinh những
ǵ không thuộc về Thiên Chúa !
Trái tim tôi có hoàn toàn trong sạch ?
Trong sâu thẳm con người tôi có thực tuyệt đối
được Thiên Chúa sở hữu? Tất cả trong
con người tôi có được đức ái điều
khiển? Đôi khi, không phải là tôi đă dành một phần
trái tim dành cho tạo vật hay sao ? Giữa Thiên Chúa và tôi phải
chăng là không có cản trở nào ?
Cản
trở với đức ái
: Tôi nặng phải chết phá hủy t́nh yêu Thiên Chúa trong
con người. Tôi không muốn dừng lại tại suy
nghĩ khủng khiếp rằng tôi đă phá hủy t́nh yêu
Thiên Chúa trong tôi v́ một lỗi lầm nào đó, nhưng
không phải là tôi thường làm cho t́nh yêu do yêu đắn
đo v́ những tội nhẹ. Tôi không phải tự trách
ḿnh v́ một thói quen sai lạc gây giơ bẩn linh hồn
không kém một cách rất nguy hiểm đối với
t́nh yêu mà tôi phải dành cho Thiên Chúa, là tội nhẹ sao ?
T́nh yêu này là ghen tị. Tôi có luôn uốn
theo những thánh chỉ của t́nh yêu Thiên Chúa ? Tôi đă
không sợ sao? Không phải là tôi đă ẩn náu trong nhiều
lí do để tránh hiểu biết và tránh thực thi mệnh
lệnh của Chúa Thánh Thần trong sâu thẳm hồn tôi ?
T́nh yêu của Thiên Chúa là ngọn lửa
bị tắt đi khi nó không phát triển nữa. Tôi đă
làm cho ngọn lửa t́nh yêu ấy phát triển đủ mạnh
trong tôi chưa ? Tôi có thể nói rằng ngọn lửa ấy
ngày càng lớn mạnh hơn trong tôi ?
Không phải là tôi đă
tuân theo sự phai nhạt có tội ? Sự tôn sùng ban đầu
của tôi ở đâu rồi ? Tôi đă làm ǵ để ǵn
giữ nó, để làm lớn mạnh nó ? Tóm lại, đối
diện với t́nh yêu Thiên Chúa đối với tôi, tôi có
thể nói rằng tôi yêu Thiên Chúa ?
Thực
hành đức ái giữa anh em trong Hội Ḍng : Nếu như t́nh yêu các linh hồn là một
trong những đặc tính của gia đ́nh nhỏ bé của
ta, các tu sĩ phải yêu thương đặc biệt là
các linh hồn của các anh em trong Ḍng và của các Vị Bề
Trên; cũng như các Vị Bề Trên phải có t́nh
thương mến đặc biệt đối với
các tu sĩ được giao phó cho họ. Mong mọi
người áp dụng để dành cho nhau một t́nh nhân
ái tràn đầy t́nh thương mến, sự quí mến
nhau, tôn trọng nhau, tính nghiêm trang. Mong mọi tu sĩ nhận
thấy những h́nh ảnh sống động của Chúa
Giê Su Ki Tô, những đền thơ của Chúa Thánh Linh, những
người con của Đức Tŕnh Nữ, mẹ chung của
chúng ta nơi mọi thành phần của Hội Ḍng nhỏ
bé của chúng ta. Mong tất cả các tu sĩ tránh xa những
sự thân thiện không phù hợp, mọi t́nh cảm mến
thương đặc biệt bởi đó là 'con sâu' nguy
hại đối với các công đoàn. Tránh mọi ác cảm
có thể tháo gỡ những mối giây liên kết của
t́nh thương yêu thánh thiện. Tránh mọi lời nói làm
tổn thương, mối quan hệ có khả năng sinh
ra những căi cọ gây xí-căng-đan. Khi cần thiết
các tu sĩ nên cảnh báo cho nhau; và ít ra hành động không
tỏ ra công khai. Các tu sĩ nên tránh nhắc lại những
ǵ đă thấy và có thể gây xí-căng-dân. Nếu cần
thiết th́ chỉ có thể nói với những người
nên nói để điều không hay sẽ được sửa
đổi nhanh chóng và cách hiệu quả nhất có thể
được; miễn là đức ái không bị tổn
hại quá nặng nề.
Trong tương quan kế tiếp
với nhau, anh em sẽ nhớ rằng t́nh cảm
thương mến quí hơn cả sau Chúa Giê Su Ki Tô, Trinh Nữ
Maria, Giáo Hội và Đức Thánh Cha, Giáo Hoàng, đó là Hội
Ḍng nhỏ bé của ta. Nhưng phải yêu mến Hội
Ḍng trong Thiên Chúa. Nên tránh thứ t́nh yêu mang tính loại trừ,
thứ t́nh yêu mà chỉ nh́n nhận những ǵ tốt
được làm nơi chúng ta và bởi chúng ta.
Mong trong hội thoại với
nhau, các tu sĩ nói chuyện về những điều hữu
ích và mang tính xây dựng. Hăy tránh những sự khinh thường
nhau, những tranh căi bạo lực, tất cả những
ǵ có thể làm tổn hại đến ḷng khiêm tốn và
những tương xứng trong đời từ. Mong các
tu sĩ không vào pḥng các anh em khác khi không được phép.
Mong các tu sĩ tránh tất cả những ǵ làm khổ tâm
những anh em các nước khác. Cuối cùng, mong các tu sĩ
nói thực về ḿnh điều mà Thánh Thần chứng thực
về những ki tô hữu đầu tiên: Đông đảo
những kẻ tin chỉ có một ḷng, một ư.
Chương VIII: Tinh thần hy sinh
Đức ái là ngọn lửa
của lễ toàn thiêu nhờ
nhiều hy sinh
"Thầy
đă nêu gương cho anh em, để đến lượt
anh em, anh em cũng làm như vậy. Chúa đă phạm lỗi
lầm khi Người sẵn sàng tiến lên đồi
Calvaire và hiến tế ḿnh thập giá v́ con người. Hy
sinh ấy không ngừng được tái tạo lại
trên bàn thờ phải là gương mẫu của tôi. Tôi
nên hy sinh v́ Chúa. Những t́nh cảm mến thương
trong ḷng v́ Đấng mà tôi hy sinh chính ḿnh sẽ vô vị, nếu
như tôi không dâng hiến cả những yếu đuối
không ngừng nảy sinh từ bản chất tôi, nếu
tôi không nhiệt tâm phục vụ người, nếu tôi
toan tính, nếu tôi hạn chế, nếu tôi không chịu
đựng ngay những ǵ khó nhọc nhất theo chỉ dạy
của đức vâng lời, tôi không xứng đáng với
Người.
Sau bao thánh lễ, nơi
tôi đă tham giự vào hiến tế thập giá, sau bao lần
rước lễ, tôi rước vào ḷng Đấng Hy Sinh
là Thiên Chúa. Cái ǵ khiến tôi có tinh thần hy sinh? Cái ǵ khiến
tôi là người hy sinh chính ḿnh? Tôi có thể hy sinh bằng
ngh́n cách : nhờ đức vâng lời, đức ái, sự
lao khổ bản thân, sự nhiệt thành, nhờ mọi
nhân đức mà một tu sĩ phải thực hành với
mức độ cao nhất.
Tóm lại, tôi có
được hy sinh không ? Tôi có được đặt
lên bàn thờ hy lễ một lần nhất định và
tôi có nói với Chúa : « lạy Chúa, hăy hiến tế con
như chính Chúa đă được hiến tế, để
con minh chứng t́nh yêu con nơi Chúa, như chính Chúa đă
minh chứng t́nh yêu Chúa cho con ? ». Tôi có thực sự là
người hy sinh không ?
Chương IX : Đức khiết tịnh
Đức khiết tịnh rất quí với
ta bởi v́ nó là bằng chứng rất đặc biệt
của t́nh yêu đối với Thiên Chúa, đối với
Thánh Nữ Đồng Trinh, hoa quả tuyệt vời nhất của việc thờ kính phép
thánh thể.
Thực hành trong Hội Ḍng : Chính nhờ
việc tôn thờ Chúa Giê Su trong nhà tạm và trong t́nh
thương mến đối với Mẹ Đồng
Trinh mà những thành phần của gia đ́nh nhỏ bé
chúng ta lấy sức mạnh cần thiết để giữ
lời khấn hứa này. Nên tránh những hội thoại
vô ích. Cuộc sống luôn phải bận rộn. Nên khiếp
sợ những hội thoại nguy hiểm. Nên luôn luôn sẵn
sàng ư thức những hành động của ḿnh. Nên nhớ
rằng đời sống tông đồ là đời sống
các thiên thần. Nên có những nhân đức của các
thiên thần. Chỉ với tấm ḷng trong lành, hồn
nhiên mới có thể đón nhận những giao tiếp của
Đấng được gọi là vinh quang muôn đời
của Chúa Cha.
Các Vị Bề Trên hăy
nhớ rằng cứu cánh của ơn gọi là Thiên Chúa
và có được măi măi Thiên Chúa. Chỉ có sự trong sạch
tuyệt đối nhất mới sẽ có thể đạt
được cứu cánh đó, theo lời của Chúa
đă phán: « Phúc cho những ai có ḷng trong sạch v́ họ
sẽ được nh́n xem Thiên Chúa”.
Đức khiết tịnh theo ánh sáng của đức
ái : Bằng chứng lớn lao nhất mà tôi có thể dành
cho Thiên Chúa v́ t́nh yêu đối với Người, đó
là từ chối mọi quyến luyến v́ Chúa, để
bảo vệ đức khiết tịnh, cho dù là hợp
lí. Đức khiết tịnh phải quí giá với tôi bởi
nó biến tôi trở nên con của Mẹ Maria hơn và là bạn
của Chúa Giê Su.
Có thể nói ǵ về
nhân đức này, khi chuẩn bị ḿnh để nh́n xem
Thiên Chúa gần hơn? Phải chăng tôi nên im lặng và rộng
mở cửa ḷng ḷng những hành vi nhỏ bé nhất, những
lời nói tối thiểu nhất, những linh cảm mờ
nhất nhất làm giảm sắc màu rực rỡ của
bông hoa đẹp này th́ hơn ?
Trong việc tôn thờ
phép thánh thể, tôi sẽ cầu xin Thầy Chí Thánh cho tôi
ḷng ngất ngây nhờ rượu làm phát sinh những trinh
nữ, và sẽ cầu xin các thánh thần ngự bên Ngai Ṭa
Người để biến tấm ḷng và tâm hồn tôi
nên trong sạch như họ.
Chương X
: Việc khổ hành thân xác
Sự dồi dào của đức ái
theo Cha d’ALZON ở trong sức mạnh chịu đựng.
“Mẹ Maria là người trong sạch nhất giữa các
tạo vật chỉ v́ để làm người cộng
tác toàn thiện nhất với Chúa Giê Su Ki Tô trong mầu nhiệm
cứu chuộc nhờ ḷng trắc ẩn”.
Thực
hành trong Hội Ḍng: Các tu sĩ sẽ phải biết rằng
họ hy sinh cuộc đời khi vào Hội Ḍng. Cuộc sống
không thuộc về họ nữa. Cuộc sống dù dài hay
ngắn đều không quan trọng, miễn là nó được
sử dụng theo ư muốn Thiên Chúa. Bởi vậy, không lí
do sức khỏe nào sẽ được chấp nhận
để không làm những việc được yêu cầu.
Cũng vậy, khi được yêu cầu chữa bệnh,
họ phải vâng lời để thực thi những ǵ
đẹp ḷng Chúa nhất.
Người tu sĩ là một
người lính đấu tranh hoặc treo vũ khí theo lệnh
của thầy. Phải luôn có trước mắt cứu
cánh của ơn gọi, đó là chiến thắng trần
gian, chiến thắng chính ḿnh, và sự tỏ hiện của
Chúa Giê Su bị đóng đinh. Để có thể chiến
thắng chính ḿnh, ăn năn sám hối là cần thiết,
nhưng phải tương xứng với tinh thần của
Tu Viện chúng ta. Ăn năn sám hối được tỏ
hiện nhất trong nghèo khó, kinh nguyện, học tập,
kiên nhẫn trong việc làm, nâng đỡ của tha nhân và
chuyên cần.
Việc ăn chay và những
khổ hành khác sẽ không cần thiết như trong các tôn
giáo khác, bởi v́ phải làm suy yếu thân xác trong những
việc nhằm cứu vớt các linh hồn. Đôi khi, những
khổ hành ấy không những không bị cấm, trái lại
cũng được khuyến khích thực hiện.
Một trong những
nguyên do khiến ta ăn năn sám hối cách đặc biệt
sẽ đạt được, hoặc là thành công trong
công lao, hoặc là sự trở lại của những
người tội lỗi, hoặc là sửa chữa những
tai tiếng làm suy nhược Giáo Hội. Chính để
thúc dục bản thân nên ta hay suy niệm về cuộc khổ
nạn của Chúa Giê Su Ki Tô.
Khổ hành thân xác theo tiếng gọi của
đức khiết tịnh và t́nh yêu : Nơi người
tôi yêu thương như bông hoa huệ giữa gai góc, Phu
Thê trên trời đă nói như thế. Nếu tôi muốn
bông hoa khiết tịnh của ḿnh bảo tồn được
vẻ tươi sáng, tôi phải bảo vệ nó bằng
gái góc. Có nghĩa là bằng Thần khí và những thực
hành khổ hành thân xác. Dù sự khổ hành không phải là một
trong những đặc tính của Hội Ḍng Mẹ Về
Trời, đối với tôi, nó như là một điều
kiện của mỗi cuộc đời ki tô hữu,
như là người bảo trợ cho sự khiết tịnh,
và như là chứng tá của ḷng sùng kính đốt cháy tấm
ḷng thừa tác viên của Chúa Ki Tô.
Là người Ki Tô hữu,
tôi nên nhớ rằng tôi là người tội lỗi, rằng
tôi phải trả giá cho món nợ tội lỗi bằng việc
ăn năn sám hối. Là bạn của Chúa Giê Su, tôi phải
ư thức mạnh mẽ về khả năng tôi có thể
bảo quản kho tàng quí giá nhất của ḿnh. Là người
tu sĩ, tôi phải mang những linh cảm của Chúa và
hoàn thành nơi xác thịt những ǵ c̣n thiếu trong cuộc
khổ nạn của Chúa Giê Su Ki Tô.
Tra vấn lương tâm : Việc làm khổ
thân xác của tôi phải là một sự ăn năn thống
hối với sự thỏa ḷng, mang tính đề pḥng,
mang t́nh yêu thương.
a) Sự thỏa ḷng : Tôi có ư thức được tôi
phải trả giá cho chính tôi về cái ǵ ? Nếu chết
đi, và sa luyện nguc, tôi sẽ phải tôi luyện bao
lâu ở đó ? Tôi sẽ phải chịu khổ những
ǵ ? Và thế nhưng, chướng ngại vật tối
thiểu nhất, chút bất tiện tối thiểu nhất
đă làm tôi hoảng hốt. Tôi không biết chịu đựng
ǵ cả. Tôi chỉ dâng hiến chút ǵ đó trong hàng ngàn công
lao trong cuộc sống với nỗi ghê sợ tột
độ và nó sẽ là những khổ hành thân xác quí hiếm,
nếu như tôi muốn điều ấy.
b) Sự đề pḥng : Tôi làm ǵ để bảo
quản nhân đức khiết tịnh ? Bằng những
pḥng ngừa nào tôi đă giữ nó khỏi những hơi
thở ô uế ? Trong các đàm thoại, việc đọc
sách báo, cái nh́n, rèn luyện trí tưởng tượng, có
ǵ phải cắt bỏ đi không ? Tôi đă đón nhận
những việc khổ hành trong đời sống tu sĩ
như thế nào ? Tôi có chăm chú trốn tránh những ǵ
gai mắt làm tôi mệt mỏi ? Tôi có ghê tởm nào đối
với những gai góc mà Chúa Giê Su muốn tôi bao quanh ḷng ḿnh
?
c) T́nh yêu : Nếu tôi đặc biệt chuyên tâm
phục vụ bàn thờ, tôi không thể đến với
Thầy Chí Thánh mà không cầu xin Người xót
thương dân Người, mà không ban tặng chính ḿnh tôi
như người hy sinh để xóa dịu cơn thỉnh
nộ của Người. Tôi muốn thêm ǵ vào lời nguyện
để được nhẫm lời ? Chúa Giê Su đạt
được ơn cứu độ cho người tội
lỗi trên cây thập giá, giữa những đớn
đau tột độ trong linh hồn và nơi thân xác. Tôi
muốn dâng hiến ǵ cho người tội lỗi khi hiệp
thông với Chúa Giê Su ?
Nếu tôi sống đời
sống chiêm niệm dưới chân Phép Thánh thể, tôi phải
sống đôi kinh nguyện và sám hối ăn năn. Tôi
đă làm ǵ cho đến lúc này để sống cuộc sống
này và để chuẩn bị vào cuộc sống ấy
theo tinh thần Luật Ḍng ?
Chương XI : Ḷng nhiệt thành đối với
ơn cứu chuộc các linh hồn.
Bởi
ơn gọi và khẩu hiệu : Nguyên Nước Cha trị
đến, chúng ta tồn tại để phục vụ
các linh hồn. Ḷng nhiệt thành, hoa quả vượt trội
của đức ái, bao trùm mọi nhân đức và nhấn
mạnh đặc điểm hoạt động tông
đồ mà những nhân đức ấy mặc lấy
trong Hội Ḍng.
