JEAN-PAUL PERIER-MUZET

Văn Hào chuyển ngữ

 

            CHA EMMANUEL D’ALZON BỞI CHÍNH NGÀI

 

NHÀ CHUNG D̉NG MẸ VỀ TRỜI                                                                                                                                                           RÔMA, 2003

 

Tuyển tập bút thư của cha d’ALZON.

 

Tóm lược nội dung

 

Bài Tựa

Lời đề tặng

Lời tựa

Phần mở đầu

Phần I

Phần II

Phần III

Phần IV

Phần V

Phần kết

 

 Bài tựa

 

    Sau lễ kỷ niệm một trăm năm thành lập ḍng Mẹ Về Trời năm 1950, rất nhiều bài viết, sách được ấn hành và cho phép t́m hiểu nghiêm túc hơn về cuộc đời của Tổ phụ ḍng, về chặng đường thiêng liêng và những hoạt động trong công việc phục vụ Giáo Hội cũng như xă hội thời ngài c̣n sống. Tôi đặc biệt nghĩ đến tuyển tập những bức thư mới t́m lại được của cha d’Alzon (Những kí ức sâu kín- Trích những bức thư mới t́m lại được 1850-1880, Paris, 1950). Tôi cũng nhớ đến tập thư rất phong phú về những bài viết quan trọng của cha d’Alzon do cha Athanase Sage góp lại (Những bài viết linh thao (Sách Linh Thao), Rôma, 1956). Tôi cũng không quên nhắc đến quyển sách trong đó cha Athanse Sage tŕnh bày những hiểu biết về tư tưởng thiêng liêng của cha d’Alzon (Một người thầy hướng dẫn thiêng liêng thế kỷ 19, Rôma, 1958). Năm 2000, Lễ kỷ niệm 150 năm thành lập ḍng cũng tạo thời cơ in ấn nhiều sách mới để xích chúng ta lại gần hơn với con người quan trọng của thế kỷ 19 và của những hội ḍng do người lập nên.

 

 Từ khi in và phát hành Sách Linh Thao (Ecrits Spirituels) năm 1956, chúng ta đă rất cố gắng để nhiều người có thể biết đến văn thư, qua đó cha d’Alzon thổi luồng khí cuối cùng cho nhiều dự án và cho các suy tư thâm sâu nhất của cha. Nỗ lực ấy được cụ thể trong việc in thư thu lượm được gồm mười lăm tập. Trước tiên, phải kể đến cha Pierre Touveneraud, tiếp đến cha Désiré Dearedt (từ 1978 đến 1996). Hai cha giới thiệu với chúng ta độ chừng 5000 lá thư của tổ phụ. Cuối cùng phải kể đến hai tập mới phát hành do cha Jean-Paul Pérrier Muzet (Rôma 2003) thu lượm và cho in. Vậy là một việc làm uyên bác đă được thực hiện và kết quả thật ấn tượng. Đúng vậy, thành quả đầy ấn tượng đó to lớn đến mức ta sợ không giám mở xem một tác phẩm như thế và không giám nghĩ rằng chỉ một số người quen với loại tài liệu này có thế đọc hết được. Đáng sợ nữa là v́ không một lá thư nào hay nói đúng hơn rất ít thư được dịch ra các ngôn ngữ khác. Có nghĩa là tác phẩm đồ sộ này hoàn toàn không được những người không nói tiếng pháp biết đến. Kết quả của nó chỉ là một bức chân dung không hoàn hảo về con người cha d’Alzon, và trong một số trường hợp, có thể tồn tại sự hiểu lầm thực sự về nhân cách cũng như về những mục đích của ngài. Từ đó ta hiểu tầm quan trọng của quyển sách được phát hành hôm nay.

 

 Tôi cho rằng tác phẩm hiện tại là một phần bổ sung quan trọng cho Sách Linh Thao được ấn hành năm 195O. Hai sách này cung cấp cho chúng ta một bức chân dung đáng tin về cha Emmanuel d’Alzon. Sách Linh Thao tập hợp trong một tác phẩm chính thức của cha sáng lập : Chỉ dẫn linh thao (Directoire) (chỉ dẫn linh thao cho gia đ́nh tu sĩ của cha), một số yếu tố về những Hiến Chương đầu tiên và các tài liệu nền tảng khác (fondateur) : (Những bài tŕnh bày của cha tại Kỳ Họp của các tu sĩ, Những bức thư gửi những người hữu trách công tác đào tạo, Những thư luân lưu cho các tu sĩ, những bài suy niệm và những bài giảng tại các kỳ tĩnh tâm, nhiều bài thuyết tŕnh trong các dịp khác nhau, một số thư chính thức và có nội dung thần học hơn (doctrinale)). Đặc điểm của các tài liệu này, tất cả đều mang tính «chính thức » và tính phổ biến chung, cung cấp cho chúng ta ư nghĩ tuyệt vời về tác giả, tuy nhiên, một lần nữa, hạn chế không thể tránh khỏi. Ví dụ, chúng ta học được rất ít về tiến triển trong tư tưởng và trên bước đường thiêng liêng của cha sáng lập, về những người mà cha đă kề vai sát cánh và những phản ứng của họ đối với tư tưởng và những sáng kiến của cha. Và rút cục, chúng ta chỉ có được một cái nh́n khá mập mờ về nhân cách thật của cha. Xem qua các tài liệu và nhất là qua Sách Linh Thao, chúng ta sẽ có thể cảm tưởng dường như tư tưởng cha d’Alzon thể hiện nét cổ điển hơn là nét độc đáo, trong đó các bài giảng và những nhậnh định linh thao thiếu chiều kích tưởng tưởng và  t́nh người (humanité) và nhân cách của cha tỏ ra hơi khắc khổ và bị dồn nén.

 

 Những người đă đọc thư của cha d’Alzon cảm nhận nhu cầu cần đi sâu hơn nữa. Đó là nguyên do dẫn đến việc ấn hành tất cả những bức thư của cha sáng lập. Nhưng rất nhiều người cho rằng, cho đến  lúc này, nhân cách của cha d’Alzon được tỏ hiện qua tập thư quan trọng này vẫn c̣n chưa được biết đến.

 

 Nếu như sách Linh Thao cho phép ta khám phá lại con người cha d’Alzon sáu mươi năm sau khi cha qua đời, th́ tập sách này cuối cùng tạo cơ hội khám phá một con người d’Alzon « mới » hầu như 120 năm sau ngày cha ra đi. Từ nay, tôi tin rằng ai muốn biết tổ phụ, muốn biết ngài là ai, muốn biết đâu là tư tưởng thật của ngài, sẽ cần phải tham khảo hai tập sách này.

 

 Nếu quyển sách này không chứa đựng ǵ khác ngoài tuyển tập những lá thư chính của cha d’Alzon, và những bản dịch trong các ngôn ngữ chính thức của Hội Ḍng, tập sách đó cũng đă có thể có chỗ đứng trong các thư viện của ḍng Mẹ Về Trời rồi. Nhưng tác giả đă sắp xếp lại mỗi lá thư trong bối cảnh lịch sử chính xác, với nhiều phần tham khảo sẽ làm thỏa măn những người uyên bác nhất. Điều này cũng sẽ cho phép bất cứ độc giả nào biết được nhiều hơn những ǵ họ t́m kiếm. Từ rất lâu, chúng tôi mong muốn một tiểu sử hiện đại về cha d’Alzon để bổ  sung hai tập sách quan trọng của cha Siméon Vailhé về cha d’Alzon năm 1926-1934. Việc này đ̣i hỏi nhiều t́m kiêm, nhưng tôi tin là cha Pérrier Muzet đă lập ra những nền móng khi soạn thảo những bài tựa lịch sử cho mỗi lá thư do ngài chọn lựa trong tuyển tập này.

 

 Cha Pérrier Muzet, chuyên viên lưu trữ của Hội Ḍng, một lần nữa phục vụ một việc rất hữu ích cho các anh em đồng hội và cho Giáo Hội nói chung. Cha đă thực hiện việc này với tư cách một chuyên viên lịch sử có khả năng cao. Tôi cầu mong để tác phẩm này của cha, một khi được dịch sang bốn ngôn ngữ chính thức của Hội Ḍng, trở thành một nguồn đổi mới như cha Sage đă từng tạo ra cách đây năm mươi năm, trong sự trung thành với thần khí được ban cho Giáo Hội, qua cha d’Alzon, nhằm lợi ích cao cả nhất cho dân Chúa.

 

 

 

                                 Người anh em. Richard E. Lamoureux. a.a.

                                                  Bề trên tổng quyền

                                        Rôma ngày 2 tháng 2 năm 2003

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

 Lời đề tặng   

 

Kỷ yếu về đấng sáng lập Hội Ḍng không chỉ thuộc về lịch sử. Nó c̣n được tạo thành từ một nền linh thao được diễn tả bằng việc cầu nguyện. Ḍng Mẹ Về Trời cầu khẩn cha d’Alzon trên bàn thờ với niềm hy vọng một ngày không xa, Giáo Hội chính thức công nhận sự thánh thiện của cha.

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 Lời tựa

 

         Năm 1999, Tổng Hội Đồng (Conseil général) yêu cầu chuyên viên lưu trữ soạn một quyển sách dưới dạng tuyển tập bút thư của cha d’Alzon và cũng nhằm bổ sung cho tập thư đồ sộ được xuất bản hầu như trọn vẹn bắt đầu từ cha Siméon Vailhé năm 1923, và đă được cha Désiré Deraedt miệt mài hoàn tất năm 1996. Những lí do của việc xuất bản mới, theo kiểu sư phạm thực nghiệm, tỏ ra vừa đơn giản, vừa khẩn thiết : một phần, rất ít tu sĩ có thể đọc một cách hệ thống toàn tập thư dày cộm này nếu không có người chọn lựa giới thiệu. Hơn nữa đó cũng là lí do của những người có trách nhiệm đào tạo muốn đưa ra h́nh thức nhẹ hơn. Phần khác, những nhà hữu trách trong việc đào tạo hiện nay trong mọi tỉnh ḍng không thể trông chờ vào việc dịch những lá thư với số lượng lớn như vậy ra ngôn ngữ riêng trong thời gian ngắn. Nên họ luôn buộc chỉ tham khảo những sách đang được sử dụng, như Sách Linh Thao hoặc những bản văn sáng lập (Hiến Chương), rất nhiều tài liệu đang được trau chuốt để có thể tồn tại lâu dài, không ngừng kêu gọi chúng ta giới thiệu và đổi mới trong cái nh́n hiện tại hóa.

 

         Từ năm 1987, quá tŕnh đưa tài liệu vào hệ thống vi tính và được kiểm duyệt, cho vào và sắp xếp tất cả bài viết của cha d’Alzon, những bản đă được ấn hành từ lâu và những bản mới, gồm những bản được biết nhiều, ít được biết đến và thậm chí cả những bản chưa được biết đến. Chúng ta có thể bắt đầu hi vọng phương tiện làm việc này, có hiệu năng cao, nhờ sự đầu tư rất tốn kém để nêu chỉ số hóa, mà phải tạo ra một bộ từ điển lớn, sẽ huy động và thúc giục năng lượng của các thế hệ trẻ vốn yêu thích dụng cụ tin học. Có CD giúp việc t́m kiếm dễ dàng hơn. Nhưng c̣n quá sớm để xác định liệu những bông hoa luôn hứa hẹn hoa trái, trong tương lai, sẽ cho nảy mầm vào mùa xuân, khi sắp đến vụ thu hoạch đầu mùa hay không. Việc đầu tư lâu dài đ̣i hỏi sự chín muồi trong kiên nhẫn. Một nét mới hoặc một việc canh tân có bề sâu không thể được đánh giá qua sự ngứa ngáy bồn chồn của kỹ thuật công nghệ. Chúng ta hăy cầu mong rằng hơn 2 000 chủ đề nghiên cứu về tư tưởng và hành động của cha d’Alzon có thể trở thành hiện thực, nhờ những bản tra cứu khác nhau trong bộ toàn thư, và nó sẽ thúc dục giống sinh viên của ḍng Mẹ Về Trời nhiều việc nghiên cứu nghiêm túc về cha d’Alzon nhờ có tài liệu đă được bố trí và có thể khai thác trực tiếp.

 

         Chúng tôi đề xuất trong tác phẩm hiện tại, 50 bài viết của cha d’Alzon do chúng tôi chọn, trong đó đa số được trích từ các lá thư của ngài suốt những năm 1829-1880. Như vậy là bao trùm cả cuộc đời cha và tŕnh bày trước mắt chúng ta một sự quan tâm đa chức năng, trong đó đặc biệt là việc tái hiện thực hóa. Mỗi chủ đề được duy tŕ và phát triển theo bốn phần (volets ?), với bước tiếp cận giống nhau :

·        Phần đầu đề nghị (cung cấp) việc t́m hiểu rộng về bối cảnh và chủ đề liên quan

·        Phần hai chứa đựng bản văn hoặc trích lược bản văn của cha d’Alzon tùy theo mục tiêu như trái cây có vỏ bọc tạo nên cái túi che chở, nhưng hay hư nát. Để thưởng thức đúng lúc, trái cây không đ̣i buộc phải được đùm bọc cẩn thận trước khi dùng nó hay sao ?

·        Phần ba được chia làm hai mục :

Mục « Để tiến xa hơn trong suy nghĩ và t́m kiếm » tập hợp một phần thư mục ngắn gọn, nhưng đúc kết mà tác giả của những ḍng giới thiệu này đă sử dụng cho mỗi chủ đề được bàn đến.

·        Cuối cùng, mục « Dành cho việc nghiên cứu cá nhân » giới thiệu một loạt câu hỏi, tuy nhiên danh sách các câu hỏi không hề có tham vọng hoặc ư định chỉ dẫn : tính đầy đủ mọi khía cạnh, tính thường trực hoặc mục tiêu là thách đố trong việc đào tạo mang tính quốc tế của ḍng Mẹ Về Trời, đối với các nhà đào tạo cũng như đối với các bạn trẻ có liên quan. Đó chính là lí do quyển sách này được giao cho nhiều dịch giả khác nhau để có thể sửa đổi, thích ứng, nhất là liên quan thư mục, hoặc nhiều điều chỉnh khác tùy theo các mục đích riêng. Tuy nhiên theo h́nh dạng hiện nay, quyển sách này được nghĩ đến và được dự tính nhằm giúp đỡ việc đào tạo căn bản trong ḍng Mẹ Về Trời. Chúng tôi muốn quyển sách này phục vụ tất cả mọi người, với những mạo hiểm và những hạn chế mà quyển sách này áp đặt một cách không thể tránh khỏi do ngôn ngữ gốc, do văn hóa đối chiếu và do những nguồn gốc của môi trường lịch sử. Đó luôn là thách đố trong việc thành lập ḍng tu, tại một thời điểm nhất định khi mong muốn được thấm nhuần và được phổ biến nơi mà Thần khí thúc đẩy phải đến bất chấp những đột xuất trong không gian và thời gian.

 

         Các tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời hiện nay phải nắm bắt tinh thần ấy của cha sáng lập, trong buổi đầu của thiên niên kỷ mới, và phải bảo đảm tinh thần ấy được tồn tại thường trực và phát sinh dồi dào. Hội nhập văn hóa và đặc sủng củng cố lẫn nhau để phát minh nhiều con đường mới trong ḷng. Từ hơn 150 năm nay, con đường của cha Emmanuel d’Alzon, được khởi đầu với một nhúm người trong cái nôi ở Nimes, không ngừng vượt qua biên giới để phục vụ niềm đam mê nước Trời, phân tán để làm cho nước Cha rộng mở và thực hiện mạng lưới chọn lựa t́nh thân hữu nhờ con đường rộng lớn của tin mừng nơi mà T́nh Yêu Thiên Chúa kết hợp với công lao của con người, sau thánh Augustino và biết bao người khác.   

 

 

                                                                                                     Cha. J.-P.P.-M

 

 

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Phần mở đầu

 

Ngôn từ không thể diễn tả hết một con người, dù phẩm chất ấy như thế nào đi chăng nữa. Nó lại càng không thể diễn tả hết được bằng ngôn từ của người khác. Phần tuyệt vời hơn cả của chính bản thân ḿnh không phải dựa theo những bài viết của riêng ḿnh ư ? Đó chính là điều chúng tôi cố gắng thực hiện trong các trang sách này, qua việc trích lại và nghiên cứu những lá thư của cha d’ALZON theo từng chương một, đồng thời tuân theo trật tự niên đại nơi cuộc đời của cha và chọn lựa một vài ư tưởng cũng như hành động chính yếu của ngài.Trước khi trích dẫn những bức thư, chúng tôi giới thiệu tổng hợp sơ qua về cha d’ALZON :

                                    

 D’ALZON, một con người mang cá tính mạnh mẽ 

 

         Emmanuel d’Alzon, người con của vùng Cévennes, cả đời (1810-1880) sống ở thành đô Rôma miền nam nước Pháp vào thế kỷ 19. Thành đô Rôma ấy mang tên Nîmes : một con người đặc thù gốc miền nam, mang dáng dấp và tính khí của người miền nam. Đó là những ǵ chúng ta có thể nói về cha D’Alzon về mặt địa lí và tâm lư. Con người của Giáo Hội, suốt 40 năm làm tổng quản giáo phận Nîmes. Cha đă sáng lập hai gia đ́nh tu : Augustins Mẹ Về Trời vào năm 1845 và các nữ tu tận hiến Mẹ Về Trời năm 1865. Cha cũng đóng góp rất nhiều trong việc đào tạo các Nữ Tu Mẹ Về Trời (Religieuses de l’Assomption).

 

         Vốn gắn bó sâu sắc với nguồn gốc gia đ́nh vùng Cévennes ở Vigan, Emmanuel mang hơn một nét đặc thù : rất mạnh mẽ và thậm chí quá mạnh mẽ trong các chọn lựa cũng như trong các ác cảm. Emmanuel trung thành với những ư tưởng, với con người và với những nguyên lư ngài nắm giữ. Chính ngài nói về bản thân bằng một tính khí hoàn toàn không thể lay chuyển, « là người công giáo trên hết mọi sự ». Điều này vào thời của ngài muốn nói lên sự gắn bó cực độ với Đức Giáo Hoàng ở Rôma (ultramontain), chống lại những tư tưởng tự do. Cha d’Alzon là người nhanh nhẹn trong hành động và rộng lượng trong mọi dấn thân.

 Cũng vậy, dưới ng̣i bút của ngài thể hiển rất rơ những thành ngữ mang dáng vẻ lăng mạn nhẹ nhàng nhất, tinh tế nhất và nhảy cảm nhất, đồng thời cũng xuất hiện những thành ngữ do ảnh hưởng bởi tính châm biếm hoặc theo lối diễn đạt của nhà báo, đồng thời là nhà văn louis Veuillot, một nhân tài tranh căi bằng bút danh. Ông cũng là một người gắn bó cực độ với Giáo Hoàng Rôma.

 Ngôn từ của cha D’Alzon đặc biệt phong phú trong rất nhiều bức thư. Sự phong phú từ vựng của cha D’Alzon thể hiện trong cách ngài dùng nhiều tính từ thân mật và nồng nhiệt nhất đặt kề cận những ngôn từ khó nghe mang tính cay nghiệt, hoặc những nhắc nhở trực diện nhất. Trạng từ ưa thích nhất của ngài thường không phải là « nhanh chóng » hay sao, được hiểu theo mọi giọng điệu và đôi khi chứa đựng sự thẳng thắn vượt quá sức chịu đựng ?

 

 Những tiến triển mang nhiều ư nghĩa

 

Tuy nhiên, con người miền nam « đặc thù » này thường qua lại ở thành Rôma nhiều hơn thủ đô Paris. Ngài cũng tránh né những sắp xếp và những ư tưởng có sẵn quá dễ dàng. Ví dụ về diện mạo chính trị, từ lúc sinh ra đến khi qua đời, quả thực ngài tỏ ra là một người phản đối chủ nghĩa tự do (liberalisme) hầu như không ǵ lay chuyển. Chúng tôi cũng nhận thấy ngài không phủ nhận những tiến triển áp đặt cho ngài và cho thời đại của ngài : năm 1848 biến ngài thành một « người cộng ḥa của ngày mai » ; những niềm tin của một người theo chủ nghĩa quân chủ như ngài không cản trở ngài hướng về chủ nghĩa dân chủ sơ khai vào cuối những năm 1860.

 

         Vốn thuộc ḍng họ quí phái nổi danh, kế thừa một gia sản lớn lao năm 1860, ngài không liên kết với tầng lớp thống trị, không theo tầng lớp tư sản, cũng không theo những tư lợi. Con người quí phái này biết đối thoại với quần chúng và thấu hiểu để chèo lái các hội ḍng của ḿnh đến những bến bờ phục vụ nhu cầu của dân chúng. Việc đào tạo những con người ưu tú ở Nîmes phát triển thêm khi ngài mua lại ngôi trường mang tên Assomption năm 1844 và huy động sự góp sức mạnh mẽ của các anh em tu sĩ trong một thời gian. Nhưng cha Emmanuel nhanh chóng để các anh em tu sĩ tự do thực hiện những sáng kiến nhằm mục đích tiếp cận các tầng lớp dân chúng : trại mồ côi do cha Halluin đảm trách ở Arras năm 1868, trường ḍng (alumnat) dành cho tầng lớp thường dân năm 1871, hay c̣n gọi là «chức tư tế của những người hèn mọn » (sacerdoce des pauvres), tổ chức hành hương cho muôn dân bắt đầu từ năm 1872 và năm 1873 cùng với cha Vincent de Paul Bailly ngài lập báo chí b́nh dân. Sau này được gọi là Bonne Presse và sẽ trở thành trung tâm ngôn luận mạnh mẽ.

 

         Đứa trẻ hay c̣n gọi là anh thanh niên non trẻ vốn quen với mái ấm công tử ở làng Lavagnac (vùng Hérault) những năm 1816-1832, với cung cách và tập tục mang kiểu chúa tể của chế độ quí phái tỉnh lị. Thế nhưng con người ấy sẽ xa ĺa trần thế này trong nghèo khó và được mai táng dưới chiếc áo khiêm tốn của người tu sĩ mang ḍng chữ « tu sĩ-tông đồ » ngày 21 tháng 11 năm 1880. Đó là chặng đường đích thực của một cuộc đời sống theo tin mừng, là sự thực hành tích cực trong câu chuyện « người thanh niên giàu có » theo thánh Mathieu 19, 16-22. Ngài đă biết chia cắt sự bó buộc của định mệnh cá nhân theo gia tục để bước qua một đường hướng mới với « sự táo bạo, rộng lượng và vô vị lợi » để cuốn theo những ḍng xoáy và những mấu chốt mang tính toàn cầu hơn.

 

 Sự tận hiến « trọn vẹn » cuộc đời cho giáo hội.

 

Chúng ta thực sự sẽ không thể hiểu cuộc đời Emmanuel D’Alzon nếu chúng ta không hướng theo chọn lựa trong thiện ư của ngài trong việc phục vụ Giáo Hội ngày một lớn mạnh, chín muồi theo ánh sáng đức tin mạnh mẽ, được cá nhân hóa, được dấn thân và được rộng mở khắp mọi nơi :

 

         Emmanuel thích diễn đạt lại ba giai đoạn liên kết ngài trong giáo hội hay c̣n gọi là « ba lần tái sinh thiêng liêng » : phép rửa tội trong nhà thờ thánh Phêrô ở Vigan ngày 2 tháng 9 năm 1810 mà ngài không quên mừng lễ hằng năm như ngày sinh nhật « thực sự », ngày lănh chức linh mục ở Rôma ngày 26 tháng 12 năm 1834 sau cơn đau đớn dữ dội v́ t́nh bạn của ngài với ông Lamennais, và việc ngài chọn lựa đời sống tu sĩ trong nhà nguyện tại trường trung học ở Nîmes        ngày 24 tháng 12 năm 1845 và 1850 sau năm năm thử thách của riêng ngài cũng như của anh em ngài. Người đă lănh nhận phép rửa tội, linh mục và tu sĩ không phải là ba từ liên tiếp nhau của một cuộc đời rối ren hay là không bền bỉ nơi ngài. Ba từ ấy là ba giai đoạn làm mốc cho một chặng đường thiêng liêng được sống trong Giáo Hội và v́ Giáo Hội, về mặt đời sống nội tâm mạnh mẽ-« yêu mến Đức Ki Tô, Đức Trinh Nữ và Giáo Hội : sống trọn vẹn Đức Ki Tô »- cũng như về mặt hoạt động tông đồ nhiệt tâm : « làm cho Nước Chúa ngự đến trong tôi và xung quanh tôi », được ngài biến thành khẩu ngữ trong cuộc đời tu sĩ.

 

         Emmanuel là con người dấn thân hoàn toàn. Ngài khám phá dần dần và sống theo ḍng kinh nghiệm ấy tràn đầy nhựa sống nơi Giáo Hội. Đức tin trong cuộc sống của ngài là « hồng ân của cuộc chinh phục » (don d’une conquête) không ngừng được khởi đầu lại, không ngừng được mở rộng, không ngừng được theo đuổi.

 Thử thách khó khăn về sức khỏe vào tháng 5 năm 1854 buộc cha D’Alzon giảm bớt hoạt động để nghiêm túc chữa trị bằng phương pháp tri liệu nhờ nước suối ở Lamalou-les-Bains (Hérault). Giai đoạn thử thách này đánh dấu sự hồi tâm của ngài về cuộc sống và về công việc mà chiều kích tông đồ dường như gặp lại ngọn lửa t́nh yêu dày ṿ của Đức Ki Tô và của Giáo Hội. Ngọn lửa t́nh yêu ấy lôi cuốn suốt cuộc đời ngài.

 

         Emmanuel, một con người tiếp nhận những tiến triển của thời đại và là một người cầm đầu dẫn dắt. Ngài ham học hỏi để đầu tư vào cánh đồng hoạt động hầu làm việc cho xă hội và Giáo Hội. Ngài không mang tính t́nh của kẻ đơn chiếc. Sống trong bể của tuổi trẻ tại mái trường, quanh ngài có không ít cộng tác viên giáo dân, linh mục và tu sĩ. Ngài chỉ dấn thân cuộc đời cá nhân, cuộc sống linh mục và tu sĩ trong nhóm, trong cộng đoàn và trong hiệp thông. Luồng khí thôi thúc ngài hoạt động và thăng tiến được linh hứng bởi đức tin. Nguồn linh hứng ấy nhờ đức tin vượt ra cách minh nhiên khỏi những ranh giới của một giáo phận, của một xứ sở và ngay cả của một lục địa, v́ chính ngài, v́ những tranh đấu ngài dẫn dắt và v́ những cánh đồng hoạt động tông đồ cho hai hội ḍng của ngài. Rộng lớn như đức tin, phổ quát như Giáo Hội, thống nhất như cuộc đời của ngài.

 

         Sắp xếp theo ḍng chảy của cuộc đời theo tiếng nói của riêng ngài. Mong sao 50 chương trong quyển sách này có thể thôi thúc nỗi khát khao hiểu biết ngài tốt hơn và nhất là có thể nung nấu tấm ḷng của những người muốn t́m ṭi, học hỏi để sống bằng chí khí của ngài nhằm phục vụ Tin Mừng v́ thế giới ngày nay.

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

                                  PHẦN I

 

1.     Đời sống sinh viên ở Paris (1828-1829)

2.     Ước mơ của chàng thanh niên lăng mạn (1829)

3.     Nảy mầm ơn gọi linh mục (1830)

4.     Đam mê t́nh bạn (1830)

5.     Anh chủng sinh trong lồng (1832)

6.     Niềm đắm say Rôma (1833)

7.     Hạnh phúc trở thành linh mục (1834-1835)

8.     Những bước đầu tiên trong chức linh mục (1836)

9.     D’Alzon cha tổng quản trong vùng tin lành (1840)

10. Ngôi sao của đời sống tu sĩ (1844)

 

 

1. Đời sống sinh viên ở Paris năm 1828-1829

 

         Chàng thanh niên Emmanuel d’Alzon (1810-1880) đă được giáo dục rất kỹ lưỡng trong bốn giai đoạn theo kiểu mẫu của giới ưu tú thời đại ḿnh. Giới ưu tú là những người may mắn thuộc tầng lớp ưu đăi cấp cao trong xă hội :

 

        Theo ḍng những năm tháng trẻ thơ, trước hết cha Emmanuel d’Alzon được gia sư dạy tại nhà, ở lâu đài Lavagnac. Đó là cha Bonnet. Kinh nghiệm ban đầu học tại gia khép kín này  (expérience en serre chaude) mở ra trong tâm trí cha D’Alzon ư muốn thích học theo chương tŕnh tập thể có tính khích lệ nhiều hơn. Ngài may mắn học trung học tại hai trường danh tiếng ở thủ đô Paris. Trường Saint-Louis với những nét quí phái sang trọng. Ngài học tại ngôi trường này một năm 1823-1824. Trường Stanislas vốn đă nối tiếng đối với giới trẻ công giáo thủ đô. Ngài theo học nơi đây từ năm 1824 đến 1828. Trong thời gian học tập, ngài trọ dưới nhiều nơi. Trọ theo h́nh thức ngoại trú (externat) và bán nội trú (semi-internat). Đó là quảng thời gian ngài phát triển mạnh cách bao quát về nhân cách cả trí thức lẫn t́nh cảm hoặc trong tương quan với tha nhân trong bối cảnh vừa được thả lỏng, vừa bị khép kín của học đường lúc bấy giờ : nền giáo dục đặc biệt ưu tiên cho ngành cổ điển, văn chương và triết học do nền văn minh hy lạp và la tinh lưu truyền lại và do trào lưu chế ngự, theo truyền thống và mang tính lăng mạn, những âm hưởng của những nhân vật đánh dấu thời kỳ phục hưng như les Bonald, Maistre, Chateaubriand, Lamartine. Theo ng̣i bút của cha D’Alzon thời trẻ trung, ta thấy những điểm nhấn mạnh đầy phấn chấn vừa khen ngợi những kỳ tích của Lord Bryon, vừa thưởng thức các tiểu thuyết theo kiểu Walter Scott.

 

 Đậu cử nhân văn chương, dù không tin tưởng lắm, cha Emmanuel quyết theo học khoa luật ở Paris năm 1828-1830. Ngài thích những buổi thuyết tŕnh, trao đổi tự do từ xa trong những pḥng tư (salons) hay các hiệp hội văn chương và triết học có chất lượng, uy tín. Nơi đây, ngài hội ngộ nhiều bạn trẻ siêng năng và say mê trong những cuộc tọa đàm về xă hội lúc bấy giờ, tại môi trường sống, đồng thời dáng vẻ thư thái hơn trong những bận tâm riêng của ngài. Ngài luôn thích thú một ngành giáo dục bằng chính nỗ lực riêng mà không cần phụ thuộc vào giáo viên (formation autodidacte) như một dấu ấn măi măi trong cuộc đời.

 Những sự kiện chính trị năm 1830 khiến ngài không thể tiếp tục ở lại Paris. Những sự kiện chính trị này khép lại bảy năm lưu học tại đây của ngài. Cha Emmanuel đang trong thời kỳ t́m hiểu chính ḿnh phải trở về tỉnh lị. Hầu như trong hai năm sống khép kín tại lâu đài ở Lavagnac, ngài định hướng việc học tập và t́m ṭi đọc sách vở nhằm mục đích chuẩn bị dấn thân cuộc sống trong Giáo Hội theo như ngài cảm nhận được mời gọi.

 

         Chúng tôi muốn kể lại nét chính yếu về học vấn và về nhân cách của người thanh niên Emmanuel khi c̣n ở Paris, theo những năm cuối cùng của thời kỳ phục hưng : thời gian học tập không phải chỉ tràn ngập sách vở mà thôi, lại càng không phải quỹ thời gian ngài tập luyện chú ư đến những cảm xúc nội tâm.

 

   « …Tối nay, con sẽ đi dự cuộc hội đàm mới về quyền công cộng : có nhiều người thông thái, trí thức, nhiều quan ṭa tham dự và thảo luận về mọi khía cạnh liên quan đến chính trị. Cuộc hội đàm diễn ra tại nhà ông Emmanuel Bailly. Đây hoàn toàn là một tổ chức tư nhân. Họ chỉ thu nạp thành viên vào hội tọa đàm này sinh viên luật năm thứ ba.V́ vậy, con phải đợi hai năm nữa. Nhưng người ta đă rất tử tế nhận con vào hội tọa đàm. Con thấy thoải mái, thích nghi tốt hơn sức tưởng tưởng, hơn đ̣i hỏi do chính con đề ra, hơn những yêu cầu người ta đề ra cho con, dẫu con rất ao ước tham gia hội đàm này. Thứ năm tuần trước, con ghé thăm bệnh viện Hôtel-Dieu lần thứ ba. Ngày thứ hai trong tuần ấy, lần thứ hai con cũng ghé thăm nơi này. Con chưa lên giờ giáo huấn. Thư năm tới sẽ đến phiên con. Nhưng trong khi người anh em đảm trách việc ấy thay con, con đi thăm các bệnh nhân đang liệt dường. Mọi người đều khen ngợi con, chỉ trừ một bệnh nhân rất khó chịu. Con làm hết cách cũng vô ích mà thôi. Bệnh nhân ấy cuối cùng bảo con rằng việc con làm không có tác dụng ǵ cho ông ta. Con thỉnh nhờ anh thanh niên ấy cùng đến gặp bệnh nhân khó tinh này. Anh này quen nói chuyện với bệnh nhân này hơn con. Đây là phương pháp ưa thích của con : Khi lần đầu tiên gặp  bệnh nhân, con hỏi han t́nh h́nh sức khỏe, nghề nghiệp của họ, v.v. Sau đó, con mới bắt đầu khích lệ họ chút ít về đức kiên tŕ. Chỉ đến lần thăm viếng thứ hai con mới bắt đầu nghiêm túc nói chuyện chút ít với các bệnh nhân. Con kể chi li như thế để cha biết tin. Cha nên hiểu rằng con không kể ǵ với ai khác về công việc ấy. Ở  đây chỉ có một ḿnh mẹ biết mà thôi. Con phải gưỡng ép viết thư cho d́ Rodier biết việc này, bởi v́ con muốn nhờ d́ cho ít sách để phân phát cho các bệnh nhân. Thư cho d́ con đă viết, nhưng con chưa gửi. Ngày mai con mới gửi đi… ».

 

 Thư Emmanuel d’Alzon gửi cha, Paris ngày 13 tháng 12 năm 1828, theo sách của Siméon Vailhé, BP. 1923, tập I, trang.22-23

 

« …Vậy là anh đă tham gia tiệc cưới của Bridieu, một người rất giỏi. Và anh đă hoàn thành những việc thích hợp nhất, đó là việc phục vụ nhạc lễ tiệc cưới đầy niềm vui và thỏa ḷng người. Không biết những công việc anh làm như thế nào, song tôi tin chắc chú rể rất hạnh phúc bởi anh đă  góp phần vào những công việc thành kính phụ giúp cô dâu, một nửa tương lai của anh ta khi mọi việc đă hầu như hoàn tất. A, như anh thường hay nói, tôi tin chú rể dường như c̣n ngây ngô. Vậy là anh đă sống những giây phút hạnh phúc. Tôi mừng cho anh ! Bởi v́ không phải ai muốn cũng đều có được những lúc sung sướng như thế. Đối với tôi th́ lại khác. Tuần trước, tôi đinh ninh sẽ học bài. Chúa ơi ! học luật khó ghê ! Tôi muốn làm bài thi trước khi đi, nhưng tôi lại thay đổi ư định, bởi v́ giáo sư Ducaurroy không đồng ư để tôi thi cách đặc biệt như thế. V́ thế, một khi nhận ra rằng giáo sư không muốn nghe tôi tŕnh bày lí lẽ, tôi nhanh chóng thay đổi quyết định và tôi đă không nổi giận về việc này. Đó cũng là một chuyện đáng lo v́ dẫu sao th́ tôi sẽ bớt đi một môn thi trên lưng… »

   

Thư Emmanuel gửi Eugène de la Gournerie, Paris ngày 13 tháng 7 năm 1829, nt, trang. 25. Bạn học của cha d’Alzon

 

2. Ước mơ của chàng thanh niên lăng mạn  tại thôn quê.