I
Thực hành trong Hội Ḍng : V́ tinh thần của
Ḍng đặc biệt là tinh thần tông đồ, chúng ta
phải áp dụng để đạt được những
nhân đức mà ơn gọi cao cả này đ̣i hỏi,
chừng nào c̣n phụ thuộc vào ta. V́ thế ta sẽ nhớ
rằng Chúa chúng ta đă đến trong thế gian không phải
để được phục vụ, mà để phục
vụ. Và chúng ta áp dụng đưa ḿnh vào trong tính phụ
thuộc khiêm nhường vào các linh hồn mà ta được
mời gọi làm việc thiện. Ta sẽ nhớ rằng
các linh hồn ấy có quyền trên chúng ta. Ta chỉ có quyền
trên các linh hồn theo sự tín thác của Chúa Giê Su Ki Tô
để dẫn dắt họ đến sự toàn thiện,
theo những phương cách được trao ban.
Sự tôn kính phát sinh từ
tính phụ thuộc này sẽ cứu giúp các linh hồn và cứu
giúp ta. Chính ở trong ḷng Chúa Giê Su Ki Tô mà các linh hồn nên
quí báu với ta. Chúa Giê Su Ki Tô đă minh chứng t́nh yêu cho họ
khi đổ máu đào ra v́ họ. T́nh yêu phải là thước
đo những nỗ lực của ta để dẫn dắt
họ đến sự thánh thiện, theo ơn gọi của
họ.
Dù ǵ đi nữa, mọi
tu sĩ phải sẵn sàng đón nhận mọi công việc
mà Các Bề Trên đề nghị, trong hạn chế của
Tu Viện chúng ta. Tuy nhiên, Các Vị Bề Trên phải
chăm sóc xem xét cẩn thận tu sĩ nào làm tốt công việc
nào hơn tùy theo khả năng, phẩm chất tự nhiên
của họ, nhất là tùy theo những đặc sủng
được ban cho họ để hành động.
Phẩm chất của ḷng nhiệt thành : Chúng ta sẽ
mang, trong việc tốt ta làm, mối quan tâm vô vị lợi
có thể được, nhất là sự quan tâm đến
vinh quang ảo. Ta sẽ vui hưởng phúc lộc mà những
người khác thực hiện mà ta đă cho là không xứng
đáng làm, và trong những bối cảnh mà những
người khác thực thi công tŕnh của Thiên Chúa, ngay ở
những nơi mà ta dường như có quyền thực
thi việc ấy, ta sẽ nói như Môi-sen : Hăy làm đẹp
ḷng Chúa, nguyện mong tất cả nói tiên tri. » Ḷng nhiệt
thành của chúng ta sẽ khiêm nhường, chúng ta nhớ
đến lời của Chúa Giê Su Ki Tô với các tông đồ :
« Khi anh em làm những ǵ đă được yêu cầu,
anh em hăy trở về và thưa lại : chúng tôi là những
tôi tớ vô dụng. » (Lc 17, 10)
Sau hết, ḷng nhiệt
thành của ta sẽ bền bỉ, v́ những thánh Thư
không ngừng cho ta những điển h́nh về cách thức
Thiên Chúa làm cho thành công những công việc Người muốn,
trong khi những công việc ấy dường như gây thất
vọng ; v́ khi con người đầu tư ít hơn,
Thiên Chúa góp công nhiều hơn nữa.
II
Việc chiêm ng ắm
và hành động được hiệp nhất v́ chúng ta
trong một mục đích : phục vụ cho Nước
Chúa Giê Su Ki Tô lớn mạnh khi cầu nguyện âm thầm,
như Mẹ Maria Mẹ ta, hoặc là khi lo những việc
góp phần vào việc thiện của Giáo Hội. Dù ở
dưới mái nhà nào, tôi luôn làm việc để minh chứng
t́nh yêu của tôi đối với Chúa Giê Su Ki Tô và lôi kéo
các linh hồn về với Giáo Hội.
Việc chuẩn bị của cá nhân đến từ
lời khấn hứa thứ tư : Tôi sẽ đặc
biệt chăm lo những mục đích khác nhau ấy,
nhưng tôi muốn xem xét trước mắt Thiên Chúa, để
biết đâu là những việc mà một tu sĩ phải
chuẩn bị thực hiện hay c̣n có nghĩa là người
đă tuyên khấn lời hứa thứ tư của ḿnh.
1. Tôi phải ở
trong mọi cảm t́nh của Chúa khi Người đến
trong thế gian. « Thầy đă đến ném lửa
vào mặt đất, và thầy những ước mong phải
chi lửa ấy đă bùng lên? » (Lc 12, 49) Tôi phải muốn
nung đốt các linh hồn bằng ngọn lửa thiêng
liêng này, và đời sống tôi phải luôn hướng về
mục đích này.
2. Tôi phải ở
trong mọi khổ nạn mà Chúa Giê Su đă chịu đựng
trong cuộc đời phải chết của Người.
Việc làm, mệt nhọc trong hoạt động rao giảng,
mồ hôi, bị bỏ rơi, những đối lập,
những bách hại, những sự vô ơn mà chính người
là nạn nhân. Lời nguyện cầu của Người
trong giờ hấp hối ở vườn Ô-liu, những
đớn đau trong cuộc khổ nạn, những trả
tấn, lúc khát nước, lúc bị bỏ rơi phải
đối diện với tử thần : tất cả những
điều ấy phải hiện diện luôn trong tôi để
gởi lên trong ḷng ư tưởng về t́nh yêu mà Thiên Chúa
đă mang đến cho các linh hồn được cứu
chuộc bằng máu của Người, và bởi cái giá
Người đă trả để cứu chuộc họ.
3. Tôi phải yêu mến
các linh hồn và không ngừng nhiệt tâm v́ họ : yêu
thương các linh hồn công chính v́ những nhân đức
của họ, và muốn họ ngày càng được thánh
hiến để đem lại niềm ủi an cho Chúa và
cho vinh quang của Người ; yêu thương các linh hồn
tội lỗi và khát khao hết linh hồn ḿnh sự trở
lại của họ, để sự hy sinh trên đồi
Can-Vê không vô dụng đối với họ. Ḷng nhiệt thành của tôi về
điểm này phải thận trọng. Nếu tôi phải
coi sóc các trẻ em, hay những người hưu dưỡng,
hay bất cứ người nào mà tôi muốn làm điều
thiện. Ḷng nhiệt thành của tôi phải được
đức vâng lời chỉ dẫn, và tôi phải suy nghĩ
thật tốt điều này rằng nếu muốn làm việc
quá mức hoặc qúa nhanh, tôi không làm được ǵ hoặc
tôi làm giở, làm sai ; nhưng đồng thời cũng cần
phải mạnh mẽ như Thầy Chí Thánh. Tôi phải sẵn
sàng với mọi thứ để cứu vớt các linh hồn,
theo những chỉ dẫn của Luật Ḍng và của Các
Vị Bề Trên. Nếu tôi ở trong tập viên, chính bằng
lời cầu nguyện và việc sám hối, nếu
được phép, mà tôi phải minh chứng t́nh yêu của
tôi đối với các linh hồn ; chính ở dưới
chân Phép Thánh thể mà tôi phải tuôn đổ những khát
khao, những giọt nước mắt, v́ sự thánh hóa của
những người công chính, sự trở về của
những người tội lỗi, tán dương Ṭa
Thánh, sự thánh thiện của giới giáo sĩ, tự
do của Giáo Hội, sự lẫn lộn những kẻ
thù của Thiên Chúa, chiến thắng của Chúa Giê Su Ki Tô,
ngay ở hạ giới này.
Do sẽ phải là những việc tôi phải chuẩn
bị ; những việc đó thực ra là ǵ ? Ḷng sùng kính
của tôi không phải mang chút ǵ đó ích kỷ sao ? Hành
động của tôi không phải có chút ǵ đó chỉ
liên quan đến ai đó mà thôi sao, chứ không phải v́
Thiên Chúa, nhưng v́ người đó? Tôi có trái tim mạnh
mẽ cho Chúa và đối với những ǵ Người
yêu thích? Tôi muốn cầu nguyện không ? Tôi muốn đau
khổ ? Tôi muốn đấu tranh ? Tôi có muốn là một
v́ tông đồ cho Người tùy theo hạn chế của
ḿnh ?
PHẦN BA : CÁC PHƯƠNG CÁCH THÁNH HÓA
Về những nhân đức siêu nhiên
hóa sức mạnh hành động, cha d’ALZON nhắc đến
những hành vi thể hiện và làm phát triển nó trong ḍng
chảy của cuộc sống thường ngày. Sự thật
thà và liênm khiết, luôn được cha Sáng Lập khuyên bảo
v́ đó là những dấu ấn về phong cách sống của
chng ta.
Ba chương đâu miêu
tả bầu khí của cuộc sống toàn thiện: cuộc
sống nghiêm túc, tuân theo việc kiểm soát của các Bề
trên, cuộc sống được mặc lấy thinh lặng.
Mươi lăm
chương tiếp theo gởi lên cho ta, lúc mặt trời
mọc cho đến lúc mặt trời lặn “ lúc ta lấy
kinh nghiệm về sự chết ”, những sự chuẩn
bị nội tâm sẽ làm hưng phấn những bước
đi của ta. Chương XIX đến XXIII bàn về những
cách kiểm điểm và thanh tẩy dành cho những tu sĩ
được dâng hiến đến sự toàn thiện.
Cuối cùng, chương “ đời sống nội
tâm” được xem là phần kết luận thông thường
của DIRECTOIRE.
Chương một: Quy tắc
Cuộc
sống thường nhật phải là một cuộc sống
theo qui tắc, tuân theo sự kiểm soát của các Bề
Trên, một cuộc sống có sự âm đêm thinh lặng !
Luật Ḍng có thể được nh́n
nhận theo hai phương diện: phần chính của luật
và tinh thần luật.
Phần chính của luật là tổng thể những
luật được Giáo Hội khởi xướng
để nêu ra những điều bắt buộc chung về
đời sống tu tŕ, thêm vào đó là những qui tắc
chung phải tuân thủ của Hội Ḍng. Đó là những
sự chuẩn bị mà kinh nghiệm, thời gian, sự
thận trọng của Các Vị Sáng lập, sự phê chuẩn
của Giáo Hội đă chứng thực là hữu ích nhất
cho việc thánh hóa các linh hồn; và bởi v́ tôi có phúc
được mời gọi vào đời sống tu tŕ
v́ sự thánh hóa linh hồn tôi cách đặc biệt, theo
quan điểm thứ nhất này, tôi phải có sự kính
trọng lớn lao nhất đối với bộ Luật
của ḿnh.
Nhưng quan điểm
thứ hai mới quan trọng nhất, đó là tinh thần
của Luật, đó là việc b́nh luận Tin Mừng
không chỉ nêu lên những đ̣i hỏi để vào
nước trời, mà cả những khuyên răn để
đạt đến sự toàn thiện. Hơn nữa,
đó lại là bài b́nh luận thích nghi với những nhu cầu
của hồn tôi trong ơn gọi đặc biệt này.
Mọi khát vọng sự thánh thiện không phải nằm
trong mỗi điều luật ; hẳn là có những nét
lôi cuốn khác nhau ; những điều mà mọi điều
luật đ̣i hỏi, đó là áp dụng luật theo tinh thần
Luật.
Tôi đang ở mức
độ nào về mối quan hệ này (luật và tinh thần
luật) ? Bộ luật của tôi không phải thường
bị tôi vi phạm và bởi những lí do nhỏ nhen hay
sao ? Không phải là tôi thường chu toàn bộ luật của
ḿnh với sự hèn nhát ? Không phải tôi thường thực
thi luật theo lời pharisiêu ? Bộ luật không phải
thường xuyên là nguyên do của biết bao th́ thầm và
nổi loạn sao ? Đến bao giờ tôi quyết tâm thực
thi với ḷng mến v́ sự thánh hóa con người tôi và
v́ vun xây con người của các anh em tôi ? Khi phạm luật,
tôi có cảm thấy đau khổ v́ gây ra việc tai tiếng
?
Chương II: Các Vị Bề Trên.
Đời sống tu sĩ của
ta không những phải tuân theo sự kiểm soát thầm
kín của Bộ Luật, mà c̣n đặc biệt ở
dưới sự kiểm soát sống động của
Các Vị Bề Trên.
Thánh Phao Lô đă nói: “
Hăy vâng lời những người lănh đạo anh em và
hăy phục tùng họ, v́ họ chăm sóc linh hồn anh em
như những người phải trả lẽ với
Thiên Chúa. Như thế, họ sẽ vui vẻ thi hành phận
sự của ḿnh mà không than thở, bởi v́ điều
đó chẳng ích ǵ cho anh em”. (Dt 13, 17)
Thực
vậy, Các Vị Bề Trên là ǵ với tôi? Họ là những
người đại diện cho Thiên Chúa, mang trách nhiệm
đối với Người về ơn cứu độ
của tôi và của Hội Ḍng, hoặc về một phần
của Hội Ḍng được giao phó cho họ. Họ
đáp lại linh hồn tôi, và đó là một trong những
lí do lớn nhất về sự vâng lời của tôi. Tôi
không thể tẩy họ ra khỏi trách nhiệm về
linh hồn tôi bởi tính độc lập, v́ lời khấn
hứa ấy liên kết tôi với họ và liên kết họ
với tôi. Tôi thuộc thành phần của Hội Ḍng, tôi
không có toàn quyền, và Các Vị Bề Trên của tôi cũng
không có toàn quyền. Họ đă nhận quyền từ Hội
Ḍng. Họ buộc phải thi hành. Theo chức năng, họ
phải chăm sóc lợi ích chung của mỗi cộng
đoàn hoặc của một cộng đoàn đặc biệt
nào đó được giao phó cho họ. Và nếu tôi không
có toàn quyền gây rối luật lệ, tôi cũng không có
toàn quyền để luật lệ bị rối ren.
Tôi có thường xuyên
rên rỉ Các Vị Bề Trên ? Không phải tôi đă chỉ
trích, khiển trách, và thấy rằng việc quản lí nhà
cửa, công việc, các lớp học, các tu sĩ, sẽ tốt
hơn nếu họ tham khảo ư kiến tôi?
Không phải tôi đă trao
đổi những cảm nghĩ với những người
khác? Không phải tôi đă vui sướng nắm bắt những
yếu đuối, những nhược điểm của
các Vị Bề Trên? Những điều ấy đă làm phấn
khích tính độc lập nơi tôi về cái ǵ? Sự toàn
thiện của tôi đă được ǵ bởi những
phẫn nộ, những tâm trạng bực bội, những
tính khí thất thường, những hờn dỗi, mà tôi
đă có khi chán ngấy? Tôi đă khiến các Bề Trên than
phiền, tôi đă làm cho cộng đoàn sa sút, tôi đă thiếu
đức vâng lời; tôi đă lơi lỏng, nếu không
phải là đă làm tan nát sợi dây liên kết những lời
khấn hứa của tôi.
Đến bao giờ tôi
mới là người giản dị, hiền lành, dễ uốn
nắn, vâng nghe những người mang trách nhiệm về
tôi. Những người mang trọng trách lớn hơn khi
được phó thác nhiều người mời gọi
nên thánh thiện, họ phải t́m thấy niềm vui dâng
ḿnh cho Chúa Ki Tô Giê Su mà họ đại diện. Và tôi phải
nh́n thấy thường xuyên nơi họ là những tôi tớ
đầy nhiệt thành theo ư hướng mà Thầy nhân
lành muốn ban cho họ qua những kẻ được
Người sai đến.
CHƯƠNG III : Thinh lặng
Không
chương nào nhấn mạnh sự thinh lặng hơn vị
trí ưu tiên mà cha d’ALZON dành cho chương này.
Thực hành trong Hội Ḍng : Càng buộc
phải sống trên thế giới này, ta càng phải cố
gắng t́m sự cô quạnh trong ḷng theo những giai đoạn
nhất định.
Mỗi năm, anh em sẽ
đi tĩnh tâm mười ngày, và mỗi tháng tĩnh tâm một
ngày theo thánh chỉ của Đức Chúa đă ban bố.
Phải nhận ra rằng chính nhờ sự cố gắng
để tĩnh tâm mà anh em có thể duy tŕ sự hiệp
nhất với Chúa và với t́nh yêu của Chúa Giê Su Ki Tô vốn
là lí do bền bỉ của những gắng công nơi anh em.
Bởi v́ mục đích ấy
mà anh em sẽ giữ thinh lặng cách đều đặn
theo những bắt buộc của riêng anh em cho phép. Anh em tập
luôn đi vào trong chính con người anh em ngay giữa những
phân tán đôi khi do công việc riêng phải làm. Khi anh em làm mất
sự thinh lặng, là v́ anh em hoàn toàn bị bắt bưộc.
Điều đó là hiển nhiên.
Tầm quan trọng của thinh lặng: Một trong
những sức mạnh lớn nhất của linh hồn
người tu sĩ là sự thinh lặng. Ngôn sứ đă
nói : sức mạnh các ngươi ở trong thinh lặng
và hy vọng, tức là cầu nguyện. Hai phương
cách thánh hóa cao quí này trợ lực nhau : không có sự thinh lặng,
không hề có sự tĩnh tâm ; không có sự tĩnh tâm, cũng
không có đời sống nội tâm. Thực vậy, nếu
nói quá nhiều, làm sao có thể hy vọng lắng nghe trong
tôi tiếng nói của Chúa, Thiên Chúa của tôi ? Làm sao tôi có
thể hy vọng được hiệp nhất với
Người ? Làm sao tôi có thể chuẩn bị cho sự
hiệp nhất ấy, hoặc bằng việc trở lại
quá khứ sẽ làm tôi ghét lỗi lầm và thanh tẩy tâm
hồn, hoặc bằng những hành vi thờ phượng
và yêu thương những ai muốn b́nh an và sự cô quạnh
trong linh hồn?
Xâm phạm sự thinh
lặng : Đến hiện nay, đâu là những nguyên
nhân khiến tôi xúc phạm sự thinh lặng? Khi t́m nó, tôi
thấy được nguyên do : 1. sự khinh suất của
tôi : tôi không muốn chú tâm chút nào ; dần dần tôi chán ngấy
những ư tưởng nghiêm túc. Nó làm tôi mệt mỏi. Nó
làm tôi kiệt sức. Tôi không chịu nổi gánh nặng
đó nữa. 2. sự tưởng tượng của tôi
: muốn lạc lơng và thích nói những lời vô vàn. 3. Tính
ṭ ṃ của tôi : muốn biết mọi chuyện, chất
vấn về những ǵ liên quan và không liên quan đến
nó. 4. Tính chỉ trích của tôi : mà trọng tâm luôn
được dựng nên để nêu ra những ǵ
được làm và được nói ra xung quanh tôi. 5. Tính
độc lập của tôi : luôn ngh́n lần bác bé không chịu
tuân theo mệnh lệnh ban bố khi tốt hơn là tôi nên
thinh lặng và vâng nghe trong sự hiệp nhất với sự
vâng lời của Chúa Giê Su và của Mẹ Maria. Nỗi khiếp
sợ khi khám phá con người tôi khiến tôi quan tâm đến
mọi thứ, trừ những nhược điểm
nơi tôi. 7. Nhu cầu : tôi cần trải theo trạng thái
linh hồn tôi để biện minh, khi điều đó sẽ
được diễn tả ngắn gọn nếu
như tôi thú nhận nhanh tính kiêu ngạo nơi tôi, tính lạc
lơng nơi tôi, tính xấu nơi tôi hay mọi nhược
điểm khác mà tôi có thể có.
Bao giờ tôi sẽ bắt
chước sự thinh lặng của Chúa Giê Su trong cuộc
khổ nạn và trong nhà tạm ? Bao giờ tôi sẽ t́m
cách giảm nói với các tạo vật và nghe Thiên Chúa thêm
chút nữa ?
Chương IV : Thức dậy
Quên thức dậy đúng giờ
là một hy sinh bảo đảm mọi diện tiến
trong ngày dành cho Chúa.
Hy
sinh đầu tiên cho Chúa là sự hy sinh giấc ngủ ; và
v́ sức khỏe thường là lí do để nghĩ
ngơi thêm, chỉ có sự vâng lời là phương cách
duy nhất giúp tôi phân rơ vấn đề lười biếng
và thận trọng.
Lúc thức dậy, khi
đă dâng trái tim cho Chúa, tôi sẽ cho rằng ḿnh ra khỏi
giường như Chúa ra khỏi mồ, có nghĩa là đổi
mới tất cả và với quyết tâm sống cuộc
đời mới. Tôi sẽ xin Chúa mặc lấy tôi những
nhân đức và hồng ân của Người, theo như
lời thánh Tông đồ khuyên ta mặc lấy Chúa Giê Su Ki
Tô ; và mặc lấy trang phục được chúc lành
như cái tủ nhắc nhở tôi rằng, dù yếu đuối,
cuộc sống tôi được thánh hiến bởi ḷng
nhiệt thành với Giáo Hội. Nếu tư tưởng
kiêu căng đến trong tôi, tôi sẽ cho rằng dưới
mặt Chúa, trang phục là dấu chỉ nhục nhă do tội
lỗi bởi tôi sinh ra trong tội lỗi. Tôi sẽ cầu
khẩn Thánh Nữ Đồng Trinh, thiên thần tốt
lành, đấng bảo trợ của tôi. Và tôi sẽ xem
xét cách khôn ngoan.
Chương V : Kinh nguyện
Ba việc làm cũng mang một tầm
quan trọng : kinh nguyện, thánh Lễ, Rước lễ
mở đầu ngày mới.
Kinh
nguyện là sự tranh đấu giữa Thiên Chúa và linh hồn,
được Thiên Chúa chinh phục và tẩy rửa linh hồn
bằng mọi thử thách theo ư Người, cho đến
khi linh hồn đạt đến sự toàn thiện hoàn
hảo, trông chừng mực mà linh hồn có thể tồn
tại ở hạ giới này giữa hữu thể
hư không của ta và hữu thể vô tận của Thiên
Chúa. Bởi vậy tôi không nên ngạc nhiên rằng kinh nguyện
khiến tôi mệt nhọc, buồn, chán, khô khan, đau
đớn ; nhưng quan trọng là vượt qua mọi
thử thách và đến với Người như ư muốn
của Người.
Tôi có nghiêm túc trong kinh nguyện
không ? Không phải tôi thường thực hành kinh nguyện
nhưng tôi lại ở đâu khác sao ? Không phải tôi
đă phí thời gian trong kinh nguyện sao ? Đâu là những
ư nghĩ vô vàn trong tôi ? Thời gian của tôi được
dành cho việc kinh nguyện, nhưng làm ǵ ? Tôi có tiến thẳng
đến cái hữu ích không, và tôi có làm mất th́ giờ
trong những việc nguyện ngắm vô dụng bởi
không có ǵ liên quan với thực tế ?
Nếu tôi ra khỏi giờ
kinh nguyện với tâm t́nh đức tin, tâm t́nh hy vọng,
tâm t́nh bác ái, tâm t́nh khiêm hạ, và tâm t́nh ăn năn tội
lỗi mạnh mẽ hơn, đó là v́ tôi sợ rằng
tôi đă mất thời gian dành cho kinh nguyện. Nếu cuộc
sống tôi không ngày càng trở nên thánh thiện hơn, nếu
những lỗi lầm của tôi không mất đi, nếu
tính t́nh tôi không cải thiện hơn, nếu các nhân đức
tu sĩ không phát triển, những kinh nguyện dài nhất
và sùng kính nhất theo vẻ bề ngoài cũng không có, tóm lại,
những kinh nguyện khô khan ?
Tôi đă có được
những giải pháp nào khi kết thúc giờ kinh nguyện
? Và nguyện ngắm từ lâu, những giải pháp đó
đă trở nên như thế nào ?
Chương VI :
Thánh Lễ
Thánh Lễ là sự diễn tả
lại cách không đổ máu về hiến tế đẫm
máu trên cây thập giá. Đó là lúc tôi hiến tế ḿnh.
Nếu
hàng ngày, khi tham dự Thánh Lễ hay khi cử hành Thánh Lễ,
nhờ tưởng nhớ đến đồi Can-vê tôi
đi lên, tôi nằm lên cây thập giá với Thầy Chí
Thánh, tới tham giự vào mọi đau khổ của
Người, việc dâng bánh rượu của Người,
sự chết mà Người đă chịu đựng v́
tôi. Nếu tôi tái diễn lại t́nh yêu mà tôi muốn đốt
cháy lên cho Người, nếu tôi chấp nhận Người
sai tôi đi với những ǵ đẹp ḷng Người,
trong sự hiệp thông với những khổ đau của
Người, không khép ḿnh, không hạn chế. Nếu tôi cầu
nguyện theo mọi ư nguyện này : cho những người
tội lỗi, cho các linh hồn luyện ngục, cho Đức
Thánh Cha, cho Giáo Hoàng, cho Giáo Hội. Giá mà tôi dâng hiến cuộc
đời tôi cho Người và mọi chi tiết của
cuộc đời tôi. Giá mà tiếp đến tôi ẩn
ḿnh như Mẹ Maria xuống đồi Can-vê, và với cảm
giác rằng Mẹ Thiên Chúa đă mang lấy giây phút kinh hoàng
và long trọng ấy. Cuộc sống tôi sẽ là ǵ trong phần
c̣n lại của ngày, sau những ǵ đức tin chỉ
cho tôi và những lời hứa mà tôi đă thốt lên ?
Tôi đă tham dự Thánh Lễ
như thế nào hiện nay ? Với tinh thần nào ? Sự
hững hờ nào ? Sự lạnh nhạt nào? Sự phân tán
nào mà tôi không có? Tôi đă lấy những quyết định
nào ? Đâu là nguồn năng lực, và tôi đă duy tŕ nó
như thế nào ?
Chương VII : Rước lễ
Nếu rước lễ là giây
phút quí giá nhất trong cuộc đời người ki tô
hữu trên trần gian, th́ giây phút ấy càng quí hơn nữa
đối với một tu sĩ mà tinh thần phải là
một t́nh yêu đặc biệt với với Đấng
Cứu Độ ?
Tôi rước lễ nhiều lần
hàng tuần, mỗi ngày nếu tôi dâng Lễ, và tôi không phải
là một Đức Giê Su Ki Tô khác ! Tuy nhiên đó là mầu
nhiệm hiệp thông : trở nên một với Con Người-Chúa.
Khi Người phải
đến trong nhà tôi (ngủ vào ḷng tôi), tôi chuẩn bị
như thế nào ? Đâu là sự trong sạch của ḷng
tôi ? Đâu là lửa nơi ḷng tôi ?
Khi Người ở
trong tôi, cái ǵ diễn ra trong đó ? Người có là Thầy
tuyệt đối của tôi không ? Có phải tôi không bao giờ
từ chối ǵ Người ? Người có thể vào tận
trong nét gấp cuối cùng của con người tôi mà không
hổ thẹn về những cảm giác ẩn trong đó
? Tôi có khát khao cho ḷng ḿnh trở nên như pha lê, để
cho Người đem vào những tia sáng? Tôi có hoàn toàn thuộc
về Người, như Người hoàn toàn thuộc về
tôi?
Sau khi rước Người vào
nhà ḿnh, đâu là tâm t́nh cảm tạ của tôi? Đâu là những
hiệu quả ? Tôi được nuôi dưỡng bằng
bản chất Thiên Chúa, cuộc sống tôi phải trở
nên như Người. Ở ngoài c̣n hoài nghi, nhờ sự
biến đổi sự sống nơi tôi mà Thiên Chúa
đă viếng thăm tôi ?
Chương VIII: Học
tập
Học tập
là bổn phận đầu tiên của chúng ta với mục
đích giảng dạy mà ta xem là phương cách mạnh
nhất để làm lớn mạnh Nước Chúa Giê Su
Ki Tô, dưới mọi tŕnh độ.
Thiên
Chúa phán bảo con người khi đuổi con người
khỏi vườn địa đàng : " Ngươi sẽ
ăn cơm bánh bằng mồ hôi nước mắt
ngươi " ; và dù những lời ấy được
áp dụng vào những công việc nói chung, nó cũng có thể
có một ư nghĩa đặc biệt đối với
tôi, nếu tôi có bổn phận học tập. Học tập
phải là sự trừng phạt đối với tôi, một
sự ăn năn đền tội. Và đó là lí do khiến
tôi can đảm làm việc, học tập dù nó làm tôi ghê tởm.
V́ đó không phải là vấn đề thích hay không, mà là một
sự bắt buộc.
Người
lao động ruộng đồng không hề chọn lựa
công việc của họ, tôi cũng không phải chọn lựa
công việc của ḿnh. Tôi chỉ biết chấp nhận
phần ruộng đồng mà người ta giao cho tôi vụn
trồng. Hơn nữa, Chúa chúng ta đă thánh hóa công việc
bằng 18 năm sống ở Nazareth, tôi phải bước
theo dấu chân Người. Và nếu Người đă làm
việc với t́nh yêu đối với tôi, tôi có thể
làm việc tốt bằng t́nh yêu đời với Người.
Cuối
cùng, Thiên Chúa là Thiên Chúa mọi hiểu biết và hiểu biết
là một trong những đặc ân của Chúa Thánh Thần,
tôi có thể hiệp nhất với Thần Khí một cách
đặc biệt khi học tập theo những thiên
hướng của đức tin và sự khiêm nhường
mà Người sẽ ban cho tôi nếu tôi cầu xin.
Tôi đă
học tập ra sao ? Không phải tôi đă trốn học
ư ? Không phải tôi đă chọn học những ǵ theo ảo
tưởng của tôi sao? Không phải tôi đă mất thời
gian khi học những môn không mang lại lợi ích sao ? Tôi
có học với tinh thần hối cải và làm khổ
hành thân xác không? Tôi có học tập trong tinh thần hiệp
thông với Chúa khi Người ở Nazareth ? Tôi có học tập
dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tôi có cầu
khẩn Người khi bắt đầu giờ học?
Việc học tập không phải đă làm tôi mất can
đảm sao ? Không phải nó đă làm tôi kiêu căng sao ?
Có phải v́ Chúa mà tôi học tập ? Có phải luôn luôn v́
tôi mà tôi học tập ? Trong học tập, tôi có t́m kiếm
Chúa Giê Su Kí Tô, sự thật đời đời ẩn
náu trong mỗi sự thật ? Nhờ cái ǵ mà tôi cố gắng
để t́m thấy Người trong mọi sự, theo lời
Thánh Kinh : " Cứu cánh của Lề Luật là Chúa Ki Tô
".
Nếu tôi yêu Thầy Chí Thánh, tôi phải
yêu mến gặp lại Người dưới mọi
h́nh thức đến với tôi. Và nhờ đức tin,
học tập chắc chắn là phương cách để
tôi hiệp nhất với Người.
Chương IX : Giảng dạy
I. Vị trí của việc giảng
dạy trong Hội Ḍng : Chúng ta dự định cách
đặc biệt hơn làm rộng mở Nước Chúa
Giê Su Ki Tô bằng những việc sau:
Giảng dạy hiểu theo nghĩa
rộng nhất của từ, nghĩa là trường trung
học, Chủng Viện, Cao Đẳng. Ta sẽ dạy ở
cấp tiểu học như một hoạt động
cho không.
Ta sẽ cố gắng đào tạo
những người ki tô hữu gắn bó mật thiết
với Giáo Hội, và cố gắng thể hiện tính cần
thiết tuyệt đối của sự hiệp nhất
sống động, không chỉ trong tín điều, mà cả
trong môn học, dưới sự chỉ đạo ngày
càng được tôn trọng của Tông Ṭa tối cao.
V́ nếu một trong những tệ
nạn lớn nhất của thời đại hiện
đại là tính chia rẽ nhằm chia cắt những mối
liên kết trong xă hội trí thức, v́ vậy một trong
những lí do tồn tại của Hội ḍng nhỏ bé của
chúng ta phải thể hiện trong những cố gắng
của mỗi thành viên để xích lại những tâm trí
và những tấm ḷng trong một môi trường chung mà
Chúa Giê Su Ki Tô đă ban cho Giáo Hội.
II. Những khuynh
hướng đối với giảng dạy : Giảng
dạy là một trong những phương tiện mạnh
nhất để hoàn thành lời khấn làm rộng mở
Nước Chúa Giê Su Ki Tô và dù tôi tham gia vào việc giảng
dạy một cách xa hay gần, th́ tôi cũng phải nhận
thấy vui được xứng đáng với danh dự
đó.
Song le, tôi cần chuẩn
bị có những khuynh hướng nào để giảng dạy ?
Tôi có can đảm hoc những môn khó và khô khan thuộc
chương tŕnh học không ? Tôi có nhận định
đầy đủ rằngít a với tinh thần đức
tin và khiêm nhường, tôi có thể giảng dạy những
tư duy của tôi, nhưng không phải là của Chúa chúng
ta và ít ra tôi luôn luôn tuân theo tác động của Thánh Thần,
tôi có thể lúc nào cũng để cho ư riêng tôi xuất hiện ?...
Trong khi theo học trên lớp,
tôi đă không cảm thấy quá thỏa măn với những
thành quả, nhưng lại quá chán năn về thất bại ?
Không phải tôi đă dành cho chính ḿnh vui thú mà lẽ ra tôi
đă đem lại cho các em học sinh cảm nếm khi
tôi giảng dạy ? Không phải tôi đă gán cho mọi
nguyên do khác thay v́ cho tôi sự chán học của hoc sinh v́
tôi dạy kém ?
Đâu là tinh thân giảng dạy của
tôi ? Có phải là dạy để biết Chúa Giê Su Ki Tô,
để yêu mến Giáo Hội? Tôi có quan tâm đầy
đủ đến tiến bộ của trẻ em? Phải
chăng tôi đă thích những em khác hơn khi tôi đă tạo
được ích lợi cho chúng ? Phải chăng tôi ghen tị
về lợi ích mà những người khác mang lại cho
chúng ?
III : Khuynh hướng căn bản : Đây không
phải là nơi xem xét những nguyên tắc trọng yếu
về giảng dạy ki tô giáo ; nhưng không phải là trên
mỗi lư thuyết, có một việc giảng dạy thực
tế xuất phát từ sự hy sinh chính ḿnh của
người thầy giáo đối với học tṛ v́ t́nh
yêu Thiên Chúa. Điều đó thúc đẩy học tṛ không
phải đến với người giảng dạy, mà
là với Người mà người thầy giao giảng dạy.
Tôi có khuynh hướng chung của việc từ bỏ
chính ḿnh ( từ bỏ cái tôi cá nhân) không ? Tôi có bận tâm
duy nhất về sự khải hoàn của Chúa trong các linh
hồn không ? Và nếu không có, tôi phải thấy ngạc
nhiên cho đến bây giờ rằng tôi đă làm quá ít việc
hữu ích, rằng việc giảng dạy của tôi
đă mang lại quá ít hoa quả cho sự sống đời
đời ?