                                          

         Emmanuel d’Alzon sinh ở Vigan ngày 30 tháng 8 năm 1810. Rửa tội tại nhà thờ giáo xứ thánh Phêrô ngày chúa nhật mồng 2 tháng 9 cùng năm. Thời non trẻ, ngài hầu như sống ở thôn quê, trong lâu đài Lavagnac (Hérault), gần Montagnac và Pézenas. Ngôi nhà quí phái được ngài công tước Henri d’Alzon tu sửa. Năm 1816, căn nhà này trở thành mái ấm thân quen của gia đ́nh. Trong suốt cuộc đời cha d’Alzon, ngôi nhà này là nơi Emmanuel rất thích đức kết lại sức mạnh trong bầu khí thân mật của gia đ́nh bên cạnh cha mẹ, các em gái, và cả cháu trai Jean de Puységur cùng gia đ́nh của cháu. Từ tháng 5 năm 1830 đến tháng 3 năm 1832, ngài theo dơi tin tức lộn xộn của cuộc cách mạng tháng 7 năm 1830, của sự kiện dẹp bỏ cây thập giá. Những sự kiện này làm đau ḷng cả miền Nam. Ngài tĩnh tâm nghiêm túc chuẩn bị hành trang để vào đại chủng viện Montpellier. Buổi tối ngày 14 tháng 3 năm 1832, ngài rời gia đ́nh và môi trường xung quanh với sự lưu luyến khó tả (xem bức thư viết ngày 16 thang 3). Dầu vậy, Lavagnac vẫn sống măi trong suy nghĩ và gắn chặt trong con người Emmanuel. Mặc dầu ở xa, ngài luôn thích nhắc đến cái nôi đă từng là địa điểm lư tưởng hóa thời non trẻ và ơn gọi. Ngài miêu tả khá nhiều nét đẹp đầy quyến rủ của những miền thôn quê nơi đây, không ôn ào, xáo động như đô thị. Những miền thôn quê thân thương đă gắn liền với tư tưởng, tâm hồn và thân xác của ngài. Con sông của miền Hérault bên cạnh nhà trở nên nơi ngài ưa thích tắm rửa, bơi lội khi ngài không muốn dạo thuyền nữa. Đất đai vốn nhiều đồi và đồng bằng hiện lên một vùng ưu đăi trong việc săn bắt và cưỡi ngựa. Ngài viết rất nhiều thư khi ở Lavaganc gửi bạn bè thủ đô, và về sau cũng tại nơi đây, ngài viết không ít thư cho các anh em nam, nữ tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời trong thời gian mệt mỏi, ngài đến chốn dấu yêu yên tĩnh này nghỉ ngơi dưỡng sức. Ngôi nhà trang hoàng của gia đ́nh luôn rộng cửa đón tiếp bạn hữu và ân nhân đặc biệt là cha Combalot. Cũng có nhiều người khác ghé trọ, nhiều người với nhiều mối quan hệ khác nhau. Cách đó không xa, tu viện Valmagne, ngôi thánh đường giữa đồng nho, gợi lại sự hiện diện của các tu sĩ cisterciens, phố Pézenas gợi lại Molière và các hoàng tử Conti. Các tu sĩ chartreux đến ở tại Mougères (Caux) năm 1825. Lâu đài Lavaganc do ông Jean-Louis-Maurice de Faventine, ông cậu của cha d’Alzon, mua khi cuộc cách mạng đang bùng nổ của hoàng tử Conti. Năm 1812 lâu đài này thuộc gia sản của bà d’Alzon. Trải qua nhiều thế hệ ḍng họ d’Alzon, Puységur, Suarez d’Aulan cho đến ngày 9 tháng 2 năm 1987. Năm 1987, Henri d’Aulan bán lâu đài này cho một công ty nhật bản. Lavagnac trở thành một giai đoạn bắt buộc đối với bất kỳ cuộc hành hương nào theo bước chân cha d’Alzon. Ngày nay, Lavagnac gợi lên một quang cảnh buồn, thậm chí tiếc nuối làm day dứt ḷng người khi nghĩ về tầm quan trọng của cái nôi này trong lịch sử cha d’Alzon và gia đ́nh ngài.

 

 « … Eugène quí mến, tôi viết cho anh tại một nơi rất quyến rũ. Đă mười giờ đêm. Sau giờ kinh tối thông thường dành cho những người phụ việc trong nhà, tôi đi dạo một ṿng thật lăng mạn. Tôi nằm dài trên thảm cỏ tươi mát, dưới ánh trăng soi tỏ nhờ những cành cây sồi rậm rạp trạc ngh́n năm và hồi tâm trong sâu thẳm tấm ḷng ba mươi phút. Bóng mát từ những cành cây sồi um tùm ấy bao phủ cái bàn của những người thợ gặt vào mùa đập lượm lúa ḿ. Cái bàn ấy thực ra là cối xay gió cũ rếch. Dù không c̣n tác dụng trong việc xát hạt lúa ḿ nữa, nhưng nó vẫn c̣n có thể được sử dụng như chiếc bàn mà người ta dùng để lấy hạt lúa ḿ. Nét quyến rũ của nơi đây là thế, tôi hy vọng vậy. Sau một hồi lâu lạc lỏng trong những mơ mộng dịu dàng, tôi hướng tâm trí về căn pḥng học tập. Cùng với tâm trí, thân xác  hướng chiều về nơi tôi định t́m giấy, bút, mực và những đồ vật khi người ta muốn viết thư. Lúc này viết thư cho anh, tôi ngồi đối diện cửa kính. Từ đây, tôi thấy ánh trăng lờ mờ khi lên khi xuống liên tục, theo những đám mây lu mờ bay đây đó trên không trung làm che phủ mặt trăng bởi tấm màn khi dày khi mỏng. Anh có biết những âm thanh ǵ đang vang vọng tai tôi không, đó là tiếng kêu không đồng đều của đàn vịt do em gái tôi chăm nom. Đàn vịt chạy tứ tung. Anh biết đó, đối với em gái tôi, không ǵ hạnh phúc bằng việc coi sóc đàn vịt. Sau thú vui chăn vịt, tuy nhiên em tôi thích cưỡi lừa trong vườn do người ta mới tặng.

         Tôi c̣n nghe tiếng kêu rất mạnh của chim cú, của dế mèn, của châu chấu, và của một số chim cút. Chỉ có vậy thôi. Anh biết tôi nghĩ ǵ không ? Trước hết tôi nghĩ về anh. Sau đó, tôi nghĩ về thú vui giá mà tôi có anh cùng đi dạo và cùng nhau dạ ngoại đến hơn một giờ sáng trong đêm khuya, thay v́ dạ ngoại một ḿnh, rồi lại phải về nhà viết thư cho anh. Vậy đó, anh biết những ǵ tôi nghĩ đến. Tôi không giám chắc đến bao giờ ư định tốt đẹp đi dạo ban đêm với anh sẽ thành hiện thực tại một nơi nào khác ngoài Paris. Anh đơn côi lẻ bóng giữa sa mạc đông người, đơn côi lẻ bóng như một giọt nước giữa đại dương, đơn côi lẻ bóng như một hạt cát, cuối cùng, đơn côi lẻ bóng như chú chim cút tội nghiệp trong cái xắc mà tôi đă săn bắt được bằng đạn ch́ sau bốn tiếng đồng hồ. Bởi v́, chính ngày hôm nay, chú chim cút trở nên đơn chiếc.

         Anh bạn thân mến, nếu là anh, tôi sẽ có quảng thời gian rất tuyệt để học hành, để chuẩn bị những dự án luật, để viết bài cho tạp chí « Liên Lạc» (Le Correspondant), để chuẩn bị cho nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm. Tôi không nghĩ sẽ sáng tác thơ như anh theo cảm hứng nên đôi khi buộc phải chờ đợi. Và không cần phải ngồi chờ mệnh lệnh của một người thất thường như nguồn cảm hứng… »

    Thư Emmanuel d’Alzon, viết tại Lavagnac ngày 14 tháng 8 năm 1829, nhà xuất bản. S.V, tập I, trang 28-30

 

 

3. Nảy mầm ơn gọi linh mục

 

 Thần học về ơn gọi linh mục không phải phát sinh ở thế kỷ 19 ! Nơi cha Emmanuel d’Alzon, khái niệm về linh mục thay đổi rất nhanh theo ḍng thời gian từ những ư tưởng và điều này dẫn ngài dấn thân theo con đường làm linh mục. Ta cảm thấy nơi ngài có sự chuyển đổi từ những tác động của lập trường giới tăng lữ và uy tín đặc biệt của họ trong xă hội được nh́n nhận lúc bấy giờ, sang thời kỳ họ ít gây ảnh hưởng và cho dù hoạt của họ mang tính huyền nhiệm hơn bằng việc tham dự sâu sắc vào mầu nhiệm nhập thể của Đức Ki Tô trong tâm hồn. Thần học về chức linh mục dựa theo thần học về sự bắt chước Đức Ki Tô.

 

         Việc chọn lựa làm linh mục đă trở thành con đường sống trong ḷng E. d’Alzon từ thời niên thiếu, theo lời kể của ngài. Người ta hay nghe câu khẩu ngữ ở miền quê về việc đánh thức ơn gọi : c̣n quá trẻ để thực hiện dự định, nhưng không quá trẻ để nghĩ đến nó. Ư tưởng về ơn gọi làm linh mục đụng chạm với những thao thức khác : khao khát một địa vị xă hội. Khao khát ấy gắn liền với ngài từ khi ra đời, gắn liền với học tập của ngài, gắn liền với địa vị gia đ́nh của ngài. Tất cả những yếu tố ấy hầu như cho phép ngài nghĩ đến điều này. Khi anh thanh niên Emmanuel thổ lộ nguyện vọng ấy với bố mẹ, dù không từ chối, nhưng các ngài không được phấn chấn cho lắm. Bạn bè của ngài hầu như cũng tỏ ra không tán thành với ngài. Ư kiến của họ rập khuôn theo những bản đồ, những lập luận sẵn có thường xuất hiện trong các tạp chí nằm trong mục ư kiến bạn đọc, hoặc trong những chương tŕnh truyền h́nh hiếm hoi dành cho công chúng đông đảo bàn về chủ đề đặc biệt này. Các phương tiện thông tin đại chúng không được lạm dụng những mầu nhiệm hoặc nguồn suối hồng ân…

 

         Thế nhưng cha Emmanuel không nản chí. Ngài vạch ra những chương tŕnh học tập, và những dự định cho cuộc đời nhằm đưa ra giải pháp và hướng những niềm đam mê về sự chọn lựa nhất định : ngài cẩn thận lắng nghe lời khuyên khôn ngoan của một số linh mục mà ngài đặt niềm tin tưởng, ngơ hầu mạo hiểm thầm kín của ngài, một khi được thẩm định, được xem xét, không bị thất lạc trong cát bụi do ảo tưởng của tuổi trẻ. Sau việc học tập, vui chơi, việc cầu nguyện, suy niệm và tham gia đầy đủ các bí tích là những việc đă trở thành sức mạnh đảm bảo cho cuộc sống tự do, như là bản tính thứ hai. Tuổi trẻ và tâm hồn non trẻ, nhưng ngài đă mang dáng dấp của người lớn trong đức tin. Ở Lavaganc, ngài đă chăm sóc cho sự chín muồi ơn gọi suốt hai năm tĩnh tâm, đồng thời, ngài sống như bao giới trẻ khác cùng lứa như ngài, cùng môi trường như ngài, sống theo những sở thích riêng, nhưng ngài cũng rất đ̣i hỏi với chính ḿnh. Chính trong bối cảnh quân b́nh ấy, ngài đi đến quyết định âm thầm thưa tiếng « xin vâng » ban tặng cuộc đời cho Giáo Hội, một tiếng « xin vâng » hoàn toàn dứt khoát, một tiếng « xin vâng » rộng mở với thế giới đang cần được yêu thương, cần được phổ biến tin mừng và cần được cứu độ. Chúng ta hăy dành thời gian lắng nghe tiếng khám phá của ngài :

 

    « … bạn không muốn nghe ḿnh giải thích tí nào. Ḿnh làm bạn hoảng sợ trong chiếc áo linh mục. Thế nhưng, có nên chia sẽ với bạn tất cả những suy nghĩ của ḿnh trước khi bàn đến một chủ đề khiến bạn ngao ngán vô cùng ? Trước hết, ư định làm linh mục đặc biệt tạo lên trong ḿnh niềm thích thú măi đến khi ḿnh lên mười, mười hai. Thế rồi, ḿnh từ bỏ nuôi dưỡng ư định ấy một thời gian, và sự nghiệp quân sự cuốn hút ḿnh nhất lúc này. Thế nhưng, ḿnh lại từ bỏ khi lắng nghe một số ư kiến của bố mẹ. Nhưng rồi không lâu sau đó, ḿnh nhất quyết dấn thân trong việc bảo vệ tôn giáo. Từ đó, ư định ấy phát triển mạnh trong ḿnh cách ngạc nhiên. Lúc này đây, ḿnh thú thật điều đó với bạn. Ḿnh cảm thấy cực kỳ ngán ngấy những chức năng công cộng. Ḿnh rất muốn bước vào con đường sự nghiệp, nhưng điều đó chỉ nảy sinh trong một thời gian ngắn. Quảng thời gian ngắn ngủi ấy giúp ḿnh có thêm ánh sáng trên con đường quản lí. Thế là ḿnh chỉ c̣n thấy một đấu trường duy nhất xứng hợp với ḿnh là diễn đàn (la tribune) Và thế là ḿnh nghĩ phải chuẩn bị học rất nhiều. Đôi khi, cùng một nguyên tắc khiến ḿnh ghê tởm những địa vị, và bởi v́ ḿnh tự cho đang sống trong một Nhà Nước không luật lệ, và v́ vậy, không có quyền hành hợp pháp. Ḿnh cho rằng chính nơi Thiên Chúa không sai đến, ḿnh lại cảm thấy cần hiện diện để đem đến sự tối cao của Ngài. Vậy nhưng, dưới mắt ḿnh, sự tối cao ấy lại nằm trong Căn Pḥng bầu cử và chỉ hiện diện trong Căn Pḥng bầu cử mà thôi…Ḿnh nhanh chóng nhận thấy rằng sự tối cao của Thiên Chúa không c̣n tồn tại trong Ṭa Bourbon và Tuileries nữa. Ḿnh cũng nhận thấy rằng trong một xă hội bệnh hoạn như thế, người ta chỉ có thể có sự tác động khi chia cắt khỏi nó và áp đặt lên nó mọi uy thế của luật pháp mà xă hội thê thối ấy không có quyền ban bố. Từ đó, ḿnh hoàn toàn không c̣n hưng phấn trong việc tham gia chuẩn bị làm đại biểu nữa. Ḿnh chỉ c̣n thấy chính quyền pháp như một bộ máy củ kĩ và tan nát. Việc tu sửa bánh xe trở nên vô ích và thậm chí nguy hiểm nữa. Nhờ nhiều nhận định khác nữa, và khi tự lập một phương hướng cho cuộc sống, ḿnh đi đến quyết định, nếu lập sự nghiệp, sớm nhất cũng ở tuổi 35, trong khi đó, ḿnh thấy thích thú, trong một sự nghiệp xa vời, khả năng dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa. Dần dần, những khao khát gầy dựng sự nghiệp chính trị tan biến, và ḿnh chỉ c̣n nhận thấy trước mắt chức linh mục mà ḿnh không c̣n phải hy sinh ǵ nữa, bởi v́ ḿnh không c̣n vướng víu ǵ với trần thế nữa. Bạn có biết cái ǵ làm ḿnh hoang mang lúc ấy không ? Đó chính là v́ ḿnh c̣n thiếu ḷng phấn chấn mạnh mẽ, là do ḿnh c̣n thờ ơ lănh đạm trong việc hy sinh và v́ ḿnh c̣n chưa đủ niềm tin vào khả năng thu lượm hoa trái. Ư nghĩ về sự dễ dàng có thể cắt dứt những vương vấn làm ḿnh hoảng sợ. Nhưng điều làm ḿnh lo sợ hơn nữa chính là do hoàn toàn thiếu ḷng nhiệt huyết, thiếu ḷng hưng phấn. Nhưng rút cục, ḿnh đă có được sự hưng phấn ấy khiến ḿnh không c̣n phải e sợ mang ghánh nặng trên vai… »

 

     Thư E. d’Alzon gửi Luglien d’Esgrigny, Paris ngày 24 tháng 1 năm 1830, S.V, tập I, trang.39-40. (Bạn thân của cha d’Alzon)    

 

4. Đam mê trong t́nh bạn.

                 

T́nh bạn đă chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc đời cha Emmanuel d’Alzon. Những lá thư minh chứng điều đó, không chỉ đối với những giai đoạn ban đầu thời sinh viên, mà ngay cả trong những pha khác nhau khi ngài trở thành một con người có nhiều trách nhiệm và nhiều dấn thân hoạt động kế tiếp trong cuộc sống: ở chủng viện, trong việc thực hành những chức vụ của một linh mục tổng quản, trong nghệ thuật hướng dẫn thiêng liêng và ngay cả trong việc đứng đầu để dẫn dắt các hội ḍng tu.

 

         Ta thường quen với những mối t́nh bạn của tuổi trẻ hơn. Có nhiều tên tuổi được biết đến: Bailly, d’Esgrygny, Dreux-Brézé, Gouraud, de la Gournerie, Du Lac, Veillot, Popiel, Thiébault... Nói chung, ta không quên ghi vào tiểu sử về cha d’Alzon tính cách đặc biệt trong mối quan hệ của ngài với Mẹ Marie-Eugénie de Jésus (1817-1898), một t́nh bạn đánh dấu cuộc đời, một t́nh bạn rất ấn tượng nhờ chất lượng, nhờ sự mạnh mẽ, nhờ sự triển nở nhiều. Vả lại, phái nữ không phải chỉ là cách diễn tả nhẹ nhàng trong bút phong nhằm tô đẹp vẻ văn chương rỗng tuếch. V́ có liên quan đến nhiều việc sáng lập các cộng đoàn, cha d’Alzon gây ấn tượng và tạo sự chú ư dù ngài không muốn như vậy. Về phần ḿnh, ngài biết dẫn niềm khao khát những mối quan hệ mạnh mẽ theo chiều hướng xây dựng công việc tông đồ và ngài cũng biết phó thác ư hướng ấy dưới hơi thở của t́nh yêu Thiên Chúa để con người được hơi thở t́nh yêu ấy linh hứng nhằm có thể ban tặng phần tuyệt vời nhất nơi con người. Với cha Emmanuel d’Alzon, t́nh bạn chưa bao giờ xa cách hoặc lạ lẫm với niềm đam mê của ngài v́ Nước Trời. Ở độ tuổi chững chạc hơn, cha d’Alzon dành một t́nh thương thực sự của một người cha đối với Marie Correnson mà ngài đặt hy vọng, tin tưởng để lập ḍng Nữ Tận Hiến Mẹ Về Trời. Có lẽ, Marie Correnson chỉ có thể thực sự ư thức được điều đó nhờ sức mạnh của kư ức sau khi ngài đă ĺa cơi thế, vào những lúc khó khăn và do những sự khác biệt với người kế vị đấng sáng lập ḍng. Dù không được t́m hiểu nhiều, nhưng những mối quan hệ của cha với các tu sĩ đầu tiên của Ḍng đáng có cái nh́n được đổi mới, đôi khi cái nh́n ấy bị xóa mờ do những mối dây gia đ́nh hay những mối dây quan hệ khác nhau. Cha d’Alzon chắc chắn đă thưởng thức t́nh bạn của cha Charles Laurent, một con người mang tính khí tiên phong, đầy hài hước và nhanh nhẹn trong hoạt động. Ngài luôn thích tính trung thực, thẳng thắn và nhiệt huyết của cha François Picard dù ngài có những điểm cứng cáp khó chịu. Ngài đă chọn cha François Picard là người chỉ dẫn thiêng liêng và vào những ngày cuối đời, ngài đă chọn cha Picard làm cha tổng quản. Ngài cũng dễ dàng quí mến nét đẹp của cha Vincent de Paul Bailly. Cha Vincent de Paul Bailly là người biết tạo hứng thú vào bất cứ việc ǵ do ngài làm hoặc do ngài viết ra. Cha d’Alzon đă biết tiên đoán và cảm nhận những phẩm chất tông đồ quí báu của cha tương lai Pernet khi Marie-Eugénie de Jésus dẫn ngươi thanh niên trẻ trung Pernet có vẻ hay do dự và gầy yếu xuống Nimes. Hẳn cha d’Alzon là người mang tính độc quyền, song ngài không phải là một tên bạo chúa ghê sợ. Thư riêng của ngài cho thấy những t́nh cảm đầy tế nhị. Qua đó những phẩm chất ḷng ngài tỏ ra không bị ngột ngạt, cũng không làm người ta ngột ngạt.

 

  ... Bạn thân mến, ḿnh đang bực tức v́ thiếu suy nghĩ nên ḿnh đă không viết thư cho bạn khi ở trường Juilly. Ḿnh muốn kể cho bạn biết những chuyện mà giờ này có lẽ không đúng lúc nữa. Ḿnh đúng là một kẻ thiếu suy nghĩ (un élourdi?). V́ vậy, chúng ta đừng nhắc đến điều này nữa nhé. Bạn khiến ḿnh buồn lắm khi nói với ḿnh rằng bạn tin Lord Bryon quá kiêu ngạo nên khó có bạn bè. Bạn biết không, chính ḿnh là một người rất kiêu ngạo. Kiêu ngạo là nền tảng tính cách của ḿnh. Thế nhưng ḿnh cảm thấy quí mến bạn. Bạn có biết yêu là ǵ không, ḿnh muốn nói về t́nh bạn. Hăy nói với ḿnh chút ít về t́nh bạn nhé. Đôi khi ḿnh buồn chán, bởi v́ ḿnh cảm thấy dường như t́nh yêu (t́nh thương) ḿnh dành cho những người ḿnh gắn bó không cháy bỏng bằng t́nh thương họ dành cho ḿnh. Ngày hôm nay, ḿnh nhận ra hoàn toàn nhầm lẫn về việc gắn bó và việc này vẫn chưa sửa đổi. Ḿnh cần phải yêu thương và ḿnh cần phải yêu thương ai đó. Ḿnh không biết sẽ chứng tỏ được điều đó đến bao giờ, như ḿnh đă chứng tỏ niềm đam mê t́nh bạn. Niềm đam mê t́nh bạn ấy là ngọn lửa đang lụi tàn v́ bừng cháy vô dụng. Có lẽ ngọn lửa ấy đang cần ai đó muốn nó. Ḿnh mong kỳ tĩnh tâm đă mang lại cho bạn mọi điều thiện hảo có thể được. Sáng nay và thứ năm tuần trước, ngày lễ truyền tin, ḿnh đặc biệt nghĩ đến bạn và Thiébault. Đôi khi ḿnh hoảng sợ mang trong ḿnh t́nh yêu đối với bạn bè trước mặt Thiên Chúa. Và ḿnh nhận ra cần làm cho t́nh yêu ấy trở nên vẹn sạch : omnia munda mundis.

  Như thế, ta có thể phó dâng bạn bè cho Thiên Chúa, dâng lên Người t́nh yêu của Người dành cho họ. Và việc ấy mang lại ích lợi. Bạn thân mến, ngày nào cũng vậy, tối nay hơn bao giờ hết, ḿnh tin chỉ có hạnh phúc trong đạo (tôn giáo), và nhất là trong việc thực hành đạo. Cũng như đúc tin, sự thông minh lớn lên trong việc hành đạo ! Như đức ái làm rộng mở con tim ! Nhưng cần mang thập giá ḿnh, cần biết gánh thập giá, chứ không kéo lê lết sau lưng. V́ nếu chúng ta không đón nhận thập giá như một sự trợ giúp, như một chỗ dựa, vậy thập giá chồng chất lên chúng ta như trọng lượng mệt nhọc mà ta không thể trút xuống được. Ḿnh sẽ không nói thêm ǵ nữa với bạn tối nay. Đă gần một giờ sáng. Ḿnh đă hy sinh cho bạn mọi Kư ức. Vậy bạn hăy nói cho ḿnh biết bạn có yêu mến ḿnh như ḿnh yêu mến bạn không.

                                    Emmanuel.

             Thật tuyệt vời khi đă viết một lá thư đẹp ! »

E. d’Alzon gửi Luglien de Jouenne d’Esgrigny, cuối tháng 3 năm 1830, trích theo những bức thư d’Alzon, nhà xuất bản. S.V, tâp I, trang.47-48 

 

5. Anh chủng sinh trong lồng : cha d’Alzon ở Montpellier

                   

Cha Emmanuel quyết định vào đại chủng viện Montpellier lúc 22 tuổi. Ngài sẽ học tại nơi này độ chừng 13 tháng, tương đương một năm rưỡi nếu tính theo lịch học đường, từ ngày 15 tháng  3 năm 1832 đến cuối tháng 6 năm 1833. Cha nhận phép cắt tóc ngày 16 tháng 6 nhân ngày lễ Chúa Ba Ngôi năm 1832, tiếp đó ngài lănh nhận bốn chức nhỏ (ordres mineurs) vào ngày lễ Chúa Ba Ngôi năm 1833 ngày thứ bảy mồng một tháng sáu.

 

         Đại chủng viện Montpellier thời ấy là nhà ḍng cũ của Récollets thế kỷ 17. Nhà ḍng này được Đức Cha Jean-Louis Simon Rollet lấy lại năm 1807. Ngài là Vị Giám Mục đầu tiên thuộc kư kết giữa Giáo Hoàng và nhà nước ở Montpellier (évêque concordataire). Nhà ḍng- chủng viện này nằm trên đường Castelnau. Ngày nay chỉ c̣n lại nhà nguyện dùng làm Sở lưu trữ văn thư của tỉnh. Ngôi nhà này có chừng 120 pḥng, phân bố theo hai dăy vây quanh lối ra vào. Ngày nhập chủng viện, Emmanuel chính thức ở pḥng số 937. Ngài thi ba hoặc bốn môn được giảng dạy trong chủng viện: tháng sáu năm 1832, thi về các bí tích; tháng hai năm 1833 thi môn về mầu nhiệm nhập thể và giáo luật; tháng sáu năm 1833  thi môn bí tích hôn phối và bí tích thánh thể.

 

         Những cảm nhận đầu tiên của Emmanuel sau thời kỳ trăng mật kết thúc tan biến nhanh khi ngài tiếp xúc với những thực tế khó chịu của cuộc sống nội trú trong chủng viện: chế độ học tập hay bị gián đoạn theo nội qui, lối sống khép kín trong đó việc đọc sách, thư từ, việc tiếp khách đều nghiêm ngặt, mối quan hệ bạn bè của các chủng sinh mới bị đánh giá hơi cứng nhắc. Dưới ng̣i bút của ngài, có nhiều điểm ghí chú khắt khe hoặc ngộ nghĩnh: chủng viện được đánh giá là “Đan viện trí thức”, việc giảng dạy được biếm họa bằng những bài tập kiểu “ nhắc đi nhắc lại như con vẹt” (pur psittacisme), hương vị cá moruy (cá tuyết) lan tỏa khắp vùng. Đây là một loài cá không có trong bữa ăn thường nhật ở Lavagnac! Đặc biệt, chủng viện hay bị xáo động do những cuộc tranh luận phản đối ngài Lamennais. Đức Giám Mục phản đối Lamennais dữ dội. Ngài cấm đọc báo TƯƠNG LAI (Avenir) v́ có những bài viết của Lamennais.

 

         Tuy nhiên, mọi thành ngữ cay đắng, buồn chán, hoặc ngán ngấy của cha Emmanuel nên hiểu cho đúng: vốn người miền Nam, ngài măi sẽ là người miền Nam, vả lại, ngài sẽ biến chính ngài thành người miền Nam với kinh nghiệm của thời gian và với việc nh́n lại bản thân khi cần thiết. Về sau, ngài sẽ rút ra nhiều kinh nghiệm tốt từ những tháng ngày sống trong chủng viện: tính chuyên cần, niềm ham thích đời sống tập thể, ḷng nhiệt thành về Hiệp Hội thiêng liêng do ngài lập nên, học giỏi một số môn, thực hiện dự định trở thành linh mục. Trong số 36 chủng sinh năm 1831-1832, chỉ có 18 người sẽ nhận chức linh mục. Cha Emmanuel tiếp tục gắn bó với địa phận Nimes. Ngày 1 tháng 6 năm 1833, 24 chủng sinh nhận các chức nhỏ (ordres mineurs). Chúng ta hăy lắng nghe cảm nhận đầu tiên của cha Emmanuel khi ngài vào chủng viện:

 

       ...Bạn thân mến, vậy là ḿnh đă nhập chủng viện! Ḿnh hài ḷng, hài ḷng lắm và ḿnh tin người hạnh phúc có thể cảm nhận điều ǵ đó. Đúng là ḿnh đă trải qua một nỗi buồn sâu nặng. Đó là lúc ḿnh rời Lavagnac. Ḿnh lặng lẽ ra đi. Người mẹ tội nghiệp của ḿnh đă tỏ ra rất can đảm chấp nhận hy sinh. Mẹ ḿnh đă bảo cứ âm thầm ra đi, đừng nói ǵ với mẹ. Thực vậy, ḿnh đă không nói ǵ. Dù làm chủ được bản thân, song con người ḿnh xao động khôn lường. Giờ đây, mọi sự đă b́nh tâm trở lại và ḿnh trở nên vui vẻ, ḿnh vui hơn chính niềm vui cần có. V́ một ngày rưỡi đă trôi qua, ḿnh nhận ra điều cần phải có...Ngày mai hoặc ngày mốt, hoặc sau này, ḿnh mặc áo chủng sinh, và ḿnh rất muốn bạn nhắc lại câu bạn từng nói với ḿnh về hậu quả của nó để làm băng giá tâm hồn.

          Ḿnh miêu tả căn pḥng nhé. Trong lối đi lại rất dài từ Bắc chí Nam. Khi đến từ hướng Nam, bạn vào phía bên trái. Cửa chính nằm bên phải bức tường, dọc theo bức tường có một chiếc vali lớn, hai chiếc bàn nhỏ và một số ngăn sách dựa vào búc tường chắn xiên xẻo có nguy cơ đè lên ḿnh do những quyển sách trên đó. Cửa sổ đối diện cửa chính. Bạn rẽ: bạn sẽ thấy một tấm ván, một cái vali lớn, giường ngủ của ḿnh, nhưng bạn vẫn đang ở ngoài cửa.

         Không có ǵ quấy nhiễu ḿnh cả. Chỉ có điều ḿnh thấy việc học quá gián đoạn. Các chủng sinh không bao giờ có ba tiếng đồng hồ dành riêng một lúc. Ḿnh cảm thấy lịch học như vậy quá mang tính học đường. Đời sống thường ngày không đến nỗi tệ. Theo khả năng thẩm định nhờ tham gia những cuộc tọa đàm về thần học, ḿnh thấy các chủng sinh không giỏi lại hay tranh căi những chuyện lung tung đến nỗi mất lư trí. Thật phí quá nhiều thời gian căi nhau những chuyện không đâu, trong khi lại quên đi những vấn đề thiết yếu. Ḿnh bắt đầu viết lá thư này tối hôm qua lúc chuẩn bị đi ngủ. Ḿnh đă không thể viết xong v́ tiếng chuông báo hiệu phải tắt đèn. Ḿnh phải thức dậy năm giờ sáng. Dầu vậy ḿnh vẫn thấy ngủ quá nhiều. Lúc 9 giờ,trong khi ḿnh phải lên dường ngủ, c̣n bạn th́ bắt đầu nhảy múa. Nghĩ cũng buồn cười thật. Cho đến lúc này, ḿnh không có lí do phải buồn chán v́ ḿnh thấy thời gian quá ngắn ngủi. Nhưng có lẽ ḿnh sẽ t́m được những thời giờ thích hợp. Dường như ḿnh không có một lúc để nghĩ về quá khứ. Vĩnh biệt bạn dấu yêu, vĩnh biệt trái tim tôi, như Đức Giám Mục đă nói với ḿnh hôm kia. Bạn hăy giữ ǵn sức khỏe, hăy vui lên, và nếu bạn cảm thấy thích đến thăm chúng ḿnh, nhớ nên đến vào tháng bảy. Trong kỳ hè, ḿnh có ư định đi nghỉ ở ḍng chartreuse. Chúng ḿnh sẽ đi đón nhau, sẽ hẹn gặp nhau ở Du Lac. Chương tŕnh như vậy không đến nỗi tồi đấy chứ. Cuối cùng, bạn hăy tin một điều, đó là nếu bao giờ bạn chán không thích học nhảy nữa, nên biết rằng, bạn không có cách thư giản  tuyệt hơn ở Chủng Viện đâu.”

 

    Emmanuel, từ chủng viện Montpellier ngày 16 tháng 3 năm 1832, nhà xuất bản. S.V, tập I, trang.289-292

                                              Thư gửi Luglien de Jouenne d’Esgriny (1806-1888)

 

6. Niềm đắm say Rôma.

                      

Ngày 20 tháng 11 năm 1833, cha Emmanuel đi trên tàu Henri IV giữa Marseille và Civatavecchia. Gia đ́nh nhờ cha Gabriel đi cùng để giúp đỡ  ngài khi cần thiết. Cha Gabriel là cha xứ thánh Ursule ở Pézénas lúc bấy giờ. Ngài là một linh mục có học thức, nhân cách, nhiệt t́nh hăng hái. Ngài rất mến mộ Lamennais. Chuyến đi này c̣n có anh chủng sinh Eleuthère Reboul. Thế là trọn bộ ba. Những đoạn đường từ Gênes và Pise tạo thêm niềm vui thú trong chuyến đi : ngày 26 tháng 11 cha Emmanuel viết thư cho em gái Augustine. Đây là lá thư đầu tay của ngài ở Rôma. Ngài đă kiên nhẫn chờ đợi trong bùn lầy v́ việc kiểm tra hộ chiếu và ngài đă «chờ rất lâu » ở trạm hải quan. Ngày đầu tiên của ngài khởi đầu như thế trong Thành Đô Vĩnh Cữu (tháng 11 năm 1833- tháng 5 năm 1835). Ngài sẽ trở lại thành đô này tám lần (tháng 5 và tháng 6 năm 1855, tháng 5 và tháng 6 năm 1861, tháng 5 và tháng 6 năm 1862, tháng 4 và tháng 5 năm 1863, từ tháng 11 năm 1869 đến tháng 7 năm 1870, hai lần năm 1877 (tháng 1 và tháng 2, tháng 4 và tháng 6), tháng 2 và tháng 4 năm 1878. Năm 1833, ngài nhanh chóng t́m được chỗ trọ tại nhà ḍng của các tu sĩ Minimes. Nhà ḍng này gắn liền với nhà thờ Sant’ Andrea delle Fratte, gần Quảng Trường Espagne. Sau khi đă đăng kư học thần học tại trường Rôma (Collège romain), theo lời khuyên của cha Ventura, cựu tổng quyền của ḍng Théatins ( ? ), cha d’Alzon thích ở nhà học một ḿnh trong pḥng hơn, như thời ngài c̣n ở Lavagnac. Ngài hay đi lại với nhiều người uy tín trong giáo hội như Đức Hồng Y Micara linh mục ḍng Đa Minh, cha ḍng Đa Minh Olivieri, cha ḍng Cát Men Mazzetti. Tất cả đều là những thần học gia yêu thích tư tưởng của Lamennais. Trước khi đến gặp những nhân vật này, ngài đọc và tóm tắt trước những ư tưởng triết học, thần học, chính trị tôn giáo hóc búa trong sách. Ngài cũng lập quan hệ với trưởng khoa trường anh ngữ. Người này là tổng giám mục và Hồng Y tương lai Wiseman. Người anh em họ của Wiseman, cha Charles Mac- Carthy dạy tiếng anh cho cha Emmanuel d’Alzon, trước khi ngài đi theo con đường ngoại giao.

 

         Ṿng tṛn những mối quan hệ của cha Emmanuel trải theo những người Pháp và những người nước ngoài đang sống ở Rôma. Ông d’Auriol làm việc ngân hàng, Paul Delaroche con rể của họa sĩ nổi tiếng Horace Vernet sau này nối nghiệp ông ở Villa Medicis, ông Fournas, họa sĩ Xavier Sigalon, ông Rubichon nhà kinh tế gốc Grenoble, họa sĩ người đức Peter von Cornelius, cha sở tương lai Dreux-Brézého, anh em Bernis. Nhưng cha Emmanuel cũng biết hạn chế trong quan hệ, v́ ngài nhận ra rằng để có thể học hành, không nên đi lại quá nhiều. Ngài đặc biệt nắm bắt thông tin trực tiếp vụ kết án  ông Lamennais, trong  ḷng Giáo Hội ở Rôma năm 1834 : Ngài đau khổ v́ bầu khí tan thương về chính trị, tôn giáo trong đó nền ngoại giao của Giáo Hoàng dù không tằn tiện, nhưng đôi khi v́ cái mặt nạ của tư tưởng thần học. Bởi vậy, ngài tự đưa ra cho bản thân ngài một lẽ sống : « luôn luôn hành động v́ Rôma, không bao giờ hành động phản lại Rôma, nhưng đôi lúc hành động không Rôma ». Chúng ta hăy cùng với ngài, với đôi mắt của ngài, với tư cách là những người hành hương, những người ngưỡng mộ đầy hưng phấn cùng nhau khám phá những nét đẹp của thành đô Rôma :

 

     « … Sáng nay ngày 26 tháng 11 năm 1833, anh trở lại nhà thờ thánh Phêrô. Anh vẫn không thích mặt tiền, nhưng anh đă rất thoải mái ngắm nghía với vẻ khâm phục tất cả nội thất của nhà thờ. Bên trong thánh đường thật tuyệt vời. Càng bước vào trong ḷng, không gian cung ḷng thánh đường càng trải dài, mở rộng ra. Không thể diễn tả hết nét đẹp diệu kỳ của mọi thứ trong ngôi nhà này. Các bức tượng, những bức tranh, những ngôi mộ của các vị Giáo Hoàng. Tất cả đều đáng ngưỡng mộ. Một khi đă vào trong cung thánh đường này, ḿnh sẽ ngất ngây v́ vẻ đẹp trang hoàng như thế. Buổi tối cùng ngày, tụi anh lại trở lại ghé thăm lần nữa. Càng xem, càng yêu thích vô cùng. Nhưng nói thật với em, anh không thích mặt tiền chút nào, anh cũng không thích tấm màn che trước ṭa giải tội thánh Phêrô…Rôma là một thành đô làm say đắm ḷng người. Đảm bảo với em, anh không khoác loác tí nào. Suốt ngày anh chỉ biết chạy theo ngắm nghía, thưởng thức nét đẹp nơi đây. Đúng là một việc diệu kỳ. Những công tŕnh lớn hầu như cũng mang những nét kiều diễm chung như những ngôi nhà. Tụi anh đi qua một vài đường phố  khá b́nh dị : bỗng chốc, mọi người dừng lại trông ngắm thác nước Trevi rất đẹp chảy dài ra con sông nhỏ. Em có thể tin như thế, bởi v́ anh chỉ chiêm ngắm khi đă trông thấy. Ông Gabriel cho rằng anh mang ḍng máu cá. Anh cứ để mặc ông ta nói…Anh sẽ kể tiếp cho em nghe về thánh đường Sainte-Marie Majeure. Sáng nay, anh đă …

 

 Trích thư gửi Augustine d’Alzon, ngày 26 tháng 11 năm 1833, nhà xuất bản. S.V., tập I, trang 450-451

 

Anh bắt đầu đi lại dễ dàng thăm nhiều nơi ở Rôma. Rất tuyệt vời. Nói cho cùng, anh nghĩ phải mất hơn một năm mới tham quan hết thành đô Rôma. Sainte-Marie Majeure, Saint Jean de Latran, Saint Paul ở ngoài bức tường thành (hors les murs ?), le Colisée  và vô số công tŕnh mà anh chỉ mới thoáng qua. Nếu muốn thướng thức đầy đủ cách chi li, anh phải quan sát lần nữa. Qua đó, em có thể tưởng tưởng tất cả những ǵ đẹp nhất nơi đây. Tụi anh thường đi mua sắm ngày thứ năm, bởi v́ phải chạy tứ tung suốt ngày. Tụi anh tham quan từ từ những công tŕnh gần nhất…

 

    Trích thư gửi Augustine d’Alzon, ngày 14 tháng 12 năm 1833, o.c, trang. 461

 

Tối nay, ngày 24 tháng 2 năm 1834, ḿnh đă đến Colisée ngắm trăng lên. Ḿnh ngồi trên những bậc tầng cấp h́nh thập giá nhằm bảo vệ Colisée…

   

    Trích thư gửi d’Esgriny, o.c., trang 511

 

 

Tối nay (ngày 31 tháng 3 năm 1834), ḿnh đă đi thăm cây đèn nổi tiếng (girandole ?). Ở Paris, có thể ḿnh đă xem pháo hoa đẹp chưa từng có, nếu nói chi li như thế, nhưng chùm đèn này, ḿnh chưa bao giờ trông thấy. Hôm qua, ḿnh đă thấy ṿm chót vót chói lọi của nhà thờ thánh Phêrô. Bạn chưa bao giờ thấy cái ǵ có thể sánh ví được với nó…

 

         Trích thư gửi d’Esgriny, o.c., trang.539

 

Hôm qua (ngày 4 tháng 6 năm 1834), con đă tận hưởng một trong những vở kịch tuyệt vời nhất mà con chưa bao giờ xem… Chúng con đi xem cây Sồi miền Tasse trên đồi cao chót vót Janicule. (Janicule là một trong bảy đồi ở Rôma nằm bên cánh tả sông Tibre nước Ư). Mặt trời đang lặn dần sau lưng chúng con và chiếu những tia sáng vàng óng lên trên cái ṿm bát úp chót vót nhà thờ thánh Phêrô. Cái ṿm bát úp chót vót này xuất hiện cách hoàn toàn tách biệt khỏi phần c̣n lại của thành phố. Thành phố Rôma đối diện chúng con và vẫn c̣n chói lọi với những ánh sáng sau cùng của ban ngày. Xa hơn nữa, những ngọn núi Sabine và Albano bắt đầu bị hơi nước bao phủ. Thật quyến rũ. Sau khi đă chứng kiến những cảnh tượng ấn tượng như thế, chúng con mới có thể hiểu thành đô Rôma. Thành đô này rất tráng lệ bởi những ṭa nhà xuống cấp và những công tŕnh mới. Có thể nhận ra những ǵ tồn đọng lại của cung điện hoàng đế Néron để phân biệt với những ṿm bát úp của Vatican…Con mong cha thứ lỗi v́ lẽ ra con phải kể thêm những chi tiết về các ṿm bát úp ấy, về những vườn cam, về những ḍng suối, về những lâu đài, về ḍng sông cổ kính Tibre luôn có những cơn sóng màu vàng, về những cây thông tượng trưng ánh mặt trời rất tuyệt đẹp ở chân trời. Mong cha trồng một ít thông nơi mảnh đất bỏ hoang…

 

     Trích thư gửi cha Henri d’Alzon, o.c., trang.580

 

Con chỉ chú ư đến mọi người khi nh́n qua cửa sổ. Con thấy phố Tivoli, nơi trước đây nhà thơ Horace đă từng sống, phố Monte-Porzio, nơi có nhà chính trị thời xưa sinh sống, phố Tusculum của Cicéron, phố Albano, cái nôi của đế chế rôma, những dấu tích đọng lại của một số đền đài. Gần sát chỗ con, con thấy nhà thờ Sainte-Croix de Jérusalem, tại nhà thờ này người ta bảo tồn phần lớn nhất của cây thánh giá. Chính cây thập giá này đă khiến cho những trào lưu tư tưởng triết học vô thần mất dần tác động. Đó là l’épicurisme d’Horace, le stoicisme de Caton, le platonisme de Cicéron. Cây thập giá này cũng làm giảm đi sự đàn áp của đế chế rôma, đồng thời đặt ra những luật mới và một vị thần mới… »

 

       Trích thư gửi cha Henri d’Alzon, o.c., trang 758

 

7. Niềm hạnh phúc trở thành linh mục.

 

         Nhờ t́m hiểu thông tin, chúng ta biết nhiều giai đoạn khác nhau trên con đường tiến đến chức linh mục của cha Emmanuel d’Alzon, từ Montpellier đến Rôma. Những lá thư của ngài vừa cho chúng ta biết việc ngài chuẩn bị để hướng về chức linh mục, vừa nói lên sự quí trọng thiên chức này nơi ngài, vừa diễn tả ḷng nhiệt thành và niềm vui của ngài khi được mời gọi lănh nhận chức linh mục. Trong con người của ngài chứa sự ḥa lẫn nhiều cảm xúc, t́nh cảm và sự tin tưởng v́ lí tưởng sống của ngài được thúc đẩy mănh liệt theo nhiều sự kiện. Trước ngày lănh nhận các chức thánh (ordres majeurs), thứ 6 ngày 12 tháng 12 năm 1834, ngài phải kư vào biên bản đồng ư với bức thông điệp Singulari Nos của Đức Giáo Hoàng về việc kết án những tư tưởng của Lamennais. Ngài phản ứng rất mau lẹ : «Đức Hồng Y Odescalchi đă trấn an con là Đức Giáo Hoàng rất hài ḷng về thái độ vâng nghe mau lẹ của con. Thật hơi buồn khi lấy ḷng của Đức Giáo Hoàng theo cách ấy ».

 

         Lịch lănh nhận những chức lớn của  cha d’Alzon (tiền phó tế ngày 14 tháng 12, chức phó tế ngày 20 tháng 12, chức linh mục ngày 26 tháng 12 cùng năm 1834) có thể gây ngạc nhiên đối với chủng sinh ngày nay bởi chủng sinh thời nay phải tuân theo những khoảng thời gian nhất định ! Việc thi hành kỳ thực tập khi làm phó tế, hoặc năm làm phó tế có thể thay đổi tùy theo từng lục địa. Tuy nhiên việc này đ̣i hỏi phải có hiệu quả trước khi lănh nhận chức linh mục. Việc ôn lại kinh nghiệm hoạt động tông đồ trong nhóm cũng thuộc một phần quan trọng trong quá tŕnh dẫn nhập vào việc truyền chức thánh, nhưng ta không t́m thấy ǵ về điều này trong chặng đường của cha d’Alzon. Ta phải thừa nhận rằng những chức năng của ngài trước đây quá đủ để bù lại điểm khiếm khuyết này của ngài !

 

         Điểm trọng yếu hơn là đích điểm mà cha Emmanuel d’Alzon khi ngài hướng đến chức linh mục trong bôi cảnh phải t́m con đường sống trong Giáo hội. Chúng ta cảm thấy ngài không t́m cách để vào trong một lối sống có sẵn, cũng không phải để gầy dựng cơ nghiệp. Ngài chưa biết sẽ làm việc ǵ để phục vụ Giáo Hội khi ngài giải thích rơ ràng với mẹ của ngài những ư định riêng giữa vô vàn thắc mắc : « Con tin rằng bàn tay Thiên Chúa sẽ thực thi công việc, c̣n con người chỉ góp công…Con phó thác mọi sự cho Đấng Quan Pḥng…Trên hết mọi sự, con tin chắc không phải khi thi hành ư muốn của riêng con là con thi hành ư muốn của Thiên Chúa. Nếu chỉ làm những việc con muốn, vậy c̣n biết bao việc con chưa chu toàn ».

 

         Những tư cảm nhận sâu thẳm nơi con người của ngài : tính sẵn sàng và tinh thần phục vụ. Những tố chất ấy sẽ cho phép ngài dần dần khám phá đâu là con đường và việc ngài có thể làm trong Giáo Hội địa phương. Trong những ngày mừng lễ sinh nhật, ngài thích nhấn mạnh ngày ngài thưa tiếng « xin vâng với Giáo Hội ». Ngày ấy sẽ hiện diện măi măi trong cuộc đời ngài.

 

«Thánh lễ đầu tay của con đến hôm nay đă sang ngày thứ tám. Sở dĩ con chưa viết thư cho mẹ là v́ con luôn chờ thư mẹ mỗi ngày. Con có thể viết ǵ cho mẹ về tất cả những cảm nhận của con trong tám ngày qua nhỉ ? Vâng mẹ ạ, cần dâng thánh lễ th́ mới hiểu được thánh lễ là ǵ. Con vẫn chưa thể hiểu được ǵ. Từ tám ngày nay, Chúa nhân lành đối xử với con như với một đứa trẻ được nuông chiều. Con hạnh phúc mẹ ạ. Con hạnh phúc hơn sức tưởng tưởng. Con hạnh phúc hơn niềm hạnh phúc của con người trên thế gian. Tuy nhiên, đúng là con người ở hạ giới này chỉ giám nghĩ tới một mức độ hạnh phúc, c̣n con, con sẽ không có quyền đ̣i hỏi Đấng Quan Pḥng ǵ nữa trong phần c̣n lại của cuộc đời con. Con đă nhận phần thưởng trước rồi. Mấy ngày nay, con dâng lễ tại bàn thờ thánh Phêrô, nơi ngôi mộ của thánh Phêrô và thánh Phao lồ. Hiện tại, con dâng lễ một ḿnh với một giáo sĩ. Con không cần phải vội vàng. Mẹ sẽ không tin nổi điều tuyệt vời trong tất cả những việc con đang làm. Thế nhưng, chỉ măi đến hôm nay, con mới đủ vững tin để vững vàng đọc những lời ban phép ḿnh thánh Chúa (lời truyền phép). Dù thuộc làu làu những lời ấy, con vẫn thấy ḿnh như c̣n đang ở trong mây. Con không biết ḿnh đang ở đâu nữa. Con mong sẽ không làm mẹ quá đau buồn khi kể cho mẹ nghe tất cả những điều đó. Song con muốn nói chuyện khác với mẹ. Trong lá thư cuối cùng mẹ gửi cho con, mẹ tâm sự những e ngại của mẹ về con. Mẹ nói mẹ không an tâm lắm đối với linh mục tự do. Mẹ hiểu như thế nào khi nói về linh mục tự do ? Con không hiểu rơ lắm về điều này. Có phải linh mục tự do khi được Giám Mục cho phép không làm cha xứ, không làm cha phó ? Trong trường hợp này, cha M. Vernière sẽ nói cho mẹ hay rằng những linh mục giỏi nhất mà ngài đă đào tạo đều không ưa thích làm cha xứ, không thích giữ chức cha phó.

 

         Cha M. Vernière muốn con trở thành nhà truyền giáo. Khi ghé qua Saint-Eusèbe, con đă tham khảo ư kiến của một số cha ḍng tên, họ nghĩ con nên đi rao giảng th́ tốt hơn. Đức Hồng Y Micara, khi con hỏi ư kiến của ngài, cho rằng con không nên hành động cách cập rập của người Pháp, mà nên tiếp tục học hành, bởi v́ ngài tin con sẽ là một giáo sư giỏi cho Chủng Viện. Không ai hướng con theo làm cha xứ hoặc cha phó. Tuy nhiên, con có ư định làm linh mục phó trong một năm với mục đích tích lũy kinh nghiệm mục vụ. Con nghĩ, điều cản trở mẹ thấy rơ địa vị của người linh mục chính là v́ hệ thống Giáo Hội phân làm hai phần, một phần thuộc về giáo sĩ ḍng, một phần thuộc về giáo sĩ triều : giáo sĩ triều trong Giáo Hội giống những thành phần thẩm phán trong Nhà Nước. C̣n giáo sĩ ḍng giống như binh đoàn của giáo hội (armée ecclésiastique). Vậy nhưng, ở Pháp, binh đoàn này không c̣n nữa. Số ít ỏi c̣n lại hầu như chẳng có nghĩa ǵ. Vậy những người nhận ra ơn gọi làm linh mục, nhưng đúng ra là ơn gọi linh mục tranh đấu (militaire), ở trong một địa vị đặc biệt, nếu con có thể nói như vậy… »

    Trích thư gửi bà d’Alzon, Rôma ngày 3 tháng 1 năm 1835, theo nhà xuất bản. S.V., tập I, trang.767-768

 

 

8. Những bước đầu tiên trong chức vụ linh mục

                    

         Chắc hẳn những năm 1835-1842 là thời kỳ chúng ta có ít thông tin nhất về cuộc sống cụ thể và cuộc sống thường ngày của cha d’Alzon v́ không có đủ tài liệu. Năng lực và tính nhiệt huyết tràn trề, vị linh mục trẻ trung dấn thân trong nhiều lĩnh vực tông đồ do nhu cầu đ̣i hỏi ở Nimes : giáo lư, bảo trở hướng dẫn giới trẻ, thuyết giảng, chỉ đạo trường học, hướng dẫn thiêng liêng, chỉ đạo những công tác xă hội và những công việc phiếm họa đă có hoặc được sáng lập, sáng lập các cộng đoàn tu, tố chức những đêm gặp gỡ mang tính trí thức, tổ chức những cuộc tọa đàm về học vấn. Sẽ rất khó lập ra một danh sách thống kê các hoạt động vô vàn của ngài : một danh sách ngắn ngọn ta thường dễ nhớ không nên hiểu tính cấp bậc nào đó trong những trọng trách của ngài. Chính v́ vậy mới xuất hiện những cách người ta gọi ngài, một số người ngưỡng mộ ngài, một số chỉ trích ngài. Thế hệ sau này đă không thể tóm gọn được để nói về ngài : cha sở d’Alzon ư? Một linh mục nhiệt thành, đảm đang tháo vát là điều không thể phủ nhận, nhưng ngài cũng ham quá nhiều việc và không đi đến cùng. Vị Giám Mục Chaffoy già nua năm 1835 nói với mọi người muốn lắng nghe ngài rằng ngài không biết làm ǵ với vị linh mục mới hơi khó chịu. Vị Giám Mục kế ngôi ĐGM Chaffoy là ĐGM Cart sẽ đưa ra những nhận xét rất mang dấu ấn của giám mục khi ngài cố giảm bớt ḷng nhiệt thành đến mức điên cuồng của vị tổng quản : « Ngài (cha d’Alzon) sẽ thúc giục tôi, c̣n tôi, tôi ḱm hăm lại ».

 

         Tuy nhiên, chúng ta sẽ sai lầm nếu chỉ giữ lại con người cha d’Alzon vời h́nh ảnh nông cạn của một linh mục « mang chủ nghĩa hoạt động (activiste)» trong suốt những năm tháng mà công tác tông đồ thông thường đúng là theo kiểu chung chung hơn là theo một hoạt động chuyên sâu. Ngày 14 tháng 11 năm 1835, cha d’Alzon đến Nimes. Ngài nghĩ đến một cuộc sống khiêm tốn để không c̣n cuộc sống sung túc của gia đ́nh, cha d’Alzon chỉ có một mục đích trong đầu, phục vụ Giáo Phận Nimes. Giáo Phận Nimes đang cần phải xây dựng lại sau cơn băo tố của cách mạng và chỉ c̣n lại những thiệt hại vật chất. Vả lại, năng lực làm mục vụ của ngài nhanh chóng được nh́n nhận : ngài được chọn làm kinh sỹ (chanoine) và chức vị cha tổng quản đáng kính thời ĐGM Chaffoy (1835), ngài chính thức trở thành một trong những vị tổng quản chính của ĐGM Cart (1839). Thời gian biểu của ngài lúc bấy giờ được vạch ra trong những việc phục vụ nặng nề với chức năng quản lí hành chính (administration) và tạo sinh khí cho (animation) giáo phận. Ngài tận dụng những điểm mạnh (atouts) không được khinh thường : các quan hệ và tài sản riêng có được nhờ môi trường của ngài, tính độc lập đối với giới tăng lữ giáo phận Nimes khi ngài hướng theo những chọn lựa chỉ tuân theo Giáo triều Rôma và Đức Giáo Hoàng (choix ultramontains), tư thế tự nhiên của một thủ lĩnh nhờ dáng vóc vốn có, học hành, bản tính làm xếp, nhất là những sáng kiến khiến nhiều truyền thống bất di bất dịch bị xao động.

 Chúng ta hăy để bản ngă đầy chất lửa nói qua bức thư ngài viết cho một người bạn vào tháng 8 năm 1836 :

 

          «Từ khi đến ở nơi đây, tôi không rảnh rỗi chút nào ».

 «…Tôi chỉ muốn nói để anh hay, tôi vẫn măimăi như trước kia, không thay đổi ǵ, có nghĩa là tôi đôi khi càu nhàu, nhưng vẫn luôn thi hành công việc của ḿnh. Người ta có thể mong ước theo học ở một trường đại học Đức và là một Vị Tổng Quản uy thế ở Nimes, làm việc với giới trẻ, và có chừng trăm bà đạo đức (Dames de la Miséricorde), nhưng anh sẽ c̣n đ̣i hỏi tôi thêm nữa và thúc tôi nghĩ đến một khát vọng : à, thưa ngài ! đừng quá nghiêm khắc  thế. Con người đề nghị, c̣n Thiên Chúa mới là Đấng thực hiện (l’homme propose et Dieu dispose). Chỉ có thế thôi. Đôi khi tôi muốn xin đi truyền giáo theo nguyện vọng riêng, v́ nói thật với anh, sở thích của tôi thiên về hành động. Nhưng dường như người ta đă khám phá trong tôi khả năng làm người quản lí hành chính, có nghĩa là cứ tám ngày một lần, công việc của tôi là phải đưa ra ư kiến về những trường hợp cần xem xét trước hội đồng giám mục. Tôi vinh dự thuộc thành phần của hội đồng này. Nào, anh đừng che miệng cười nhạo quá về suy nghĩ của một người 25 tuổi non nớt thiếu kinh nghiệm đang ngồi oai phong giữa năm hoặc sáu ông già vừa lắng nghe, vừa trả lời, vừa chất vấn, vừa bác bỏ ư kiến, và cuối cùng cứ làm mọi việc như thể biết hết mọi vấn đề như bao người khác. Có cái ǵ đó khiến tôi nghĩ thật ngỗ nghĩnh sao tôi làm Tổng Quản sớm đến thế, nhưng anh muốn làm ǵ nào ? Nếu tôi nói với anh, theo sở thích riêng, công việc tốt hơn đối với tôi là giảng dạy và rao giảng, anh sẽ rêu rao với tôi đức vâng lời. Và dù tôi có bực bội về những bài giảng của anh, tôi vẫn muốn một số bài giảng khác so với những bài anh đă giảng ở Saint-Cyr. Tóm lại, anh biết khá rơ con người tôi để hiểu rằng tôi có thể sống bất cứ nơi nào. Người ta đă tiếp đón tôi rất tốt ở Nimes. Tôi sẽ có lỗi nhiều nếu không tỏ ḷng biết ơn sâu sắc đối với những người con tốt lành của Nimes. Tôi không nhớ đă viết thư kể cho anh rằng hầu như ngày nào trong mùa Chay năm ngoái tôi cũng đều giảng cho giáo dân. Anh sẽ không thể tưởng tưởng hết việc ấy đă làm tôi mệt đến mức nào. Những người làm nghề gánh vác, cu-li (portefaix) cởi mũ chào tôi, những người đạo đức đau ḷng khi tôi bị ho. Người ta tặng tôi biết bao là kẹo. Ngay cả những người bán hoa quả, trước đây họ chỉ cho tôi thưởng thức những quả cam dở, bây giờ họ cảm thấy bị đánh động bởi những bài giảng của tôi nên vui vẻ chọn thay cho tôi những quả ngon nhất. Họ c̣n gửi đến tận nhà tặng tôi rất nhiều cam tuyệt ngon. Anh hiểu đó, tôi biết cách xoay xở trong mọi việc. Đảm bảo với anh, dĩ nhiên tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi dự định đi đó đây với niềm hy vọng ở nơi nào Chúa muốn : linh mục có nghĩa là già nua và Đức Giê Su Ki Tô bảo thánh Phêrô khi về già, người ta sẽ dẫn thánh Phêrô đến nơi chính ngài không muốn tới. Anh biết đó, tôi cũng có thể thuyết giảng cho chính ḿnh. Hy vọng những bài giảng của tôi cùng tài hùng biện trong các bài giảng của anh cuối cùng sẽ khiến tôi ăn năn trở lại. Tôi muốn anh giảng cho tôi nghe, không có nghĩa là tôi không thích anh viết cho tôi. Tôi sẽ không liên lạc thư với anh trong tháng bảy và tháng tám. Tôi sẽ nhắc lại cho anh những ǵ anh đă hứa với tôi… »

  Trích thư gửi Adolphe de Fournas, Nimes ngày 10 tháng 5 năm 1836.

 Bản gốc trong Tài liệu giữ trữ giáo phận Montpeliier.

 

9. D’Alzon, cha tổng quản non trẻ trong vùng tin lành.

                                                                               

         Cha d’Alzon, chịu chức linh mục ở Rôma ngày 26 tháng 12 năm 1834. Ngài trở về phục vụ giáo phận Nimes. Ngày 8 tháng 11 năm 1835, ĐGM de Chaffoy chỉ định ngài làm kinh sỹ và  tổng quản đáng kính của giáo phận Nimes. Ngày mồng 4 tháng 3 năm 1839, cha d’Alzon được nội các của vua Louis Philippe chấp nhận ngài làm tổng quản chính thức và ngày 14 tháng 3, ĐGM Cart giáo phận Nimes từ tháng 11 năm 1837 giao nhiệm vụ tổng quản cho ngài. Cha Emmanuel d’Alzon sẽ chu toàn nhiệm vụ này cho đến ngày 30 tháng 9 năm 1878. Với chức vị tổng quản, ngài được mời gọi đi nhiều nơi thăm giáo phận Gard bởi ngài tháp tùng nhiều Vị Giám Mục kế tiếp nhau trong những chuyến viếng thăm công tác mục vụ. Đó là các ĐGM François Cart (1838-1855), Henri Plantier (1855-1875) và François Besson. Rất tiếc chúng ta không có nhiều thông tin về những chuyến viếng thăm này. Trong bối cảnh này cha d’Alzon viết thư gửi ĐGM Sibour. Ngài là Vị Giám Mục trẻ của giáo phận Digne lúc ấy. Sau này, ngài được bổ nhiệm làm tổng giám mục Paris năm 1848 cho đến năm 1857. Đức Cha Marie-Dominique-Auguste Sibour không c̣n là một người lạ đối với cha d’Alzon. Ngài gốc ở Saint-Paul-Trois-Chateaux (Drome). Như người anh em cùng họ Léon-François (1807-1864), linh mục miền Sibour chịu chức linh mục ở Rôma năm 1818, sau một thời gian phục vụ ở Paris, ngài đảm nhiệm chức tổng quản ở Nimes (1822-1839). Cha Sibour có thiện cảm rất nhanh với cha d’Alzon, một người đầy sức trẻ, cùng đảm trách những công việc rao giảng, đảm trách giới trẻ, trọng trách về người tin lành để họ trở lại giáo hội công giáo giống như ngài. Tháng 9 năm 1839, cha Sibour được bổ nhiệm làm giám mục giáo phận Digne. Ngài nhanh chóng tổ chức lại giáo phận. Ngài đứng ra khuyến khích thiết lập các cuộc họp (conciles) ở trong vùng. Cũng như cha d’Alzon, cha Sibour luôn mong mỏi đi thăm tất cả các giáo xứ của giáo phận ở miền núi. Nơi đây có một điểm chung với giáo phận GARD.

 

         Sự việc về người tin lành ngày càng phổ biến. Họ ngày càng lớn mạnh và lan tỏa trong các vùng Cévennes từ ngày cải cách (Réforme). Đối với công giáo, tin lành đă trở thành tôn giáo theo qui ước (religion concordataire) năm 1801. Sự việc người theo đạo tin lành đặc biệt khiến người công giáo thời ấy muốn t́m cách thuyết phục họ trở lại công giáo. Cuộc đời cha d’Alzon minh chứng quá rơ điều ấy : những lần rao giảng gây tranh căi, những bài viết bảo vệ đức tin công giáo, những công tác học đường và xă hội nhằm giảm bớt tầm ảnh hưởng của tin lành, những tổ chức ở nông thôn cho các em mồ côi, các hiệp hội mang tên Saint François de Sales, đề cao ḷng mộ đạo công giáo với mục đích gạt bỏ những phái cải cách ( chầu thánh thể, tôn sùng Đức Mẹ, kiệu rước). Tất cả mọi phương tiện như viết lách, tiếng nói, tôn thờ, hành động công cộng có vẻ được đề cao lúc bấy giờ nhằm cản trở « mối hiểm nguy tin lành ». Nếu tin cha d’Alzon, ta thấy rằng những người cải cách không có lỗi trong sự đối lập tuyên xưng đức tin : tháng 11 năm 1857, ngài có viết rằng người ta hứa tặng cho mỗi người công giáo một con lợn nếu họ theo tin lành…

 

 Kính gửi Đức Cha Sibour, giám mục giáo phận Digne,

        Nimes ngày 24 tháng 3 năm 1840

         «Trở về sau những chuyến viếng thăm ở các miền Cévennes, con đă nhận thông cáo về chuyến thăm mục vụ của Đức Cha và đă rất hài ḷng đọc thông cáo ấy. Cảm ơn Đức Cha đă báo trước cho chúng con. Trong tâm t́nh cảm ơn ấy, khi phân phát thư mục vụ, con khiêm tốn thỉnh xin Đức Cha xem con như một linh mục trong số các linh mục của Đức Cha. Con hiểu khi làm giám mục, Đức Cha không c̣n thời gian cho bạn bè nữa, nhưng bạn bè lại gặp gỡ ngài trong bút danh. Khi không có thể hưởng sự thân mật nữa, họ thầm đoán và thấu hiểu t́nh thân ấy khi ngài xuất hiện giữa đàn chiên giảng dạy và chia sẽ lời Chúa.

 

         Kính thưa Đức Cha, con mong thời tiết sẽ đỡ lạnh và đỡ mưa trong thời gian Đức Cha đến viếng thăm so với những ngày qua mà chúng con đă phải chịu đựng. Đức Cha giáo phận Nimes khá tốt bụng, thỉnh thoảng ngài cho con mượn xe. Nhưng thú thật con mệt mỏi v́ đường sá kinh khủng quá, kèm theo những trận mưa rào ồ ạt trên vai khiến những người khỏe mạnh hơn ngài cũng phải vất vưởng. C̣n ngài chỉ đau bụng nhẹ và đă khỏi lâu rồi.

 

         Chuyến viếng thăm của Đức Cha giáo phận Nimes đă mang lại nhiều kết quả tốt đẹp về mọi mặt. Chúng con đă nhận thấy đạo tin lành trở nên lộn xộn một cách không ngờ do các trào lưu giáo lư giám lí (méthodisme) gây ra  nên thiếu  chỗ dựa và chỉ cuốn theo ḷng thù ghét lâu nay đối với Giáo Hội. Vậy nhưng, trong nhiều làng quê, ḷng thù ghét ấy đang ngày càng bị xóa nḥa cách minh nhiên đằng sau t́nh cảm quí mến và kính phục Đức Cha giáo phận Nimes. Rất nhiều người tin lành, thậm chí các vị mục sư cũng đều gửi con cái đến để được ngài ban phúc lành. Chính họ làm dấu thánh giá trước mặt Đúc Cha. Họ rất vụng về khi làm dấu thánh giá nên không quá khó để nhận ra họ. Đó là những việc nhỏ nhen, song mang ư nghĩa rất lớn. Sự quí trọng dành cho Đức Cha khi đem sánh với sự vô dụng của các mục sư c̣n lớn lao hơn thế nữa. Thật khó có thể ưu tiên cho họ điều ǵ khác ngoài sự tôn trọng đối với tinh thần của họ. Người ta kể cho con biết về gia đ́nh của một người trong số ấy. Gia đ́nh ấy gồm bốn người, nhưng theo ba hướng khác nhau. Tất cả đều đang sống. Họ đều đồng ư để người khác giảng dạy một học thuyết hoàn toàn khác tín điều của họ. Dù đó không phải là học thuyết của họ, ít ra đó cũng là học thuyết của người vợ, hoặc của người con... ».

  Bản gốc : văn bản bằng tay, trong tài liệu giữ trữ của tổng giám mục Paris, cha Adrien Pépin sao chép lai, ACR, AQ 7.   

                                                   

 10. Ngôi sao của đời sống tu sĩ.

 

         Đôi khi ta hay thắc mắc mưốn biết đâu là những tác động khiến cha d’Alzon chọn lựa đời sống tu sĩ ? 

 

         Ta biết có ba việc sáng lập ḍng tu đă đóng một vai tṛ rất quan trọng đến con đường dấn thân này của ngài. Việc sáng lập ḍng Các Nữ Tu Mẹ Về Trời năm 1839 mà ngài giữ mối quan hệ ngày càng mạnh qua trung gian của mẹ Marie-Eugénie de Jésus, việc sáng lập ḍng Cát Minh ở Nimes do ngài « thỉnh xin » giám mục giáo phận khi ngài cho phép gửi một số nữ tu ḍng Các Men ở Avignon đến Nimes (1843) và việc sáng lập trường Assomption mua lại của cha Alexandre Vermot năm 1843 và ngài hợp tác việc này với cha Goubier, nhờ có sự cộng tác này của cha Goubier, ngài sẽ lập Ḍng-Ba.

 

        Ta rất muốn biết thêm về những động cơ trong chính con người cha d’Alzon đă thúc đẩy ngài, không những thuyết phục được những phản đối của ĐGM, Đức Cha Cart khi ngài do dự v́ không muốn « mất » vị tổng quản, và nhất là ngài sợ rằng việc ấy sẽ gieo ư tưởng muốn trở thành tu sĩ nơi cha d’Alzon. Ta đối diện với vấn đề này như đứng trước lối vào (porche) của ngôi nhà thờ chính ṭa, lối vào trong thế giới thiêng liêng sẽ mở cho ta cách hiểu biết cuộc đời thống nhất của một người. Dưới mắt chúng ta chỉ c̣n lại ṭa nhà vật chất được dựng xây. Ṭa nhà ấy đă chứa đựng một cuộc đời nguyên vẹn, nhưng lại không thể chỉ cho ta những bước đường huyền bí mà hồng ân đă ghi lại trong linh hồn  một con người để sinh ra một thân thể mới này.

 Thế nhưng, chúng ta không phải hoàn toàn thiếu dấu chỉ. Khi đọc kỹ càng chi li từng ḍng một trong thư của cha d’Alzon, ta không thiếu dấu chỉ, không thiếu những tiết lộ, thậm chí kể cả những mơ tưởng được tỏ hiện dưới ng̣i bút của ngài. T  ất cả mạc khải cho ta thấy nỗi khát khao cuộc sống « tu sỹ » trong giáo hội của cha d’Alzon, giúp ta khám phá mong mỏi của ngài được nh́n thấy những lối sống tu tŕ ra đời vừa đánh dấu nét mới, vừa trung thành theo truyền thống, hoặc làm nảy sinh tiếng mời gọi thiết lập ḍng tu nhằm có thể bảo đảm trọn vẹn tính năng động của đời sống chung liên đới đến niềm đam mê làm việc tông đồ v́ Nước Trời.