Tôi có giảng dạy
trong tinh thần nhẹ nhàng, như thánh Phao lồ, hay là tôi
đă để lộ ra những nhược điểm
trong tính cách khi giảng dạy, đến mức mà học
sinh nhận thấy nơi tôi thứ hiểu biết ngạo
nghễ, chứ không phải là đức ái nêu gương
đạo đức ?
CHƯƠNG X
: COI SÓC TRẺ EM
Lên lớp giảng dạy
vào những giờ nhất định mà thôi th́ không đủ
; nếu ta muốn đào tạo các trẻ em, tập phải
trông coi luôn. Có lẽ đó là phần khó khăn nhất,
đáng sợ nhất trong việc giáo dục.
Coi sóc trẻ em đủ
để ngăn cản chúng làm sai và để tranh mọi
hiểm nguy trước sự ngây ngô của chúng. Làm cho
chúng yêu thích người thầy coi sóc chúng. Không làm chúng trở
nên quá khó chịu về cuộc sống. Đôi mắt tinh
vi phải không ngừng được chú ư đến những
hành vi nhỏ nhất của chúng. Đem tính sáng tạo
trong mỗi lúc, sự hưng phấn cản trở quan tâm
để việc khác hơn là về những ư tưởng
hay mà người ta gợi lên cho chúng. Bỏ đi một
số lạm dụng nơi những người có tuổi
hơn, mà không thửc tỉnh những tưởng tượng
c̣n mê muội. Biến gánh nặng nên dễ thương
hơn. Làm cho cảm thấy gánh nặng là nhu cầu, để
tạo ra thói quen trong luật lệ, thực hành bổn phận,
và nếu có thể, yêu thích cố gắng ; học những
đức tính, rèn luyện nó trong chừng mục có thể
: đó là một việc khó, nhưng lại được
tín thác cho tôi mỗi ngày để chăm sóc trẻ em.
Biết bao khó khăn, và
đâu là sự quan tâm bền bỉ mà tôi không phải thực
thi trên chính bạn thân tôi, để làm mọi điều
tốt có thể được mà không để cản trở
bởi một bước lỗi lầm, một phút nóng giận
làm tôi mất uy tín.
Trẻ em có tin tôi nhiệt
tâm với chúng v́ Chúa ? Chúng có cảm thấy không hề có sự
thiện cảm nơi tôi ? Chúng có thấy nơi tôi sự
bất công trong đối xử? Tôi có là người khá
đạo đức dưới mắt chúng? Tôi có hành
động với chúng như tôi có khả năng hành động
v́ việc tốt ? Tóm lại, tôi có mang sự khổ
đau của Thánh Tông Đồ t́m cách làm cho Chúa Giê Su Ki Tô
đến trong các linh hồn, theo như người đă
được tín thác để loan báo Tin Mừng? Tôi
đă góp phần làm cho Chúa sinh ra trong bao nhiêu linh hồn qua
việc chu toàn nhiệm vụ coi sóc trẻ em ?
CHƯƠNG XI
: LAO ĐỘNG CHÂN
Có thể tôi chỉ
được mời gọi đóng góp trách nhiệm vào trong
Hội Ḍng bằng việc lao động chân tay. Ví dụ,
nếu tôi là người quản lí những hiện vật
trong phụng vụ, nếu tôi là y tá, nếu tôi là thầy
cần vụ vv. Nhưng đó không phải là lí do để
tôi danh giá thấp con người ḿnh.
Mẹ Maria và thánh Giu Se
đă làm ǵ trong cuộc sống của các Ngài ? Chính Chúa Giê
Su đă làm việc ǵ trong những
năm đầu của cuộc sống ? Thánh Giu Se làm việc
để kiếm sống cho cả gia đ́nh. Mẹ Maria
chuẩn bị việc nội trợ cho Chúa Giê Su và thánh
Giu Se. Ngay cả Chúa Giê Su, lúc con thơ ấu đă giúp
đỡ Mẹ và Cha nuôi của Người. C̣n tấm
gương nào hơn và c̣n bạn đồng hành nào hơn
nếu tôi làm việc trong sự hiệp nhất với họ,
nếu tôi nuôi ư chí quan tâm đến các Ngài, nếu tôi t́m
cách vào trong mỗi ư tưởng của các ngài, nếu tôi bắt
chước sự hồi tâm và sự thinh lặng của
các Ngài, nếu tôi làm việc như các Ngài làm việc !
Không có việc làm ǵ mà
Chúa Giê Su, Mẹ Maria và thánh Giu Se không nêu gương cho tôi.
Công việc vất vả, công việc tối tăm âm thầm,
công việc mà nhiều người không thích : Giê Su, Maria, Giuse
đă trải qua mọi thứ đó. Giuse đă tuôn đổ
mồ hôi để nuôi sống Con Thiên Chúa cũng như
tôi phải làm việc để nuôi sống những tôi tớ
Chúa Giê Su Ki Tô. Mẹ Maria đă làm những việc b́nh
thường nhất, v́ vậy tôi phải noi theo v́ lợi
ích của Hội Ḍng. Chính Chúa Giê Su, khi lao ḿnh vào trong những
công việc nặng nhọc, dạy cho tôi rằng không có ǵ
phải là khó khăn nếu tôi muốn trở nên giống
như Người.
Khi tôi lao động chân
tay, tôi có thói quen xếp ḿnh vào trong hàng ngũ của gia
đ́nh thánh ? Tôi có phàn nàn th́ thầm công việc? Tôi có chú
toàn công việc trong tinh thần ăn năn, khiêm hạ và
bác ái? Và nếu tôi đă không thánh hóa công việc bằng những
tư tưởng mà đức tin gởi lên cho tôi, tôi có sợ
rằng dưới mặt Chúa đó sẽ là một công việc
không mang lại lợi ích?
CHƯƠNG
XII : CÁC BỮA ĂN
Sự bồi duỡng
thân thể bằng việc ăn uống và bồi dưỡng
tinh thần bằng những giờ giải trí phải tạo
điều kiện cho chúng ta cống hiến hơn nữa
cho công việc với nhiều cố gắng hơn nữa
và với tinh thần siêu nhiên.
Nhắc nhở Hội
Ḍng về một số cảnh báo : Mong các tu sĩ nhớ
tất cả những ǵ mà các tôi tớ Thiên Chúa đă giảng
dạy về những nguy hiểm mà lương thực
mang lại. Chính bởi lương thực mà Satan đă cám
dỗ con người đầu tiên. Chính về vấn
đề lương thực mà dân Do Thái đă luôn làm Thiên
Chúa phẫn nộ trong sa mạc ; và khi họ đói là lúc
Con Thiên Chúa cho phép qủi cám dỗ Người. Mặt
khác, Chúa cảnh báo ta rằng chính bằng việc cầu
nguyện và ăn chay mà ta có thể chiến thắng một
số loại qủi ma. Mong các tu sĩ thận trọng
hơn nữa để trong bữa ăn ǵn giữ tính
đạm bạc và sự khổ hạnh phù hợp với
trạng thái mọi người.
Thánh hóa các bữa ăn : Ơn gọi tôi không
nhằm vào những việc khổ hạnh khủng khiếp
như thế và cũng không nhằm vào những việc
ăn chay triền miên theo cuộc sống của những
tu sĩ đầu tiên được kể cho ta nghe. Không
tham vọng có thể kiêng cữ như các tu sĩ đầu
tiên ấy, phải nhận thấy rằng xác thịt thèm
muốn và chống lại tinh thần và tinh thần chống
lại xác thịt, rằng hai yếu tố đó luôn gây
chiến với nhau măi măi. Đâu là yếu tố trong hai yếu
tố ấy chế ngự trong tôi ?
Tôi đă dùng bữa với
tinh thần nào ? Bắt chước thánh BERNARD, tôi có dùng bữa
như là cực h́nh ? Tôi có hài ḷng về những ǵ có trong bữa
ăn ? Không phải là tôi thận trọng, và không phải
là tôi đă làm hại sức khỏe khi dùng những thức
ăn dễ chịu hay có hại? Tôi có thực hành sự
khổ hạnh thân xác khi tuân theo một chế độ
khi được yêu cầu? Không phải tôi đă tuân theo
một số hành vi của cảm giác khiến tôi tiếc
nuối những thứ mà đời sống tu sĩ
ngăn cấm? Tôi có để ư vào bài đọc? Tôi có thực
sự để ư không? Không phải tôi đă t́m cớ
để ngồi vào bàn thứ hai, trong khi tôi có thể ngồi
ở ban đầu ? Tôi đă từng ăn những thứ
không cần thiết ngoài bữa ăn mà không được
phép? Tóm lại, có phải tôi là chủ nhân của những
tính khí thất thường trong ăn uống?
CHƯƠNG
XIII: GIỜ GIẢI TRÍ
Hai h́nh thức giải
trí trong Hội Ḍng: Những việc giải trí của
các tu sĩ sẽ thuộc về hai loại: giải trí với
học sinh, và giải trí riêng giữa các tu sĩ với
nhau.
Giờ giaỉ lao với
học sinh phải là mục đích cho việc chăm sóc
đặc biệt đối với chúng. Các tu sĩ phải
tránh mọi sự thân thiện, tránh những lời nói thô
bảo. Các tu sĩ có thể vui chơi, và sẽ phải
vui chơi để tạo cho học sinh bầu khí sinh
động. Phải trông coi đừng để học
sinh tṛ chuyện với nhau quá lâu, và đùng để chúng
tạo ra những nhóm riêng. Phải trông coi hết mực
đến những học sinh đáng dè chừng. Phải
tránh những lời thô tục và những lời nói khiến
chúng cảm thấy sự khinh bi và cằn nhằn. Thỉnh
thoảng nói chuyện với trẻ em về Chúa, nhưng
không kiểu cách. Phải tạo nên cho chúng một chứng
tá về sự thân t́nh. Phải tránh những giải pháp
không thẳng thắn để lôi cuốn sự tin tưởng
của chúng. Những giờ giải lao là lúc ta có thể
làm những việc tốt cho chúng, nhưng cũng có thể
những việc xấu, bởi v́ trong những giây phút hoan
hỉ ấy, ḷng ta mở ra dễ dàng hơn với những
tác động vui sướng hoặc những tác hại.
Trong giờ giải lao,
các tu sĩ sẽ cố gắng siết chặt mối
giây đoàn kết thân t́nh và sự quyến luyến Thay giờ nghỉ quí giá nhất
mà họ sẽ lại có trong những giờ giải lao
khác. Bề Trên sẽ cố gắng tham gia vào giờ giải
lao của các tu sĩ đến mức có thể. Trong những
giờ giải trí đó, ta thường dễ làm tổn
thương đức ái và đức vâng lời bằng
những xét đoán ít mang tính thần ki tô giáo: Chỉ có sự
hiện diện của Bề Trên có thể cản trở
những lạm dụng ấy. Không ai tự ư vắng mặt
trong giờ giải lao nếu không xin phép trước. Sự
vắng mặt sẽ chỉ được chấp thuận
v́ những lí do nghiêm chỉnh.
Thánh hóa những giờ giải lao: Tôi có thể
thánh hóa những giờ giải lao như những việc
làm khác trong ngày. Dùng thời gian nghĩ ngơi cần thiết,
tôi có thể luôn luôn nêu gương đạo đức
qua trang phục tu sĩ, bởi thường th́ ta có khuynh
hướng quên việc này; bằng tính t́nh dễ
thương, mà những tính thô lộ thường
được thế hiện dễ dàng trong những lúc
giải lao, bằng việc thực hành tính tập trung và sự
khôn ngoan, mà không vượt qúa những giới hạn của
lễ độ ki tô giáo. Cuối cùng, chúng ta nêu
gương đạo đức khi biết chấp nhận
những buồn chán nhỏ
ngoài ư muốn trong thâm tâm.
Tôi có thể rèn luyện
tính toàn thiện bằng việc im lặng hoặc nói
năng cho phù hợp: chú tâm lắng nghe khi những người
khác nói, cố gắng góp phần đối thoại khi giờ
giải lao có nguy cơ thiếu sinh động. Phải là
người tin tưởng rằng món quà đẹp ḷng
Chúa nhất là tính nhă nhặn, tử tế đối với
bạn hữu, để làm cho họ vui trong phục vụ,
và để mang những điều đó cách năng động
hơn nữa vào những chuyện nghiêm túc hơn sau giờ
giải lao, giữa những món quà khác nhau.
Xem xét lương tâm:
Những giờ giao lao có ư nghĩa ǵ với tôi? Không phải
tôi quá chạy theo tính nghịch ngợm? Tôi có nói qúa lời
không? Tôi có tham vọng muốn người khác chỉ nghe
ḿnh nói mà thôi? Hay là tôi không quá tập trung vào việc giải
trí? Không phải tôi thường đem lại những bầu
khí u ám, và hay cáu giận ? Không phải tôi đă giữ sự
thinh lặng có ảnh hưởng xấu ? Không phải tôi
đă tỏ ra những tính khí thất thường, những
ác cảm, những giận giữ, những lời nói thô tục
trong giờ giải lao ? Tôi có luôn luôn có ḷng bác ái, ḷng tốt,
tính hiền lành, tính khiêm nhường, tính khôn ngoan trong giờ
giải lao ? Tôi đă làm ǵ cho người khác và cho tôi một
sự nghỉ ngơi thực sự, nhằm để chuẩn
bị phục vụ Chúa tốt hơn trong phần thời
gian c̣n lại trong ngày ?
CHƯƠNG
XIV : TƯƠNG QUAN VỚI THA NHÂN
Ta không bao giờ nên
quên những đ̣i hỏi của câu khẩu hiệu:
"Nguyện Nước Cha trị đến"
tương quan với tha nhân.
Những quan hệ bên
ngoài Hội Ḍng:
Mong rằng trong những
mối quan hệ bên ngoài, anh em hăy nêu gương đạo
đức mà anh em có thể tỏ hiện, v́ cũng
như tai tiếng mà có thể anh em là nguyên nhân, nếu
như anh em không xử sự theo tư cách của những
người tu sĩ thật sự. Mong tất cả đều
khiêm tốn trong tư cách của
tu sĩ, trong ăn mặc, cũng như đồ
đạc trong nhà. Mong sự khiêm tốn làm cho cảm thấy
nhất là trong mối tương quan với tha nhân. Mong các
tu sĩ nhớ rằng sự khiêm tốn thể hiện những
mối quan hệ ấy với con người như là chủ
nhân của chính những mối tương quan ấy, là những
bản sao sống động của Chúa Giê Su Ki Tô, và biến
tư cách họ trở nên sự rao giảng có hiệu quả
hơn những bài nói dài ḍng.
Thánh hóa những tương quan ấy : Cuộc sống
tôi không nên khép kín trong ngôi nhà kín, và v́ tôi được mời
gọi phải có một số quân hệ, lời khấn
hứa thứ bốn bắt buộc tôi thánh hóa những mối
quan hệ khi nó c̣n phụ thuộc vào tôi. Vị thánh nào mà
đă không yêu mến Chúa. Ai đă không yêu thích mạnh mẽ
quyến rũ các linh hồn về với Người, hoặc
bằng lời cầu nguyện, hoặc bằng lối sống
khắc khổ, hoặc bằng lời nói ?
Có thể sự ảnh
hưởng tiếng nói của tôi bị hạn chế, những
khi tiếp đón người khác, tôi nói nhiều hơn về
những đề tài liên quan đền ơn cứu độ.
Tôi gạt bỏ những nguy hiểm, tôi tránh những cuộc đàm thoại
vô ích, tôi không để thời gian lăng phí ! Chắc chắn,
tôi có thể nói về những đề tài khác ngoài đề
tài tôn sùng đạo, nhưng có thể tôi qúa quên rằng nếu
sự tôn sùng đạo không là cái hồn của cuộc hội
thoại của một tu sĩ, người đời
trước tiên sẽ ngạc nhiên về điều
đó, rồi họ cũng thỏa ḷng về cách hội
thoại ngoài đời diễn ra trong pḥng tiếp khách, biện
bạch cho những cuộc đàm thoại thường
ngày của họ. Những cuộc đàm thoại như
thế có một thứ tiện lợi, mà kết quả
chắc chắn không phải là sự đánh giá của
người đă cho phép, nhờ ngôn ngữ, một thứ
tiếng cười cũng quá ít mang tinh thần ki tô hữu.
Trái lại, nếu trong
những quan hệ của tôi với người khác, tôi chỉ
có mục đích là ích lợi cho các linh hồn, cuộc khải
hoàn của Chúa, biết bao thứ hữu ích, tốt lành,
tôi nói đến mà không có vẻ ǵ cả ; biết bao thiện
cảm tôi đă giao tiếp bằng từ cách duy nhất ;
biết bao xét đoán không mang tính bác ái, tôi sẽ không tiếp
tục nữa, chỉ có thể nhờ vào sự thinh lặng
mà thôi !
Chắc chắn, tôi có thể
không có ơn nói giỏi về Thiên Chúa, nhưng tôi phải
có nhân đức biết im lặng ; và nếu tôi biết
hy vọng hành động của ḿnh sẽ hữu ích, tại
sao ḷng nhiệt thành mà tôi phải làm cháy bỏng v́ Chúa và v́
Giáo Hội lại không gợi lên cho tôi phương cách làm
gương cho những người tôi buộc phải nh́n
thấy ?
Nhất là tôi phải làm
việc lành cho những thành phần của gia đ́nh ḿnh,
và bởi v́ họ đến t́m tôi, sao tôi lại không tận
dụng chức vị của ḿnh để mạnh dạn
nói chuyện với họ về ơn cứu độ của
họ ? Trong mọi trường hợp, tôi phải tin mạnh
mẽ rằng sự dịu dàng của họ làm họ trở
nên rất đ̣i hỏi, và sự bất toàn thiện ở
mức tối thiểu mà họ sẽ khám phá nơi tôi
đối với họ là một loại chiến thắng
sẽ đền bù cho họ khỏi những mệt nhọc
khi họ để tôi giao tiếp với họ.