 

         Cha d’Alzon không đánh giá thấp những giá trị của cuộc sống linh mục, nhưng ngài tin những giá trị của đời sống tu tŕ sẽ năng động hơn, sẽ tự do hơn, trong khi đó những tính năng ấy nơi cuộc đời linh mục triều theo kư ước giữa thể chế cộng ḥa và Giáo Hội Rôma hoặc văn pḥng giám mục không thể đem lại. Trên hết mọi sự, ngài quí chuộng những thái độ thẳng thắn, tự do, và giản dị. Đối với ngài, những yếu tố ấy h́nh thành nên trung tâm điểm của đời sống thiêng liêng vững bền nơi người tu sĩ và tố chất của đời sống chung có thể triển nở thêm trong vũ khí hoạt động tông đồ. Từ Turin, nơi ngài đặt chân đến vào tháng 6 năm 1844 để thăm em rể, công tước Anatole de Puységur, ngài viết thư cho Mẹ Marie-Eugénie de Jésus điều ngài cảm nhận từ lâu đang dần dần trở thành một thực tế : « Ư tưởng cha nuôi dưỡng trước đây lâu nay chỉ c̣n lại trong kư ức nữa mà thôi, song ư tưởng ấy nay lại xuất hiện trong con người cha mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Đó chính là ư tưởng dấn thân thành lập một cộng đoàn tu sĩ ». Thư viết ngày 24 tháng 6 năm 1844, nhă xuất bản. S.V., tập II, trang.162. Xem thêm, o.c. trang 183, 185, 227, 259.

 

          «... Giờ đây cha bàn đến một vấn đề khác. Có thể con đă không c̣n để ư đến vấn đề này nữa từ ngày con tuyên khấn  nếu con cho là đúng đắn. Nhưng con cũng có thể để tâm đến vấn đề ấy ngay lập tức nếu con cảm thấy việc đó tốt. Vấn đề ấy chỉ liên quan đến cha mà thôi. Thời gian gần đây, con rất quan tâm đến những công việc cá nhân theo trật tự mà Đấng Quan Pḥng có thể muốn cha bước theo.

         Khi cha nhận chức thánh cách đây mười năm, cha không biết ǵ về việc này, cha cũng không c̣n nhận thấy rơ ràng trong  tương lai. Ngày nay, dường như ngôi sao ấy lại mọc lên và cha tin đang khám phá ra điều ǵ đó khiến cha phải bước theo. Đôi khi những day dứt giận dữ xuất hiện trong ḷng. Cha sẵn sàng trước mọi thứ. Mặt khác, một số bối cảnh bên ngoài cho cha thấy mọi thứ, để tạo điều kiện dễ dàng cho cha có những phương tiện thực hiện các dự định mà cha tin đó là những dự định của Thiên Chúa. Nên để Thiên Chúa hành động con ạ. Phần cha, dù phải trả bằng giá nào, dường như cha cảm thấy đă sẵn sàng trước mọi thứ… »

 

 Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus ngày 20 tháng 12 năm 1844, nhà xuất bản. S.V., tập II, trang.213   

 

 «…Con cho cha biết tất cả những người có ơn gọi đi tu mà cha thấy thích hợp tu Ḍng theo như con mơ ước. Nhưng, vấn đề là liệu cha có những ǵ thích hợp không ? Một mặt, cách làm việc, cách hành động chứng tỏ cho cha thấy rằng cha không thể làm hài ḷng tất cả mọi người. Mặt khác, cha nhận thấy rất rơ rằng, trong trật tự của sự thánh thiện, không liên quan ǵ giữa cha và những những đấng sáng lập trước kia. Trước khi lănh trách nhiệm đào tạo những người khác, chính họ đă tự giáo dục họ trong gian nan ! Này con, con phải dè chừng rằng công việc của cha có vẻ  tiến triển tốt đẹp hơn công việc những người khác, có thể v́ tính vô tận của nó khiến con có cách nh́n chưa sâu xa so với những công việc mang hệ thống ngắn gọn hơn… »

 

 Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus ngày 23 tháng 1 năm 1845, o.c, trang.221

 

 «…Con yêu quí, thực vậy, rất có thể cha là một người vô tâm. Bằng chứng là đây. Trong thời gian đi công tác, cha đă viết thư bảo quản gia trả lại căn hộ cho gia chủ vào ngày lễ thánh Mi-Ca-En ngày 27 tháng 9. Trong thành phố, người ta đă biết tin này. V́ thế, biết bao con mắt phải rơi lệ như ḍng sông tuôn chảy đến mức khiến cha ngạc nhiên, hay ít ra đến mức có thể h́nh thành nên một thác nước. Con có nghĩ là cha đă để mọi người tin cha thực sự sẽ rời Nimes và tàn nhẫn rời bỏ những giọt nước mắt ấy măi măi hay sao ? Mặc dầu vậy, cha tin ḿnh vẫn c̣n chút lương tâm, c̣n chút lương tâm hơn nhiều người khác. Nhưng cha không muốn minh bạch điều đó. Nếu con không nhận ra chút lương tâm ấy nơi cha, cha không có ǵ phải bàn đến nữa. Cảm ơn con về những nhắc nhở ấy… »

 

  Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus ngày 10 tháng 4 năm 1845, o.c., trang.245-246

 

 

Phần II

 

11. Sự quan tâm đến vấn đề xă hội nơi cha d’Alzon (1840)

12. Một người cố vấn thiêng liêng  giàu kinh nghiệm (1840)

13. D’Alzon giáo viên học đường (1848)

14. Một nhà thuyết giảng đặc biệt (giữa những năm 1846 và 1849)

15. Việc đào tạo những môn đệ đầu tiên : E. Pernet (1849)

16. Một số phận với chặng đường khổng lồ : Victor Cardenne (1849)

17. Sự ra đời chính thức của Ḍng Mẹ Về Trời (1850-1851)

18. Nền tảng đầu tiên ở Paris (1851)

19. Vượt gió ra khơi (1851)

20. Trên làn sóng theo chủ nghĩa độc tôn Rôma (1855)

 

 11. Sự quan tâm đến vấn đề xă hội nơi cha d’Alzon.

 

         Cha E. d’Alzon thuộc tầng lớp ưu tú cổ của xă hội nhờ gốc rễ gia đ́nh. Được gọi là tầng lớp ưu tú cổ của xă hội do chính trị lật đổ sau cuộc cách mạng pháp nhờ sức mạnh tiền tệ và công nghiệp của giới tư sản. Một trong những đồng hương của ngài là một điển h́nh. Đó là François Guizot, một người tin lành theo ngủ nghĩa tự do (libéral). Tất cả hoặc hầu như tất cả mọi người đối lập hai gương mặt của thế kỷ 19 về mặt tư duy. Tuy nhiên, sẽ không chính xác trong kư ức về đấng sáng lập ḍng Mẹ Về Trời khi ta xếp ngài trong hàng ngũ của những người bảo thủ xă hội, dưới cái dớp của sự chống đối chũ nghĩa tự do chính trị nơi ngài : vào ngày ra đời của Đế chế đệ nhị, cha d’Alzon tỏ ra nhảy cảm với những tiếng gọi và những chờ đợi của các tầng lớp quần chúng trong xu hướng vừa mang tính dân chủ vừa mang tính kinh tế của họ. Ozaman là một trong những gương mặt uy tín của công giáo vừa theo chủ nghĩa tự do, vừa theo chủ nghĩa xă hội. Thời kỳ của chế độ Quân Chủ tháng Bảy, Ozaman đă mở ra một trào lưu mang tính sáng lập với mệnh lệnh nổi tiếng « Passons aux Barbares ». Những sự kiện liên tục của cuộc cách mạng năm 1848 đă nhanh chóng tàn quét cái thời êm đềm nơi giao ước của tự do và tin mừng. Sự tàn quét  vùi dập cái thời êm đêm ấy dưới những tàn dư tràn trề máu do những rào chắn (barricades). Tính độc tài của Bonaparte tiếp tục làm mất dần đi những mầm mống hy vọng dưới bao mập mờ của « Parti de l’Ordre », nhưng được giải thoát năm 1848. Trong thời kỳ khai mào đầy khó khăn của xă hội mới đang gặp khủng hỏng để có thể được giải phóng, cha d’Alzon hẳn đă không phải là một gương mặt hành động hay nhân chứng đầy ưu ái. Vốn là người tỉnh lị, ngài e dè với những nhóm người Paris khuấy động đứng đầu về dư luận. Những bài báo thí nghiệm ban đầu của ngài cho tờ báo V́ tự do cho tất cả mọi người vào năm 1848 không thành công. Ở Nimes cũng xuất hiện những t́nh h́nh khiến lo ngại không kém, những t́nh h́nh kỳ quặc của « cái xă hội không nhận ra chính ḿnh » này nữa. Cha d’Alzon tranh đấu trong trường học của ngài với tất cả tính khí của một con người trưởng giả và ngài gây ảnh hưởng lên dân chúng ở Nimes trong tiếp xúc với họ. Bởi ngài cảm thấy cần thiết đến với họ, giảng dạy truyến bá cho họ. Về phần ngài, ta không thiếu những tấm gương cụ thể về sự gắn bó của ngài với dân chúng rất có thể mang tính chất của người cha nếu ta hiểu theo những xu hướng và những  mối quan tâm riêng. Con người của Giáo Hội, cha d’Alzon tận dụng những khả năng tác động lên dân chúng và cũng tận dụng những phương tiện có được, nhưng ngài biết những việc đó có giới hạn cho phép do t́nh trạng, địa vị (statut) và những lạc quan trong cuộc sống. Dù không ưa thích, ngài vẫn đồng ư làm đại biểu bầu cử năm 1861 nhằm tham gia vào chính sách đối lập Rôma của chính phủ, nhưng ngài không ảo tưởng đến kết quả trong cuộc bầu cử này. Đối với ngài, việc trở thành đại biểu tranh cử là một vấn đề danh dự hơn là một vấn đề tham vọng, thích thú. Bằng chứng là năm 1840, cha d’Alzon tŕnh bày trong tổ chức hội thảo Saint Vincent de Paul. Tổ chức hội thảo Saint Vincent de Paul do chính ngài gầy dựng ở Nimes. Nimes là thành phố thứ hai ở Pháp sau thủ đô Paris có tổ chức này nhờ công của cha d’Alzon. Việc này có thể cho phép chúng ta nắm bắt những rắc rối của những vùng xung quanh về cái chúng ta gọi là mối quan tâm đến vấn đề xă hội nơi cha d’Alzon. Chúng ta xem bài viết dưới đây dưới bút danh của ông Jules Monnier, thư  kư trong cuộc hội thảo này :

 

«…Cuộc hội thảo của chúng tôi đến thời gian này đang rất êm xuôi. Nhưng chúng tôi vẫn cần phải cực kỳ cẩn trọng và kín đáo : mỗi khi gặp phải những người tin lành, chúng tôi phải tránh đụng độ với họ. Đó là lí do khiến những kế hoạch ban phát tinh thần của chúng tôi bị chậm trễ : dạy giáo lư cho…taffetassiers ?, cho những người làm nghề bốc vác, đọc lời Chúa trong các trại tù. Thiên Chúa chuẩn bị đường lối cho chúng ta, đức ái biết khéo léo pḥng trước những chướng ngại vật. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng không quá chậm trễ khởi hành những công việc ấy. Cha d’Alzon, vị tổng quản giáo phận Nimes, sau khi đă dâng lễ cho chúng tôi, truyền đạt  với chúng tôi một số giáo huấn. Tôi nghĩ ngài chủ tịch có thể muốn biết nội dung tóm lược của bài giáo huấn này :

 

         Chúng tôi nhớ lại những t́nh cảm khiêm hạ nơi tấm gương của thánh bảo trợ đầy diễm phúc. Những t́nh cảm khiêm hạ ấy phải thúc đẩy chúng tôi trong những công việc đang được tiến hành. Khi gạt bỏ mọi tính kiêu căng trong con người, tính khiêm hạ giúp chúng tôi hành động chỉ v́ Thiên Chúa mà thôi. Và nhờ tính khiêm hạ, chúng tôi có niềm tin tưởng, không phải trong con người nghèo hèn, yếu đuối của chúng tôi, mà tin tưởng trong công việc do Thầy Chí Thánh đă thổi sinh khí cho chúng tôi. Không bao giờ thất vọng về công việc nhân danh  Thầy Chí Thánh đồng nghĩa với tấm ḷng thành kính của chúng tôi đối với Thiên Chúa toàn năng. Đức ái luôn luôn không bao giờ thất vọng. Hầu như tất cả mọi sáng lập của saint Vincent de Paul lúc đầu chẳng là ǵ. Những sáng lập ấy lúc khởi đầu chẳng có ǵ nương tựa.

 

 Việc lập ra hội các Bà Đạo Đức (Dames de Miséricorde) phát xuất từ việc qui tụ 24 bà sùng đạo : ngày nay, hội này có mặt khắp nơi trên toàn lănh thổ Âu Châu. Từ một ngôi nhà thuê ở cổng Saint-Victor ban đầu chứa 12 trẻ em bị bỏ rơi t́m thấy : thế nhưng ngôi nhà ấy nhanh chóng trở thành bệnh viện, Bicêtre, Saint-Lazare, trên toàn nước Pháp. Chị Legras lần đầu tiên tổ chức gặp gỡ một vài Nữ Tu bác ái với số người rất khiêm tốn : vậy nhưng hôm nay, con số ấy đă vượt qua ngàn người…Công việc của chúng ta cũng sẽ tiến triển như vậy nếu chúng ta luôn luôn biết từ bỏ, biết phó thác mọi sự trong Chúa. Chỉ năm chiễc bánh trong bàn tay Chúa cũng đủ nuôi năm ngàn người. Cũng vậy, với số vốn chỉ có một quan, hai lăm xu ban đầu, số vốn ấy sẽ tăng lên cách khôn lường miễn là tinh thần bác ái, tinh thần của thánh Vincent de Paul ở trong chúng ta.

  Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi những công việc tốt lành. Nó luôn mang tính ki tô giáo, mang tính mộ đạo. Những công việc ấy được Chúa chúc lành khi nó mang tính khiêm nhường và nhiệt tâm phục vụ Thiên Chúa. Khác với những công việc mang tính yêu thích của con người, trong đó tất cả chỉ thuộc về con người, trong đó không có ǵ được thực hiện v́ Thiên Chúa. Trái lại, những công việc tốt lành nói trên hoàn toàn hướng về Thiên Chúa, hạ thấp trước Thiên Chúa, Đấng ban sức mạnh diệu kỳ. V́ thế, đức ái có được những quyền tuyệt vời ! Đức ái phục tùng Thiên Chúa, nếu chúng tôi có thể nói như vậy. Đức ái buộc Thiên Chúa ban ơn cho người làm phúc nhân danh Người như Người đă ban cho những người khác. Đức ái bắt buộc ḷng nhân từ và khiến ḷng nhân từ hành động. Thế là bầu trời mở rộng với những kẻ tội lỗi có ḷng bác ái, với tiếng van nài của những người nghèo khổ mà Người đă từng trợ giúp.

 

         Ngài Luxembourg khi sắp qua đời hứa sẽ đổi mọi thắng lợi của ḿnh để lấy một chén nước nhân danh Đức Giê Su Ki Tô, ông bảo thật : tất cả mọi vinh quang, mọi của cải, mọi sự cao sang trên thế gian là ǵ để được sánh với hạnh phúc vĩnh cữu mà linh hồn bác ái có được ? Chúng ta hăy trao gửi tất cả cho Thiên Chúa, hăy làm phúc bố thí trong tinh thần cầu nguyện, luôn luôn v́ Chúa. Tinh thần cầu nguyện sẽ chúc lành cho chúng ta, sẽ thánh hóa những cuộc viếng thăm người nghèo của chúng ta. Các thiên thần bản mệnh sẽ dẫn dắt chúng ta, sẽ ban cho chúng ta những lời an ủi để yên ủi những người nghèo khổ, sẽ ban cho chúng ta những lời dịu dàng và nhiệt thành để vực dậy linh hồn tan nát, làm cho linh hồn ấy mạnh mẽ trong hồng phúc. Chúng ta sẽ tôn vinh Thiên Chúa, chúng ta sẽ giảm bớt nỗi thống khổ của một số anh em, chúng ta sẽ thánh hóa chính con người chúng ta : đó là vương miện chói sáng nhất. Chúng ta hăy tỏ ra xứng đáng có được vương miện ấy, hăy ước muốn nó, hăy t́m cách có được nó.

 

 Cha d’Alzon kết thúc buổi trao đổi bằng những lời khích lệ mới dành cho toàn thể mọi người có mặt trong buổi tọa đàm. Ngài t́m cách làm cho mọi người nhận ra sứ mệnh của các giáo dân thời đại chúng ta... »

 

 Thư của ông Jules Monnier gửi ngài chủ tịch các cuộc Hội Thảo ở Paris ngày 5 tháng – năm 1840.

 Bản gốc viết bằng tay : tài liệu giữ trữ của Hội, số 7, đường Pré-aux-Clercs, Paris.

 

 

12. Một cố vấn thiêng liêng giàu kinh nghiệm.

 

 

  Trong những bức chân dung tự họa khác nhau do chính cha d’Alzon để lại, chúng ta chỉ có thể ngạc nhiên về một vài nét thường xuất hiện trong tính cách và con người cha. Là một người mang tính trung thực hết mực đến mức khó chịu đối với người khác (rude franchise), trong ngài chứa đựng sự đ̣i buộc sống trong ngay thẳng, cho nên đôi khi ngài đưa ra những nhận định quá vội vàng và khắt khe, ngay cả khi liên quan đến bản thân ḿnh. Cha d’Alzon cũng không tránh khỏi những lời nói cay đắng mang tính bạo lực (invective), càu nhàu (gronderie), những nhắc nhở đôi khi chứa đựng sự châm chọc hoặc chế diễu. Tuy nhiên sau đó, ngài biết xin lỗi khi cảm thấy người anh em bị tổn thương. Những giải pháp hoặc những đánh giá nhận định của  ngài có thể theo phạm trù quen thuộc hoặc mau lẹ (expéditifs) : ngài không ưa chờ lâu, không ưa nhắc lại nhiều lần. Tính kiên nhẫn không phải là điểm mạnh nơi ngài. Những khuyên bảo tự ngài đưa ra hoặc do người khác nhờ ngài chứa đậm ḷng t́nh nguyện, năng lực, thậm chí vượt quá sức : tóm lại, ta thấy nơi ngài một người mang nam tính hơn nữ tính.

 Thế nhưng, cha d’Alzon cũng chứng tỏ cho chung ta thấy ngài là một người thích những mối quan hệ trong việc hướng dẫn thiêng liêng đầy thận trọng và sự tế nhị tuyệt vời về mặt tâm lư cũng như tinh thần đến nỗi ngạc nhiên. Đối với những người thân cận, ngài đối xử tự nhiên với uy thế mạnh mẽ hoặc khó lay chuyển nhờ tên họ của ngài, nhờ nguồn cội gia đ́nh, nhờ bản tính, nhờ văn hóa, và nhất là nhờ dạng thức làm chủ bản thân nơi ngài đă được rèn luyện rất nhiều theo tinh thần tin mừng. Điều đó không hề cản trở ngài nói năng hoặc điều khiển công việc cách nhanh chóng. Đó là trạng từ thường xuất hiện dưới bút danh của ngài. Những người cùng thời với ngài có lẽ đă nghe hơn một lần qua môi miệng của ngài. Chúng ta đừng nghĩ ngài luôn nói những lời dịu ngọt. Cũng có lúc ngài dùng những thành ngữ phổ biến có vẻ khó nghe. Cha d’Alzon không dùng thứ ngôn ngữ khô cứng (langue de bois). Đôi khi cha dùng những thành ngữ mang tính h́nh tuợng. Những thành ngữ như thế dù không mang tính cứng nhắc quân sự, nhưng đánh dấu một h́nh dạng và sức mạnh phổ biến : mặt mày khó coi thế, lạy Chúa ; tôi mắng cho anh ta một trận ; tôi đang cáu giận ; tôi muốn tống cổ nó đi cho khuất mắt, ư cha là nếu Sơ nào không chịu để dẫn dắt nhanh chóng hơn một tí, con nên tống cổ nó đi cho rảnh mắi. (Quelle tête, bon Dieu ; je viens de donner un bon savon ; je bats froids ; j’ai envie de l’envoyer promener ; mon avis est que si telle sœur n’accepte pas d’être menée un peu rondement, il faut vous en débarrasser). Một hôm, ngài so sánh cha Cusse với quả táo thối làm rầu cả giỏ táo ! Những cách dùng như thế hoặc chút vụn vặt trong văn phong mang vẻ sỗ sàng không hề giảm bớt những phẩm chất của tấm ḷng và sự tế nhị xuất hiện tràn ngập trong những lá thư với những người ngài hướng dẫn, với bạn bè của cha d’Alzon. Trong những lúc vui vẻ và khó nhọc của cuộc sống, cha d’Alzon biết chứng tỏ là một người bạn trung thành, biết t́m những lời đánh động tâm hồn, biết đưa ra những lời khuyên thích hợp, biết tạo lực đẩy để vươn lên. Bởi sự tế nhị là nét giống ṇi lưu truyền trong bản tính cũng như trong văn hóa. Sự kết hợp tinh tế và chắt lọc của tính giản dị và tính gần gũi thật sự giúp ngài biết giữ cân đối và khoảng cách cần thiết. Là một người có óc quan sát (observateur), là một người cầm đầu, dẫn dắt : v́ là linh mục, ngài khích lệ ư thức nêu cao tự do và trách nhiệm bởi đó là những giá trị làm cho các linh hồn trưởng thành dưới nhăn quan của Thiên Chúa.

 

 «…Thưa bà, tôi vừa chăm chú hết sức đọc thư của bà. Bà đă ưu ái viết thư cho tôi. Sau khi đă cầu xin ánh sáng Chúa Thánh Thần, cha trả lời vấn đề con nêu ra. Lập trường của con ghê quá, nhưng phải duy tŕ măi cho đến khi nào Đấng Quan Pḥng ban cho con những phương tiện giải quyết. Cha đồng ư thỉnh cầu của con thỉnh thoảng muốn viết thư cho cha. Cha thấy cần đưa ra cho con những nguyên tắc hành động như sau :

1.     Cha tin có ít linh mục thích cha Combalot như cha, dù cha không đề cập ǵ đến những nhược điểm của ngài.

2.     Những dự định con muốn làm sẽ có khả năng làm hại người cha đáng thương ấy, tiếp đến gây tác hại cho cộng đoàn.

3.     Cuối cùng, cha vừa gặp cha giải tội riêng, ngài tin cha hoàn toàn có thể chín chắn trong lương tâm để trao đổi thư từ theo yêu cầu của con. Chính ngài là bề trên cộng đoàn và ngài rất giàu kinh nghiệm : về mặt này, ngài hoàn toàn khác biệt với cha Combalot. Con cho phép cha đưa ra một vài điều kiện trong quan hệ giữa con và cha :

1.     Phải có tự do lớn lao nhất để ngưng mối quan hệ, khi con và cha đều cho là thích hợp. Cha không bao giờ nhận hướng dẫn ai cả, nếu không đưa ra điều kiện này.

2.     Chừng nào quan hệ giữa hai người c̣n tồn tại, chúng ta phải tôn trọng sự thành thật nhất. Tức là khi con không muốn trao đổi với cha vấn đề ǵ đó, con nói cho cha biết rằng con không thích đề cập đến điểm ấy. Cha chỉ cần thế thôi. Cha xin con đừng bao giờ đề nghị ǵ thêm nữa.

3.     Con đừng bao giờ sợ làm tổn thương cha, cũng vậy, con cần tin rằng cha sẽ chỉ khi nào trao đổi, nói chuyện với con trước sự hiện diện của Đức Ki Tô trên thập giá. Cha có thể hay mắc sai lầm, nhưng nếu con đọc thư cha dưới chân Chúa, con sẽ cảm nhận sâu sắc ư cha muốn trao đổi với con.

4.     Khi con đă hiểu những điều cần thiết, con cần  đề pḥng thận trọng để không một ai có thể đọc những lá thư của cha.

 

         Nếu những điều kiện trên phù hợp với con, cha sẵn sàng trao đổi với con nhiều hơn so với trước đây, cách đây một năm khi con viết thư cho cha lần đầu tiên. Sự thay đổi này trong quan hệ với con do một số định kiến nơi cha đă biến mất nhờ lá thư của con. Thú thật, cha hơi sốc v́ tính giản dị vô cùng của con khi ở Châtenay. Cha nhận thấy con không tự do và con hành động trái với nhận định của ḿnh. Lúc ấy, cha cũng hơi ngạc nhiên bởi một người trẻ như con viết thư cho cha về việc chọn lựa cha tổng quản. Cha sung sướng bởi lá thư ấy chỉ là một hành vi vâng lời. Sự  nghi ngại trước đây thật hoàn hảo… ».

 

 Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, ngày 10 tháng 12 năm 1840, nhà xuất bản. S.V., tậpII, trang.57-59

 

 13. D’Alzon giáo viên học đường.

 

         Ta có lí dùng những lời của chính cha d’Alzon khi đánh giá rằng vấn đề học đường đă luôn là « công việc gắn bó với cuộc đời ngài ». Ngài say sưa quan tâm đến vấn đề học đường với người công giáo thời đại ḿnh. Bằng sự tin tưởng, kinh nghiệm, cha d’Alzon sớm phân định những mấu chốt liên quan đến con người, đến Giáo Hội và đến ư nghĩa thiêng liêng của sự tự do được giảng dạy : đào tạo trí luận, đào tạo người ki tô hữu được sáng suốt, thao thức ơn gọi. Ngài tranh đấu cùng những nhân vật có uy thế Montalembert và Lacordaire v́ không chịu chỉ có nhà nước tuyệt đối hóa trong ngành giáo dục do cách mạng pháp và Đế chế Napoléon đề ra. Các trường trung học thuộc nhà vua, thuộc nhà nước tràn ngập triết học mang chủ nghĩa trung lập tự do (libérale ?) không thể làm thỏa ḷng những nguyện vọng của các gia đ́nh công giáo vốn đặt tin tưởng vào Giáo Hội và trường học của Giáo Hội nhằm phát triển một mạng lưới học đường riêng. Ba thời điểm đánh dấu cuộc đấu tranh lâu dài dành tự do giáo dục này ở Pháp là : năm 1833, bộ luật Guizot đối với việc giảng dạy bậc tiểu học, năm 1850, bộ luật Falloux đối với việc giảng dạy bậc trung học (secondaire). Năm 1875, bộ luật Laboulaye đối với việc giảng dạy bậc cao đẳng, đại học (supérieur), trước khi Nền Cộng Ḥa thứ ba sữa đổi. Cha d’Alzon triển khai tư tưởng cũng như việc thực hành sư phạm : ngài đầu tư thời giờ, tiền của, danh tiếng, các Hội Ḍng. Các tu sĩ Augustins ḍng Mẹ Về Trời không phải sinh ra trong ḷng trường học ở Nimes năm 1845 hay sao ? Trong Hiến Chương (Institutions), ngài đề nghị các con của ḿnh việc giảng dạy dưới mọi dạng thức, như là sự quan tâm hàng đầu, sâu rộng và ưu tiên nhất. Trong lĩnh vực giáo dục, cha d’Alzon biết đổi mới : để có những phương pháp dễ tiếp cận hơn, khích lệ hơn, giàu sức sống thiêng liêng hơn, bền lâu hơn đối với giới trẻ bởi giới trẻ tạo nên môi trường và khung cảnh tự nhiên cho ngành giáo dục hoạt động trong suốt cuộc sống của ngài. Trong cái nôi học đường này, sự hợp tác giữa giáo dân và tu sĩ được nối kết. Ta có những gương mặt giáo dân như Germer-Durand và de Monnier là những điển h́nh sống động. Mạo hiểm này bắt đầu tiến hành ngoài ư nghĩ của ngài vào tháng bảy năm 1843 khi cha Goubier cùng với cha d’Alzon mua ngôi trường Vermot do họ không đủ khả năng hoạt động nữa. Năm 1848, từ Nimes, cùng với Montalambert, cha d’Alzon tung ra kế hoạch hành hoạt động của Ban đấu tranh v́ tự do giảng dạy. Ngài đến tận Paris thỉnh nghị các bộ ngành để có quyền giảng dạy thực sự. Từ đó, ngài lập ra tạp chí giảng dạy ki tô hữu. Ngài đến ở trong trường chính thức vào tháng 9 năm 1845. Ngài đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà nguyện vào tháng 5 năm 1849. Tại nhà nguyện này, dịp lễ Noen năm 1850, cùng với bốn người anh em tu sĩ khác, ngài tuyên khấn công khai (vœux publics). Năm 1859, cũng tại nhà nguyện này, ngài tiếp đón và khích lệ những người sáng lập trường văn chương (les Félibres) nhằm bảo tồn ngôn ngữ miền Provence (la langue d’oc) (miền nam nước Pháp). Tài sản của ngài chắc hẳn được chôn giấu trong mồ mả, nhưng cuộc sống của ngài cũng t́m thấy nơi đây sự hiệp nhất và đường hướng lănh đạo.

 

 « …Bạn thân mến,

 Dù được chữa trị hết sức tại nhà Đức Cha de Stanislas, ḿnh vẫn c̣n hơi đau. V́ vậy ḿnh phải đi ngủ sớm và thức dậy trễ. Với chế độ ấy, cộng thêm việc chạy bộ trong ngày nữa, ḿnh không c̣n nhiều thời gian để cho bạn tin tức. Thế nhưng, ḿnh muốn chứng minh cho bạn rằng ḿnh biết chăm lo công việc. Đây là bài huấn giáo về tôn giáo ḿnh soạn thảo ngày 26 tháng 12 và đă được chỉnh sửa. Đa số học sinh … Ḿnh nghĩ sẽ giảng cùng một thể. (J’ai cru ne devoir faire qu’une section). Numa Baragnon đă không làm bài. Một học sinh không chịu kư. Ḿnh không nhận ra chữ của cậu ấy…Ở đây, ḿnh bị giữ lại lâu hơn một chút so với dự tính v́ không đủ chỗ, khi ḿnh muốn đi. Tối thứ bảy ḿnh mới có thể có mặt tại Paris. Có thể bạn sẽ nhận được thư ḿnh trước khi ḿnh đến đó. Ḿnh không trông mong có những thông tin quan trọng về căn nhà nói chung, nhưng hy vọng ḿnh sẽ có một vài chi tiết liên quan đến cách tiến triển của mọi việc. Phần ḿnh, ḿnh không thể nó ǵ với bạn, ngoài việc ḿnh đă t́m được giáo viên giỏi ở Toulouse. Nếu bạn cần liên lạc với giáo viên ấy, bạn cứ liên lạc với cha Pradel, ngài quản trị việc lần chuỗi mân côi tại nhà thờ chính ṭa Toulouse. Tuy nhiên, theo ḿnh, nếu có thể,  tốt hơn là nên chờ ḿnh lên Paris đă. Ḿnh cũng xin bạn bảo các giáo viên và các giám thị nên tránh những giải pháp đánh đập học sinh. Bạn không lường nổi ḿnh buồn đến mức nào khi chứng kiến cảnh phụ huynh phàn nàn về những phương cách trừng phạt học sinh như thế. Ḿnh sẽ viết thư trong thời hạn sớm nhất cho Ḍng Ba. Hôm nay, ḿnh hoàn toàn không đủ thời giờ. Ḿnh chỉ có thể xin bạn sát cánh cùng những người của chúng ta. Xin bạn chuyển đến họ t́nh cảm sống động của ḿnh.

 Bạn thân mến, bạn biết từ lâu, ḿnh dành cho bạn một phần rất đặc biệt.

 Bạn nhớ đưa tin cho cha Goubier. Khi có thông tin ǵ ở Paris, ḿnh sẽ viết báo cho cha Goubier ngay. Bạn đă có thể trao đổi với ngài Nicot chưa?”

 

      Thư gửi Eugène Germer-Durand, Bordeaux ngày 12 tháng 1 năm 1848, theo nxb.S.V., tập III, trang.314-315. Bạn thân của cha d’Alzon

 

 

 14. Một nhà rao giảng đặc biệt.

 

         Nếu nói đến sự rèn luyện của một người tu sĩ để chỉ đặc tính việc thực hành của cha d’Alzon, chúng ta phải nhất thiết nghĩ ngay đến việc rao giảng đều đặn của ngài. Người ta chẳng phải đă đặt biệt danh cho ngài là “ người rao giảng cuồng say” (prédicomane). Chính ngài một hôm đă thú thật điều này: “rao giảng đă luôn luôn khiến tôi phải nỗ lực hơn viết lách”. Nhưng ngài không bao giờ từ chối rao giảng hoặc viết lách. Thậm chí, ta có thể nói rằng trước khi nổi danh trong giáo phận Nimes, cha d’Alzon đă là một người có tiếng nói nơi đây: tiếng nói của ngài đă vang vọng trong mọi nhà thờ, mọi nhà nguyện dưới mọi h́nh thức: giảng lễ chúa nhật hoặc giảng lễ theo ư xin (circonstance), giảng mùa chay và mùa vọng, tháng Đức Mẹ, phụng vụ giờ kinh, khích lệ hành hương, giảng tĩnh tâm, dạy về đạo cho trẻ em và học sinh phổ thông, giảng dạy Ḍng-Ba hoặc một hiệp hội nào đó... Việc ǵ ngài cũng làm.

 

         Cha xứ ở Ars thấy bài giảng quá ngắn nếu không quá 45 phút! Có lẽ giáo dân thời bấy giờ không tràn ngập làn sóng các phương tiện thông tin như ngày nay nên có khả năng lắng nghe tốt hơn chúng ta. Chúng ta ngày nay không nghe nổi một bài giảng dài hơn bảy hoặc tám phút theo qui định. Vả lại, chỉ cần sang Châu Phi để chứng kiến những sự khác biệt phổ biến về mặt này vẫn đang c̣n đúng quy tắc ngày nay. Chắc chúng ta tiếc nuối không có bằng chứng ghi lại việc giảng dạy của cha d’Alzon. Kư thuật ghi âm không có trong thế kỷ 19. Điện thoại là h́nh thức liên lạc từ xa đầu tiên do Alexandre Graham Bell phát minh giữa những năm 1876. Kỷ thuật ghi âm của tổ tiên chúng ta chỉ xuất hiện ở thế kỷ 20. Thế nhưng, bài rao giảng của cha d’Alzon vẫn vang vọng măi đến chúng ta: bài rao giảng sống động, phổ biến, tuyệt vời, phong phú và giàu ư nghĩa. Thật kỳ lạ, nguồn tốt nhất để lại âm hưởng ấy về cha d’Alzon lại là kinh sỹ Galeran. Ngài là cựu học sinh trường Assomption ở Nimes. Ngài để lại cho chúng ta một minh chứng về tài hùng biện trong tập kư họa về những bài giảng dạy của Đấng sáng lập Ḍng. Chức vụ rao giảng đáp ứng yêu cầu thiêng liêng của chức linh mục: giới thiệu đức tin, bảo vệ đức tin khi cần và khi rơi vào t́nh h́nh tranh căi, tăng thêm và làm sáng tỏ vấn đề thời sự dưới ánh sáng Thánh Kinh, luôn thi hành theo lời thánh Phao lồ: “ thật khốn khổ cho tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng”.

 Chúng ta hăy minh chứng điều trên với bài lưu niệm của cha Galaran vào khoảng những năm 1846-1849: “ Tối thứ bảy, sau kinh cầu các thánh, trong ngôi nhà nguyện cổ xưa ở đường Servie, cha ( d’Alzon) bắt đầu giảng dạy như thế này:

 

Thưa anh chị em, anh chị em đă bao giờ thấy cha Matton, cha sở Saint Baudille qua đời lặng lẽ không ai biết ? Cha Motton thân h́nh rất xấu xí: mũi, hay hơn nữa, bộ mặt tṛn trĩnh, nhỏ xíu  đầy đặn, màu cà chua, hai con mắt đen bé tí ḿnh h́nh xoắn ốc. Đầu đội chiếc mũ calotte bẵng gia che kín một nửa mái tóc trắng không trau chuốt lắm bao trùm tất cả. Đó là bức chân dung chính xác. Quí anh chị em nghĩ như thế nào? Nói thật với anh chị em, tôi đă nhiều lần thấy vị linh mục này cầu nguyện, đặc biệt khi ngài dâng lời tạ ơn. Tôi qú gần ngài hết mức cho phép và ngoáy cổ nh́n xiên để chiêm ngưỡng vẻ đẹp thân h́nh và vẻ thánh thiện của ngài. Tôi đă chứng kiến một sự biến h́nh thật sự. Lúc ấy, tôi nhớ đến một vài gương mặt không chê đến đâu được về mặt nghệ thuật, về sự tinh tế trong từng nét vẽ. Những gương mặt ấy không tạo ấn tượng ǵ trong tôi. Tôi không thấy đẹp đẽ chút nào. Tại sao thế? Nét đẹp có từ đâu vậy? Nét đẹp nhằm để làm ǵ? Chúng ta hăy có những khái niệm chính xác bền lâu. Kinh Thánh có một từ đem lại câu trả lời cho chúng ta về những câu hỏi này: Con người bên trong của chúng ta ngày càng đổ mới. Is qui intus est renovatur de die in diem 2 Co. IV, 16. (Notre homme intérieur se renouvelle de jour en jour). Nét đẹp đích thực là sự phản chiếu của linh hồn. Linh hồn càng hoàn thiện, sự phản ảnh bên ngoài càng đẹp. Khi sống lại, thân xác chúng ta sẽ biến đổi do sự biến h́nh trực tiếp của linh hồn…

 Từ đó, cha (d’Alzon) triển khai sâu rộng  bài giảng. Đó là một trong những bài giảng đặc sắc nhất và hay nhất mà tôi đă được nghe ».

 

 Theo cha Henri-Dieudonné Galaran, Croquis về cha d’Alzon, Paris, nxb. Bonne Presse, 1924, trang.16-17

 

15. Đào tạo một trong những môn đệ đầu tiên : Etienne Pernet.

 

         Việc đào tạo các tu sĩ tiên khởi của Ḍng Mẹ Về Trời diễn ra trong nôi của trường học ở Nimes. Chúng ta biết tên những đồng môn của cha d’Alzon bắt đầu giai đoạn đào tạo trong nhà tập dịp Noen năm 1845 dù không được giám mục Cart giáo phận Nimes cho phép. Những người tiên khởi đó chính là : René-Eugnène Cusse, gốc ở Nimes (1822-1866). Chặng đường của ngài rất quanh co. Cha Eugène Henri (1815-1874), gốc ở Nimes, linh mục giáo phận. Về sau ngài trở lại giáo phận đảm trách giáo xứ Remoulins. Cha Charles Laurent (1821-1895), quê quán ở Uzès, vào tập viện khi đă là linh mục. Năm 1852, ngài trở lại Ḍng cho đến chết. Cha François Surrel (1806-1857), linh mục giáo phận Nimes. Ngài là điển h́nh cho số những ơn gọi tạm bợ này. Qua đời khi c̣n là cha xứ Saint-Ambroix. Sau cùng, một vị đă có chức vị khác. Đó là cha Paul-Elphège Tissot. Người gốc Lyon (1801-1895). Ngài sẽ chỉ dấn thân vào ḍng năm 1852.

 

         Ta hoàn toàn có quyền thắc mắc về chương tŕnh đào tạo tu sĩ nói riêng trong giai đoạn ở tập viện lúc bấy giờ. Nhưng chúng ta chỉ có được những bức thư của cha sáng lập ḍng, và tùy theo t́nh h́nh, chúng ta có một số quan hệ do những ứng viên theo đuổi ơn gọi tu sĩ để lại. Cha giáo tập của vị sáng lập ḍng không ai khác ngoài Chúa Thánh Thần. Thế nhưng, ngài biết chia sẽ với các anh em cùng chí hướng lí tưởng sống, đức tin, và nhiều hoạt động tông đồ khác. Đúng vậy, những ứng viên đầu tiên bị hạn chế rất nhiều trong các chức vụ khác nhau ở trường học. Bởi vậy, họ không có thời gian thư giăn chút nào để hoàn thiện việc đào tạo, ngoài thời gian rèn luyện dành riêng cho tu sĩ. Cha d’Alzon đào sâu những khả năng giảng dạy của họ. Ngài t́m cách tạo mối quan hệ riêng với từng người trong sự tin tưởng, sự rộng mở, và đôi khi ngài thôi thúc khi cần thiết. Chúng ta không thiếu bằng chừng về việc này. Ngài cũng thích khích lệ tính nhiệt tâm của anh em khi dẫn họ đi hành hương ở Rochefort-du-Gard hoặc bằng cách mời anh em đi tĩnh tâm vài ngày ở Chartreuse de Valbonne.

 

         Bắt đầu từ năm 1850, ngài cùng các anh em lập những chương đầu tiên về Hiến Chương của Ḍng Mẹ Về Trời (Constitutions). Sự cộng tác trong công việc này hầu như được thực hiện từng câu chữ v́ ngài không muốn áp đặt ǵ bởi ngài đă từng trải. Nhờ vậy, chúng ta có bản hiến chương viết xong năm 1855, nhờ bản sao của thầy Galabert (về sau là linh mục) cất giữ. Con đường thử nghiệm về đời sống chung hoặc kinh nghiệm đồng hành với nhau là bước khởi đầu đào tạo nên ḍng Mẹ Về Trời. Con đường thử nghiệm ấy trải qua ngay giữa ngọn lửa của bao bận rộn nơi học đường.  Dù có những hạn chế và đă phải nếm mùi thất bại, song không phải nhờ « việc đào tạo vừa học vừa làm việc » này mà chúng ta có được sự bền chắc của những trụ cột đầu tiên, trong đó có cha E. Pernet hay sao ?

 

          «Bạn quí mến, ḿnh có thể bảo đảm là bạn thật sai lầm xem bạn như một người lạ giữa chúng tôi. Các chủ  nhà quí mến bạn. Các tu sĩ  xem bạn như người anh em. C̣n ḿnh, đảm bảo với bạn, ḿnh đón nhận bạn như người con ḿnh yêu hết ḷng. Bạn hăy nhận thấy sự khiêm tốn thái quá nơi bạn đang cản trở bạn nhận ra t́nh cảm quí mến mọi người dành cho bạn. Ḿnh tin những t́nh cảm ấy sẽ phát triển hơn nữa. Bởi Thiên Chúa là căn nguyên, là mối dây và là cứu cánh cho sự liên kết của chúng ta, ḿnh xác tín như vậy, Ngài sẽ chỉ làm tăng điều tốt đẹp giữa t́nh cảm và sự tử tế nơi chúng ta. V́ vậy, con yêu dấu, cha không trách cứ ǵ con, nếu có th́ đó chỉ là những trách móc nhẹ nhàng nhất của ḷng người bởi v́ con có vẻ không quí mến chúng tôi như chúng tôi quí mến con. Nhưng không sao, con sẽ quí mến chúng tôi, khi chúng ta hiểu nhau nhiều hơn, và khi sự rụt rè đang cản trở con triển nở sẽ tan biến đi. Con biết lời của thánh Gio-an : T́nh yêu hoàn hảo không c̣n sợ hăi. (Charitas perfecta foras mittit timorem (l’amour parfait chasse la crainte). Con hăy nhanh dành cho chúng tôi t́nh yêu hoàn hảo. Cha đảm bảo chúng tôi sẽ dành lại cho con t́nh yêu ấy. Cũng như con, cha buồn v́ không thể trở lại Nimes như ư muốn. Sức khỏe của cha c̣n lâu mới hồi phục. Cha mới lại ốm nặng. Cha buộc phải đề pḥng. Cuối cùng, cần hy vọng, Thiên Chúa sẽ liên kết chúng ta. Trong khi chờ đợi, mọi chuyện mang ư nghĩa thử thách và rèn luyện với chúng ta. Thật không may ! Tất cả chúng ta phải trở nên thánh, những người noi gương Thiên Chúa khắp mọi nơi như những người con yêu dấu : Imitatores Dei ut filii carissimi. Vậy, sự vắng mặt, sự đoàn tụ, sự chia cắt, sự trở về sẽ là phương tiện để chúng ta nên thánh. Ngay khi nhận thư cha, xin con vui ḷng gửi thư cho cha theo địa chỉ ở Vigan. Cha nhờ Cardenne trả lời những phàn nàn của con khi cần thiết. Cha luôn ở bên con trong Chúa bằng con tim nhiệt huyết đầy yêu thương nhất ».

 

     Thư ngày 11 tháng 9 năm 1849, Lavagnac, theo nxb. S.V., tập III, trang.486-487

 

 16. Một số phận với chặng đường khổng lồ : Victor Cardenne

 

         Một trong những người đầu tiên gia nhập Ḍng-Ba Mẹ Về Trời thuộc thành phần giáo dân là Jean-François Cardenne. Jean-François Cardenne được biết đến nhiều hơn trong Ḍng Mẹ Về Trời bằng tên Victor khi trở thành tu sĩ. Không ǵ lạ lẫm với bất cứ ai về cuộc đời sinh viên bận bịu của ngài ở Paris đă khiến cho ngài phải xa lánh một thời gian những công việc liên quan đến việc thi hành và sự quan tâm đến đời sống tu sĩ. Tuy nhiên, Jean-François Cardenne biết đến Ḍng Mẹ Về Trời nhờ tiếp xúc với cha xứ Saint-Etienne du Mont, gần Panthéon. Đó là cha Joseph Perdrau (1820- ?). Cha Joseph Perdrau từ năm 1836 có người em rể làm nghề bác sỹ tên là Henri Gouraud (1807-1874) bởi v́ Henri Gouraud lấy em gái của cha Joseph tên là Fanny. Từ đó, cha Joseph giới thiệu J-F Cardenne tiếp xúc với ḍng Mẹ Về Trời ở Auteuil. Nơi đây, Cardenne làm quen với Mẹ Marie-Eugénie de Jésus. Mẹ Marie-Eugénie de Jésus nhanh chóng nhận định nơi người thanh niên trẻ trung này là một ứng viên tuyệt vời cho trường học của cha d’Alzon.

 

         Cha d’Alzon gặp J-F Cardenne ở Paris vào tháng 8 năm 1845. Sau đó ngài viết thư cho ông Eugène Germer-Durand về J-F Cardenne như sau : « Một phần thời giờ sáng nay, ḿnh đă gặp gỡ và nói chuyện với một thanh niên c̣n trẻ. Ḿnh hoàn toàn đánh giá cao anh ta và quyết định dứt khoát nhận anh ta. Anh ấy là một người rất nhiện huyết. Anh ta từng muốn dạy luật, nhưng sau khi đậu thạc sĩ (thèse) khá thành công, anh ta lại từ bỏ ư định ấy. Anh tuân theo một lối sống đều đặn theo lời khuyên của ḿnh ».

 

         Từ đó, cuộc sống của Cardenne liên kết sâu sắc với cuộc đời của những số phận trong ngôi trường ở Nimes. Tháng 9 năm 1845, Cardenne chính thức trở thành giáo viên sử của trường này. Tại đây, Cardenne được đánh giá rất cao : « Giáo sư Cardenne là một người hiếm có, tất cả những ǵ tôi nhận thấy nơi giáo sư đem lại cho tôi biết bao tấm gương. Giáo sư luôn thăng tiến từng ngày trong sự thánh thiện ». Cha d’Alzon đă nhiều lần viết như thế về giáo sư Cardenne. Thuộc thành viên Ḍng-Ba, Victor Cardenne được nhận làm thầy tu của Ḍng vào tháng 7 năm 1846 trong niềm vui của mọi người. Cha d’Alzon chỉ lo ngại vấn đề sức khỏe của giáo sư Cardenne bởi v́ gió mạnh ở miền Nam không chữa khỏi bệnh lao của giáo sư. Ngày 24 tháng 12 năm 1850, thầy Victor dấn thân theo Ḍng Mẹ Về Trời bằng việc tuyên khấn những lời khấn hứa công khai hàng năm. Cuộc đời trần thế của thầy rất ngắn ngủi. Tháng 12 năm 1851, thầy qua đời ở Fontainebleau trong ṿng tay của mẹ.

 

         Chúng ta sẽ không bao giờ biết những nét về thể h́nh của thầy Cardenne trong thời gian ban đầu : không có tấm h́nh nào, không có h́nh vẽ nào trong cuốn kư ức dày 300 trang do Jules Monnier viết về thầy. Chúng ta chỉ cần đưa ra bức chân dung đạo đức đầy sức thuyết phục : «Ăn năn trở lại như thánh Augustino, rất thông minh nhờ thiên bẩm, thầy Cardenne có chút tương đồng với tính nhiệt huyết của cha giáo trưởng chúng ta (patriarche) v́ sự ăn năn trở lại của những người tội lỗi. Thầy sử dụng hết nguồn nhiệt thành và lí trí. Thầy là người đầu tiên mở cánh cửa của Ḍng Mẹ Về Trời nơi hạ giới để đến với Ḍng Mẹ Về Trời nơi thượng giới ».

 

 «…Mọi người trong nhà đang hơi chao đảo v́ bệnh tật của một người lạ- một người kéo xe ba gác. Anh ta đă ngất xỉu trong chiếc cối xay gió của bố ḿnh cách nhà ḿnh khoảng 10 phút. Người trong nhà cho rằng anh ta mắc bệnh dịch tả truyền nhiễm nên không muốn ḿnh đến đó xem sao. Mọi người c̣n đưa ra lí do là trong nhà c̣n hai linh mục có thể đến giải tội cho anh ta. Những quan sát về nét quyến rũ thân mật và đánh động ḷng người của văn thơ latinh là những từ tạo trong ḿnh nỗi khiếp sợ, không phải v́ chúng ta, mà là v́ học sinh. Cardenne thường nói như vậy. Hôm khác, ḿnh dẫn Cardenne đến Valmagne. Thầy ta nghĩ mái ṿm quá thấp. Phải sau mười lăm phút ḿnh mới có thể thuyết phục được thầy ta măi ṿm không thấp. Một hôm khác nữa, mới say mê đọc những bài giảng của cha ḍng tên Bourdaloue, thầy Cardenne đinh ninh nói vời ḿnh rằng Bourdaloue quá dở. Ḿnh công nhận rằng Bourdaloue yếu kém ấy lại có vẻ khá giỏi đối với ḿnh. Cần có cái nh́n xa hơn. Không nên quá lưu ư đến những sai sót trong cách diễn đạt của ngài. Ngài không thể diễn đạt hay hơn thế nữa. Thời gian đă trôi đi khá lâu, chúng ta vẫn không có tin tức của Monnier. Ḿnh không biết ông Tissot đă viết thư cho ai. Ḿnh chỉ biết chắc ông ấy không viết cho Cardenne, cũng không viết cho ḿnh. Lá thư cuối cùng của ông ấy là đảm bảo ; v́ ḿnh e rằng ông ấy phải tiếp vợ nên mới mất liên lạc như vậy.

 

         Bạn thân mến, bạn biết đấy, trong kinh nguyện của ḿnh, từ Ḍng Mẹ Về Trời chứa đựng tất cả những ǵ ḿnh yêu quí trong Ḍng này. Nhưng bạn có thể tin rằng, nếu ḿnh có sự quí mến cách đặc biệt đối với một số người trong Ḍng, bạn không phải người ḿnh bỏ quên.

 

         Vĩnh biệt và tạm biệt.  Lúc 9 giờ sáng ngày mồng 11 hoặc tối ngày 10, ḿnh sẽ có mặt ở Nimes, c̣n bạn ? ».

 

   Thư gửi Louis-Eugène Germer-Durand, lavagnac ngày 5 tháng 10 năm 1849, theo nxb., tập III, trang.501.

 

17.  Sự ra đời chính thức của Ḍng Mẹ Về Trời.

 

         Những nguồn gốc lịch sử về sự ra đời của Ḍng nam Mẹ Về Trời chính là đêm Noen năm 1845 trong thời đại quân chủ tháng 7 và lúc bấy giờ cũng là thời kỳ cha d’Alzon đấu tranh dành tự do giảng dạy trong học đường. Đêm Noen 1845 là ngày gộp lại cách hoàn hảo việc sáng lập theo ba chiều kích : trường học, Hội Ḍng va Ḍng-Ba. Vả lại, đó là ngày được giữ lại không chỉ bởi những người thích tính chính xác về mặt niên đại, cho dầu việc đó không phải là ưu tiên hàng đầu, mà nó được lưu giữ rơ ràng trong văn bản sáng lập ḍng (texte fondateur) và trong những bản tham khảo sau này do chính Hội Ḍng đưa ra để tŕnh bày, giới thiệu nguồn gốc của Ḍng : điểm xuất phát của một cuộc đời tu sĩ có tổ chức dưới dạng thức tập viện do cha d’Alzon để lại cho chúng ta biết trong bức thư ngài gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, viết vào sáng ngày 26 tháng 12 năm 1845. Trong nhiều lần đến Rôma để xin Rôma chính thức công nhận sự ra đời của Ḍng Mẹ Về Trời, cũng như trong văn bản xin chứng nhận của các giám mục rất cần có để kèm theo, đấng sáng lập Ḍng Mẹ Về Trời luôn giữ ngày đêm Noen 1845 này. Sau cùng, nếu có người quan sát ṭ ṃ nào đó cần hỏi văn bản Annuario Pontificio chính thức, chỉ có thể nhận thấy ngày này là hoàn hảo nhất. Vậy « niên đại có vẻ khó nghe » ấy trong nghi lễ nhớ của Ḍng Mẹ Về Trời là do đâu, lấy năm 1850 thay v́ năm 1845 cho những cuộc hội ngộ quan trọng như lịch sử trăm năm (1950) và lịch sử một trăm năm mươi năm (2000) ? Câu trả lời vừa đơn giản, vừa nói lên tính đơn giản : di dịch năm năm cần thiết ấy cho đến khi Đức Cha Cart chấp thuận sáng kiến này của cha tổng quản (tức cha d’Alzon) của ngài. Đức Cha để cha d’Alzon thực hiện sáng kiến mà không hề cho phép. Chúng ta hăy cùng nhau ngưỡng mộ sự kiên nhẫn nơi đức tin của một người đă từng bị cho là thiếu kiên nhẫn, không bền bỉ và qua nhanh vội. Những người thích con số tṛn sẵn sàng bỏ qua các kháng cự nơi những con số cứng nhắc và kết quả cuối cùng khó nhớ. Cho nên sự chọn lựa con số tṛn cho phép dễ dàng liên tưởng đến thắng lợi đạt được hơn.  Năm 1945, thế giới vừa thoát khỏi bi kịch của năm năm đại chiến. Cũng thế, con người cần quên đi quăng thời gian đầy thử thách ấy nhằm xây dựng những tháng ngày tốt đẹp nhất. Năm 1850 cũng như năm 1950 đều mang vẻ hào quang khác với năm 1845 và 1945 khi ḍng Mẹ Về Trời chỉ mới được công nhận phần nửa (essuyer un demi-refus), mặt khác, trong ṿng một thế kỷ, Hội Ḍng có không ít những người mất tích và tù nhân. Chúng ta hăy vui hưởng thắng lợi cùng cha d’Alzon, song đừng quên những năm tháng đấu tranh của ngài.

 

  « …Con quí mến,

 Dù chỉ có một phút, cha muốn nói đôi lời với con. Bỗng dưng, Đức Cha cho phép Hippolyte, Cardenne, Pernet, Brun và cha tuyên khấn trong thời hạn một năm ngay đêm nay. Chúc tụng Thiên Chúa ! Cha rất tiếc không thể báo trước cho con kịp thời. Con có thể hiệp thông cầu nguyện với anh em và cha. Cha đă lo liệu được 10.000 quan cho chị Gaude, phần c̣n lại, cha sẽ lo sau. Cha sẽ nhờ chị Stafford viết thư bằng tiếng Anh.  M. de Chartrouse chỉ muốn nhận cô Dubois vào tháng tư hoặc tháng năm. Vĩnh biệt, con gái của cha. Khi không vướng mắc rối rắm nữa, cha sẽ viết thư cho con. Mong Chúa Giê Su Hài Đồng là tất cả đối với con ! Cha sẽ phó dâng con cho Ngài khi cha phó dâng chính ḿnh cha cho Ngài ».

 

Thư trước lễ Noen 1850 gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, Nimes, nxb. S.V., tập III, trang.640

 

 « …Trong đêm Noen, anh em và cha đă khấn lại và lần tuyên khấn này là vĩnh viễn. Sáng nay, mọi người đều nhận áo cánh choàng bởi v́ họ đă không đến đúng giờ. Lễ nhận áo ḍng đă để lại ấn tượng hạnh phúc nhất cả thầy lẫn tṛ. Thiên Chúa muốn ấn tượng ấy tồn tại lâu và phát sinh hoa trái ! Cha hy vọng vậy, v́ nghi lễ đă diễn ra rất đơn giản, rất nghiêm trang và rất tự nhiên. Đồng thời, những người tận hiến cuộc sống cho Chúa hôm nay tuôn tràn niềm vui khiến những người chứng kiến không thể hoài nghi ǵ về những khả năng sẵn săng phó thác và về niềm tin nơi hạnh phúc khi bắt chước họ.

 Tạm biệt, con gái của cha. Cha hy vọng sẽ viết thư cho con trước thềm năm mới. Tuy nhiên, cha muốn chúc con và tất cả các con cái của con  trước khi năm mới đến sức khỏe dồi dào. Nguyện xin Thiên Chúa cho họ trở nên những nữ tu thực sự, trần đày nhiệt tâm để đạt đến sự toàn thiện của riêng họ và v́ sự toàn thiện, v́ ơn cứu rỗi của các linh hồn. Mọi sự thuộc về con trong Chúa chúng ta ».

 

 Thư số 110, Nimes ngày 26 tháng 11 năm 1851, gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, theo  nxb. P.T., tập I, trang.123

 

18.  Nền tảng đầu tiên ở Paris.

 

Ư định lập cộng đoàn ḍng Mẹ Về Trời ở thủ đô có trước từ lâu so với việc thành lập (1851). Cha d’Alzon không thiếu hiểu biết cũng không thiếu điều kiện để thực hiện ư định đó. Ngài c̣n nhận ra đâu là những mấu chốt để rộng mở và phát triển gia đ́nh tu sĩ của ḿnh. Vả lại, theo hướng ấy, Mẹ Marie-Eugénie de Jésus thúc giục ngài bởi Mẹ Marie-Eugénie rất hạnh phúc việc lập ḍng Mẹ Về Trời tại Paris. Đức Cha Affre cũng đă tỏ ư nguyện mong cha d’Alzon điều hành tại trường Stanislas. Nhưng cha tổng quản giáo phận Nimes (tức cha d’Alzon) đă không chấp nhận v́ ngài thích đáp lại các nhu cầu đang triển nở trong giáo phận Nimes. Việc thay Tổng Giám Mục Affre theo xu hướng gallicane này bằng Đức Cha Sibour năm 1848. Đức Cha Sibour là một người quen biết cha d’Alzon. Điều này tạo điều kiện dễ dàng một phần trong việc quyết định lập cộng đoàn ở Paris. Laurent, Tissot, Cardenne là bộ ba tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời đầu tiên của cộng đoàn mới thành lập tại Paris. Cộng đoàn mang xu hướng giảng dạy và bước vào việc giảng dạy năm học 1851. Việc chọn lựa khu định cư diễn ra không thuận lợi do nguồn lực và do thiếu học sinh. Năm 1853, trường học nội trú này (pensionnat) chuyển đến miền Tây- Bắc thủ đô Paris, ở Clichy-la-Garenne. Lúc bấy giờ, đó là một khu ít được biết đến, nhưng khu phố ấy lại c̣n là nơi đánh dấu kỷ niệm về cha Vincent de Paul từng ghé qua vào thế kỷ 17. Từ năm 1853 đến năm 1860, cha d’Alzon tỏ ra là « chiếc đồng hồ treo tường của cộng đoàn » (l’horloger de la communauté). Dưới sự chỉ đạo của bề trên và đồng thời là hiệu trưởng trường nội trú này, cha Charles Laurent, cha d’Alzon đối diện nhiều băo tố nội bộ : vừa mới đặt chân đến, chương tŕnh mới đưa ra, ngay khi ngài rời trường, mọi chuyện bị rối bời, theo lời của chính cha d’Alzon. Chính cha d’Alzon cũng trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế tại trường học ở Nimes trong những năm 1856-1857. Dầu vậy, ngài vẫn thích để tập viện trong ḷng ngôi trường yên b́nh này hơn việc thiết lập một nơi đào tạo nhỏ bé mang tính độc lập trong ḍng tu ở Auteuil, đường Eymes. Cha Picard, một linh mục non trẻ đă từng làm bề trên nơi đây sau những vũ khí rôma đầu tiên (premières armes romaines).

 

         Năm 1860, may mắn t́m được một giải pháp mới : thầy Vincent de Paul Bailly, lúc bấy giờ là tập sinh, phải đi thăm bố sắp qua đời. Thầy phát hiện trong phố François Ier một mảnh đất dang dở để xây dựng nhà cửa (déchiqueture de tairrain à bâtir). Mảnh đất này được đề xuất bán cho cha d’Alzon vào tháng 11 năm 1860. Đức Hồng Y Morlot tán thành việc chọn lựa mảnh đất này của Hội Ḍng vào tháng 12 năm đó. Năm 1861 tạm thời xây một ngôi nhà nhỏ rất khiêm tốn (bicoque). Ngày 23 tháng 2 năm 1862 làm phép nhà nguyện. Các cha ḍng dâng thánh lần đầu tiên. Đó chính là những bước khởi đầu rất khiêm tốn của nhà nguyện Đức Bà Cứu Chuộc (Notre-Dame de Salut) và được kêu gọi trong nhiều việc. Việc rao giảng, việc giải tội, việc hướng dẫn thiêng liêng sẽ biến cha Pernet đầy khiêm tốn thành đấng sáng lập mới của ḍng Mẹ Về Trời năm 1865. Cha Picard và Vincent de Paul Bailly sẽ nắm bắt những mấu chốt khác sau năm 1870 trong bối cảnh phát triển dồn dập những việc phổ biến nơi quần chúng xung quanh ba trục chính : hành hương, báo chí, hội họp.

 

         « ...(Thầy) M. Hippolyte viết thư cho cha hôm qua để cho cha biết ngôi nhà. Theo những ǵ M. Hippolyte nói trong thư, ngôi nhà ấy có vẻ thích hợp. Nhưng v́ đó là một quyết định sau cùng và hệ trọng, cha phải suy nghĩ ít nhất một đêm. Cha đă kêu gọi anh em cầu nguyện và cha mới dâng thánh lễ. Cha đă qui tụ ban cố vấn gồm bảy người. Sau lần bỏ phiếu cuối cùng, mọi người đều thống nhất đi trước trong việc này. Chúng ta sẽ đi trước nhân danh Chúa, thánh Nữ Đồng Trinh. Vấn đề là chỉ cần nghiên cứu chi tiết về những chuyện ấy. Việc đó, con biết cha tin tưởng vào ư kiến của con.

 Đây là điểm cần lưu ư. Cha muốn thuê ngôi nhà ấy theo tên của cha Charles Laurent, linh mục giáo phận Nimes, cử nhân văn chương. Trong khi chờ ngài đến, con có thể kư giấy tờ thay ngài được không ? Việc đó sẽ là một bảo đảm cho chủ nhà. Con có thể giúp cha việc ấy không ? C̣n cha, tên của cha không nên xuất hiện trên giấy tờ v́ lí do gia đ́nh. Cha e gia đ́nh sẽ la mắng cha. (Gia đ́nh cha d’Alzon rất lo lắng cho cha d’Alzon do ngài đang mắc nợ đối với trường ở Nimes. Cha muốn ngôi nhà ấy mang tên gọi saint Charles và mở cửa ngày 4 tháng 11. Cha thấy sẽ có những bất tiện trong giai đoạn đầu  nếu lấy cùng tên như các con tại Paris. Ư kiến lấy tên saint Charles vừa mới xuất hiện trong tâm trí cha khi cha đang truyền phép thánh thể. Theo con có cần thiết báo trước cho cha M. Caire de Saint Philippe du Roule ? Cha nghĩ dù sao chúng ta cũng thuộc giáo xứ của ngài. Con có muốn nói ǵ về việc này với cha Sibour không ? Cha có nên viết thư ngay cho ṭa tổng giám mục không ? Cha nghĩ bảy giáo viên là đủ. Con muốn biết danh tánh của các giáo viên không ? Đó là Laurent, hiệu trưởng ; Cardenne, quản lư hành chính ; Légier, giám sát ; Tissot, giáo viên lớp 6 (sixième; Blanchet, giáo viên lớp bảy (septième). C̣n phải t́m kiếm giáo viên lớp tám và lớp chín. Việc ấy không khó đâu. Con có nghĩ nên mở lớp học trước ngày mồng 4 tháng 11 ? Cha nghĩ nêu khai trường vào dịp đó sẽ khiến gặp nhiều khó khăn. Cha rất muốn giữ Laurent và Cardenne cho đến ngày mồng 1 tháng 10. Một tháng cũng đủ để thu xếp, nhất là nếu con có ḷng nhờ tu sửa một ít trong nhà.

 

         Cha không thích các lớp học hướng ra đường. Ư của cha là nên mở các lớp trên lầu một th́ tốt hơn. Hippolyte cho cha biết về một gian pḥng hướng ra đường. Ta có thể sửa gian pḥng đó làm pḥng gặp gỡ trao đổi chuyện riêng ? Có lẽ nên sắp xếp căn pḥng ấy nhanh hơn một chút nữa. Mọi việc nên đơn giản. Tóm lại, cha không thấy tại sạo lại có sự khác biệt này. Theo cha, những đồ lắp dường có thể mua sau cũng được. Nhưng con là người có nhiều kinh nghiệm hơn về việc này. Người ta đang mong thư cha. Tóm lại, con hăy thuê và sửa đổi căn nhà ấy theo hiêủ biết của con về những ǵ cha nói trong thư. Cha chỉ nói với con về việc của ḍng. Con tha thứ điều đó cho cha, phải không nào ?

 Cha gửi kèm theo cho con tờ giấy nói rơ những điều kiện, con xem có thích hợp với con không. Họ sẽ đổi giá nhà, v.v ».

 

Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, Nimes ngày 4 tháng 7 năm 1851, nxb. P.T., tập I., trang.53-54

 

 19. Ra khơi : sứ mệnh và những cái nh́n mang tính toàn cầu trong Ḍng Mẹ Về Trời.

 

         Nimes, mang biệt danh thành đô Rôma của nước Pháp, đă không hạn chế chân trời truyền giáo của đấng sáng lập ḍng Mẹ Về Trời, cũng như những bận tâm vun đắp trí thức của ngài. Bức thư rất đáng để ư tới viết năm 1851 cho một nữ tu đang có sứ mệnh truyền giáo ở Anh Quốc đă nói lên những mục tiêu rất rơ của cha d’Alzon theo hai xu hướng : vốn được đào tạo một phần ở Rôma, cha d’Alzon đă không quên khí thế ra khơi mà xu hướng một Giáo Hội hoàn vũ phó thác cho ngài về mặt ư tưởng cũng như về mặt thực hành. Cho dù ngài đă sống sự kiện bi đát của Lamennais trong ḷng Rôma, cho dù ngài đă khổ đau v́ trong thủ đô địa lư của thế giới công giáo lại có những người răn dạy đạo đức và những qui tắc dẫn đến sự toàn thiện, nhưng thái độ của họ lại rất khó đi đôi với những ǵ họ rao giảng, giảng dạy, ngài vẫn không đánh mất cái nh́n mang tính hoàn vũ trong Giáo Hội.

 

         Mục tiêu đầu tiên của ngài nhằm tung ra ở Nimes những nền tảng tạo dựng Đại Học tự do, v́ không đủ số người công giáo. Đức cha Baines gợi cho ngài ư tưởng này. Đức cha Baines là vị tổng quản ở Anh Quốc. Ư tưởng này đă sống lại nơi cha d’Alzon trong khi hội đồng tỉnh ḍng đang diễn ra ở Avignon năm 1849. Ngài biết ở trường Các-Men ở Paris bị tra xét. Nhưng ngài muốn tránh khỏi mọi h́nh thức kiểm soát hoặc nắm giữ (main-mise) theo kiểu gallican bởi như thế sẽ không  thể tránh khỏi sự cai quản theo chủ nghĩa Césars nhằm ngăn chặn sự ảnh hưởng của làn sóng ultramontain. Thực vậy, cha d’Alzon không phải không biết đến những mục tiêu do quyền thế của đế chế nối kết để bắt buộc Rôma chấp thuận đưa ra thông cáo tạm thời theo giáo luật (bulle de provision canonique) đối với các khoa thần học thuộc Nhà Nước. Những mục tiêu này cũng nhằm ưu đăi những truyền thống gallicanes hầu có tính tự quyền trong chức giám mục (autonomie épiscopale) và có pháp luật theo tập quán (droit coutumier). V́ vậy, khi dự án lập trường Đại học được tiến hành, cha d’Alzon mong nhận thánh Augustino làm bảo trợ. Ngài tuyển giáo sư dạy tín lư. Đó là cha Bensa. Ngài gửi anh em tu sĩ trong ḍng học thần học tại các khoa thần học của Rôma với mục đích giúp anh em quen dần cách suy nghĩ, sự quí mến và đức tin của những người sống chỉ v́ Giáo Hội công giáo và Giáo Hoàng (ultramontaines). V́ vậy, năm 1855, các thầy F. Picard, V. Galabert, R. Jourdan và M.-J. Lévy được gửi đi học.

 Mục tiêu thứ hai của cha d’Alzon chắc chắn do kinh nghiệm truyền giáo của các nữ tu Ḍng Mẹ Về Trời đốt lên trong ḷng : từ năm 1849, các nữ tu Ḍng Mẹ Về Trời đă đến tận những thái cực (antipodes) xa xăm, ở miền nam Phi Châu, ở xứ Cap, và năm 1850 ở Anh Quốc, tại Rich-mond. Hai lần ra đi này của cái nôi tu sĩ ở Pháp là một kinh nghiệm truyền giáo rất gian khổ, nhưng đó lại là chân trời mang tính toàn cầu tuyệt vời nhất dưới con mắt của cha d’Alzon, người vốn muốn để Hội Ḍng của ḿnh trong ṿng quay toàn cầu của quyền bính Rôma, chứ không phải dưới cái ách của quyền bính giám mục ! Ḍng Mẹ Về Trời  v́ c̣n quá hạn chế nên phải trông chờ ngày giờ thích hợp, nhưng đường hướng đă được định sẵn :

 

«Sở dĩ cha hồi âm chậm trễ cho con là v́ lâu nay cha đau yếu luôn. Và v́ không muốn chỉ viết cho con vài ḍng so với lá thư rất dài và rất hay của con, nên cha muốn chờ hồi phục sức khỏe tốt hơn tí đă để nói chuyện hoàn toàn thoải mái với con. Trước hết, cho cha cảm ơn con đă có sự quan tâm đến ngôi nhà của anh em và cha ở Paris. Hiện tại chỉ có một vài người thôi, nhưng cha không lo lắng lắm, bởi v́ ở Nimes, cha và mọi người cũng đă khởi hành một cách tuyệt đối tương tự. C̣n liên quan đến quan điểm của dân Anh, nếu con muốn nói lên một quan điểm theo người Anh, con cứ mạnh dạn nói ra theo suy nghĩ của con. Mỗi dân có cách suy nghĩ riêng đế theo đó mà tŕnh bày sự việc. Cha rất hiểu những khác biệt và những mức độ khác nhau đầy tinh tế đó. Như vậy, con có toàn quyền đưa ra ư kiến và không có bàn tay nào khác mà cha có thể tín thác những việc ấy hơn con để con gửi cho cha những dự định ở Anh Quốc (sujets d’Angleterre), nếu Chúa muốn…

 

Càng suy nghĩ, cha càng tin chắc mỗi dân tộc cần có những người thợ rao giảng tin mừng của nước ḿnh. Cách đây vài hôm, cha nói chuyện với bề trên (prieur) Ḍng Chartre. Ngài là một con người tuyệt vời. Ngài cũng mang những suy nghĩ tuyệt đối giống cha đối với các tu sĩ trong Ḍng của ngài. Vậy, nếu con muốn phục vụ (giúp đỡ) các nam tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời, con phải chọn lựa và gửi sang cho chúng tôi. Trong khi c̣n chờ lập tập viện tại Anh Quốc, việc này sẽ không lâu lắm. Thế nhưng, cha thú thật với con rằng, theo cha, các con nên ước ao có sự giúp đỡ và chỗ giựa của các tu sĩ cùng được đào tạo theo một tinh thần sống như các con. Họ sẽ giúp các con thăng tiến trong tinh thần của qui tắc sống trong Ḍng các con, bởi v́ có thể họ hiểu biết hơn các con, và cũng có thể họ sẽ đón nhận từ các nữ tu một sự tác động tốt. Sẽ luôn luôn cần vạch ra những hạn chế nhằm tránh một số bất tiện, một số lấn chiếm và lạm dụng. Nhưng cha nghĩ việc đó sẽ phải được bàn trước. Cha cũng phải nói thật với con đó là một trong những vấn đề khiến cha bận tâm nhất trong những mối quan hệ tương lai của chúng ta.