Pḥng tiếp khách không phải
thường làm tan nát ḷng tôi do những cuộc viếng
thăm trao đổi quá lâu, do một số buổi gặp
gỡ trao đổi vừa kéo dài và vừa vô ích ? Không phải
tôi đă chạy theo tính ṭ ṃ, và những chất vấn của
tôi không phải đă vượt giới hạn trong việc
giữ bí mật trong đời tư ?
Kiểm tra những mối quan hệ : Việc lành
tôi có thể làm, việc xấu tôi có thể vấp phải
trong những mối tương quan với bên ngoài chứng
tỏ cho tôi tính cần thiết thận trọng, và sự
vâng lời các Bề Trên quan trọng biết bao. Kinh nghiệm
mỗi ngày chỉ cho thấy rằng v́ quá muốn làm việc
lành, ta lại thường làm việc xấu, và đó là lí
do khiến tôi phải nhờ người hướng dẫn,
khi nào mà các Bề Trên c̣n chưa đảm bảo là tôi
chưa đủ chín chắn để đứng vững
một ḿnh, và v́ lí do đó tôi rộng mở ḷng ḿnh với
họ với sự thẳng thắn trọn vẹn nhất,
về mối quan hệ của tôi với người khác,
cũng như những ǵ c̣n lại, Bộ Luật Ḍng qui
định cho tôi.
CHƯƠNG XV
: ĐỌC SÁCH THIÊNG LIÊNG
Ba hoạt động
thiêng liêng khác kết thúc một ngày sống và làm việc của
ta : Vả lại nó rất có thể xen vào giữa những
bận bịu để ta đứng vững trong cảm
nhận về sự hiện diện của Thiên Chúa.
Người ta thường
hay nói với tôi : trong kinh nguyện, tôi nói chuyện với
Thiên Chúa ; trong những bài giáo huấn mà tôi nghe, trong những
bài đọc, chính Thiên Chúa nói với tôi. Để tận
dụng điều ấy, tôi phải đọc sách nhiều
:
1. Cảm nhận đức vâng lời trong việc
chọn những quyển sách được cho tôi mượn.
Khi nhận sách từ tay các Bề Trên, tôi gần gũi
hơn với tiếng nói của Thiên Chúa.
2. Cảm nhận đức tin giúp tôi đón nhận
những ǵ được bàn đến trong sách theo quan
điểm siêu nhiên và tránh xa những vấn đề
được đề ra bởi tính ṭ ṃ của con
người. Chúa Giê Su Ki Tô là cứu cánh của lề luật.
Trong việc đọc sách, tất cả phải dẫn
tôi đến với Người ; và nếu tôi không đến
với sự thật đời đời, nhờ việc
rèn luyện này, thời gian của tôi bị lăng phí, và có thể
được sử dụng cách nguy hiểm.
3. Cảm nhận tính giản dị giúp tôi đón nhận
mỗi thứ với tính tích cực, thẳng thắn mau lẹ,
chứ không ngại ngùng, đắn đo trong cái đầu
chật hẹp.
4. Cảm nhận tính thành thật sẽ không cho tôi ảo
tưởng và cho phép tôi tận hưởng những sáng tỏ
quá việc đọc sách thiên liêng có thể mang lại
trong tâm trí, khiến tôi đi đến nơi mà Thiên Chúa
thúc đẩy tôi đi và không đến những nơi mà
Người không muốn tôi đi.
5. Cuối cùng, sự chú ư nghiêm túc giúp tôi ǵn giữ
trong ḷng, như Mẹ Maria, điều đánh động
tôi và sự niềm nở như Mẹ Maria, để rút
ra những hoa trái thực tiễn cho sự thăng tiến
thiêng liêng. Có phải tôi đọc sách với tâm t́nh đó
không ? Có phải tính ṭ ṃ là động cơ khiến tôi
đọc sách? Tôi có luôn chấp nhận thành thật những
sáng tỏ được ban cho tôi qua việc đọc
sách? Có phải tôi chỉ t́m kiếm Đức Giê Su Ki Tô và
những giảng dạy của Người trong việc
đọc sách? Từ khi tôi học tập nghiên cứu,
trong việc đọc sách, những nguyên tắc và những
phương tiện của sự toàn thiện, tôi trở
nên hoàn thiện hơn về mặt ǵ?
CHƯƠNG
XVI: CHUỖI MÂN CÔI
Tràng mân côi nhắc nhở
tôii những mầu nhiệm chính yếu về cuộc
đời Chúa Giê Su Ki Tô và về Mẹ Người. Nếu
tôi lần chuỗi mân côi trong ư thức và trong tâm trí, tôi có
thể t́m được đề tài suy niềm tuyệt
vời: miễn là tôi tuân theo trật tự những mầu
nhiệm và biết áp dụng cách hữu ích cho linh hồn
ḿnh, cho đến khi tràng mân côi trở thành một loại
tạp chí những nhân đức tu sĩ đối với
tôi, trong đó tôi xem xét lại ḿnh thực hành những mầu
nhiệm tràng mân côi như thế nào, tôi c̣n thiếu cái ǵ,
và tiếp đến tôi cầu xin ơn để có
được những nhân đức ḿnh chưa có?
Chính với Đức
Maria, Mẹ tôi, mà tôi trao đổi về những nhân
đức ấy. Mẹ là gương mẫu đối với
tôi, và cũng như những sự toàn thiện của con
Mẹ. Tràng mân côi phải giúp tôi vào sâu hơn nữa trong sự
sống Chúa Giê Su và Mẹ Maria.
Làm sao tôi làm tṛn sự thực
hành sừng đạo này ? Không phải là bằng thói quen cổ
hủ hay sao, không hề ư thức, phân tán luôn ? Tràng mân côi có
phải đă là một sự thực hành sùng kính thật sự,
hay đúng hơn nó chỉ thường là một việc
làm máy móc mà thôi? Trong tràng mân côi, sự kính trọng nào tôi
dành cho Mẹ Maria mà tôi cầu khẩn, v́ những mầu
nhiệm lớn lao tôi phải suy niệm, và sự suy niệm
nghiêm túc đă tạo nên biết bao ích lợi cho tôi ?
CHƯƠNG
XVII: KINH NHẬT TỤNG
Kinh nguyện phụng vụ
mang ư nghĩa trên hết là sự diễn tả tuyệt vời
nhất bởi ḷng sùng kính, sau việc tôn thờ Bí Tích Thánh
Thế: Đó là trường dạy của Đức Ki
Tô nơi ta tự rèn luyện ḿnh theo tinh thần siêu nhiên.
Thực hành trong Hội Ḍng: Khi đọc kinh nhật
tụng chung, ta xin làm những việc sau:
1. Làm khổ hạnh bản thân v́ chúng ta, trong sự
tăng mạnh những mệt mỏi mà giờ kinh nhật
tụng có thể gây nên.
2. Lí do nêu gương cho trẻ em ở trường
học nơi ta đọc kinh.
3. Trong tương quan với tha nhân, coi trọng những
kinh nguyên quan trọng của Giáo Hội trên vô số thực
hành mà ta không chê trách, nhưng ta tuân theo những kinh nguyện
long trọng ấy như là kinh nguyện chung tốt nhất.
Nét đẹp của kinh nhật tụng: Kinh nhật tụng
ở thế gian là chức năng của các thiên thần
trên trời: Họ ca tụng Chúa với những nguồn
linh hứng của Thiên Chúa. Tôi giám làm việc ǵ khi ca tụng
Chúa với những lời Thánh Kinh, với những kinh
nguyện được Giáo Hội cho phép? Khi đọc
kinh nhật tụng, tôi phải góp phần vào sự chuẩn
bị của thiên thần.
Kinh nhật tụng có nghĩa
là bổn phận phải làm. Kinh nhật tụng với một
nghĩa nào đó là bổn phận trên hết mà Giáo Hội
phục vụ Thiên Chúa, tức là sự tôn thờ chung, cầu
nguyện, tôn thờ trên khắp hoàn cầu.
Khi đọc kinh nhật
tụng, tôi phải vào trong mỗi ư nguyện của Giáo Hội,
tức là nơi hội tụ của các thánh trả nợ
cho Thiên Chúa, khi thỉnh cầu sự bền bỉ của
những người công chính và sự trở lại của
những người tội lỗi. Chính Giáo Hội cũng
chỉ cầu nguyện nhân danh Chúa Giê Su Ki Tô. Giáo Hội tiếp
tục cầu nguyện ở trần gian này, như Tông Ṭa
tối cao không ngừng đưa ra những kinh nguyện
của Giáo Hội, từ trời cao, đến Thiên Chúa
Cha. Tôi cầu nguyện trong sự hiệp nhất với
Chúa Giê Su Ki Tô. Và thực vậy, nếu tôi hiệp nhất
với Đấng Trung Gian của Thiên Chúa và con người,
lời nguyện của tôi sẽ được Chúa nhậm
lời.
Tra xét lương tâm : Cho đến bây giờ, tôi đọc
kinh nhật tụng với ḷng tôn kính nào ? Tôi đă hiểu
được danh dự khi thuộc về một Hội
Ḍng nơi tôi dâng kinh nguyện chung lời nguyện long trọng
nhất của Giáo Hội? Tôi đă thấm nhuần
như thế nào những ư nguyện mà lời nguyện của
Giáo Hội gợi lên? Với ḷng sùng kính nào, tôi hiệp nhất
với hàng ngũ các thiên thần và các thánh ở trên trời
đang không ngừng ca tụng Thiên Chúa? Tôi có t́m để
chỉ muốn nên một với Chúa Giê Su Ki Tô, Đấng
hằng sống luôn chuyển cầu cho chúng ta? Không phải
là tôi thường hay để bị phân tán, chạy theo
tính vô kỷ cương, theo buồn chán ? Và sự sống
trên trời mà kinh nhật tụng mời gọi tôi gia nhập
không phải đă từng là nguồn chán ngấy và thiếu
tôn kính?
CHƯƠNG
XVIII : GIỜ NGỦ
Một ngày nào đó tôi phải
chết, và mỗi khi vào giấc ngủ, tôi sống kinh nghiệm
về sự chết (ngôi mộ). Một ngày nào đó, tôi sẽ
không thúc dậy lại nữa ; người ta sẽ
đem tôi đến nơi an nghỉ trong ḷng đất và
trông chờ sự thức giấc đời đời.
Mỗi khi buồn ngủ,
tôi có tin rằng ḿnh sẽ thức giấc trở lại
trên trần gian này, và Chú rể sẽ không đến vào giờ
tôi không ngờ như những trinh nữ trong dụ ngôn hay
sao ? Tôi có chuẩn bị đèn dầu không ? Trái lại,
không phải đèn dầu của tôi đang tắt dần
sao ? Không phải nó đă tắt hẳn rồi sao ? Đó
là điều tôi phải tự hỏi ḿnh mỗi lúc đi
ngủ. Ôi ! nếu như, thay v́ tiếng chuông, như sẽ
xảy đến một ngày nào đó, th́ lại là tiếng
kèn tù và phán xét đến chớp lấy giấc ngủ,
tôi sẽ xuất hiện như thế nào trước mắt
đấng thẩm phán công chính ? Tôi có sẵn sàng chưa ?
Và nếu chưa sẵn sàng, làm sao tôi có sự can đảm
ngủ yên khi lương tâm rối bời ?
Sự thing lặng trong
đêm có thể là điều hữu ích và thánh thiện
đối với tôi. "Tôi ngủ, nhưng ḷng vẫn thức",
hiền thê trong sách Diễm Ca nói. Trong đó có một lời
nói làm yên ḷng mà tôi có thể sử dụng để hiệp
nhất hơn nữa với Thầy Chí Thánh. Chính trong sự
thinh lặng ấy mà tôi có thể cầu nguyện với
sự tập trung cao độ hơn. " Thứ thái b́nh
an vừa nằm con đă ngủ", và sự tách khỏi
những tạo vật, do sự yếu đuối của
tự nhiên đ̣i buộc, đối với tôi có thể
là một thử nghiệm việc chia li một cách trọn
vẹn hơn, thức dậy và tràn đầy ư muốn,
ngày mai tôi sẽ hoàn thành để t́m được sự
yên nghỉ trong Chúa mà thôi.
CHƯƠNG
XIX: SỰ XEM XÉT ĐẶC BIỆT
Phần cuối của
tập chỉ dẫn (Directoire), cha d'ALZON đă tạo thành
một nhóm các phương cách kiểm tra, thanh tẩy bắt
buộc đối với các tu sĩ tuyên khấn theo sự
toàn thiên.
Chỉ có không ngừng học
tập th́ tôi sẽ mới biết được con
người ḿnh. Việc xem xét đặc biệt là một
sự rèn luyện rất hữu ích nhằm đem lại
cho tôi nhận biết chính bản thân khi mạc khải cho
tôi sự hư không và tội lỗi tôi. Nó cũng mạc
khải cho tôi những nhược điểm vốn là
căn nguyên của tội lỗi tôi. Nó cũng giúp tôi khám
phá phương châm cứu chữa đối với mầm
mống sự ác, sự dữ.
Tôi làm ǵ để nhận
biết tốt về bản thân? Với tính thành thật
và tính nghiêm khắc nào tôi kiểm điểm bản thân
ḿnh? Việc tra vấn lương tâm giúp tôi khám phá sự
khiếp sợ nào về tính lạc lơng và những sa ngă của
tôi trong cuộc sống thường ngày? Không phải tôi
thường hay coi nhẹ vấn đề đó sao? Tôi có
làm việc đó với ư chí quyết tâm đầy nghị
lực để từ bỏ những ǵ không tốt mà tôi
phát hiện ra trong tôi ? Tôi có đề ra cho ḿnh một sự
ăn năn hữu ích nào đó khi nhận ra một số
sa ngă quen thuộc ? Hay tôi luôn vẫn như cũ, bởi v́
tôi nghi ngờ ánh sáng sẽ to cho tôi thấy những nhược
điểm, và bởi v́ tôi thiếu năng lực cần
thiết để triệt tiêu nó tận gốc rễ ?
CHƯƠNG XX
: XƯNG TỘI
Xưng tội thường
xuyên được yêu cầu đối với những
người hay lo âu về sự toàn thiên : việc xưng
tội ǵn giữ họ trong tinh thần khiêm hạ, đền
bù và sửa chữa lỗi lầm.
Tôi là một người
tội lỗi, và Thiên Chúa, trong ḷng nhân từ, không ngừng
dâng hiến máu của Con Người để tẩy rửa
tôi trong bể thống hối. Tôi tiếp cận một bí
tích để đón nhận ơn tha thứ tội lỗi
nhờ công lao của máu Con Thiên Chúa với sự kính trọng
nào !
Việc tra xét
lương tâm phải nghiêm túc. Xưng tội phải thành
thật, thẳng thắn sẽ giúp nhanh gọn hơn. Sự
ăn năn của tôi phải là lí do khiến tôi ư tứ
cách nghiêm chỉnh hơn bao giờ hết ; bởi v́ nói
chung, nếu tôi chỉ phạm những tội nhẹ phải
xưng, quan trọng không phải là liệt kê dài ḍng mọi
chi tiết về những lỗi lầm ấy, mà quan trọng
là cảm giác đau đớn khi tôi thú nhận tội lỗi
và quyết tâm mạnh mẽ để không mắc phạm
lại những lỗi lầm đó nữa, nhờ hồng
ân Thiên Chúa.
Tôi xưng thú những ǵ
? Có phải là những chuyện kể hơn là những
cáo tội ? Không phải tôi thường thích thú trong những
chi tiết vô ích ? Tôi có thường t́m trong bí tích giải tội
được ơn tha thứ tội lỗi, chứ không
t́m trong đó như một sự thỏa măn của con
người muốn bỏ đi những nặng nề
trong ḷng ḿnh? Tôi có nhận ra Thầy ḿnh đang sẵn sàng
tha thứ cho tôi tại ṭa cáo giải, ăn năn?
Tôi có luôn ăn năn sám
hối thật ḷng? Tôi có học nhận ra trong ơn tha thứ
tội lỗi và trong sự kích thích sự ăn năn hối
cải một lí do để yêu mến Chúa hơn nữa,
Đấng phó ḿnh v́ tôi, để minh chứng t́nh yêu cho
tôi ?
Tôi đă chu toàn sự
ăn năn sám hối đ̣i buộc như thế nào ? Có
phải tôi chỉ thường ăn năn sám hối trên
môi miệng mà thôi, trong khi tôi phải làm việc đó với
tất cả ḷng sùng kính mà tôi có thể, cảm tạ Thiên
Chúa trừng phạt tôi rất nhẹ nhàng do những tội
lỗi tôi vừa thú nhận ?
CHƯƠNG
XXI : VIỆC TÍNH TIỀN CHI TIÊU
Một trong những
phương tiện thánh hóa mạnh mẽ nhất trong
đời sống tu sĩ, chắc chắn là việc tính
chi tiêu. Nhưng để việc này sinh ra những hiệu
quả như mong muốn, tôi phải thực hiện :
1. Trong tinh thần đức tin: dù người mà tôi
tính tiền tiêu là ai, dù người đó cũng có lỗi
lầm thiếu sót, người đó vẫn là người
đại diện Thiên Chúa cho tôi. Vậy, không chỉ tôi phải
nh́n nhận người đó, mà c̣n là Thiên Chúa Đấng
tôi cầu xin sự trợ giúp, ánh sáng và khuyên răn.