 Những khó khăn dù rất nhỏ, nhưng lại là nguyên nhân cho hàng ngàn căi cọ giữa các Cha của các con. Điều đó không làm cha ngạc nhiên chút nào. Đó chính là khía cạnh đáng buồn của bản tính con người. Sự nặng nề luôn tạo cho ta cảm giác buồn hơn nữa. Tóm laị, điều đó cho thấy  rằng không phải những người dạy đạo đức và tạo ra những qui tắc cho sự toàn thiện, nhưng chính nền đạo đức và những qui tắc ấy từ trên cao ban xuống, bởi v́ con người rất khó sống với thái độ tương xứng với những ǵ họ giảng dạy. Thật đáng buồn. Thiên Chúa cho phép điều đó nhằm chỉ dạy cho chúng ta nên biết cậy dựa vào Người mà thôi.

 

         Cha thấy con rất hạnh phúc khi có thể làm được việc ǵ đó cho những người tin lành tội nghiệp nơi các con. Ở đây, không có phương tiện làm như vậy, nhưng Thiên Chúa dường như cũng nhân từ đoái trông đến họ. Những người giàu có sợ hăi và sẵn sàng trở lại với những ư tưởng quyền thế. Dân chúng chạy theo…Nhưng có lẽ đó là một phương tiện, hẳn là khủng khiếp lắm, để có thể đưa họ thoát khỏi tầm ảnh hưởng từ các mục sư và khỏi óc giáo phái. Sau này, các thánh sẽ có thể hành động thoải mái hơn đối với các tầng lớp đáng buồn này. Ôi ! giá mà Thiên Chúa vui ḷng sớm gửi đến cho chúng ta những người hoạt động tông đồ !...

 

         Con hăy cầu nguyện nhiều cho Ḍng Mẹ Về Trời ở Nimes. Cha khao khát lập một ngôi trường Cao đẳng. Thậm chí việc này sẽ sớm được tiến hành. Ban đầu sẽ chỉ có bốn giáo viên, và nếu cần thiết sẽ tăng thêm. Như đă cho con biết, cha bắt đầu dạy một môn thần học trong nhà. Qua việc giảng dạy này, cha muốn tạo nên phần trọng tâm của trường Đại Học công giáo, nhưng luôn là trường Đại Học công giáo Rôma. Chúng ta cần hy vọng sẽ dần dần đạt được mục đích. Trong số học sinh, rất nhiều em tỏ ra có ơn gọi truyền giáo ở những xứ sở xa, và có lẽ đó là một trong những nguyên nhân khiến Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta nhất... ».

 

  Thư gửi Sœur Thérèse-Emmanuel O’Neill, Nimes ngày 13 tháng 9 năm 1851, theo nxb.P.T., tậpI, trang.80-83.             

 

 20. Trên làn sóng chủ trương cho là Đức Giáo Hoàng có quyền độc tôn.

 

         Ta sẽ không hiểu nổi sự hội nhập của cha d’Alzon trong bối cảnh giáo hội thời đại ngài nếu không nhấn mạnh đến tinh thần dấn thân bảo vệ tín điều và lập trường của Giáo quyền Rôma. Đây được xem là mt trào lưu gây ra sự chia rẽ trong Giáo Hội. Cho dù chủ nghĩa tuân theo Giáo Quyền Rôma hiệp nhất trong sự kết hợp với Đức Giáo Hoàng cách đa nghĩa với ba biểu tượng màu trắng (bánh thánh, y phục Giáo Hoàng, Đức Trinh Nữ), việc này vẫn không ít sự khác biệt, phong phú giữa những người theo chủ nghĩa độc tôn Giáo Quyền Rôma mang tính kịch liệt chẳng hạn cha d’Alzon và những người theo chủ nghĩa Giáo Quyền Rôma mang tính trung hoà. Các nhà sử học phân biệt sự nổi lên của trào lưu này bắt đầu từ ĐGH PIO VII  tiêu biểu cho giáo hoàng tử đạo cho đến ĐGH PIO IX tiêu biểu cho vị giáo hoàng sống như một tù nhân (sống khép kín trong Vatican). Họ nhận ra cái nơ (mấu chốt) trong t́nh trạng hỗn độn về vấn đề rôma. Vấn đề ấy đang dần dần biến các Nhà Nước giáo hoàng thành lớp gia buồn rầu v́ sự thống nhất nước Ư. Họ miêu tả cái đỉnh điểm của mấu chốt vấn đề ấy trong công đồng Vaticano I. Đỉnh điểm đó là việc công bố sự vô ngộ và quyền tối cao của Đức Giáo Hoàng. Chính điều này đă đánh một đ̣n nặng vào chủ nghĩa gallican (Giáo Pháp : gallicanisme). Quyết định này cũng làm nổi bật những sắc màu và những cánh đồng ngôn ngữ, diễn đạt khác nhau : tranh căi trong học đường, phụng vụ giờ kinh, các môn học trong chủng viện, những h́nh thức tôn sùng, và những khía cạnh được đề cập đến trong đời sống thiêng liêng. Cuối cùng, các nhà sử học cũng t́m ra được những mấu chốt thật sự : đỉnh điểm đạo công giáo quyền thế, lên án kẻ thù (ennemis) tràn lan trong ḷng Giáo Hội công giáo (những người theo xu hướng tự do, những người theo giáo Pháp (gallican), những người lạc giáo, những người chia li khỏi giáo hội). Giáo Hội công giáo cũng có những kẻ thù từ bên ngoài (những người chống đối giới giáo sĩ, những người theo chủ nghĩa duy lư, các hội viên hội Tam điểm). Những điểm đối lập với chủ nghĩa tự do (tự do ở đây muốn chỉ những người không tuân theo lập trường (có thể là cả tín điều) của Giáo Hội công giáo) cách không nhân nhượng của Giáo hội công giáo  mang tính độc tôn nầy làm phát triển những tâm tưởng và thái độ theo cảm giác. Chính v́ vậy, Giáo Hội công giáo như là h́nh ảnh của một pháo đài bị vây hăm. Có nhiều nhà tư tưởng mang ảnh hưởng của tính độc tôn trong Giáo hội Rôma : từ trào lưu chống đối cách mạng của Bonald và Maistre, đến trào lưu tiến bộ hơn của Lamennais, người ngợi ca quyền bính giáo hoàng, đến sự hăng say đầy cao hứng của nhà báo Louis Veuillot làm cháy bỏng các trụ sở linh mục. Tất cả nhằm góp phần làm suy biến những ư định mới chớm tối thiểu nhất về độc quyền hoặc về sự khẳng định truyền thống quốc gia thành những cuộc căi lộn bùng nổ trong học đường. Những ngôn từ mang tính mệnh lệnh là : tập trung hóa, la-tinh hóa, rôma hóa, tuyệt đối hóa quyền bính giáo hoàng. Nhưng Giáo Hội phải trả giá rất nặng trong bản Syllabus để thiết chặt hoặc được gắn bó về mặt tín lư, bởi v́ Giáo Hội bị dồn ép đi ngược ḍng thời gian. Cha d’Alzon bị tiêm nhiễm rất mạnh. Chúng ta có rất nhiều dấu chỉ rành rành : Ngài đến Rôma không dưới chín lần, nhiều lần gặp gỡ chung và riêng diện đối diện với Đức Giáo Hoàng, ngài bền bỉ t́m hiểu ư kiến và đặc quyền do giáo hoàng Rôma ủy thác. Nhưng rất có thể chúng ta sai lầm cho rằng việc t́m hiểu ấy của ngài chỉ mang tính nông cạn bởi v́ nó đụng chạm đến ba cực chủ yếu trong tư tưởng linh thao của ngài : yêu mến Đức Ki Tô, Mẹ Maria và Giáo Hội, từ đó xuất phát những điểm nhấn mạnh về sự tôn kính rất điển h́nh về phép thánh thể, về Giáo hội và về Đức Maria.

 

 « …Kính thưa Đức Cha,

 Tối hôm qua, con đă có cuộc yết kiến rất lâu với Đức Thánh Cha. Con mong Đức Cha hài ḷng khi con kể cho Đức Cha biết việc này. Con xin Đức Cha một đặc ân, xin Đức Cha gửi lá thư này của con đến giáo phận Nimes. Con không được khỏe lắm và v́ vậy con không thể viết lần nữa về những ǵ đă diễn ra.

 

         Con vào yết kiến lúc 9 giờ tối. Đức Thánh Cha có sẵn trên bàn làm việc lá thư kiến nghị liên quan đến các Tu Sĩ Ḍng Mẹ Về Trời mà con nhờ Đức Cha Ségur chuyển đến hôm qua. Con viết một thư kiến nghị khác thay thế bức thư ban đầu. Khi đọc lá thư ấy, Đức Thánh Cha thấy tên của Đức Cha trong số những Giám Mục đă viết thư ủng hộ các Nữ Tu này (Dames) : « Đức Thánh Cha nói với con rằng giám mục giáo phận Montauban là một vị giám mục tốt lành ». Con liền măn phép thưa Đức Thánh Cha rằng Đức Cha là vị giám mục giáo hội Pháp mà con đánh giá cao nhất : « Đúng, Đức Thánh Cha nói, khi tới đây, cha đă ngưỡng mộ tính nghiêm trang và thận trong của Đức cha. Cha rất hài ḷng về ngài, Đức Thánh Cha nói ». Con đă phải tŕnh  với Đức Thánh Cha một lúc về vấn đề xác thánh mà tổng giám mục Toulouse chưa biết làm sao : « Ah, tổng giám mục Toulouse hả, cha không thích bằng giám mục Montauban, Ngài nói thế ». Giám Mục giáo phận Nimes mong muốn Đức Cha viết thư gửi Đức Cha Mioland, Đức Thánh Cha không muốn. C̣n lại, con đă nói đến vấn đề ấy với Đức Cha Fioramonti. Ngài thấy rằng thực sự họ (Giám mục Nimes và Đức Cha Mioland) không hợp nhau chút nào.

 

 Sau khi những việc yết kiến vụn vặt ấy được giải quyết xong, con xin phép Đức Thánh Cha tŕnh về t́nh h́nh Nước Pháp. « Được thôi, con hăy nói hết xem nào, Đức Thánh Cha tiếp lời ». Con bắt đầu nói về những việc mà Đức Cha và con biết đến :

1.     Rằng những người trong giáo hội gallicans bắt đầu nổi dậy.

2.     Rằng chính phủ khích lệ họ.

3.     Uy thế của sứ thần ṭa thánh ở Pháp do sáng kiến của Đức Cha Fornari đang mất dần từng ngày.

 Ngài hoàn toàn đồng ư với con… ».

 

 Thư gửi Đức Cha Doney, giám mục giáo phận Montauban, Rôma ngày 31 tháng 5 năm 1855, theo nxb. P.T., tâpi I, trang.550-554  

 

 

 

Phần III

 

21. Cha d’Alzon ở Lamalou, thử thách về sức khỏe (1856)

22. Hăy thờ cha kính mẹ (1856)

23. Galabert, người kế thừa- đấng sáng lập (1857)

24. Những lời khuyên gửi đến một vị bề trên non trẻ (1858)

25. Sự quan tâm của người cha đối với các con gái (nữ tu) (1859)

26. Cha d’Alzon, người kế thừa ruộng đất lịch lăm (1860)

27. Những vết thương của cuộc đời  (1860)

28. Mạo hiểm công cuộc truyền giáo ở ÚC (1860)

29. Một « ngôi nhà nhỏ » ở Paris (1860)

30. Người con được yêu mến đặc biệt, V. de P. Bailly (1861)

 

 

 21. Cha d’Alzon ở Lamalou, thử thách về sức khỏe

 

         Trạm nước khoáng nóng ở Lamalou-les-Bains được xây dựng dọc theo hữu ngạn (bờ bên phải) Bitoulet, trong thung lũng nhỏ đầy sỏi đá của vùng Cévennes thuộc miền nam nước Pháp (Hérault). Trạm nước khoáng nóng này gợi lên cho chúng ta về cha d’Alzon khi ngài đến nơi đây nghỉ ngơi trị bệnh liệt nửa người và sung huyết năo trong ṿng mười ba ngày. Căn bệnh này đe dọa sức khỏe ngài từ ngày 19 tháng 5 năm 1854. Sau cha Athanase Sage, mọi người có lí khi cho rằng thời gian ấy đánh dấu một bước ngoặt thiêng liêng thực sự  trong cuộc đời cha Emmanuel d’Alzon, cho đến khi ngài mắc phải những bệnh tật này, cha d’Alzon hầu như tràn ngập trong hàng ngàn đau đớn do đảm trách quá tích cực công việc tông đồ.

 

         Chắc chắn, Lamalou không phải là trung tâm nước khoáng nóng đầu tiên, cũng không phải là trung tâm nước khoáng nóng duy nhất mà cha d’Alzon biết đến : Ngài đă đến và sẽ c̣n đến nguồn nước Eaux-Bonnes (ở Pyrénées-Atlantiques, 1847), nguồn nước Vichy (ở Allier, 1854), nguồn nước Bagnères-de-Bigorre (ở Hautes-Pyrrénées, 1868, 1874), nhưng Lamalou vẫn là nơi đánh dấu mạnh mẽ đời sống thiêng liêng của cha d’Alzon. Ngài đă viết những tài liệu quan trọng : Tra vấn lương tâm cho các Sơ Adoratrices, Suy niệm về Chúa Ki Tô Chịu đóng đinh hay c̣n gọi là Người Bạn mỗi ngày, cuối cùng là sách Hướng Dẫn (Directoire). Trước hết ngài viết sách này cho các Nữ Tu Ḍng Mẹ Về Trời, vê sau sách này được sửa đổi, bổ sung đem vào áp dụng cho các Tu Sĩ Ḍng Mẹ Về Trời. Cha d’Alzon cũng viết rất nhiều thư ở Lamalou ghi nhận sự triển nở về mặt thiêng liêng của ngài. Buộc phải trị bệnh, song ngài đă học rất nhiều kinh nghiệm quí báu từ thử thách sức khỏe này. Có lần ngài đă viết rằng Thiên Chúa chỉ lấy đi sức khỏe của chúng ta để dễ dàng buộc chúng ta cầu nguyện hơn nữa. Trong hành lư của ngài tại pḥng trọ ở Bains, có quyển sách Bắt chước Đức Ki Tô và quyển Tân Ước. Ngài đọc và suy niệm không ngừng. Năm 1858, ngài giao phó cho một người bạn, Bác Sĩ Jean-Léon Privat (1810-1897) ư định cho xây nhà nguyện bên cạnh trung tâm chăm sóc sức khỏe với mục đích thay nơi thờ kính đă quá chật hẹp. Nhà thờ giáo xứ tại đây chỉ được xây năm 1893. Jean-Léon là bác sĩ thăm ḍ của vùng từ năm 1849 đến 1881. Hai mươi năm sau, dự án xây dụng nhà nguyện khởi công khi xây dựng các trung tâm bệnh viện của bác sỹ Privat. Công tŕnh này bắt đầu bằng nhà nguyện Notre-Dame de Pitié (Đức Bà thương xót), xây bằng đá từ Beaucaire. Lúc ấy cha d’Alzon muốn dâng bàn thờ thánh Giu Se của nhà nguyện cho Đức Bà xót thương. Bác sỹ Privat viết : « sau nhiều năm xa cách, người bạn quí mến của tôi trở lại Lamalou năm 1879. Ngài thấy nhà nguyện đă được xây dựng trên mảnh đất đề cập đến trước đây. Ngài ngước mắt lên trời, rơi từng giọt lệ qua hàng mi và ngài nắm tay tôi đầy t́nh thương mến vừa khéo léo trao cho tôi chút tiền đóng góp ».

 

         Ngôi làng nhỏ vùng Hérault này trở thành trung tâm nước khoáng nóng, lúc bấy giờ chỉ có khoảng 750 nhân khẩu năm 1880. Nhưng tiếng tăm của vùng được biết đến nhanh chóng trong thế giới y học. Chính tại nơi này, ngày 21 tháng 6 năm 1857, cha d’Alzon viết bài suy niệm về Đức Ki Tô Chịu đóng đinh cho các Sơ Adoratrices du Saint-Sacrement. Bài suy niệm này được đặt tiêu đề khác là Người bạn mỗi ngày (Ami de tous les jours). Bài suy niệm này đă đem lại nhiều cảm xúc và niềm an ủi cho các bệnh nhân và những người bất hạnh, đồng thời cũng củng cố vô số tấm ḷng.

 

 Gửi Clémentine Lamalou, khoảng ngày 23 tháng 5 năm 1856.

 

 « Con yêu quí,

Giá con biết được niềm tự tin của con bởi thư con đánh động ḷng cha vô kể ! V́ vậy, con hăy biết cha nhận thư con với tâm t́nh nào. Hôm qua, cha nhận được thư con đúng giờ ăn trưa. Cha vội vàng mở xem tin của con về Juliette. Khi đă đọc xong, cha bỏ thư vào túi và ăn trưa. Sau đó cha chạy bộ một ḿnh. Cha đă đi bộ gần ba giờ đồng hồ. Cha muốn leo lên ngọn núi, và cha chỉ ở dưới thấp. Cha nhờ những người bán thịt chỉ  con đường ngắn nhất. Họ chỉ cho cha một lối đi kiểu thung lũng, cây cối được tỉa rất gọn gàng giữa rừng gỗ trên đồi núi thẳng băng. Cha trèo núi thật sự. Cha không thể leo nổi hai mươi bước nếu không nghỉ một lúc. Áo choàng thâm rách nát. Đi được nửa đường, cha nh́n xuống dưới : cha thấy đi xuống c̣n khó hơn trèo lên. Vậy nhưng, cha khát khô họng và không c̣n sức để leo lên cao hơn. Cha ngồi phía sau cây sồi xanh tươi và đọc thư con.

 Đây là con đường cha thường dừng chân. Đây là con đường khiến cha phải nhăn mày cáu mặt khi phải leo lên cao. Nhưng chính con đường này tạo cảm hứng suy nghĩ trong cha. Và cha không thể nói với con t́nh thương bao la nhường nào về những do dự của con trong quá khứ. Cha bắt đầu …offrir les pierres qui roulaient sous mes pas. Mặt trời nóng bức thiêu đốt cha, v́ sự bền chí của con. Giá mà con biết được tất cả mọi giải pháp tốt đẹp về con. Cha tự hứa tạo cho con sức mạnh sống khi con không c̣n cảm thấy hưng phấn nữa ! Cha hơi mệt v́ lo lắng cho Juliette và hai người bạn thánh thiện Hélène của chúng ta. Và nhờ có bạn đồng hành tốt, cuộc thư dạo kết thúc nhờ sự trợ giúp của Thiên Chúa và thánh Mi-Ca-En, nơi cha ghé thăm ngôi nhà ẩn tu.

 Cha viết lá thư này để khích lệ con viết thư cho cha. Hy vọng lá thư này đem lại cho con nhiều sức mạnh tinh thần cũng như thư của con mang lại cho cha sức mạnh thể lư. Tạm biệt con. Tất cả thuộc về con trong Chúa chúng ta. E. d’Alzon ».

 

Thư gửi chị Clémentine Chassanis, tháng 5 năm 1856, theo tuyển tập thư d’Alzon, nxb. P.T., tập II, trang.84

 

22. Hăy thờ cha kính mẹ.

 

         Chỉ thị này của Tin Mừng (Mt 19,19) lấy lại trong bản giới răn

Môi-sen (xh 20, 12) đă t́m được sức tái hiện mạnh mẽ về mặt cá nhân cũng như mặt cộng đoàn trong cuộc đời cha d’Alzon. Cha d’Alzon luôn luôn gần gũi những người thân cận trong những giờ phút khó khăn nhất của cuộc đời : ngài đến thành Turin năm 1848 thăm người em rể Anatole de Puységur ốm đau. Ngài từng tự trách ḿnh đă không thể tiếp tục đến mộ đứa cháu thứ hai để cầu nguyện cho cháu Marthe de Puységur. Cháu Marthe qua đời do tai nạn ở Lavagnac năm 1845. Hai em gái của ngài là Augustine và Marie-Françoise lần lượt ra đi vào tháng 7 năm 1860 và tháng 4 năm 1869 tạo nên trong ngài đầy cảm xúc : « Cha đến cầu xin sự thinh lặng tại chốn này, nơi đây vốn chứa đầy kỷ niệm của em gái Augustine. Cha sẽ không ngừng cầu xin trong pḥng của em ḿnh dù căn pḥng ấy sẽ không thuộc về cha, trong nhà nguyện, cha sẽ ngồi vào những chỗ em thường ngồi ». Cha d’Alzon c̣n viết : « Cha đă dẫn đưa người em gái Marie thân yêu đến nơi yên nghỉ cuối cùng, và giờ đây, mỗi lúc, cha cứ tin gặp lại em trong pḥng, trong nhà nguyện, trong hành lang, trên đường. Cha biết xác em ở nơi đâu, cha hy vọng linh hồn em đang ở trên trời ». Đối với bố mẹ tuổi già sức yếu, cha Emmanuel d’Alzon là một gương mẫu hay để tâm đến các ngài. Cha trở về thăm các ngài ở Lavagnac, và chăm sóc họ những tháng ngày trong tuổi già. Cha coi sóc bà d’Alzon cho đến hơi thở cuối cùng, khi mẹ ngài bị thương nặng do té cầu thang trong ngôi nhà ở Montpellier. Một người chăm sóc bệnh nhân được biết đến với biệt danh Pauline de Lavagnac. Ngày nay, tên thật của người này được rơ : Pauline Sagnier. Chị chăm sóc bà d’Alzon cho đến cuối đời, thọ chín mươi tuổi. Bà qua đời năm 1864. Đúng là những bắt buộc trong đời sống linh mục và tu tŕ đ̣i hỏi các tu sĩ  sự từ bỏ, tính chuyển động, giữ khoảng cách với môi trường gia đ́nh, song đối với họ, bổn phận đạo làm con trong gia đ́nh không giảm đi. Đó chính là những bổn phận tham gia vào các h́nh thức dẫn dắt gia đ́nh tùy theo khả năng, phương tiện của ḿnh. Kinh nguyện trong đời sống tu tŕ có thể cho phép ḥa giải những thúc bách của cuộc sống hoạt động tông đồ và đồng thời những gánh nặng nảy sinh từ bối cảnh môi trường tự nhiên nào đó sau khi đă thống nhất với nhau. Bằng chứng cụ thể là sự đáp ứng đầy nhân tính của cha d’Alzon với thầy Etienne Pernet năm 1856 khi thầy nhờ ngài giúp đỡ mẹ thầy vừa ghóa bụa, vừa có tuổi, vừa đau yếu và vừa thiếu thốn nhiều. Vị đồng sáng lập ḍng Nữ Tu Sĩ Hèn Mọn Mẹ Về Trời (Petites Sœurs de l’Assomption) năm 1865 sinh ra trong một gia đ́nh khiêm tốn và lao động cần cù, rơi vào cảnh khốn đốn và hoàn cảnh khủng khiếp như vậy dường như ảnh hưởng đến bước đi trên con đường ơn gọi tu tŕ của E. Pernet. Phải làm ǵ trong trường hợp như thế để thỏa ḷng sự bắt buộc lương tâm và không trốn tránh những bổn phận của người con trưởng trong gia đ́nh, và đồng thời hoàn toàn có thể bảo đảm sự chọn lựa con đường sống của riêng ḿnh ? Đó là vấn đề trong thư hồi âm của cha d’Alzon :

 

 « …Con quí mến,

Trước hết cha xin lỗi v́ không thể hồi âm sớm hơn cho con. Lí do là v́ cha phải đi tắm nước khoáng nóng trị bệnh. Cha không thể khuyên ǵ con ngoài điều này : con hăy thống nhất kỹ  với em trai để cùng nhau đóng góp giúp đỡ mẹ. Các con hăy để mẹ trở lại vùng Franche-Comté. Cha nói thật với con mẹ con sẽ không thể sống lâu ngoài xứ sở quê hương. Con không thể hy sinh ơn gọi của ḿnh, và cha tin chắc Thiên Chúa sẽ luôn chúc lành cho mái nhà v́ việc chúng ta sẽ làm cho mẹ con. Với số tiền 150 quan, em trai con có thể làm việc ǵ đó. Con sẽ sử dụng số tiền của ḿnh để làm công việc của con bằng cách sử dụng tiền của chúng ta. C̣n lại, con có thể tham khảo ư kiến Mẹ bề trên (Mẹ Marie-Eugénie).

 V́ viết cho con rồi, nên cha sẽ không viết thư cho cha Laurent nữa. Nhờ con nói vói ngài điều này. Khi cha hy vọng sẽ đến Paris vào mùa xuân, cha t́m chỗ trọ cho Đức Giám Mục giáo phận Nimes ở Auteuil. Ngài đến làm lễ rửa tội cho hoàng đế (baptême impérial). Cha mong sẽ có thể t́m được nơi trọ cho ngài ở đó. Cha nhờ cha Laurent trao đổi với Mẹ Bề Trên để cho ngài nghỉ qua đâu đó. Cha tuyệt đối ước ao Đức Cha sẽ trọ tại nhà chúng ta lần này, ở Auteuil hoặc ở Clichy. Mong mọi người sẽ sắp xếp việc ấy tùy theo khả năng có được, nhưng giá như các con biết được hiệu quả do việc tiếp đón ấy đem lại ở Nimes, các con sẽ hiểu tại sao cha ao ước như vậy lắm.

 

         Người ta bảo đảm với cha là phương pháp trị liệu bằng nước khoáng nóng sẽ đem lại cho cha sức khỏe bền lâu, và cha không hề nghi ngờ ǵ về điều đó. Tạm biệtt, anh bạn yêu quí. Tất cả thuộc về con và về anh em chúng ta.

              E. d’Alzon.

 

         Con hăy hồi âm sớm nhất có thể được về vấn đề liên quan đến chỗ trọ cho Đức Cha. Cha Laurent sẽ làm một kiệt tác khi viết thư ngay cho Đức Cha sau khi đă thống nhất với Mẹ Bề Trên để biết con phải đi đến Auteuil không, nếu như ngài tiếp đón Đức Cha ở Clichy. Nếu Đức Cha đi đến Auteuil, cha muốn giáo sư Gourju hân hạnh tiếp diện Ngài. Cha đặt hy vọng vào t́nh bạn của giáo sư đối với cha và cha khẩn xin việc này. »

 

Thư cha d’Alzon gửi thầy Etienne Pernet, Lamalou ngày 2 tháng 6 năm 1856, nxb P.T, tập II, trang.91-9

 

 23. Người kế thừa-đấng sáng lập của cha d’Alzon : cha Victorin Galabert.

 

         Không có trang sách nào về thế hệ đầu tiên của Ḍng Mẹ Về Trời mà lại không xuất hiện gương mặt của một trong những người con thiêng liêng của cha d’Alzon. Đó là cha Victorin Galabert (1830-1885). Ngài gốc vùng Hérault, ở Montbazin, sinh viên ngành y. Ngài đậu tiến sỹ năm 1854 với luận án học đường mang tiêu đề Bài thử nghiệm về lịch sử đậu mùa. Một bài giảng của cha d’Alzon trong ḍng Mẹ Về Trời ở Nimes, nơi chàng sinh viên trẻ giảng dạy, đă khiến anh sinh viên ấy trở lại giống như thánh Augustino và mở hướng cho anh sinh viên xuất sắc này t́m lại ḷng nhiệt huyết trong đời sống đạo bởi gia đ́nh anh sống đạo lơ là từ lâu. Dù gia đ́nh không đồng ư, anh vẫn chọn lựa đời sống tu tŕ và nhận áo ḍng Mẹ Về Trời ngày 8 tháng 12 năm 1854. Cha d’Alzon cho ngài theo học thần học ở Rôma (1855-1858). Sau một thời gian giảng dạy ở Nimes, cha Galabert được cha d’Alzon chọn để gây dựng gia đ́nh tu sỹ của ḍng ở Đông Phương sau khi cha d’Alzon tiếp nhận những chỉ định mập mờ hoặc những khát vọng của Đức Giáo Hoàng Pio IX ở Rôma.

 

         Trong đầu của Đức Cha Brunoni, Ḍng Mẹ Về Trời chỉ có thể cụ thể t́m được chỗ đứng ở Philippopoli tại Thrace theo chiến thuật lư tưởng của Giáo Hoàng thiết lập ở Vatican và được nhiều Hội Ḍng Tu sử dụng (Résurrectionnites, Capucins, Lazaristes). Nhiều người ṃn mỏi trông chờ khả năng thành lập một cộng đoàn Bun-ga-ri thống nhất. Mùa xuân năm 1863, cha d’Alzon sang Bungari, ở đây đă có cha Galabert, để khảo sát thực tế và những dự định. Thực ra, mọi người đặt hy vọng vào cha sáng lập ḍng để xóa nợ của phái đoàn làm công tác tông đồ (délégation apostolique) ! Cha sáng lập ḍng, tức cha d’Alzon, nhanh chóng nhận ra tuyệt đối không thể lập chủng viện cho giới giáo sĩ theo nghi thức phụng vụ tiếng Slave Bun-ga-ri. Cha Galabert, người đậu hai bằng tiến sỹ (double docteur), ngồi vào ghế của học sinh, những trẻ em khiêm tốn, nghèo khó, được nhận vào trường Saint-André de Philippopoli, mở của ngày 3 tháng 1 năm 1864. Vị tu sĩ khiêm tốn và mộ đạo, phú bẩm và kiên nhẫn học tiếng Bun-ga-ri và phân định tuyển chọn các ơn gọi đầu tiên trong nước này. Và từ năm 1865, ngài trở thành cố vấn của Đức Cha Raphael Popov (1830-1876). Là bạn đồng hành của Đức Giám Mục trong cuộc sống thường ngày, vị tu sĩ này đi lại khắp nơi với ngài trong nước, viết nguệch ngoạc vào sổ nhật kư trên tàu biển mọi thông tin về nhiều nét riêng biệt của đất nước Bun-ga-ri nông nghiệp sống dưới ách đô hộ của Thổ Nhĩ Kỳ. Chính việc ấy cho phép con người sống cách một thế kỷ giữ được kư ức và những h́nh ảnh về quá khứ. Ngài thúc giục đấng sáng lập gửi nữ tu sang để phụ giúp : Đó là nguồn gốc phát sinh ḍng Nữ Tận Hiến Mẹ Về Trời năm 1865. Khi giao phó trường Saint- André cho cha Alexandre Chilier, cha Galabert thiết lập cố định trung tâm truyền giáo của ḍng ở Andrinople (1867). Cha Alexandre Chilier sau này sẽ sáng lập trường Saint-Augustin (1884). Là ḥn đá bị chôn vùi trong nền tảng, là người tiền phong mang tinh thần đại kết, cha Galabert mang tâm hồn đông phương của dân mà ngài dạy yêu thương và phục vụ cho đến khi không c̣n sức hoạt động nữa. Người con kế thừa của cha d’Alzon hoàn toàn xứng đáng được gọi là đấng sáng lập (épithète de fondateur).

 

«Vậy là con trở thành linh mục, con của cha. Hôm qua, khi con nhận phép xức dầu chức linh mục, cha dâng lễ cầu nguyện cho con. Cha cảm ơn con về thánh lễ ngày mai con dâng cho cha. Nguyện xin Chúa ban cho con ḷng nhiệt thành truyền giáo ! Con hiểu rằng t́nh yêu này là sản nghiệp, là nền tảng, là tinh thần của ḍng Mẹ Về Trời. Cha không biết sẽ sử dụng con vào việc ǵ. Có thể cha sẽ yêu cầu con ở lại Rôma thêm một năm nữa. Và trong trường hợp này, đến lượt con, con sẽ phải đảm nhận những trách nhiệm bề trên, giả sử trong trường hợp cha giao phó cho con một vài sinh viên. Con cần phải áp dụng chức vụ ấy cách đều đặn, với tinh thần cầu nguyện, với sức mạnh, với ḷng độ lượng, để trở thành gương mẫu cho các tu sĩ trẻ. Con sẽ phải thật khiêm hạ, nhẹ nhàng và kiên nhẫn  thi hành chức vụ ấy. Con không nên sơ suất nhiều, phải thêm việc giữ ǵn vệ sinh trong nhà, và như thế mọi việc sẽ ổn thôi.

 

         Cha không muốn con trở về từ Rôma nếu không có trong tay bằng tiến sỹ giáo luật. Cha rất tiếc là cha Picard đă không đủ sức để thi các môn thần học, nhưng ngài phải chăm sóc sức khỏe. Con nói với cha Barre rằng cha cảm ơn ngài rất nhiều về kỷ niệm của ngài. Cha thật ḷng cầu nguyện cho ngài. Ở Montpellier, nhiều người đảm bảo với cha là cha Barre đang được chờ đón để thay thế cha Soulas trong nhiều việc bổ ích. Cha không tin nổi thông tin này. Cha Soulas là một linh mục tốt. Ngài đă để Hội Ḍng của ngài bị những ảnh hưởng mà cha Barre có lẽ không chấp nhận.

 

         Cha ở Lamalou khoảng một tháng. Cha muốn cho con biết một số tin tức, nhưng không thể được. Thiên Chúa muốn Ḍng Mẹ Về Trời ở Nimes đáng thương của chúng ta bị lung lay. Đă từng nghĩ Ḍng sẽ có thể phục vụ lợi ích cho Thiên Chúa, nhưng vậy đó, tất cả dường như đă chấm dứt. Nhưng mặt khác, nhiều hy vọng đến với chúng ta từ nhiều nơi khác. Cha không nhận các trường phổ thông, các tiểu chủng viện. Nên tin rằng, nếu chúng ta phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, Ngài sẽ biết rút ra được điều tốt từ điều xấu.

 Khi nào Đức Thánh Cha trở lại Rôma ? Tạm biệt con. Cha c̣n trăm ngh́n công việc với cha Picard. Con hăy tin cha luôn gần bên con bằng trái tim.

            E. d’Alzon.

 

         Mong cha Picard không quên những khoan hồng đối với chúng ta và những thành viên Ḍng-Ba. Nếu sức khỏe buộc ngài trở về, con hăy để ngài ra đi. Chúng ta sẽ phải cần đến ngài vào năm tới. Con hăy viết thư cho cha biết tin tức ở Rôma. Báo chí không tải hết thông tin hoặc thông tin đến rất trễ ».

 

 Thư cha d’Alzon gửi cha Victorin Galabert, Lamalou, ngày 7 tháng 6 năm 1857, theo nxb. P.T., tập II, trang.246-247

 

 24. Những lời khuyên cho vị bề trên non trẻ.

 

         Việc làm của bề trên hay c̣n gọi là « tính ưu thế » (supériorité) theo thành ngữ của cha d’Alzon, chắc chắn là một vấn đề chủ yếu trong cuộc sống và trong việc làm sống động nơi cộng đoàn của Hội Ḍng. Đời sống tu sĩ được cấu trúc theo cấp bậc làm nền tảng trung tâm hoặc đỉnh điểm, vận hành cách cục bộ trong nhiều tế bào mang tính dân chủ (cellules démocratiques) theo thói quen, nếu ta hiểu điều đó như tṛ chơi tự do trong một xă hội có tổ chức và t́nh nguyện của những người hữu trách, nhưng đồng thời lệ thuộc vào tấm gương tham khảo chung, đó là Qui tắc (Luật ḍng). Trước khi đưa vào Hiến Chương những điểm chính yếu về chức bề trên (supériorat), cha d’Alzon đă từng trải nghiệm trong hai phẩm chất của khung cảnh Giáo hội trong giáo phận Nimes và của một người với tư cách là đấng sáng lập các Hội ḍng.

 

         Ḍng Mẹ Về Trời chỉ h́nh thành một cộng đoàn trong cái nôi của trường học ở Nimes măi đến năm 1851. Đó cũng là năm đưa ra quyết định thành lập cộng đoàn ở Paris tại Fraubourg trên đường Saint-Honoré (1851-1853). Nhưng không lâu sau đó được chuyển đến Clichy-la-Garenne (Hauts-de-Seine). Nếu tính kinh nghiệm làm nông nghiệp (colonie agricole) và mở tập viện cho các Thầy ở Mireman, Nimes (1853-1857), tiếp đến là kinh nghiệm về tập viện độc lập ở Auteuil trong nhà ḍng và lănh thổ của các Nữ Tu Mẹ Về Trời tại Paris (1857-1858). Cuối cùng là kinh nghiệm về việc thành lập một cộng đoàn sinh viên lẻ tẻ ở Rôma. Rethel xuất hiện vào vị trí thứ năm trong các h́nh thức cộng đoàn của ḍng Mẹ Về Trời thuở ban đầu. Mỗi lúc, cha d’Alzon cố gắng t́m ra người có niềm tin, có khả năng điều khiển một tập thể trong các hàng ngũ của « công việc nhỏ bé ». Việc này liên quan đến hoạt động tông đồ. Ngài có những người như Henri Brun ở Mireman, Hippolyte Saugrain ở trường học Nimes, François-Picard ở Rôma và Charles Laurent ở Paris.

 

         Cũng thú vị nhận thấy trải qua nhiều thế hệ, chức vụ bề trên đă thay đổi nhiều h́nh dạng. Điều này cho thấy trong các văn bản pháp lí của Ḍng ( Hiến Chương, Thư Lưu Hành nội bộ, Các Kỳ Họp). Để đủ sức thuyết phục, chỉ cần so sánh những văn bản nói đến bề trên cộng đoàn địa phương, từ thuở ban sơ cho đến Luật Ḍng ngày nay hoặc trong quyển sách hiện dùng do Nhà Chung (Curie généralice) giới thiệu : bề trên địa phương, những gợi ư thực tiễn để điều hành cộng đoàn, Rôma, 1990.

 Những văn bản đẹp nhất xuất phát từ cuộc sống và nó chỉ tạo nguồn linh hứng từ nhiều kinh nghiệm chín muồi nhờ cọ xát nhiều t́nh huống riêng trong đó mọi người luôn nhận thấy các vấn đề nổi cộm. Chúng ta hăy lắng nghe cha d’Alzon tín thác chức vụ bề trên cho cha Picard năm 1858, một linh mục c̣n trẻ :

 

Bạn thân mến, Lamalou ngày 10 tháng 9 năm 1858

« Như vậy con chính thức là bề trên ở Rethel. Cha để con tự do sử dụng cha Pernet hoặc cha Brun. Tuy nhiên, cha khuyên con nên chọn cha Brun bởi v́ sức khỏe của ngài sẽ giảm bớt mệt nhọc cho con. Cha Brun tin sẽ đảm nhận một lớp, nếu ngài đến đó và sẽ giúp đỡ con về mặt nội qui. Con hăy chăm sóc đặc biệt đến sức khỏe của cha Cusse. Nếu con không được dâng lễ, con hăy cho cha biết. Cha sẽ tạo điều kiện để con dâng lễ. Nhớ cho cha tin tức về việc ấy.

 

         Con hăy từ tốn làm mọi việc. Cha tin tính cách con người vùng Champagne hơi nặng nề và lạnh lùng. Tính thành thật đối với cha là hệ thống tuyệt vời nhất. Con hăy t́m cách để cha Brun không quá mưu mô. Con hăy thẳng tiến (aller à la bonne) và hăy tiến hành công việc cách đơn giản. Đừng bộc lộ niềm vui hơn người hoặc cho ḿnh khéo léo hơn người khác. Con nên nhớ rằng chính sách quản lí (administration) dù kém hiệu quả hơn, nhưng bảo tồn được t́nh thương, ngh́n lần thích hơn chính sách quản lí tuyệt vời, song lại gây sự ghét bỏ.

 

         C̣n nữa, con hăy nhớ rằng tinh thần ḍng Mẹ Về Trời là ḷng yêu mến Chúa, yêu mến Đức Mẹ Đồng Trinh, mẹ Người, và yêu mến Giáo Hội, hiền thê của Người. Đó là điều con phải luôn có trước mắt: Chúa chúng ta, Thánh Nữ Đồng Trinh, Giáo Hội. Nếu con chỉ hành động trong mục đích ấy, con sẽ sớm được mọi người cảm nhận và sẽ quí mến con đúng mức.

 Nếu con buồn chán, động cơ trong sạch sẽ là niềm an ủi tối cao đối với con. Nếu người ta chỉ định con làm linh mục giải tội cho các Sơ ở Sédan, con hăy nhận lời. Con hăy tin tưởng xúc tiến công việc với Đức Hồng Y. Hăy kết bạn với cha Hannesse. Nhưng cha tin ngài có một vài mánh khóe, con cần tránh xa điều đó. Tại ṭa tổng giám mục, con chỉ cần làm quen với cha Hannesse và Đức Hồng Y. Con phải lịch sự và tôn trọng mọi người, nhưng đừng chạy theo ai.

 Tạm biệt con. Nguyện xin Thiên Chúa và Thánh Nữ Đồng Trinh che chở con! Cha chúc lành cho con trong sâu thẳm tấm ḷng”.

             E. d’Alzon

 Thư cha E. D’Alzon gửi cha François Picard, tháng 9 năm 1858, theo những bức thư d’Alzon, nxb. P.T., tập II, trang.512

 

 25. Sự quan tâm của người cha đối với con cái (nữ tu)

 

         Thư cha d’Alzon và Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, ngay từ lần gặp gỡ ban đầu ở Chatenay (Isère) vào tháng 10 năm 1838, tại quê hương cha Combalot, h́nh thành nên niềm khao khát chung để thiết lập cộng đoàn Nữ Tu Ḍng Mẹ Về Trời ở Nimes với mục đích chiêm niệm (adoration) và giáo dục. Dự tính này chỉ có thể khởi động vào thời Đức Cha Cart. ĐGM Cart khá ghét bỏ sự xuất hiện thêm các ḍng tu trong lănh thổ giáo phận. Việc này chỉ thực sự trở thành hiện thực sau khi ĐGM Cart qua đời ngày 13 tháng 8 năm 1855.

 

         Ngày 24 tháng 10, Sơ Marie-Eugénie de Jésus đến Nimes cùng với ba nữ tu với mục đích thành lập cộng đoàn ở đây: Sơ Marie-Walburge, được cử làm bề trên, Sơ Marie-Elisabeth gốc Nimes và Marie-Gérard Ernalstein, là Sơ cần vụ. Chỗ ở đầu tiên không được chuẩn bị trước: Các Nữ Tu đến nhà bà nam tước Lisleroy, bà ngoại của Sơ Marie-Elisabeth, trên đường Lombards số 29, gần nhà thờ Saint-Charles, trước khi các Sơ đến ngụ tại một ngôi nhà nhỏ rất khiêm tốn, đường Roussy vào tháng 11, ngôi nhà này không xa trường của Ḍng Mẹ Về Trời và gần ḍng nữ Các-Men. Sau đó, bốn nữ tu được sai đến: Sơ Marie de la Croix Aubert, Sơ Marie-Aloysia Lawson, Sơ Marie-Laurence Finn, tập sinh, và Sơ Marie Pélagie Desperroix, Sơ cần vụ. Ngày 9 tháng 11, cha d’Alzon dâng thánh lễ đầu tiên tại đây.

 

         Việc sắp đặt tạm thời này không thể tồn tại lâu dài. Thư cha d’Alzon những năm (1856-1858) cho phép chúng ta theo dơi những giai đoạn trong công cuộc xây dựng và bố trí ḍng tu theo luật ḍng. Ḍng tu này mang tên Tu Viện Nimes: việc mua đất trên đường Bouillargues, sơ đồ của kiến trúc sư Révoil dự tính xây dựng pḥng ở cho các nữ tu, xây dựng ḍng tu, xây dựng trường nội trú, vườn giải trí, hàng rào. Công tŕnh này được cha d’Alzon quan tâm rất nhiều, nhưng cũng không thiếu những công tŕnh tương tự ở nơi khác. Trường học ở Nimes cùng theo một kiểu mẫu và làm nảy sinh nhiều nhánh thiêng liêng được gắn vào nền tảng của các Nữ Tu Mẹ Về Trời: Hiệp hội các Nữ Tu tôn thờ Phép Thánh Thể, Ḍng-Ba nữ Mẹ Về Trời. Bước đầu của trường nội trú khá khiêm tốn: 12 học sinh vào tháng 10 năm 1858, nhưng công tŕnh giáo dục sẽ đạt thành quả lớn khi luật pháp nền Cộng ḥa cuối cùng phải chấm dứt việc cấm công tác giáo dục đối với các Ḍng Tu sau bộ luật 1901. Hội Ḍng các Nữ Tu Mẹ Về Trời tan ră vào tháng 12 năm 1906. Cộng đoàn địa phương chống cự đến ngày 23 tháng 8 năm 1911 khi lực lượng cảnh sát đuổi. Nhà tu trở thành trung tâm chăm sóc sức khỏe cho người có tuổi (Centre Villemin). Nơi này t́m lại ơn gọi đầu tiên vào năm 1911 với việc thành lập trường trung học d’Alzon, phát triển rộng Học Viện d’Alzon dưới sự quản lí của các Nữ Tu Tận Hiến (Oblates).

 

“ Các con yêu quí,

Nếu các con tin rằng cha sẽ để ngày lễ Mẹ Về Trời trôi qua mà không có lời chúc mừng, các c̣n hoàn toàn sai lầm đó. Trước hết, cha rất quan tâm đến thánh lễ này. Tối nay, các tu sĩ đi tĩnh tâm về và các con sẽ nhận được hàng đống lời chúc mừng tốt đẹp. V́ vậy, các con hăy cầu nguyện cho đến  ngày  22 ( giơ tay lên trời cho đến ngày 22). Ngày 22, cha sẽ đi Sedan. Cha sẽ giảng tĩnh tâm ba ngày cho Sơ của các con ở đây. Nơi đây, v́ lợi ích của các con, cha thánh hóa mọi thành viên trong gia đ́nh tu các con. Cuối cùng, rất có thể, thay v́ đi qua Toulouse, cha sẽ phải ghé qua Nimes để đi đến Lamalou. V́ c̣n nhiều việc quan trọng ở đó, mong các con vui ḷng cho cha biết, tốt hơn cha nên ghé qua nơi nào.

 

         Cho phép cha đề nghị các con trao đổi thông tin cho nhau về việc cha sẽ nhờ các con. Các con vui ḷng chuyển lời của cha đến Mẹ chúng ta ( Mẹ Marie-Eugénie de Jésus). Nói là cha chúc Mẹ kiên nhẫn nhiều để t́m hiểu con người cha. Các con nói với chị cả đáng kính của chúng ta rằng cha nghĩ nhiều đến chị và cha thấy chị đă làm một việc rất tốt khi lập cộng đoàn bên bờ Vistre. Ở Auteuil, mọi người luyến tiếc v́ thiếu vắng chị. Chuyến ghé thăm đă giúp cha đánh giá cao kho tàng mà chúng ta đă có được. Chuyển lời đến Sơ Marie-Julienne. Nói với Sơ, cha đă trao đổi hai lần với người cháu rất đẹp trai của Sơ về việc Sơ muốn nhờ cháu chuyển đến cha. Nói với Sơ là cháu hứa với cha sẽ suy nghĩ về việc ấy. Nhờ các con chuyển lời tới Sơ Marie de la Croix rằng Sơ Marie-Cécile muốn Sơ nuôi chim sơn ca ở Nimes. Nói với Sơ Aréthuse rằng mọi người rất cần nước để tưới cỏ trên Paris. Chuyển lời tới Sơ M.-Théodore ở Paris, không ai dùng loại chocolat mà Sơ làm biếu cha. Nói với Sơ M.-Claver rằng cha c̣n nghĩ Sơ là người thánh thiện nhất trong cộng đoàn. C̣n Sơ M.-Angélique, cha thật sự bối rối, nhưng chúng ta sẽ t́m được giải pháp ǵ đó từ nay cho đến khi cha trở lại.

 

Và giờ đây, tạm biệt các con. Không phải cha đi tĩnh tâm lúc này, mà cha đi vào thế giới của cha. Cha cần thấy việc phải làm để hoán cải tâm hồn, để thánh hóa, để quở trách (bản thân), để khích lệ cộng đoàn nhỏ bé của chúng ta. Tất cả thuộc về các con trong Chúa chúng ta.”.

 

 Thư gửi cộng đoàn Nữ Tu Ḍng mẹ về Trời ở Nimes, Clichy ngày 15 tháng 8 năm 1859, theo nxb.D.D., tập III, 1991, trang.131-132.

 

 

 26. Cha d’Alzon, người kế thừa ruộng đất đối xử lịch sự

 

         Chúng ta thường quen giới thiệu tư tưởng thiêng liêng của cha d’Alzon hơn là đề cập đến con người d’Alzon dưới những nét liên quan đến ông chủ ruộng đất. Và thế nhưng, đó chính là h́nh ảnh ngài thể hiện về chính ḿnh trong  bức thư viết cho mẹ ngài, bà tử tước d’Alzon vào tháng 8 năm 1860. Khoảng hai tháng sau, mẹ ngài qua đời.

 

         Ḍng họ d’Alzon toàn là những chủ tư hữu ruộng đất ở Vigan cũng như ở Lavagnac: tài sản ruộng đất trong các tầng lớp giai cấp thời xưa của xă hội vẫn là biểu trưng cho sự ẩn chứa tài sản và uy thế, ngay cả khi bị những giá trị xă hội khác truất phế, như thương mại, nhà băng và công nghiệp thường ḥa lẫn với nhau. Chúng ta biết tài sản của ḍng họ d’Alzon nhờ Bà d’Alzon, sinh ra ở Faventine. Thực ra bà đă kế thừa gia sản do cha mẹ nuôi để lại. Bố mẹ nuôi của bà là con cháu của một ông quân thầu thuế. Vả lại, khi mẹ ngài qua đời tháng 10 năm 1860, chỉ ít lâu sau khi em gái của cha ĺa trần vào tháng 7 cùng năm ấy, hai người nối dơi tông đường trực tiếp c̣n sống là Emmanuel và em gái của ngài Marie-Françoise chính thức kế thừa gia sản: cha d’Alzon từ năm 1835 nhận những số tiền lớn của gia đ́nh cho nhiều công việc ở Nimes. Ngài ghi vào sổ rất cẩn thận số tiền ấy và xem như đó là phần lănh nhận trước từ của kế thừa sau này. Ngài để Marie de Puységur kế thừa lănh thổ Lavagnac, c̣n ngài th́ nhận ngôi nhà do gia đ́nh để lại khi c̣n ở Vigan và những trang trại kế bên. Lănh thổ ở Montmau tại xă Saint-Pons de Mauchiens cũng thuộc về cha d’Alzon. Sau này ngài bán lại cho cháu trai Jean de Puységur.

 

         Lá thư của ngài v́ vậy mang nặng những ghi nhận và toan tính về tài chính trong đó sự lạc quan chung nơi ngài không bao giờ mang ơn ai, cho dù suốt cuộc đời ngài chịu khổ v́ vấn đề tiền bạc. Việc nghiên cứu kiểu tài chính về chủ đề này nhờ các số liệu thống kê trong những trao đổi của cha với Mẹ Marie-Eugénie de Jésus. Dù xuất thân từ tầng lớp quí phái mới xuất hiện, con người lịch lăm này dè dặt trong quan điểm riêng đối với những h́nh dạng kinh tế mới mẻ mà gia đ́nh Milleret đang đắm ḿnh hoặc đă đắm ch́m trong đó do giai cấp tư sản lộng hành. Cả hai người chỉ đề cập đến vấn đề tiền bạc trong những quan hệ cần thiết hoặc kiểm tra  khi liên quan đến những dự định hoạt động tông đồ. Sở thích và chọn lựa cá nhân của các ngài được nhào nặn theo luật tin mừng chỉ v́ các giá trị đích thực của Nước Trời. Tuy thế, cha d’Alzon tỏ ra là con người có đầu óc thực tế về nông nghiệp trong mối quan hệ với người mẹ sinh thành nhân chuyến trở về thăm nhà ở miền quê Lavagnac :

 

« Mẹ kính yêu,

 Con đă đến bến rất b́nh an. V́ không có việc ǵ quan trọng phải làm lúc này, sáng mai con sẽ lên đường đi đến Lamalou. Sáng nay, khi vào nhà nguyện, con trông thấy bó hoa bạch rất đẹp. Con bèn hỏi có chuyện ǵ thế. Người ta bảo bó hoa ấy do bác làm vườn chưng từ hôm qua nhân ngày lễ thánh Augustino.

 

         Mùa thu hoạch lúa ḿ, hạt yến mạch, lúa mạch đen, mang lại 9434 quan tṛn. Chi phí khai thác nông nghiệp đă trích ra 10334 quan, riêng việc đập lúa (đạp lúa) mất 2234 quan, chưa tính những thiệt hại (ègues ???) trong năm và những hư hại về cây cối, cỏ linh lăng v́ không c̣n ai chịu trách nhiệm bảo quản. Nơi các gia chủ ruộng đất chính ở Mèze, người ta đă sử dụng máy móc nên chi phí giảm đi một nửa. Nếu mẹ muốn ngỏ ư về chuyện này : công việc đập hạt với …(ègues) phải mất 2,25 quan cho một hectolit ( hectolit là đơn vị đo lường). Trong khi đó, sử dụng máy chỉ mất chưa tới 15 xu cho một hectolit. Con thấy sự khác nhau qúa chênh lệch. Từ 45 đến 15, hoặc từ 3 đến 1, nói cách khác chênh lệch một phần ba.

 

         Poujol và ông thợ cạo ống khói xúi giục để người ta đừng mua hạt bị cháy sém (semence de roussillon) v́ họ thấy hạt giống thu hoạch ở đây khá tốt. Họ đă cho con xem hạt giống mới thu hoạch. Với khả năng hiểu biết của con, con thấy hạt giống ấy rất tuyệt và không kết hạt. Chúng ta cần mua giống lúa ḿ không râu. Con có việc này phải cho mẹ biết. Năm nay, 44 sèteries de la Conseillère sẽ được chế biến rượu, nhiều hơn so với 160 sèteries mà ta đă trồng lúa ḿ, lúa mạch đen, hạt yến mạch. Rượu sẽ bán được 100 quan. Ruộng nho thu hoạch được 120 muids sẽ bán với giá 12 000 quan. Vụ trồng trọt và vụ thu hoạch nho sẽ đem về cho mẹ trên 1800 quan, phải bỏ ra 1200 quan, nhưng c̣n tồn lại 10200 quan. 160 séteries lúa ḿ, lúa mạch đen, v.v. đem lại lợi thu cho mẹ 9434 quan. Con bàn rơ các chi tiết này để mẹ được cha đồng ư những việc sau :

1.     mong cha nhất trí bỏ...ègues? v́ phải chi tiêu vào việc ấy ít nhất là 2000 quan một cách vô dụng.

2.     mong cha mua một chiếc máy với sản phẩm đem bán từ trại ngựa giống. Năm đầu tiên, sẽ có một nguồn kính tế khá lớn ; những năm khác, kinh tế sẽ rất tuyệt vời. Ngài Vidal ở Mozère đảm nhiệm việc máy móc và bảo đảm máy móc luôn.

3.     mong cha cho trồng nho, bởi v́ với luật lệ cho phép và với những khả năng hiện có, cho nên giá lúa ḿ rất thấp. Cừu có thể ăn những ǵ mà các …ègues ? ăn và cũng có thể cung cấp nhiều phân chuồng rất tốt, song cũng vô ích thôi. Con không hiểu tại sao lại nói với mẹ về những suy nghĩ ấy, đúng hơn cha là người phải suy nghĩ về những vấn đề này. Bởi vậy, hiển nhiên là con viết những suy nghĩ ấy cho cả bố lẫn mẹ. Con chưa thể gặp Rodier. Anh ta để lại cho con mấy chữ bảo là phải bắt buộc đến Clermont. Ngày mai con đi. Alexandre sẽ đến Montpellier tối thứ sáu hoặc sáng thứ bảy.

 Tạm biệt mẹ thân yêu. Con hôn mẹ với nụ hôn dịu dàng và cả cha nữa. Con trai của mẹ nay đă năm mươi tuổi.

                       Emmanuel ».

 

  Thư cha d’Alzon gửi bà Jeanne-Clémence d’Alzon, lavagnac, ngày 29 tháng 8 năm 1860, theo nxb. D.D., tập III, p. 282-283

        

 27. Những vết thương của cuộc đời.

 

         Năm 1860 là năm tràn đầy thử thách đối với cha d’Alzon. Sự chết xảy đến làm tan nát gia đ́nh : em gái Augustine ra đi nhanh chóng vào tháng bảy, rồi tháng mười mẹ của cha d’Alzon, tức bà d’Alzon qua đời cách đau đớn. Hai tang thương này c̣n được thêm vào một tang thương nữa là cái chết của cháu gái Martha năm 1845 và em rể của cha tên là Anatole de Puységur cũng ra đi năm 1851. Hàng ngũ trong gia đ́nh trở nên thưa thớt. Bà d’Alzon bị mù ḷa. Khi Augustine qua đời, bà không c̣n con gái thân thương dẫn dắt nữa khi ở Montpillier. Lúc ấy, bà sống trong một mái nhà tên là Maison Roche, rue des Trésoriers de la Bourse. Vào tháng chín, bà không may vấp ngă trên cầu thang, chắc hẳn bà bị găy xương đùi. V́ vậy bà đau nặng và y học lúc bấy giờ không thể chữa khỏi, mà chỉ có thể giảm đau chút ít bằng một vài viên thuốc phiện. Cha Emmanuel rất đau đớn khi phải trông nom mẹ trong giai đoạn hấp hối suốt ba tháng trời : ngài cảm thấy thực sự biệt lập với t́nh trạng khó đi lại của cha ngài ở Lavangac. Cha ngài đă tám mươi tuổi và hầu như không c̣n nói năng được ǵ nữa. Alix de Puységur ở trong ḍng Các-Men Paris cũng vắng mặt  v́ trùng vào giai đoạn nhà ḍng đóng của. Nỗi đau này của cha  d’Alzon càng thêm mạnh mẽ hơn khi ngài bị cấm không được phép rao giảng, không được phép giải tội trong giáo phận Montpellier v́ những ư kiến và sự thái quá trong tính nhiệt thành đối với Giáo Hội Giáo Hoàng La Mă mà Đức Cha Thibault (1835-186) trách cứ ngài.

 

         Từ năm 1859, thế giới công giáo hướng mắt về Rôma và về những Nhà Nước thuộc giáo hoàng. Kư kết chính trị, quân sự của Napoléon III với Piémont đă khiến toàn bán đảo nước Ư rơi vào trận cuồng phong của Risorgimento. Cavour mong muốn chiến tranh chống lại ÁO-HUNG-GA-RI bởi đây là sự loại bỏ mang tính quyết định trên bản đồ bên kia núi AlPƠ. Trong các nhà nước trung phần, nhiều rối ren được lên men nhằm mục đích xúi giục dân chúng không vâng nghe Đức Giáo Hoàng, Ngài vốn chỉ có thể chống lại một binh đoàn đều đặn với vài đám quân t́nh nguyện ít nhiều được rèn luyện. Đó là binh lính Zouavơ thuộc giáo hoàng. Hơn nữa ở miền nam, trong vương quốc Deux-Siciles Garibaldi, người cộng ḥa chờ đợi đến giờ để liên minh công việc hiệp nhất theo cách của ḿnh. Cha d’Alzon không phải là người bất động và tay khoanh tṛn. Theo bút danh của ngài, nhờ lời của ngài, nhờ hành động của ngài, và nhờ dấn thân cách trọn vẹn, ngài hoàn toàn đi vào cánh đồng tranh căi mang tính công chúng. Cháu trai Jean của ngài bị tù ở Castelfidardo vừa được thả. Sự tranh đấu của cha d’Alzon được linh hứng bởi những niềm tin và những khái niệm về Giáo hội được nhiều người công giáo chia sẻ, tán thành lúc bấy giờ. Chính trong bối cảnh rối ren ấy, ngài bàn thảo với Đức Cha Quinn về việc gửi các tu sĩ sang nước ÚC và ngài chịu đựng mọi thử thách tang thương liên tục trong gia đ́nh nhờ đức tin, đến nỗi ngài viết rằng : « cha nghĩ có thể chịu đựng chút khổ đau trong gia đ́nh vào chính lúc Giáo Hội đang đớn đau rất nhiều là một niềm an ủi lớn đối với cha ».

 

« Con quí mến,

Cha cảm ơn con về lá thư rất hay con viết cho cha. Xin con cho cha nói sơ qua với con t́nh h́nh cha lúc này. Cha khổ đau khi chứng kiến mẹ ḿnh ốm liệt giường khiến cha mong mẹ chóng khỏi. Từ khi nói chuyện với mẹ, cha biết mẹ thấu hiểu cha. Cha ít khi ở bên mẹ, cha cảm thấy cái chết ít ra đă chiếm lấn một nửa con người của mẹ. Rất có thể, cha thích ở một ḿnh hơn, cha đă từng cảm thấy như vậy khi em gái Augustine qua đời và cha càng cảm nhận điều đó mạnh hơn nữa mỗi ngày. Điều đó thật ích kỷ, nhưng cha muốn nói với con sự thật đang ngự trong ḷng. Cha rất hạnh phúc với các linh hồn do chính đức tin chỉ cho cha thấy trong một thế giới tốt đẹp hơn hoặc đang sẵn sàng đi vào thế giới ấy. Cha chưa bao giờ thấu hiểu tốt hơn niềm hạnh phúc trở thành linh mục và trở thành tu sĩ bằng việc cầu nguyện cho người nghèo khổ và những linh hồn quí giá ấy. Và c̣n nữa, cha cũng chưa bao giờ thấu hiểu tốt hơn niềm vinh dự được chịu khổ đau trong gia đ́nh lúc đại gia đ́nh ki tô hữu khổ đau nhiều lắm. Thật là cái gí đó tốt lành khi t́nh yêu của Giáo Hội không phải chỉ là một từ rỗng tuếch. Người mà cha t́m thấy niềm an ủi tuyệt vời nhất về cái chết của mẹ ḿnh chính là Giáo Hội. Sau khi viết xong thư cho con và cho một số người khác,  giá mà con biết được điều cha cảm nhận khi cha vào trong pḥng để xin lỗi mẹ ḿnh bởi  mọi khổ đau cha đă gây cho mẹ và lúc cha ôm hôn bàn tay người mẹ đă chăm sóc cha sâu nặng nhường nào ! Chắc hẳn có sự đắng cay, nhưng cuối cùng, chúng ta không giống như những người thiếu niềm hy vọng.

 

         Lời cuối cùng của mẹ dành cho cha là : « Con nên biết đến mọi hy sinh ». Tại sao con không muốn lời trăn trối ấy không quí giá đối với cha như bao trăn trối khác ? Sau mẹ, không người nào an ủi cha tốt hơn con, con của cha, nhưng trong bối cảnh hiện tại, cha có cần được an ủi không ? Cha buộc phải đến vài ngày ở Lavangac để giải quyết một số việc liên quan đến gia đ́nh. C̣n nữa, cha phải đi giảng cho hai kỳ tĩnh tâm. Kỳ tĩnh tâm đầu tiên sẽ bắt đầu độ ngày 14 tháng 11. Hôm qua, cha Hippolyte đă có hai bài giảng nói tầm quan trọng của sự hiện diện của cha ở Nimes. Theo cha, tốt hơn cha nên cố gắng thực hiện chương tŕnh đề ra để lên Paris độ ngày 15 tháng Giêng.

 

         Sơ Marie-Catherine đă viết thư cho cha cách đây vài hôm. Một lá thư chứa đầy thất vọng. Nhưng từ ngày mẹ của cha qua đời, Sơ Marie-Catherine cũng đă viết cho cha và dường như đă vượt qua khó khăn.

 Tạm biệt con gái yêu quí của cha. Con thấy đó, cha tỏ hết ḷng với con.

                E. d’Alzon. »

Thư cha d’Alzon gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, Nimes ngày 18 tháng 10 năm 1860, theo nxb. D.D. ; tập.III, trang.325-326

 

 28. Mạo hiểm công cuộc truyền giáo ở nước ÚC

 

         Khi kư kết thỏa thuận hay hợp đồng đi truyền giáo với Đức Cha Quinn ngày 19 tháng 10 năm 1860, cha d’Alzon cho phép bước thử nghiệm đầu tiên về cuộc sống truyền giáo xa xôi đối với Ḍng Mẹ Về Trời. Cho đến lúc ấy, Hội Ḍng chỉ biết đến đời sống trong học đường hoặc trong các trường học nội trú, dẫu rằng mục đích truyền giáo thuộc thành phần những khả năng tông đồ được ghi rơ trong HIẾN CHƯƠNG năm 1855. Mặt khác, ta biết rằng cha d’Alzon cũng đă nghĩ đến việc thử nghiệm trong việc lập ḍng các Nữ Tu Ḍng Mẹ Về Trời ở xứ Cap bị thất bại (1850-1852) : cũng nên biết rằng ngài là một người có địa vị thuận lợi, ngài biết quyền giám mục rất tỉ mỉ dựa vào luật định nên nói chung không hề ưu tiên đối với những h́nh thức lan rộng của đời sống tu tŕ.

 

         Không theo chính xác một con đường, việc sáng lập ḍng Mẹ Về Trời  ở nước ÚC (1860-1875) sẽ không thể tiếp tục tồn tại : Đức Cha James Quinn, vị giám mục trẻ người Ai Len giáo phận Brisbane, không giữ lời cam kết sẽ tạo điều kiện thuận lợi ngay khi gầy lập cộng đoàn  đàng hoàng. Đức Cha Quinn chỉ có tham vọng và chỉ quan tâm đối với việc quản lí hành chính tông đồ bằng cách sử dụng các tu sĩ khi họ phụ thuộc vào quyền thế của ngài. V́ vậy, nảy sinh sự khác biệt giữa ngài và cha René / Eugène Cusse. Cha René / Eugène Cusse bị công bố là tu sĩ chạy trốn v́ nhập vào giáo phận Brisbane, sau đó ngài bị loại khỏi Hội Ḍng vào năm 1862. Sau  đó, ngài qua đời tại Newcastle năm 1866. Hiểu lầm ngày càng trở nên trầm trọng v́ thông tin lúc bấy giờ quá chậm trễ và cũng v́ cha d’Alzon quyết đoán hơi vội vàng.

 

         Tuy nhiên, chúng ta sẽ sai lầm khi tin rằng việc thử nghiệm lập ḍng ở ÚC hoàn toàn thất bại : các cha Brun và Tissot, thầy Polycarpe Hudry đă chứng tỏ là những tu sĩ biết cộng tác với nhau trong công việc truyền giáo, cần cù và mạnh mẽ, cho dù nói đúng hơn, các ngài chỉ nghĩ đến những công việc tông đồ trực tiếp bên cạnh quần chúng gốc bản xứ hơn là nghĩ đến việc trợ giúp thiêng liêng cho các ḍng dơi cháu con thực dân ai-len. Năm 1875, cha Tissot là người cuối cùng phải rời ḥn đảo- của lục địa này, tương xứng với quyết định của ḍng năm 1873. Ít ra, chúng ta có thể nói rằng Ḍng Mẹ Về Trời đă không đánh mất sự tôn trọng, không đánh mất danh giá, và rằng cha d’Alzon đă minh chứng ḷng trung thành, thành thật với Giám Mục cho dù thái độ của Ngài không đáp lại điều ǵ cả. Kể từ năm 1862, cái nh́n của vị sáng lập ḍng hướng về Đông Phương và sự dấn  thân tông đồ này vào những mấu chốt hoàn toàn khác khi ở ÚC, sẽ huy động Hội Ḍng ít ra trong khoảng một nửa thế kỷ. Chắc hẳn khó khăn thử thách nơi đây cũng không kém, nhưng cùng với năm tháng, tùy theo t́nh h́nh và thúc bách, dần dần những h́nh dạng ḥa nhập và đầu tư được mở ra và cắm neo cho việc lập ḍng với bước khởi đầu không hứa hẹn lắm cho việc định h́nh của tương lai : các chức vụ truyền giáo, các công việc về học đường và xă hội, công việc tông đồ về mặt trí thức. Chúng ta hăy vào trong lịch sử truyền giáo của Ḍng Mẹ Về Trời bằng ngưỡng cửa khai mào trong việc mảo hiểm truyền giáo lập ̣ng ở ÚC CHÂU :  

 

« Nimes ngày 29 tháng 9 năm 1860,

 

         Kính thưa Đức Cha,

 

         Trước tiên, xin cho phép con cảm ơn Đức Cha đă hồi âm cho con. Con đă vô cùng trông mong thư của Đức Cha. Sau khi được Đức Cha báo trước qua cha Laurent, con thú nhận rằng Đức Cha không đủ  tiền đảm bảo việc đi lại cho các tu sĩ của chúng con. Hai đề nghị mở đầu lá thư của Đức Cha và việc Đức Cha luôn nhắc lại lí do thiếu tiền là những điểm chủ yếu trong lá thư của Đức Cha. Vài ḍng Đức Cha ghi trong thư hôm qua, con thấy dường như Đức Cha chỉ muốn chuẩn bị cho ư định là Đức Cha không có ǵ để trả chi phí đi lại cho dù chỉ là một nhà truyền giáo. Nhưng, khi cha Picard đảm bảo cho con là do hiểu lầm, ngay cả trước khi chưa nhận ǵ của Đức Cha, con đă cho phép cha Cusse ra đi để tỏ sự tuân phục Đức Cha. Đức Cha thấy đó, con không có ư định xấu nào cả.

 

         Bởi v́ Đức Cha không có tiền chi tiêu, nên thật hợp lư chỉ có cha Cusse và cha Brun đến phục vụ Đức Cha. Và cũng hợp lư rằng nếu Đức Cha chỉ có thể tiếp nhận một người, Đức Cha hăy tiếp nhận một người. Con mong người đó chính là cha Brun. Tuy nhiên, con để Đức Cha tự do chọn người Đức Cha muốn. Một khi hai tu sĩ này đến Brisbane và sẽ quan sát t́nh h́nh, môi trường, công việc, nếu họ cho rằng chúng con có thể hữu  ích cho Đức Cha, và nếu Đức Cha thấy cần thiết cấp giấy phép cho chúng con lập Ḍng Augustins Mẹ Về Trời trong giáo phận này, chúng con sẽ vui mừng gửi đến Đức Cha nhiều tu sĩ khác. Con sẽ  tiến xa hơn nữa. V́ những sự kiện nào đó, nếu cha Cusse và cha Brun không thích hợp lắm trong sứ mệnh và công việc của Đức Cha, và tuy vậy, Đức Cha vẫn muốn có sự hiện diện của chúng con, xin Đức Cha gửi về cho chúng con hai tu sĩ ấy, chúng con sẽ gửi đến cho Đức Cha những người thợ tông đồ khác. Thưa Đức Cha, dường như trong các điều kiện con nêu ra, Đức cha có thể nhận thấy mọi  niềm khát khao của chúng con được làm thỏa ḷng Đức Cha, và con chứng tỏ cho Đức Cha là con thành thật trong sự hiểu lầm giữa Đức Cha và con.