2. Việc tính tiền của tôi phải đơn giản,
rơ ràng, chính xác. Mọi úp mở khiến tôi mất lời
nói rút cục chỉ là những mưu mẹo của ḷng tự
ái, những t́m ṭi, tính khéo léo ngu xuẩn, hậu quả từ
một nhu cầu quá đáng chăm lo cho cái tôi của ḿnh,
hay tính bất lợi do tính khí rối rắm.
3. Tôi phải tránh những giải thích vô dụng và những
lời xin lỗi triền miên. Kinh nghiệm minh chứng rằng,
nói chung, những việc đó chỉ làm mất thời
gian mà thôi. Thời gian của các Bề Trên là quí giá, và nhất
là trong những nhà đông người. Cái ǵ tôi cho là quá vô
ích với ḿnh, tôi bỏ đi v́ cần thiết cho những
anh em khác. Tính trung thực không phải là sự dài ḍng. Càng
ngắn gọn, có tính tốt, tôi càng trung thực. Vậy
nhưng, nếu tính trung thực trọn vẹn không ở
giữa trong việc tính chi tiêu, việc làm ấy của
tôi là hoàn toàn vô ích.
Với lí do muốn nói hết mọi điều, nếu
tôi phải tranh không ngừng lập lại những đề
tài như nhau, như vậy làm cho những quan hệ trong
lương tâm không bao giờ giải tỏa với các Bề
Trên. Cũng vậy, hiển nhiên khi sẽ cần thiết,
tôi phải biết dùng mọi thời gian của ḿnh. Quy luật
tốt nhất cho việc đó là nói với họ. Khi hiểu
vấn đề, họ sẽ nói cho tôi biết. Và như
vậy hoàn toàn vô ích t́m cách minh chứng để họ nhận
ra là họ không hiểu ǵ. Tôi buộc họ phải trả
lời theo ư muốn của tôi, trong những bối cảnh
ấy, khổ nỗi là câu trả lời hầu như
không bao giờ là ư Chúa.
Những nhược
điểm trên được tránh, chắc rằng việc
tính toán trong chi tiêu có thể là một tính hữu ích nhất
đối với tôi. Nó mở ra và cũng khép lại tâm hồn
tôi, để hồn tôi an b́nh hơn giữa bàn tay của
những người mà linh hồn tôi được tín
thác. Nó làm sáng tỏ những nghi vấn, làm cho tôi nên mạnh
mẽ, khích lệ tôi và kích động tôi đối xử
rộng lượng và nhiệt t́nh hơn. Cuối cùng, nó
đưa tôi cận kề với Chúa, Đấng mà tôi phải
đón nhận những tiếng nói từ môi miệng những
người hướng dẫn tôi.
CHƯƠNG
XXII : THÚ NHẬN LẦM LỖI
Chương này nhắc
nhở ta bổn phận phải nhắc nhở và sửa
đổi cho nhau trong t́nh huynh đệ. Một việc làm
hay bị né tránh một cách khéo léo, trong khi đó là một
trong những hoa trái tế nhị nhất của đức
ái.
Chương về thu nhận
tội lỗi được lập nên để tự
thân rèn luyện đức khiêm hạ. Đó là một thực
hành rất ghê tởm đối với bản tính vốn
ít thỏa ḷng nh́n nhận những nhược điểm
nơi bản thân; đồng thời là một sự rèn
luyện mà tôi phải thực thi đức ái trong những
lời tuyên bố mà tôi được mời gọi thi
hành.
Phần này rất quan trọng
trong đời sống tu sĩ, có thể đối với
tôi là một hành vi không có tầm quan trọng, buồn
cười, nguyên cớ của sự nổii dậy nội
tâm, một nhục nhă ê chề, nếu như tôi chỉ
đón nhận với những từ thế của con
người. Nó có thể có những kết quả quí giá nhất,
nếu như tôi dự phần vào đó với đức
tin, đức ái và đức khiêm nhường.
Đức tin có thể
hiệp nhất tôi với những nhục nhă của Chúa
khi Người đứng trước ṭa xét xử ở
Giêrusalem. Đức ái có thể khiến tôi có những ư kiến
kinh khiếp, nhưng đức ái cũng tạo cho tôi có
thể thể hiện đủ những tố chất
siêu nhiên để chấp nhận những ư tưởng
khủng khiếp đó. Cuối cùng, đức khiêm nhường
khích lệ tôi chấp nhận những ư kiến được
đem đến cho tôi, ví dụ như ư kiến tố cáo
những nhược điểm của tôi với mục
đích giúp đỡ và sửa chữa tôi.
Chương về sự
thú nhận tội lỗi đă là ǵ đối với tôi ?
Với những thái độ nào, tôi đă thú nhận tội
lỗi của ḿnh ? Tôi có đón nhận những ư khuyên và
những việc ăn năn sám hối mà người khác
đă chỉ cho tôi ?
CHƯƠNG
XXIII : ĐỜI SỐNG NỘI TÂM
Sách hướng dẫn
(chỉ dẫn) chỉ là một lời khích lệ để
sống sự sống của Chúa Ki Tô. Sự sống này
được ban tặng cho ta từ Trời Cao nhưng với
điều kiện và với chừng mực từ sự
từ bỏ của ta ; ḷng sùng đạo không nên uể oải,
với lí do là phải nhẹ nhàng, mềm mại ; con
đường của ḷng sùng đạo thật là con
đường Calvaire.
Những điều kiện
không thể tránh : Đời sống tu sĩ nói riêng chỉ
là đời sống toàn thiên hơn của Thiên Chúa trong
linh hồn ta, và sự sống đó chỉ có thể
được thiết lập nhờ cái chết hoàn toàn
nơi chúng ta. Để chết đi chính ḿnh, cần thực
hiện :
1. Chết đi những giác quan, chinh phục nó cho
đến khi nó hoàn toàn bị khuất phục và đến
khi nó không c̣n chế ngự nào nữa trên chúng ta.
2. Chết đi những ham muốn xác thịt. Đến
bao giờ c̣n ham muốn ǵ khác ngoài Chúa hay cái ǵ không liên quan
đến vinh quang Thiên Chúa, tôi sẽ chưa chết đi
những dục vọng.
3. Chết đi những t́nh cảm lưu luyến
đặc biệt. Lời Chúa ăn sâu vào trong tôi hơn
lưỡi gươm hai lưỡi. Lời Chúa thấm
sâu vào tôi đến tận đáy ḷng. Thiên Chúa là Đấng
ghen tị, Người muốn là Thầy duy nhất của
hồn tôi.
4. Chết đi những tạo vật. Từ khi tôi
là người tu sĩ, thế gian đă chết đối
với tôi và tôi cũng chết đi trong thế gian. Khi nào
c̣n có cái tôi chưa từ bỏ, tôi sẽ c̣n sống sự
sống loài người, tôi sẽ chưa thể đạt
đến sự toàn thiện của sự sống nội
tâm.
5. Chết đi chính ḿnh tôi. Đó là việc khó
khăn nhất, và thế nhưng tôi phải làm cho bằng
được. Rất có thể sự chết này không thực
hiện được mà không phải chịu đ̣n
đau. Trong sự chết này tôi phải chịu đựng
như trong giờ hấp hối của linh hồn, giờ
mà linh hồn được tẩy rửa. Phải đi
qua nhọc nhằn, buồn chán, khó khăn, cám dỗ đủ
thứ. Đó là những điều kiện của đời
sống nội tâm.
Tra xét lương tâm : Rốt cuộc, tôi có quyết
định đi qua bằng những con đường ấy
không ? Tôi có muốn từ bỏ những giác quan và làm lay
chuyển tính tàn bạo của nó không ? Tôi có muốn chỉ
khát khao những sự trên trời, những t́nh
thương quyến luyến dành cho Chúa mà thôi ? Những
ham muốn xác thịt của tôi có bị chế ngự
không ? Những t́nh thương quyến luyến của tôi
có bị khuất phục không ? Trọn tấm ḷng tôi có
được thiếu hủy bởi t́nh yêu Thiên Chúa ? Những
tạo vật là ǵ đối với tôi ? Nó có c̣n làm tôi bận
tâm nữa không ? Tôi có cho đi tất cả những ǵ xung
quanh tôi và ở trong tôi ? Tôi có chấp nhận những
điều kiện của sư từ bỏ tuyệt
đối này , của sự trần truồng của linh
hồn mà tôi phải chịu đựng, nếu tôi muốn
được mặc lấy Đức Giê Su Ki Tô ? Tôi
đă chết để cho sự sống của tôi
được ẩn náu với Chúa Giê Su Ki Tô trong Thiên Chúa
?
Nhưng tôi không thể
yêu mến Chúa Giê Su Ki Tô mà không muốn mọi tạo vật
yêu mến Người, và đó là li do về đặc
tính tông đồ trong cuộc sống tôi.
Lời cầu nguyện kết thúc : Ôi lạy
Chúa, đây là mục đích cuộc đời con : từ
bỏ mọi sự, tránh xa mọi sự, để
được mặc lấy Con của Chúa và măi măi hiệp
nhất với Chúa. Xin ban cho con ánh sáng để nh́n thấy
những ǵ con đang thiếu. Xin ban cho con sức mạnh
để đạt được những nhân đức
không có. Xin ban cho con hồng ân theo đuổi ơn gọi
của con, ngox hầu khi làm con thật sự của Giáo Hội
và của Trinh Nữ rất Thánh, con không quá bất xứng
được bắt chước những nhân đức
của Chúa Giê Su, Thầy con.
Ôi lạy Chúa, nguyện sự
hiệp nhất của con với Chúa được bắt
đầu trên trần gian này, được thiêu hủy
muôn đời trong đại dương của ḷng nhân từ,
t́nh yêu, và những sự toàn thiện vô tận! Nguyện
được như vậy!
II. NHỮNG GIẢNG DẠY TẠI KỲ BẾ
MẠC TÔNG TU NGHỊ
Những kỳ tổng
tu nghị từ năm 1868 đến 1873 và bốn lá
thư gửi Cha giáo tập (1868-1869)
Bài dẫn nhập thứ nhất
Bài giảng ngày 17 tháng 9 năm 1868, lúc kết thúc
kỳ họp chung, và những "lá thư gửi Cha Giáo
Tập" viết vào những năm 1868 và 1869 gắn
liền rất chặt chẽ với phần Linh Thao
vừa mới được chính thức công nhận.
Giống như phần chỉ dẫn linh thao, phần
giảng dạy được phát triển trong bộ
khung của ba mặt trong t́nh yêu Thiên Chúa, t́nh yêu Thánh Nữ
Đồng Trinh, Mẹ Người, và t́nh yêu Giáo Hội,
Hiền Thê của Người. Nhưng trước đó,
tầm quan trọng của khẩu hiệu ADVENIAT REGNUM TUUM
đă được nhắc lại rất rơ cho chúng ta.
Ngay từ ban đầu lúc lập Ḍng mà câu nguyện xin
thứ hai trong kinh lạy Cha đă được thông qua
như là bản năng cho khẩu hiệu của Tu Viện
mới. Ba khía cạnh trong t́nh yêu sẽ chỉ
được diễn tả lên sau này, trong giai
đoạn cha d’Alzon gặp phải những thử thách
về sức khỏe từ năm 1854 đến 1858,
như là một sự đào sâu về mặt thiêng liêng về khẩu hiệu A.R.T.: Tinh thần
phục vụ hào hiệp v́ Nước Trời đ̣i
hỏi một t́nh yêu trọn vẹn đối với
Đức Ki Tô. Cha d'ALZON muốn đưa chủ
đề NƯỚC TRỜI vào trong phần Chỉ
dẫn linh thao, nhưng cha cho rằng tốt hơn khi bàn
thảo chủ đề này cách riêng, kỹ lưỡng
hơn vào một dịp thuận tiện. Đây là việc
Ngài đă làm, nhằm đáp ứng mong mỏi của
Kỳ Họp năm 1868, một cách thân mật hơn, nhưng
luôn luôn sâu sắc, trong những "bức thư gửi
Cha Giáo Tập".
BÀI
GIẢNG DẠY
được đọc vào lúc kết thúc Kỳ Tổng
Tu Nghị của các Cha (Thầy) Augustinô Mẹ Về
Trời ngày 17 tháng 9 năm 1868
Sollociti servara unitatem spiritus in vinculo pacis (ép IV, 3).
Bài giảng dạy này, vả
lại đă được trích vào rất khéo trong in
ấn của cha Picard, en 1884, là bài b́nh luận
được đặc biệt đánh giá tốt về
phần thứ nhất trong Phần chỉ dẫn linh thao.
Bắt đầu từ
khẩu hiệu này, cha Picard nhấn mạnh về
những đặc điểm nổi bật nhất
của t́nh yêu chúng ta đối với Thiên Chúa, đối
với Thánh Nữ Đồng Trinh, Mẹ Người, và
đối với Giáo Hội, Hiền Thê của
Người. Và luôn luôn từ khẩu hiệu này, cha Picard
nêu ra những chú trọng chính yếu trong hoạt
động tông đồ kêu gọi ta thực hiện,
trong những thử thách hiện tại của Giáo
Hội, trong sự hài ḥa hoàn hảo với ba khía cạnh
trong t́nh yêu.
Cảm tạ vi tính
nghiêm trang của Tu Nghị: Các cha, các con, cha rất vui
muợn những lời này của thành Phao lồ, bởi
v́ cha thấy đó là đại ư về những công
việc và những lần hội họp rất quan
trọng, quí giá mà ta kết thúc hôm nay. Một tinh thần
hiệp nhất mạnh mẽ hơn trong những nguyên
tắc được đề ra rơ ràng hơn. Mối dây
của t́nh bác ái đă trở nên mạnh mẽ, sâu
lắng, triển nở hơn bao giờ hết, nhờ những
trao đổi trong t́nh thân hữu này, ta đă cố gắng
tạo ra sự trong sáng như tinh thể cho ḷng trí chúng ta,
bởi v́ chúng ta không có ǵ phải che dấu, không có ǵ
để giữ kín: đó sẽ và măi măi là lí do việc ta
ơn của chúng ta đối với Chúa Cha của
mỗi ánh sáng, nơi Người tuôn chảy mọi ơn
toàn thiện, nơi Người ta đă đón nhận
biết bao đặc ân trong suốt những ngày được
chúc phúc này.
Đề nghị của Cha d'ALZON: Lúc chia tay
nhau, cha muốn tín thác cho anh em, nếu cha có thể nói
như vậy, di chúc về suy nghĩ chung và về
những cảm nhận chung, nhắc nhở anh em một
lần nữa, có thể là lần cuối cùng, công việc
của Ḍng Mẹ Về Trời dựa vào cơ sở nào,
nền tảng nào, và bằng phương tiện nào chúng
ta muốn phát triển công việc của ta hơn bao
giờ hết .
Có lẽ cha không dạy
ǵ mới mẽ cho các con. Cha sẽ không nói ǵ với các con
v́ các con đă suy nghĩ tốt hơn nhiều khả
năng diễn đạt của cha. Tuy nhiên, những
lời của cha có thể tạo ra tính nghiêm trang hùng
vĩ hơn cho buổi lễ tổng kết này. Những
lời ấy cũng có thể được dùng cho
lần bế mạc kỳ họp lần sau bởi chúng
ta cảm thấy buồn đến giờ bế mạc
chia tay, nhưng cũng có thể là một sự nhấn
mạnh về sự tin tưởng trong những mối
dây siết chặt chúng ta, v́ không ǵ hơn sự xa cách
chỉ dạy cho anh em
biết có khả năng yêu thương nhau.
Công việc của Ḍng
Mẹ Về Trời dựa trên nền tảng nào
L'A.R.T và ba khía cạnh trong t́nh yêu là nền tảng cho
công việc : Đời sống thiêng liêng, bản chất
người tu sĩ, lí do hiện hữu với tư cách
là Tu sĩ Augustinô Ḍng Mẹ Về Trời của ta
nằm trong khẩu hiệu : ADVENIAT REGNUM TUUM. Triều
đại Nước Thiên Chúa trong linh hồn ta, bằng
những thực hành các nhân đức ki tô giáo và các lời
khuyên của Tin mừng, tương xứng với ơn gọi
của ta ; Triều đại Nước Thiên Chúa trên
trần gian bằng sự tranh đấu chống lại
Satan và cuộc phục chinh những linh hồn
được Chúa Ki Tô cứu chuộc và thế nhưng
vẫn đang ch́m ngập trong bóng tối của lỗi
lầm và tội lỗi. C̣n ǵ đơn giản hơn ! C̣n
ǵ tầm thường hơn h́nh dáng t́nh yêu này của Thiên
Chúa! nếu cha có thể nói như vậy. Nếu các con thêm
t́nh yêu Chúa Giê Su Ki Tô, t́nh yêu Thánh Nữ Đồng Trinh,
Mẹ Người, và t́nh yêu Giáo Hội, Hiền Thê của
Người vào trong t́nh yêu chính thế ấy, các con sẽ
biết dưới thành ngữ vắn gọn nhất tinh
thần của Ḍng Mẹ Về Trời.
Không ǵ đơn giản và thành thật hơn
người công giáo: Những có ǵ đặc biệt trong
đó? Mọi người ki tô hữu thực sự có
thể chấp nhận không? Những tư tưởng
nào, dưới những tư tưởng căn bản
này có thể phân biệt chúng ta với những gia đ́nh
tu sĩ khác không? Không phải các tu sĩ và những
người ki tô hữu ngày nào cũng nhắc lại Kinh Lạy
Cha tiếng kêu mà chúng ta muốn biến thành tiếng kêu
mang tính khẩu hiệu: ADVENIAT REGNUM TUUM? Những
người ki tô hữu và các tu sĩ không phải tất
cả đều phải yêu mến Chúa Giê Su, Thánh Nữ
Đồng Trinh, Giáo Hội hay sao? Một lần nữa,
tại sao muốn biến di sản chung của tất
cả mọi người thành đặc điểm riêng
của Hội Ḍng?
Trước hết
cần nhận ra đặc tính đầu tiên của Tu Viện
chúng ta: Tính đơn giản về những phương
châm.
Người ta cho
rằng cái hiếm nhất trên trần gian, đó là quan
điểm chung. Khẳng định rằng trong thế
giới công giáo cái hiếm hoi nhất là quan điểm
chung công giáo có phải là một nghịch lí không? Chính v́
điều đó mà ta t́m cách lấy nó làm của ḿnh như
một nét độc đáo. Chúng ta đơn giản là
người công giáo, nhưng là những người công
giáo hết khả năng của ḿnh. Chúng ta là người
công giáo cùng một khối, và bởi v́ với thời gian
trôi qua, nhiều người chỉ là bạn-công giáo,
nhiều người công giáo trong thời đại
họ, những người công giáo bằng việc ḥa
giải, những công giáo tự tin là công giáo, c̣n chúng ta,
chúng ta là những người công giáo thành thật,
trước hết mọi sự, toàn vẹn, chúng ta
bước qua những con mắt của đám đông
để đến với những người ở
cách biệt, nếu không phải là những người
đặc biệt. Đó là đặc tính đầu tiên
của tu sĩ Augustino Ḍng Mẹ Về Trời.
a) T́nh yêu của ta đối với Chúa.
Đối diện với sự cứng tin thời
hiện đại, nhận ra những quyền của Chua…
Sẽ c̣n được
tỏ hiện rơ hơn nữa, nếu ta nói về t́nh yêu
của ta đối với Chúa Giê Su Ki Tô. Bị tấn
công tứ phía, Thầy Chí Thánh là sự điên rồ cực
độ trong sự khéo léo của con người hiện
đại. Ngài là x́-căng-đan của Do Thái Giáo chiếu
theo lề luật, theo thuyết duy cảm tàn nhẫn hay
tinh vi.
Vậy th́ ngày nay ai
muốn Đức Giê Su Ki Tô? C̣n sót một người nào
không lên án Người? Chính viên đá ấy, trưởng tử
các thánh tông đồ nói như vậy với dân thành Giêrusalem,
năm mươi ngày sau cái chết của Đấng Cứu
Thế, chính tảng đá này, ôi những thơ xây bất
cẩn, mà các người đă vứt bỏ, nhưng nó đă
được thiết lập như tảng đá góc
tường : (Cv 4, 2). Vâng, luôn luôn chính viên đá khiếp
sợ đó, chính Đấng Cứu Độ đă nói về
viên đá ấy : " Kẻ nào vấp phải viên đá
ấy sẽ bị ngă, và kẻ nào bị viên đá ấy
rơi xuống sẽ bị tan nát ". (Mt 21, 44). Vậy,
chính trên tảng đá này, theo gương Thiên Chúa, chúng ta
muốn xây dựng, bởi v́ tảng đá ấy là
nền tảng đức tin chúng ta. Đối với ta tất
cả được đổi mới lại trong
Đức Giê Su Ki Tô. Đó là lời rao giảng duy
nhất của ta, bởi v́ đó là nguồn hiểu
biết duy nhất của ta. Nhờ Người và chỉ
nhờ Người mà thôi, ta đến với Chúa Cha, và
trong Người những kho tàng ơn khôn ngoan và hiểu
biết về Thiên Chúa được ẩn chứa.
Nơi Người sự toàn thiện dồi dào ngự
trị. Ta đă thấy nhiều hồng ân và sự
thật, sự thật để xua đuổi những
bóng tối, những hồng ân để ta vượt qua
sự dữ, sự ác. Chúng ta không cần nghe một
thầy nào khác nữa. Người có lời ban sự
sống đời đời: Domine, ad quên ibimus?
Càng thẳng thắn và hăng say nồng nhiệt v́
Chúa th́ càng bị lăng quên và bị bác bỏ : Đúng
vậy, ta đến với Chúa Giê Su Ki Tô, ta khẳng
định về Chúa Giê Su Ki Tô trước mắt
những kẻ phủ nhận Người, hay thù ghét
Người, hay từ bỏ Người; sự phụ
nhận của kẻ cứng tin, sự hận thù của
kẻ ô uế, sự bỏ rơi của kẻ lạnh
nhạt thờ ơ hay của kẻ phản bội
đối với chúng ta là biết bao nguyên do để ta
quây quần bên Đức Giê Su Ki Tô bằng một t́nh yêu
nồng nhiệt hơn, năng động hơn, mềm
mại hơn, và tỏ hiện cách long trọng hơn.
Trong Người ta yêu mến Thiên Chúa, và dù không xứng
đáng, ta tuyên xưng thiên tính của Người ; ta yêu
con người, có nghĩa là con người hoàn thiện
nhất giữa mọi mẫu mực và nhẹ nhàng
nhất giữa các bạn hữu. Ta yêu con Người-Chúa
; tức là Đấng ban b́nh an từ trời và
đất, tiến sĩ thực thụ về luật, finis
legis Christus, Đấng dẫn đưa vào thế
giới siêu nhiên, khi rửa ta trong máu của Người,
Người mang lấy ta bằng sức mạnh và ḷng nhân
từ của Người trong những phạm vi bậc
cao mà con người ngày nay không ước muốn nữa.
Bởi v́ những phạm vi đó là đế chế
thực sự của Đấng tối cao mà người
ta không muốn, hơn nữa thậm chí v́ những
hồng ân của Người. Thật vậy, ta yêu
mến Người bởi v́ Người mang đến
cho ta ánh sáng thật và ích lợi thật. Ta yêu mến
Người bằng tính yêu của những thời
đại ban đầu, bởi v́ thù địch ta
gặp ngày nay cũng như ngày xưa, bằng t́nh yêu làm
cho Tông Đồ mạnh mẽ nói : " Nếu kẻ nào không
yêu mến Chúa Giê Su Ki Tô, đó là kẻ bị kết án : Si
quis non amat Dominum Jesum Christum, sít anathema ! ". Có thể
điều đó không có tính rộng lượng, nhưng
anh em biết rằng ai yêu nhiều th́ dung thứ ít, và nói
cách riêng khác, bản tính thật sự của t́nh yêu ở
trong sự rắn rỏi, mạnh mẽ của sự
bất dung thứ cao thượng và thẳng thắn.
Những lúc không c̣n năng lực nữa để yêu
thương hay để hận thù, con người không
nhận ra rằng sự rộng lượng thứ tha
của họ là một dạng thức mới của
sự yếu đuối nơi họ. Chúng ta từ chỗ
là những người bất dung thứ, bởi v́ chúng ta
lấy sức mạnh trong t́nh yêu ta dành cho Đức Giê Su
Ki Tô. Đó là một đặc tính phân biệt rất rành
mạch. Đặc tính ấy phân biệt ta với
nhiều người khác.
b) T́nh yêu ta dành cho Thánh Nữ Đồng Trinh,
gương mẫu gần gũi nhất : T́nh yêu dành
cho người Con dẫn ta đến với t́nh yêu
người Mẹ. T́nh cảm tŕu mến của ta
đối với Thánh Nữ Đồng Trinh không có giới
hạn, cũng như t́nh thương của Mẹ dành cho
ta không có giới hạn. Đức Giê Su Ki Tô là
gương mẫu hoàn thiện nhất của tất
cả mọi người. Nhưng Đức Giê Su Ki Tô là
Chúa. Mẹ Maria chỉ là tạo vật, song Mẹ cũng
là một gương mẫu ít làm nản ḷng tính yếu
đuối của ta v́ tính toàn thiện kém tuyệt
đối hơn, nếu tôi dám nói như vậy. Mẹ là
gương mẫu cho các con nuôi của Mẹ. Các con nuôi
của Mẹ muốn theo Mẹ vượt qua những
mức độ thánh thiện và mọi nhân đức mà
sự thánh thiện chứa đựng. Mẹ là
gương mẫu được nêu ra cho mọi người
ki to hữu, nhất là cho các linh hồn ưu tú mà nhu
cầu có một sự sống hoàn thiện hơn, trong
sạch hơn, được hy sinh nhiều hơn làm cho
đau đớn, và ta thường được phó thác
dẫn dắt.
Trong những thử thách về đời sống
siêu nhiên : Cuộc đời Mẹ Maria ở giữa vẻ
đẹp do ân huệ đặc biệt v́ việc Mẹ
sinh ra không tỳ vết và sự biến đổi
hầu như là thiên tính bởi lên việc Mẹ lên
Trời đầy khải hoàn. Như vậy chứng
tỏ rằng ngay cả tạo vật cũng có thể
được nâng lên nhờ nhịn nhục, hy sinh,
đau khổ, từ bỏ, tra vấn trong ḷng cao
độ nhất. Cuộc sống dạy ta những nghiêm
khắc mà Thiên Chúa sử dụng đối với các linh
hồn ưu tú. Đó là tính toàn thiện, tính tế
nhị, những thử thách theo trật tự siêu nhiên
được đặt ra cho ta trước hết. Đó
c̣n là giảng dạy mà ta được giao để
mạc khải cho những ai muốn thấy
được tóm lược trong một linh hồn
tất cả những sự vừa ư của Thiên Chúa
đối với tạo vật mà Người đă yêu
thương nhất.
Trong những đau khổ của chức tông
đồ: Sự vô tội không thể so sánh của Mẹ
Maria và những đau khổ của Mẹ cũng không
thể so sánh đem lại cho ta, trong mâu thuận theo
vẻ bên ngoài, mầu nhiệm mà con người không
thể hiểu thấu, hạnh phúc minh chứng t́nh yêu
bằng đau khổ và bằng sức mạnh hy sinh khi
t́nh yêu là căn nguyên. Hơn nữa, Mẹ Maria, Mẹ Chúa
Giê Su, không phải Mẹ có thể là gương mẫu
của ta trong mầu nhiệm nhập thế? Đúng
vậy, về mặt này, Mẹ sẽ là gương
mẫu cho chúng ta nhờ tính nhiệt tâm mà Mẹ linh
hứng cho ta và khát mong sinh ra những linh hồn cho Chúa Giê
Su Ki Tô và sinh Chúa Giê Su Ki Tô trong các linh hồn : Filioli quos
iterum parturio, donec Christus formetur in vobis. Đó là tiếng
kêu do những mối lo sợ trong công cuộc rao giảng
tông đồ. Tiếng kêu cứu này đối với
chúng ta cũng như đối với Mẹ Maria, khởi
đầu tại hang đá và chỉ kết thúc ở cây
thập giá. Thế nhưng, ḷng sùng kính hiểu như
vậy có thể là khá xa cách ḷng sùng kính uể oải
với lí do muốn nhẹ nhàng, không có năng lực,
số x́-căng-đan. Những nhượng bộ, những
phản bội của báo chí không c̣n biết chỉ ra cây
Thập giá đầy hoa và thuốc thơm và đồi
Calvaire bị ch́m trong khí uất lờ mờ.
c) T́nh yêu đối với Giáo Hội. Mầu
nhiệm Giáo Hội : Tôi có thể nói ǵ về t́nh yêu
đối với Giáo Hội ? Giáo Hội là cái ǵ đó
rất đáng ngưỡng mộ mà mọi thành ngữ
dường như không đủ dưới bút danh
của các nhà văn thiêng liêng để nói lên những ḱ
diệu của Giáo Hội, những giàu có, sức mạnh,
vẻ đẹp, vinh quang của Giáo Hội. Hăy lắng
nghe Giáo Hội nói với anh em rằng Giáo Hội là nhà
tạm của Thiên Chúa với con người, là cột
trụ và là nền tảng không thể lay chuyển của
sự thật đời đời. Rằng Giáo Hội là
thân thể huyền nhiệm và là nét toàn thiện cuối
cùng của Chúa Giê Su Ki Tô. Rằng Giáo Hội c̣n là Hiền
Thê không tỳ vết và hoàn toàn đẹp đẽ
của Người. Đối với Giáo Hội, Con Thiên
Chúa đă đến trần gian và đă hiệp nhất
với nhân loại. Người muốn dùng Giáo Hội
để mở rộng cái lều của Người.
Giáo Hội là nơi Người ưa thích hơn hết,
là đội binh nhờ đó mà Người hủy
diệt kẻ thù. Tất cả mọi danh hiệu ấy
của Giáo Hội, danh hiệu đánh động ta
nhất là danh hiệu Hiền Thê. Hiền Thê là lí do của
những ưa thích nhất đầy tính ghen tị
của người Phu Thê là Thiên Chúa. Ta yêu mến Giáo
Hội bởi v́ Đức Giê Su Ki Tô đă yêu thương
Giáo Hội. T́nh yêu của ta mang ba đặc tính: siêu nhiên,
táo bạo, vô vị lợi.
Đặc tính t́nh yêu này: siêu nhiên đối diện
với chủ nghĩa tự nhiên thời hiện
đại: T́nh yêu là siêu nhiên. Chính trật tự siêu nhiên này làm
ta vui thích tràn đầy ḷng cảm phục đối
với Giáo Hội. Mọi sự được thực
hiện cho những người được chọn
với mục đích chỉ ở trong Giáo Hội. Nếu
có khi nào sự tranh đấu giữa sự lành và sự
dữ (giữa thiện và ác), giữa thật và giả,
giữa Giêrusalem và Babylon, giữa thiên đàng và địa
ngục, giữa Giáo Hội và Cách mạng, đă
được tỏ hiện, cuộc tranh đấu
đó chắc chắn diễn ra chính hôm nay. Hăy nghe con
người lập lại lời của Satan: "Tôi
sẽ không vâng nghe, tôi sẽ lên trời và sẽ trở nên
như Đấng Tối Cao: Non serviam, in coelum conscendam,
et similis ero Altissimo ". Con người đi
đến phủ nhận Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa gây
chướng ngại cho con người khi đạt vào
con người cái ách của lương tâm, của bổn
phận, của nhân đức. Cái ách ấy, để có
thể bẻ găy nó, con người không có cách nào khác ngoài
việc nói lên rằng: Thiên Chúa không tồn tại. C̣n ta,
đối diện với những vấn đề
tương tự như vậy, như xếp
trưởng của đoàn binh trên trời, ta phải không
ngừng lập lại lời này: "Kẻ nào có thể
như Chúa? Quis ut Deus?" Satan, để lật
đổ Giáo Hội, cố gắng lật đổ
mọi trật tự xă hội, và năm mươi
hoặc sáu mươi ngai ṭa bị suy sụp từ
một thế kỉ này do Satan đều là kinh nghiệm
từ những cố gắng cuối cùng để nó
lật đổ ngai Ṭa của Đấng đại
diện Đức Giê Su Ki Tô trên trần gian, trong sự
bất lực của nó khi muốn lật đổ chính
ngai ṭa của Đức Giê Su Ki Tô trên trời. Nolumus hunc
regnare super nos! Bọn ở địa ngục la lên, và
theo chúng là dân cứng tin, dân ô uế, dân tứ tung
đủ mọi thuyết giáo, tất cả đều là
nô lệ của người đàn bà đị
điếm mà thánh tông đồ nh́n thấy ngồi trên con
vật đầy những phạm thượng. Bà ta
mặc đồ phẩm tía, tay cầm chén chứa
đầy điều ghê tởm, và đầy vật hoen
úa bởi tội thông dâm, và trên trán của bà
được ghi ḍng chữ này : Bí nhiệm làm sao !
Anh em có thể t́m
thấy một bức tranh mang tính ngôn sứ nào khác hơn,
mang tính chính xác hơn về Cuộc cải cách? Đó là
kẻ thù rùng rợn của Thiên Chúa và của Giáo Hội.
T́nh yêu ta dành cho Giáo Hội sẽ có được
chừng mực nhờ ḷng nhiệt thành để lật
độ Cách mạng (cuộc cải cách?). Vậy
nhưng, ta yêu mến Giáo Hội bởi v́ Giáo Hội
chứa đựng mọi kho tàng siêu nhiên đă
được Phu Thê Trên trời (Thiên Chúa) tín thác và chính
Cách mạng ghét bỏ. Trong Giáo Hội, ta t́m thấy
lời rao giảng về sự thật, luật toàn
thiện, mầm mống của mọi nhân đức.
Trong Giáo Hội ta t́m thấy Vương Quốc thật
sự của Thiên Chúa ở hạ thế, ta cũng t́m
thấy sự qui tụ đông đảo của các thánh
và các môn đệ Chúa Giê Su Ki Tô. Trong Giáo Hội, ta chiêm
ngắm tính vững bền ở giữa các xă hội
đang bị suy tàn. Nhờ Giáo Hội, ta có niềm hy
vọng thiêng liêng đến một hạnh phúc mà con
người sống biệt lập sẽ không thể
với tới được. Nhờ Giáo Hội, ta
cảm nhận được sức mạnh để
vươn lên từ cơi lưu đày trên trần gian
để về quê trời, tổ quốc vĩnh cửu
và vinh quang của ta. Những tất cả những
điều đó đều vượt qua bản tính
tự nhiên. Nó thuộc về trật tự siêu nhiên mà
chỉ Chúa Giê Su Ki Tô qua Giáo Hội mới có thể dẫn
đưa ta vào. Và v́ điều đó mà t́nh yêu ta dành cho
Giáo Hội trước hết là một t́nh yêu siêu nhiên.
Sự táo bạo, mạnh dạn trong cuộc hội
ngộ với tính thận trọng quá nhân trần : Hơn
nữa, t́nh yêu này là táo bạo. Khi những hiểm nguy thôi
thúc, khi những vực thẳm được đào sâu,
quá sâu dưới chân ta, khi những hy vọng từ
địa ngục tỏ hiện bằng những
tiếng than tai họa như những người ta nghe
mỗi ngày bùng phát niềm vui hoang dại, chạy theo
những lí thuyết thận trọng nơi xác thịt, có
nghĩa là những quyền lợi của con người,
và những phối hợp chính trị. Hơn cả sự
hèn nhát, đó là sự phản bội, là sư phạm
thượng. Người ta tố cáo ta quá làm hại thanh
danh của ḿnh, và đó chính là vinh quang của ta.
Ôi những kẻ thận trọng, tôi e rằng các
ngươi sẽ nhận thấy Giê Su Ki Tô rất
liều lĩnh khi Người làm liên lụy đến
công việc của Giáo Hội khi chết trên cây thập
giá. Các đấng tử đạo cũng là những
người điên dại. Các tông đồ là những
người ngu ngơ khi họ can đảm làm chứng
cho Sự Phục Sinh của Đấng Cứu Độ
dưới những cơn bách hại của dân do thái và
dân ngoại. Đối với ta, trong sự điện rồ,
ta ghen tị về tính táo bạo của đấng tử
v́ đạo, về tính liều lĩnh của các Tông
Đồ, và chính với tính táo bạo này mà ta mang ư
định yêu mến Giáo Hội, phục vụ Giáo
Hội hết sức ḿnh, luôn nhớ rằng thế gian
đă được cứu nhờ sự điên rồ
rao giảng và sự táo bạo có vẻ khinh suất
của những người rao giảng.
Đó là t́nh yêu của người đứng
đầu các tông đồ (thánh Phêrô) và của nhà rao
giảng cho mọi nước (thánh Phao lồ). Thật vô
ích cho rằng t́nh yêu mạnh mẽ, táo bạo này rất
hiếm trong thời đại chúng ta. Nó c̣n khắc ghi
một dấu ấn đặc biệt. Nó là một lí do
mới đối với chúng ta để sống theo
như ta mong muốn.
Cho không như mối t́nh yêu đích thực : Cuối cùng,
t́nh yêu của chúng ta là cho không, tôi không dám nói là hào hiệp,
như mọi sự thiết lập vĩ đại các
ḍng tu trong thuở ban đầu. Thật buồn khi
thấy con người nhận hết về ḿnh ít
việc lành mà con người có khả năng thực
hiện, khi con người muốn thực hiện một
ḿnh và cản trở những người khác thực
hiện việc ấy, khi chính con người không thể
làm mọi việc. Ôi ! thưa anh em, mong đó không phải
là sự cám dỗ của ta. Anh em hăy yêu thương Giáo
Hội để vui mừng về những việc lành mà
các con cái của Giáo Hội hoàn thành và v́ sự chiến
thắng của Giáo Hội, đừng loại bỏ
một h́nh thức thánh thiện nào, dùng loại bỏ h́nh
thức bác ái nào. Ta không thể gánh vác hết tất cả
mọi việc cho ḿnh. Hăy yêu thương, hăy mến
phục, hăy khích lệ những người khác khả
năng mà chính chúng ta không thể có. Mong lợi ích chung là
bận tâm duy nhất của chúng ta ; như Môi Sen đă nói
: utinam et omnes prophetent ! Cầu xin tất cả
mọi dân đều có thể rao giảng tiên tri ! Sự
khải hoàn của Giáo Hội sẽ trở nên nhiều
hơn và t́nh yêu ta dành cho Giáo Hội sẽ được
ủi an nhiều hơn nếu như chiến thắng
khải hoàn của Giáo Hội là khát khao vô vị lợi
của t́nh yêu ta, khi bỏ qua những lí do tỳ tiện
và cá nhân. Đó là sự cho không trong t́nh yêu mà cha không
biết làm thế nào đề nghị anh em cho phải
lẽ. Nếu anh em cho điều đó ít có tính chung, cha sẽ
nhắc lại một lần nữa rằng khi có
được t́nh yêu vô vị lợi ấy trong tầm
rộng lớn và tính quảng đại của nó, ta
sẽ phân biệt rơ cách dễ dàng hơn để
nhận biết trên con đường ta bước
đi.
Anh em hăy yêu mến Giáo
Hội cách siêu nhiên, và anh em sẽ thấy biết bao chúc
lành ngay ở trần thế này, biết bao phần
thưởng dành cho anh em ở trên quê trời Thiên Chúa
sẽ dành cho bởi những công việc của ta, và
nếu như người đời không thấy anh em khéo
léo như một số người, ta không phải hổ
thẹn về lí do ấy.
II
Bằng những phương tiện nào, những
Việc làm của Ḍng Mẹ Về Trời phát triển
hơn bao giờ hết.
Anh em cho phép cha chỉ ra cho anh em cách ngắn gọn
những kết luận thực tiễn để ta rút ra
những ư nghĩ căn bản mà cha vừa mới nói
với anh em ?
Khẩu hiệu của ta thánh hiến ta bằng
chức vụ tông đồ đầy ḷng nhiệt thành
cũng như đầy tính vô vị lợi : Từ câu
khẩu hiệu ADVENIAT REGNUM TUUM, hiển nhiên chúng ta
rằng Tu Viện của ta là một Tu Viện hoạt
động tông đồ. Ḷng nhiệt thành đối
với quyền lợi của Thiên Chúa trên trần gian và
ơn cứu độ của các linh hồn. Đó chính là
thể thức thiết yếu của ḷng bác ái chúng ta. Quên
đi chính ḿnh, sự tử bỏ được áp
đặt lên ta trước hết. Ta không chú trọng
đến những ǵ lên quan đến ta, miễn là
Đức Giê Su Ki Tô được rao giảng : dummodo
Christus annuntiertur. Ta không t́m cách nắm bắt mọi
nguyên nhân từ những môi bất ḥa nội bộ của
con cái Thiên Chúa. V́ quyền lợi, nhân phẩm ki tô giáo,
họ làm tan biến những cố gắng đấu
tranh chống lại kẻ thù chung. Thay vào đó, họ chú
trọng đến những đấu tranh giữa anh em.
Khi những người ki tô hưu và những người
điều hành họ không c̣n muốn đến ta trong
nước họ nữa, ta sẽ đi đến
một nước khác. Đó là giới răn của Chúa,
Đấng sẽ luôn để cho ta tự do cần
thiết với tư cách là những công nhân làm việc tông
đồ.
a) T́nh yêu đối với Thiên Chúa đ̣i hỏi ta
học tập những sự toàn thiện của
Người : Ignoti nulla cupido. Đức Giê Su Ki Tô,
để được yêu thương, muốn
được biết đến. Đặc biệt ta
học về Người trong những sách được
linh hứng. Đức Giê Su Ki Tô sẽ là kho tàng
được đào bới dưới những bức
màn của những thánh thư. Ta sẽ cố gắng
nhận ra Người là Thiên Chúa, là Người và là
Đấng phân phát mọi ơn siêu nhiên để ḥa
giải ta với Chúa Cha. Thánh Augustinô, giáo trưởng
của ta, sẽ là người dẫn đắt chính
của ta. Chuyên luận về Ba Ngôi Vị nơi Thiên Chúa
và những sách đáng để tâm đến của Ngài
đă làm cho Giáo Hội hoàn cầu gọi ngài là tiến
sĩ về ân sủng. Đó là những cột mốc
trong học tập của ta về những vấn
đề trọng yếu này. Ta cũng thấy trong lá
thư gửi cho Volusien, ngài bàn về việc Nhập
Thể, và, những chuyên luận của ngài như :
chống lại các triết giáo theo trường phái Platon
(académicien ?) để dẫn nhập tới thứ
triết học đích thật, về tự do ư chí
và lá thư gửi Dioscore.
Truyền đạt nguồn thông hiểu, những
chuyên luận do bằng việc thuyết giảng, giáo
dục... Chúa Giê Su Ki Tô, Đấng được ta
biết đến, là nguồn thông hiểu mà ta t́m cách
truyền đạt cách ưu tiên nhất, trước
hết là bằng việc thuyết giảng : Nos autem
praedicamus Christum crucifixum, và đó là đặc tính phân
cách ta khỏi việc giảng dạy nhạt nhẽo, mang
tính nhân trần, mang chủ nghĩa tự nhiên khiến
người ta hầu như không dám rao giảng Đức
Giê Su Ki Tô nữa, nhất là không c̣n dám nói về thập giá
của Người ; tiếp nữa, bằng giáo dục và
giảng dạy. Nếu ai đó hỏi giáo dục là ǵ
với chúng ta, ta sẽ trả lời : giáo dục là
sự đào tạo Đức Giê Su Ki Tô trong các linh
hồn v́ giảng dạy là việc sáng tỏ các linh
hồn nhờ ánh sáng rực rỡ của Đức Giê Su
Ki Tô. Ta không mang tư tưởng chủ chốt nào khác trong các trường
học mà tà đạo tạo, và nếu bao giờ ta có
được Trường Đại Học Công Giáo, trên
mặt chính của trường ta sẽ ghi : ut cognoscant
te solum Deum verum et quem misisti Jesum Christum.
b) T́nh yêu đối với Thánh Nữ Đồng
Trinh mời gọi ta đến với một sự toàn
thiện ở mức độ cao hơn : T́nh yêu
của Chúa Giê Su và của Mẹ Maria h́nh thành nên nguồn
thông hiểu về đời sống huyền nhiệm
đối với ta. Những sự toàn thiện của
Chúa Giê Su Ki Tô được tỏ hiện trong Tấn
Ước. Những nhân đức của Mẹ Maria
được mạc khải trong sâu thẳm linh hồn
tạo nên như hai quyển sách mà ta suy niệm về
sự thánh thiện ta được mời gọi thông
phần.
Và ta thánh hóa vào những việc thờ kính các ơn
gọi đồng trinh : T́nh yêu của Mẹ rất thánh
Đồng Trinh linh hứng cho ta một t́nh yêu khác
được tồn tại măi trong thế gian nhờ
việc thờ kính Mẹ Thiên Chúa. Cha nói về t́nh yêu
đức trong sạch, và đức khiết tịnh. Ngay
ban đầu, đó đă là một nét nổi bật
của những người hoạt động tông
đồ và những sứ giả của Giáo Hội
dạy ta rằng nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến việc tử đạo của thánh Phêrô và thánh Phao lồ là sự cố
gắng bền bỉ của hai thánh tông đồ
để đào luyện những người trinh
khiết trung thành ở Rôma vốn chưa biết Chúa và cho
đến tận cung lầu của để chế
Néron.
Chúng ta muốn giúp
đỡ Mẹ Maria, Nữ Vương của ta, dẫn
về nhiều tŕnh nữ đến với Vua bất
tử đời đời : Adducentur Regi virgines post eam,
và cảm nhận về những vẻ đẹp mà
một linh hồn khiết tịnh và trong sạch chứa
đựng nhằm nâng ta lên cao hơn, như trên cánh
cửa các thiên thần, về ngai ṭa của Con Chiên không
tỳ vết. Và nếu người ta trách chúng ta quá ưu
tiên những ơn gọi tu tŕ, ta sẽ trả lời
rằng điều tiếc nuối duy nhất của ta là
không ưu tiên việc đó.
c) T́nh yêu của ta đối với Giáo Hội thánh
hiến ta để bảo vệ Giáo Hội trong thời
đại ta lại bị rối ren : Cuối cùng, t́nh yêu
Giáo Hội ban tặng cho ta, trong thời đại
hiện tại, một chân trời hoàn toàn mới. Hay ghé
mắt nh́n quanh các con : các con không nhận thấy rằng các
vực thẳm trở nên sâu hơn, rằng những suy
sụp chồng chất nhau, rằng những thảm
họa sắp xảy ra hay sao ? ở giữa những lay
chuyển này, Giáo Hội, đứng vững trên đá
tảng của ḿnh, nh́n thấy thế giới cứ
bị ch́m đắm, như từ những bờ sông
Hippone thánh Âu Tinh chiêm ngắm thành Rôma của Sésars bị
tràn ngập bởi những làn sóng thúc ép của bọn man
rợ gây nên.
Quyển sách mang tên Thành
đô của Thiên Chúa (la Cité de Dieu) đối với ta
là sự mạc khải thứ hai, và càng nghiên cứu, ta
càng có thể t́m thấy trong đó bí mật của
tương lai nhờ vào phép loại suy. Biết bao nỗi
buồn, biết bao nản chí không phải do những
đống vôi gạch đổ nát bởi lưỡi
gươm và bỏi ngọn đuốc đốt cháy
của Attila, của Genséri hay sao ? Tuy nhiên, chính Thiên Chúa quyét
sạch cái xă hội thối nát ấy để chuẩn
bị một xă hội mới. Các Đức Giám Mục
Xứ Gaules nhất thiết không được coi khinh.
Hăy thông minh như các tổ phụ chúng ta. Các ngài đă
đón chào và biến đổi sự man rợ phong
kiến. Đối với ta, hăy chào đón và hăy biến
đổi sự man rợ của chế độ dân
chủ. Có thể nói những vị giám mục xưa
của xứ Gaules và Rôma có ít nhiều uy thế bị tiêu
tan ; các ngài là những thành phần không nhỏ của
nuớc Pháp, và những đàn ong h́nh thành tổ ong, ta
cũng hăy làm như thế : không tiếc nuối quá vô ích
trong quá khứ, không hy vọng quá thất vọng trong
tương lai, hăy theo đuổi công việc của các con
đúng như Thiên Chúa đề ra. Có lẽ công việc
ấy sẽ c̣n lớn hơn với các dân trở nên ki tô
hữu là với những kẻ man rợ quá thô thiển
bởi một thế giới hoang dại.
Ở đây, xuất
hiện hai câu hỏi : Ai sẽ là người hướng
dẫn ta ? Đâu là những
công việc của ta ?
Lấy Đức Giáo
Hoàng là người hướng dẫn : Ai sẽ là người hướng
dẫn ta? Đức Giáo Hoàng. Có thể nói rằng chính
trị, từ thời Philippe le Bel, đă là sự mưu phản
mảnh mẽ chống lại Giáo Hoàng. Các vua không c̣n
muốn Giáo Hoàng nữa như thế nào; th́ ngày nay, ta thấy
mọi dân cũng không muốn các vua như vậy. Ta đi
về đâu v́ ḷng hận thù phản lại chế
độ quân chủ này ? Có ǵ quan trọng ? Quyền
thế là cần thiết, nhưng không cần thiết giao
phó quyền thế cho vua chúa. Thiên Chúa xem lời thỉnh
cầu muốn có Vua của các con ông Giacob như một
lời nhục mă. Đừng nhấn mạnh đến
nữa. Nhưng tại sao lại phủ nhận? Nếu
chuyện đă rành mạch, đó là v́ làn sóng dân chủ tràn
lan mỗi ngày. Nhiều cuộc cách mạng. Ai biết
được đâu là hạt cất mà bọt băo tố
sẽ đến làm cho tan nát? Đối với cha, cha thấy
Giáo Hội, thấy việc Giáo Hội làm trước kia,
và cha chờ đợi.
Không phải nỗi buồn quá
mức, cũng không phải niềm hy vọng cực
đoan ; mà là sự tin tưởng vào Đức Giê Su Ki Tô,
nơi Mẹ Maria, nơi Giáo Hội, công việc bền
bỉ, và những ǵ c̣n lại có ǵ quan trọng ? Cha nhầm.
Ai có thể cho rằng những nỗ lực của ta
sẽ không vui, miễn là những nỗ lực ấy chứa
tính thông minh ; và nhờ đó cha bắt đầu trả lời
câu hỏi thứ hai mà cha đă đặt ra vừa
rồi : Đâu sẽ là những công việc của ta ?
Đó là mọi công
việc tái tạo tô giáo từ những người nghèo và
những người giàu :
Ngoài những yếu tố mà cha đă nêu ra, những
việc mà qua đó quần chúng (giáo dân) có thể
được nâng cao giá trị, được giáo
huấn, được rắn bảo, những việc mà
qua đó chế độ dân chủ có thể
được biến thành ki tô giáo. Đó là những công
việc ta phải làm. Việc thăm các bệnh nhân,
việc rao giảng tin mừng cho những người
nghèo, việc chỉ đạo những trại mồ côi,
việc phổ biến những quyển sách tốt, và
nhiều việc khác nữa không thể nêu ra hết v́ nó
nảy sinh ra mỗi ngày cũng là một cánh đồng
mênh mông. Đôi khi phải có một điều kiện,
đó là việc bố thí vật chất sẽ là
phương cách bố thí thiêng liêng đối với ta. Ta
giảm nhẹ gánh nặng thế xác để có
đến tận trong sâu thẳm linh hồn. Một vài xu
đặt vào tay người ăn xin là bước khởi
đầu của những kho tàng đức tin
được tuôn đổ vào trong các linh hồn khao khát
sự thật, và không c̣n cảm nhận được
nữa cái nhu cầu ấy v́ bị mất đi.
Bằng những công việc cho
người nghèo, ta đến ngay cả những
người giàu, kinh nghiệm cho thấy rằng ta
đạt được họ dễ dàng hơn, và
một cách xứng đáng hơn về ta và về Chúa khi
ta mời gọi họ dấn thân vào môi trường bác ái.