 Con là người rất khiêm nhường kính trọng Đức Cha và chỉ là người tôi tớ vâng nghe Đức Cha.

                E. d’Alzon ».

 Thư cha E. d’Alzon gửi Đức Cha Quinn, Giám Mục của Brisbane, theo Những bức thư của cha d’Alzon, tập III, nxb.D.D., 1991, trang.313-314

 

 29. Một « ngôi nhà nhỏ » ở Paris.

 

         Niên đại về việc mua mảnh đất trên đường François Ier ở Paris năm 1860 có thể hoàn toàn được theo dơi nhờ lá thư giữa cha d’Alzon và thầy Vincent de Paul Bailly. Mảnh đất khoảng 1050 mét vuông : nhờ trung gian của ông Adolphe Baudon, gia chủ số 2 cùng đường này, việc tiến hành mua đất được kư ngày 12 tháng 12, sau khi bán đấu giá, nhưng lúc ấy việc bán đấu giá không biết đến sự tăng giá lên nữa. Ông chủ tịch Hội Saint Vincent de Paul không cạnh tranh theo như nhiều người đă tin hay đă cả tin từ rất lâu, đó là một cái tên có sẵn đơn thuần, nhưng lại là một người mua thực sự bằng tài sản của chính ḿnh với mục đích giúp cha d’Alzon, bởi cha d’Alzon luôn thiếu tiền. Cha d’Alzon dự tính sẽ có thể bán nhà, đất ở Clichy hầu có thể ứng trước một số tiền, đồng thời không phải mắc thêm nợ nần. Mọi chuyện sẽ bắt đầu được tiến hành đều đặn nhằm Hội Ḍng có thể trú ngụ buổi đầu trong khiêm tốn. Mùa thu năm 1861, xây nhà nguyện nhỏ và cũng có một số gian pḥng để sinh sống tại mảnh đất này. Ngày 25 tháng 2 năm 1862, thánh lễ đầu tiên do cha Picard cử hành và vào tháng 5 năm ấy, nơi đây chính thức có người ở. Năm 1866, công tŕnh được mở rộng. Một lối đi lại nối liền năm pḥng nhỏ. Năm 1874, xây dựng ngôi nhà phía sau mang tên nhà Picard, hay c̣n gọi là nhà tu lớn gồm bốn tầng, v́ đang phải chờ công tŕnh xây dựng nhà nguyện lớn Đức- Bà Cứu Độ. Công tŕnh này được thi công vào những năm 1896-1899.

 

         Nhưng công tŕnh kiến trúc chỉ là việc bao phủ vật chất từ chất men tông đồ mạnh mẽ : năm 1865, cha Pernet dấn thân trong việc thành lập ḍng Các Nữ Tu Hèn Mọn Mẹ Về Trời (Petites Sœurs de l’Assomption). Chiến tranh năm 1870 và công xă năm 1871 có vẻ không thiếu giai đoạn tŕ trệ : những sáng kiến có qui mô lớn như việc sáng lập Hiệp hội Đức Bà Cứu Độ (Notre-Dame de Salut) năm 1872, tổ chức hành hương năm 1872-1873, nhiều cuộc Hội Nghị và Báo Chí năm 1873. Đó là những công việc luôn có công lao chắc chắn của người tu sĩ cầm đầu tràn đầy năng lực thiêng liêng, đó là cha Picard. Vị tu sĩ thứ hai tràn trề tâm huyết, đó là cha Vincent de Paul Bailly. Báo động đầu tiên vào tháng 11 năm 1880, việc hoàn thành và mở ống khóa nhà nguyện nhỏ nhanh chóng bị lẵng quên : những năm kế tiếp đánh dấu cao điểm với một tinh thần sống động và đa dạng đầy ngạc nhiên. Nhà đào tạo, tập viện (1874), công tŕnh báo chí, chuẩn bị những cuộc Hội Nghị về thánh thể, cái nôi của ḍng Nữ Tu màu gia cam (Sœurs Orantes 1896), đường François Ier trở nên tâm điểm của Hội Ḍng. Cha Picard điều khiển nơi đây rất chặt chẽ, cùng với sự trợ lực của lớp anh em tu sĩ trẻ được đào tạo như ngài. Những tháng ngày buồn xảy đến năm 1900 : Vụ kiện nhóm Mười hai, quyết định phải phân tán, phải ra đi (exode). Măi đến năm 1945, đường François Ier lại trở thành trung tâm đời sống cộng đoàn. Chúng ta hăy cùng nhau theo những bước khởi đầu trong khiêm tốn tại « ngôi nhà nhỏ » quá thân quen này :

 

« Nimes, thứ hai, tối ngày 17 tháng 12 năm 1860

Anh bạn thân mến,

         Trước hết, hăy để cha nói rằng con là một trong những người đặc biệt nhất mà cha biết đến. C̣n nữa, cha không chấp nhận sự thú tội của con. Đúng hơn, cha sẽ cho con một h́nh ảnh về mọi chi tiết để con vào trong đó và cha cũng rất quan tâm đến nó. Nhưng con hăy thỉnh xin h́nh ảnh đó với Mẹ Bề Trên (Mẹ Marie-Eugénie) mà không cần thiết viết thư và đọc những điều khó hiểu. Đôi mắt trẻ trung của con phải hữu ích cho việc ǵ đó.

 

 Để xây dựng, chúng ta cần có tiền. Một đàng, cha không có nổi một xu, đàng khác, cha không muốn mượn tiền, ngoại trừ Tín Dụng ruộng đất. Vậy phải chờ có thể bán một phần ở Clichy. Tóm lại, cha không muốn biến việc xây dựng thành kẻ giàu có. Cha muốn xây dựng công tŕnh của người nghèo, của người rất nghèo, miễn là sạch sẽ. Về mặt này, cha đă tham khảo ư kiến ngài Baudon nhiều lần, và thậm chí, cha không hiểu tại sao chúng ta không yết kiến thêm nữa.

 

         Lúc này cha tuyệt đối không thể lên Paris. Khi nào cha Laurent đi Bordeaux, cha sẽ cho con hay. Cha O’Donnell sẽ đi cùng cha Picard. Nếu họ nói những điều dại dột, họ sẽ ḥa giải với nhau. Sẽ không có cộng đoàn trong thời gian ngắn. Tóm lại, hai cha sẽ có thể trọ tại ngôi nhà nhỏ bên cạnh của ông Démion, trong trường hợp nhà của ông de Brou không làm hài ḷng ṭa tổng giám mục lắm. Vào mùa xuân, chúng ta sẽ có thể bán một phần ở Clichy. Cần hy vọng con ạ. Và nhờ phương cách ấy, chúng ta sẽ không vướng mắc nợ nần. Nếu những nhà đấu thầu xây dựng ngôi nhà nhỏ bé của chúng ta trong tương lai muốn mua đất chúng ta ở Clichy để đổi lấy tiền công, như họ đă từng làm với nhà ḍng Auteuil, có thể chúng ta sẽ tiến hành cho xây dựng nhà cửa trước.

 

         Cha không thể có ư kiến ǵ về việc thay nhà nguyện. Cha nghĩ giá như ông Jackson nhường ít đất, chúng ta sẽ có thể xây dựng dọc theo nhà của ông Ouvré. Có thể, chúng ta sẽ theo xu hướng Giáo hội. Và giả sử chúng ta có một phần nho nhỏ của ngài Leroux, chúng ta sẽ có thể xây dựng cho các tu sĩ ở miền nam. Về lối ra vào, cha sẵn sàng nhường lại. Ít ra phải có bề mặt giáo dân, chúng ta sẽ có thể tiến hành để trú ngụ sớm ở đại lộ Antin, và tại những khu này, chúng ta sẽ không bị mắt trần trông thấy, phải không nào ? Việc ấy, cha muốn phó thác vào Đấng Quan Pḥng, nhất là khi chúng ta chỉ có lối ra trên đại lộ Antin, và từ lối vào trên đường François Ier, mọi người sẽ thấy chúng ta tấp nập ra vào. Nếu khi nhường lối ra vào nà, khi thêm từ 20 quan đến 30 000 quan, chúng ta có thể có khu Leroux và dải đất Jackson. Cha cho rằng như vậy sẽ rất đẹp.

 Cha tin đă trả lời mọi thắc mắc của con. V́ cha quá đau đầu do cảm cúm trong óc, cha tạm biệt con nhé.

             E. d’Alzon ».

 Thư gửi Vincent de Paul Bailly, ngày 17 tháng 12 năm 1860, theo nxb D.D., tập III, 1991, trang 363-364

 

 30. Người con được yêu mến đặc biệt, Vincent de Paul Bailly.

 

         Người con đầu tiên ḍng họ Bailly đi tu ḍng Mẹ Về Trời là cha Vincent de Paul Bailly. Không phải bàn căi ǵ nữa, cha Vincent de Paul Bailly là con cưng của đấng sáng lập ḍng. Cha d’Alzon đă không ngại viết cho cha Vincent de Paul Bailly : « Cha hơi đói và khát khao con, dù không nên gắn bó với tạo vật, Thiên Chúa không cấmcon người yêu thương con cái ḿnh ». Ngay lần gặp nhau đầu tiên ngày 25 tháng 3 năm 1853, hai con người này đă chứng tỏ sự gắn bó lẫn nhau rất sâu sắc : cha d’Alzon bị cuốn hút bởi sự nhiệt huyết, tính tích cực của con người trẻ trung vui tính này khi anh được tuyển dụng trong công việc quản lí Thư Tín. Niềm hăng say của anh hầu như không ai có thể vượt qua khiến ngài phải viết thêm gấp bội. C̣n về người thanh niên trẻ trung tại trường học Nimes, chỉ trong vài ḍng, anh có thể dựng nên bức chân dung đa sắc màu, thể hiện cá tính mạnh mẽ của ngài hiệu trưởng trường và cũng là người sáng lập. Một ơn gọi nảy sinh từ cuộc hội ngộ này : tháng 6 năm 1860, sau vài ngày tĩnh tâm, Vincent de Paul Bailly quyết định đi tu. Chúng ta không thể thực sự cho rằng quá tŕnh đào tạo làm tu sĩ của Vincent de Paul Bailly trong ḍng mẹ Về Trời đầy đủ, chu đáo : giai đoạn tập viện ngắn ngủi, học thần học chao đảo giữa hàng ngàn công việc khác, việc điều khiển trường học ở Nimes đầy khó khăn đối với bất cứ ai (1863-1867). Như vậy để nói rằng con người này vốn thông minh, sống động và có trí tưởng tưởng cần mẫn, luôn cảm thấy thoải mái với hành động hơn học tập. Năm 1869 là bước ngoặt trong cuộc đời ngài : bên cạnh cha Picard ở Paris, sẵn sàng làm chức vị bề trên non trẻ để sống mạo hiểm giữa quần chúng và những thực tế của đức tin trong việc tiếp xúc với các tầng lớp và dư luận. Ngài t́nh nguyện làm tuyên úy quân đội ở Metz năm 1870, bị giam ở Mayence năm 1871. Ngài cần không khí để có thể tạo ra sức sống, hâm nóng hành động quần chúng. Khi tham gia Hội Nghị và hành hương, ngài sẽ t́m thấy đường đi và trau chuốt ng̣i bút của ḿnh. Tạp chí Hành Hương, một tạp chí khiêm tốn ban đầu chỉ gồm những bài viết mang tính tôn giáo, nhưng trở thành một tạp chí minh họa các vấn đề thời sự (1877). Từ Nimes, cha d’Alzon theo dơi tỉ mỉ khi đọc những bài viết của Vincent de Paul Bailly và cha đánh giá các bài đăng trên báo ấy không nghiêm túc lắm ! Con người bận rộn tứ bề này thúc mời bề trên cung cấp bài giảng để góp phần lối cuốn độc giả. Năm 1883, nhà báo-bẩm sinh không ngừng chứng tỏ phẩm chất làm báo. Ngài t́m được phần chọn lựa riêng, những mục trong nhật báo Thập Tự (La Croix) với bút danh ngài yêu thich nhất, Le Moine. Ngài trở nên một với độc giả, tiêm chích virút cho họ, tin tức thời sự  và đức tin đang rơi vào t́nh trạng tranh căi hoặc bị xôn xao do tranh luận gây lên, những nét chua chát trong ngôn từ, trong tính từ, trong phiếm họa gay gắt. Là người làm việc hết ḿnh, ngài có mặt trên mọi mặt trận và công tŕnh của thời đại : hành hương, xây dựng, hiệp hội cầu nguyện. Năm 1900, ngài bị kết án trong sự thinh lặng và cô quạnh, những dạng thức khác của vị tử đạo đă được báo trước năm 1861 :

 

« Nimes ngày 29 tháng 12 năm 1861

         Con quí mến,

         Cha cám ơn con đă viết những lá thư rất hay thăm cha, cám ơn con đă có những lời chúc nhân ngày lễ của cha. Và cha cũng chúc con một năm mới tốt đẹp. Mong năm nay sẽ mở ra nhiều may mắn, thành công mới lạ. Chỉ có Chúa biết thôi. Nhưng cha muốn con chuẩn bị cho những cuộc tranh đấu, rất có thể đang chờ đón con, bằng việc thăm viếng thường xuyên, nhất là thăm viếng mộ các vị tử đạo. Chúng ta là ǵ khi đối diện với các vị anh hùng ấy ? Chúng ta chỉ là những người tầm thường thực sự. Nhưng, nhờ hồng ân Thiên Chúa, chúng ta có thể trưởng thành, và không có ǵ khác ngoài việc bồi dưỡng cho sự triển nở thêm can đảm trong tâm hồn ki tô giáo bằng những thử thách ấy. Cảnh tưởng hiện lên trên từng bước của người tín hữu niềm hạnh phúc được sống ở Rôma. Cha mong con biết tận dụng những bài học từ nhiều giáo sư thần học khác nhau ; nhưng ngoài những giáo sư c̣n sống, con c̣n có nhiều tiến sĩ mà máu của các ngài giảng dạy c̣n tốt hơn mọi bài thuyết giảng, và tài năng hùng biện của các vị hoàn toàn ở trong hành động. Con sẽ noi gương các ngài để tranh đấu, và khi so sánh việc con làm với những ǵ các ngài đă làm, con sẽ cảm thấy bị thúc bách bởi ḷng khát khao chịu đựng mạnh mẽ, như các ngài đă cam chịu để chứng tỏ t́nh yêu đối với Đức Ki Tô. Như vậy, con sẽ thấy rằng tính chuyên cần trong cuộc sống, trong học tập, sự chiến thắng nhược điểm  tính cách và cám dỗ, sự hồi tâm trong đời sống tu tŕ, tất cả đều không hoàn toàn vô nghĩa khi so sánh với mọi cam khổ của các vị tử đạo. Con cần phải trang bị đủ thứ để sẵn sàng đối diện với mọi thực tại, không chỉ trong viện tập tu, mà cả trong viện tử đạo. Không có ǵ quá khó và đức vâng lời nhằm ǵn giữ con hơn là thúc bách con.

 

         Con quí mến, hăy thứ lỗi bởi cha dùng thứ ngôn từ này, nhưng dường như cha thấy bối cảnh có vẻ rất  trầm trọng và chân trời tỏ ra sầm uất. Các nhăn quan của cha có thể hơi phóng đại, thật không may ! Mây trời chồng chất ngày một dày đặc. Những dấu hiệu từ trời như thế giúp ta có thể đọc được hiện tại và tiên báo về tương lai.

        

         Cha thỉnh cầu hai tập sinh nên vâng lời thầy Vincent de Paul, thầy đang cần tập trung sức lực để học tập. Hăy cầu xin các vị tử đạo để có ḷng kiên tŕ khi buồn chán công việc. Hăy làm việc thật nhiều. Cha nghĩ các con phải ở trong giai đoạn mà mọi khó khăn ban đầu khi ở Rôma sẽ qua đi, và trong giai đoạn mà các con sẽ bắt đầu nếm mỗi ngày thêm chút hương vị của niền hạnh phúc khi được gần thánh Phêrô và Đức Thánh Cha, giai đoạn mà các con sẽ có nhiều t́nh cảm hơn nữa mà mỗi người phải có, những người do Thiên Chúa ban ơn có thể cầu nguyện mỗi ngày trên mộ của Vị Tông Đồ nào đó.

 Tạm biệt con yêu quí. Can đảm lên ! Can đảm lên ! Ai trong các con sẽ là vị tử đạo đầu tiên?

                       E. d’Alzon”.

Theo tập III, 1991, nxb.D.D., trang 549-550

 

 

 

PHẦN IV

 

31. Dụ ngôn đời sống cộng đoàn (1862)

32. Phương Đông giữa những nghi lễ bí truyền và những ảo vọng (1863)

33. Rochebelle, thành lập ḍng Nữ Tu Tận Hiến (1865)

34. Búp bê của Vị Tổng Quản (1865)

35. Kinh Thánh và Chú Giải kinh thánhthời cha d’Alzon (1866)

36. Cha d’Alzon trong đồng cỏ ở Vigan (1867)

37. Bài học đạo đức chính trị (1867)

38. Cha d’Alzon, người hành hương ở Lộ Đức (1868)

39. Lâu đài ở Tây Ban Nha, Jean nhà triệu phú (1869)

40. Cha d’Alzon ở Vatican I (1869)

 

 31. Dụ ngôn đời sống cộng đoàn

 

         Đời sống tu tŕ trong ḍng Mẹ Về Trời bao gồm hai mặt: mặt vườn, về điểm này, ḍng mượn những thói quen và tập tục về đời sống chung, mượn đời sống huynh đệ từ đời sống tu kín (monastique); mặt sân hay mặt đường, về điểm này, ḍng liên kết với những h́nh dạng hiện đại về hoạt động tông đồ theo hướng mở ra ngoài với mọi tầm kích của xă hội và quần chúng. Cha d’Alzon đă muốn như vậy trong ḍng Mẹ Về Trời, có nghĩa là thâu nạp hai khía cạnh ấy, hay c̣n gọi là hỗn hợp với nhau, theo từ ngữ xưa, và nhất là theo lối hiện đại trong thành ngữ của nó, mà không hề bỏ đi những nét truyền thống thậm chí đă ăn sâu hàng ngh́n năm trong đời sống tu tŕ.

 

         Hơn bất cứ ai khác, cha d’Alzon, Vị Tổng Quản, không thể không biết đến sự căng thẳng hay sự giằng co do hai yếu tố trên thường để lại nơi ngài. Ngài tự hỏi về khả năng sẵn sàng phục vụ để điều hành Hội Ḍng, đồng thời có thể bảo đảm hoàn toàn những trọng trách phục vụ Giáo hội. Chỉ đến năm 1878, ngài mới từ bỏ chức tổng quản sau 40 năm trung thành đóng góp nhiều công sức cho Giáo Phận Nimes.

 

         Đời sống tu tŕ đ̣i hỏi sự hiện diện và hiệp thông trong ḷng một nhóm người trong đó các thành viên không hề chọn lựa nhau, trong đó những mối quan hệ thân cận và những rạn nứt liên quan đến tính cách khác biệt, tính khí, nguồn gốc và nhiều yếu tố khác đối lập nhau. Tất cả những yếu tố ấy chỉ có thể cân bằng được với cái giá phải vượt qua chủ nghĩa cá nhân và nhờ cải hóa cuộc sống theo tinh thần Tin Mừng. Cha d’Alzon, một con người có tính cách, quyết đoán, ngài thích tính khí mạnh mẽ, tự nhiên và t́nh nguyện. Ngài thoải mái hơn với những người có nhân đức nam tính hơn là với những “ tính khí tâng bốc” (vapeurs) hoặc những cá tính hay thay đổi hoặc những người mang tính t́nh quá mềm dẻo mà ngài sẵn sàng gọi là “những kiện bông”. Thế nhưng, không ai có thể phủ nhận nơi ngài một tính cách mạnh mẽ về đời sống cộng đoàn với ḷng trung thực, t́nh yêu thương, và cởi mở trong giao tiếp. Ngài thích gọi các môn đệ bằng những cách gọi ngắn gọn hoặc bằng những biệt hiệu vừa t́nh cảm, vừa hài hước. V́ vậy, trong ng̣i bút của ngài ta thấy có nhiều kiểu gọi rất lạ: đối với cha Galabert, ngài gọi là Galabertinet, đối với cha Pernet, ngài gọi là Pernichon de mon coeur, đối với cha Emmanuel Bailly, ngài gọi là Culot, đối với Sơ Eulalie de Régis, ngài gọi là Soeur Sainte- Absolue, đối với cha Picard, ngài gọi là Votre Majesté ou vorte haute raison... Không phải ngài kêu gọi cha Hippolyte kiếm thêm tiền và đề nghị cha phát minh một loại rượu (Liqueur) đặt tên là Essence de l’Assomption hay sao. Như vậy để nói lên rằng tính hài hước trong mối quan hệ giữa con người với nhau dưới con mắt cha sáng lập ḍng chỉ có thể là người họ hàng đáng thương với đời sống cộng đoàn, ngoại trừ mọi h́nh dạng của tính tầm thường, dung tục.

 

         Vốn luôn đi lại trên đường dài, ngài thích đ̣i hỏi các môn đệ phải có những nhân đức chuyên cần trong cuộc sống. Ta cũng thấy cha d’Alzon quan tâm đến sức khỏe của cha Hippolyte hoặc cha Pernet. Tám tu sĩ qua đời từ năm 1851 đến năm 1880 đánh động ḷng ngài nhiều trong t́nh cảm của một người cha thiêng liêng và của người huynh trưởng trong đời tu. Chúng ta hăy lắng nghe cha d’Alzon nêu ra một dụ ngôn mang tính nửa vừa ư, nửa bất đồng:

 

“ Nimes ngày 12 tháng 7 năm 1862

 Thăm các con, các thầy Augustin và Emmanuel-Joseph. Mong tất cả sống lâu với mũi, tai và gia thịt của ḿnh.

 Các chú mèo nhỏ bé quí mến của cha,

Có người bạn mách cho cha biết là đôi khi các con bị lôi cuốn cắm lông nhau  và hay dùng nanh vuốt non trẻ cào lên làn da mềm mại của các con. Đó là một gương mặt túc từ học, v́ các con không phải là những chú mèo theo bản chất, cũng không phải theo hồng ân, nhưng bề trên các con sẽ buộc phải nói ra điều không hay v́ trách nhiệm thẩm định tính t́nh từng người. Đến nỗi người không giám rời các con quá lâu v́ sợ khi trở lại, người chỉ c̣n thấy mấu đuôi nhỏ bé của một trong số các con. Cha sẽ rất thất vọng biết tin các con nuốt chửng lẫn nhau, phải chăng v́ mấy người ḍng Tên hay ḍng Đa Minh. Không phải v́ ai trong số đó cả, các bạn yêu quí, các bạn không dễ dàng chịu đựng nhau. Thầy Augustin hơi bướng bỉnh và thầy Emmanuel-Joseph chỉ có gia bọc xương nên có lẽ ít khi ăn ngon miệng. V́ vậy, các con hăy hài ḷng về khẩu phần do người Balan phục vụ.

 

Tạm biệt các con yêu quí. Hăy can đảm và sống thánh thiện. Cha cầu chúc các con sự toàn thiện để sống cho tha nhân mà không sợ bị dày xéo.

      E. d’Alzon”.

 Thư cha d’Alzon gửi các thầy Augsutin Gallois và Emmanuel Bailly, theo nxb Thư, tập IV, D.D., 1992, trang. 92

 

 32. Phương Đông giữa những nghi lễ bí truyền và những ảo vọng.

 

         Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1863, cha d’Alzon thực hiện chuyến du ngoại để nắm bắt thông tin ở Constantinople cùng với người học tṛ cũ trường Assomption ở Nimes, Louis Guizard. Vả lại, đó là chuyến du ngoại mang tầm quan trọng nhất của cha d’Alzon ngoài biên giới nước Pháp, không tính đến nước Thụy Sỹ và Rôma. Ngài có ngụ ư đến đây để t́m hiểu t́nh h́nh cụ thể của Phương Đông, bởi nơi đây vừa chứa đựng nhiều bí ẩn cần khám phá, vừa là địa danh mà Đức Giáo Hoàng Pio IX quan tâm và trong lời ban phúc lành quen thuộc ngày 3 tháng 6 năm 1862, Ngài đă tỏ ư định hướng cho hoạt động tông đồ của Hội Ḍng nhỏ bé Mẹ Về Trời. Ba giáo sĩ cao cấp của Triều chính Ṭa Thánh là các Đức Cha Talbot, Howard và Lavigerie. Các ngài phỉnh phờ cha d’Alzon hướng đến nước Bun-Ga-Ri, lúc bấy giờ Bun-Ga-Ri là tỉnh lệ thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Thiệt hại cho Jérusalem, cha d’Alzon hy vọng lấy lại Cénacle và Ngôi Mộ Đức Trinh Nữ (Tombeau de la Vierge), cha d’Alzon giao mạo hiểm cho cha Victorin Galabert lên đường đến Constantinople ngày 20 tháng 12 năm 1862. Cha V. Galabert không có sứ mệnh xác định rơ ràng. Cha d’Alzon theo dơi, hỏi thăm t́nh h́nh, rao giảng và ư thức về mọi khó khăn do nảy sinh nhiều t́nh trạng hỗn độn và làm rắc rối không ít vấn đề vừa mang tính chính trị, vừa mang tính tôn giáo: Phương Đông, kể từ ngày kư kết hiệp ước Paris, trở thành nguồn thu hút sự quan tâm của toàn lănh thổ Châu Âu. Đế chế Thô Nhĩ Kỳ, từng là thế lực uy hùng nhưng lại đang suy thoái, những điểm nổi bật được phân tán xung quanh lưu vực địa trung hải. Đế chế Thổ Nhĩ Kỳ trị v́ một tầng lớp dân chúng, các dân tộc, các tôn giáo, các nghi lễ, nhiều cạnh tranh tuyên xưng đức tin, những nguồn sửa đổi có thể thực hiện mà mỗi thế lực hoặc quyền bính có thể tận dụng. Tất cả mang tính hỗn hợp, đa sắc màu hiếm thấy. Hy Lạp là nước đầu tiên đă trả giá rất đắt cho việc giải phóng chính trị trong những năm 1820-1830. Các tỉnh Serbi, Valachie và Moldavie cũng chập chững bước theo. Ai Cập li khai với vị vua phó Ibrahim Pacha. Toàn dân vùng Ban-căng nóng ḷng chờ đợi giờ giải phóng  chính trị (phụ thuộc thổ nhĩ kỳ) và tôn giáo (phụ thuộc Phanar). Chính trong bối cảnh ấy, Đức Giáo Hoàng Pio IX thiết lập chức giáo trưởng latinh  ở Jérusalem (1847) và ngài tôn phong Đức Cha Joseph Sokolski cầm đầu giáo dân Bungari- Hiệp nhất (Bulgares-Unis) (1861). Nhưng nước Nga cũng chăm nom quyền lợi của ḿnh: ṭa tổng giám mục bị tạm giữ. Sự hiệp nhất dân Bungari ở Rôma bị xa lánh. Chính thống giáo chưa bao giờ chịu cảnh đau buồn như vậy trong quyền lực của ḿnh, nhưng nay phải chịu sự thúc bách trong nước, bị giằng co về sự kiện giữa Phanar và chức giáo trưởng Maxcơva. Rôma gặp khó khăn trong giấc mộng muốn hiệp nhất la tinh hóa: đó là rắc rối mà cha d’Alzon gặp phải năm 1863 với tâm tính mang ba yếu tố: pháp, công giáo và rôma. Ít ra, cha d’Alzon cũng sẽ lắng nghe lời mời gọi thúc dục của cha Galabert cần gửi nhân lực nữ để phụ giúp ngài trong mục vụ. Chính v́ vậy Ḍng Nữ Tu Tận Hiến Mẹ Về Trời ra đời năm 1865. Chúng ta hăy lắng nghe tiếng vang mạnh mẽ ban đầu trong một lá thư do cha d’Alzon gửi cha Vincent de Paul Bailly tháng 3 năm 1863:

“ Constantinople ngày 16 tháng 3 năm 1863

         Bạn thân mến,

         Cha Galabert đă đi, tối nay vua Thổ Nhĩ Kỳ đă cưới vợ mới. Cha sẽ phải đi xem lễ hội đốt nến. Cha chưa xem lễ hội ấy. Người ta đang t́m một người có tính thành thật trong số dân Bungari. Nhưng măi đến lúc này vẫn chưa t́m được. Liệu có t́m được không? Xem ra đó là một vấn đề c̣n khó hơn cách đặt ra vấn đề. Constantinople c̣n dơ bẩn hơn các thị trấn. Phụ nữ thổ nhĩ kỳ đổ xô ra đường tấp nập đi xem triển lăm, nhưng người ta bảo là không có ǵ đáng kể. Nhưng cuộc triển lăm ở Constantinople thu hút lượng người đi xem đông hơn cuộc cách mạng nữa. Nó thu hút người đông đúc như thể mười hai cuộc cách mạng. Hôm nay cha muốn đi xem cuộc triển lăm ấy. Người ta chỉ cho phụ nữ vào thôi. Vậy mà...thầy Emmanuel ....Về cuộc cách mạng, người ta thông báo về  một cuộc cách mạng ở Nga, c̣n đẹp hơn nhiều so với cuộc cách mạng của người Hy Lạp, đẹp hơn cuộc cách mạng của nước Ư, đẹp hơn cuộc cách mạng năm 48, năm 1830, năm 93. Các gia đ́nh  quí tộc nga sẽ bị nướng, tất cả  trẻ con sẽ bị ăn, toàn thể phụ nữ sẽ bị mất chồng v́ họ sẽ bị chém đầu. Herzen là một người dung ḥa, một kẻ lạc hậu, một kẻ phản động bên cạnh những điều con sẽ thấy. Thổ Nhĩ Kỳ rất sợ Nga, v́ quá sợ cách mạng bùng nổ, bởi cuộc cách mạng sẽ mang lại nhiều hy vọng rất  đen tối; cuối cùng, tất cả những điều đó không lạc quan chút nào.

 

 Hoàng đế của dân pháp có vị sứ quán nổi tiếng nơi đây. Chưa từng có người nào biết dựng hài kịch như vậy. Người ta đồn rằng ông ta sẽ bị lính cận vệ thay thế, Baraguay d’Hilliers.

 

         Con hăy cầu nguyện Chúa để cha biết làm việc. Hiển nhiên, ở đây, cần  một chủng viện thuộc giáo trưởng (séminaire patriarcal), một trung tâm hoạt động tông đồ và nghiên cứu khoa học. Cha nghĩ đó là một trong những mục đích của Hội Ḍng chúng ta. Con biết cái ǵ làm cho khiếp sợ không? Đó là v́ đất đai quá đắt đỏ. Cách Constantinople chừng 4 cây số, một hécta giá là 12 ngh́n quan và c̣n cao hơn thế nữa. C̣n về người dân bungari, họ là bọn vô lại kinh khủng nhất mà người ta có thể h́nh dung được. Đức Cha Brunoni, sau nhiều nỗ lực t́m hiểu, ngài tin đă t́m được một người trung thực. Ngài đă để vợ lại nơi đó và đă gả con gái cho ai cha không rơ nữa. Thật tồi tệ hơn bùn lầy, đúng là phân rác. Cuối cùng, cũng cần phải yêu thương bởi họ là tha nhân của chúng ta.

 

         Cha có đến Rôma ngày 17 hoặc ngày 23? Cha vẫn chưa biết. Cha đến Rôma trễ. Cha c̣n muốn ở lại lâu tại nơi này. Cha thích ở nước Pháp. Ôi, cha toàn muốn những thứ không thể được cùng một lúc! Có một chi tiết khác. Ba tuần nay cha yêu cầu một việc đáng để ư nhất mà người Hy lạp đă làm về mặt tôn giáo. Người Hy Lạp đă không viết lách ǵ từ hai mươi năm nay. Để có thể có chút ǵ đáng lưu ư, cần phải trở lại trong tám mươi năm trước. Đă 10 giờ ở Constantinople, 9 giờ rưỡi ở Rôma. . Cha chúc lành cho con. Chào tạm biệt con. Con đi ngủ đi và cha cũng vậy.

         E. d’Alzon

 Nếu Bernard c̣n ở đó với con, nhờ con nói với Bernard ngh́n chuyện thay cha”.

 

Thư cha d’Alzon, nxb.D.D., tập IV, 1992, trang.223-224

 

 33. La Rochebelle, năm 1865

 

         Năm 1865 là năm sáng lập ḍng Nữ Tu Tận Hiến Mẹ Về Trời. Những nữ tu trợ tá này được cha d’Alzon thiết lập với ư muốn gửi sang Phương Đông theo lời kêu gọi thúc bách của cha Galabert. Đấng sáng lập đă nghĩ đến việc này từ năm 1863, nhưng v́ nhiều hoàn cảnh nên dự tính ban đầu của ngài bị cản trở ngoài mong đợi. Từ tháng 1 năm 1863, ngài viết: “ cha sẽ sẵn sàng lập một Hội Ḍng nhỏ bé v́ nước Bungari”, măi cho đến tháng 4 năm 1865, chúng ta thấy ngài thú nhận trong bút danh điều này: “ cha hơi chán nản về các Bà Ḍng Mẹ Về Trời (Dames de l’Assomption), (tức các Nữ Tu Ḍng Mẹ Về Trời (Religieuses de l’Assomption). Các Bà đă lập hai trường mới và tiếp đó lại bảo cha không có dự án ǵ cả”, có biết bao mặc cả, biết bao dự án, thử nghiệm! Và thế nhưng, theo cái nh́n lịch sử theo ḍng những sự kiện, tŕnh bày sự ra đời của Ḍng Nữ Tu Tận Hiến Mẹ Về Trời như một kết quả đơn thuần do sự từ chối của các Nữ Tu Ḍng Mẹ Về Trời ở Auteuil là không chính xác. Tháng 12 năm 1864, Mẹ Marie-Eugénie de Jésus nhanh chân đến tận Nimes bàn về việc thành lập một nhóm Nữ Tu Tận Hiến để làm phạm trù trung gian, giữa những tu sĩ đă tuyên thệ (professes de choeur) và các soeurs cần vụ (converses). Rơ ràng lời khuyên của Mẹ Marie-Eugénie sau đó đă đ̣i hỏi phải khác với một sáng lập xa xôi chưa chắc chắn lắm: chọn nơi nào? Chọn Andrinople, nơi các tu sĩ Mẹ Về Trời chưa hiện diện, và nơi đây th́ sự giúp đỡ của các tu sĩ Résurrectionnistes có vẻ chỉ là một điều bất đắc dĩ mà thôi? Nhằm mục đích truyền giáo rơ ràng nào, trong khi mới thiết lập ḍng ở Malaga bên Tây Ban Nha và tại Poitiers c̣n phải cung cấp nhân lực nữa không? Cuối cùng, phải trông  dựa vào ai đây? Nàng “Pauline” nổi tiếng ở Lavagnac, hay c̣n gọi là cô Sagnier do cha d’Alzon tín nhiệm và chỉ định như viên đá góc tường rút cục đă từ bỏ. Trước những tŕ hoăn dễ hiểu như vậy, nhu cầu cấp bách của cha d’Alzon vượt bước. Tháng 2 năm 1865, cha thuê một căn nhà ở Nimes, nhưng lại không có người! Cuối cùng cha Hippolyte  Saugrin, cha giáo tập ở Vigan, cứu văn t́nh h́nh vào tháng 4 năm 1865 khi ngài t́m thấy trong vùng Cévennes cái ao ơn gọi từ những con người mang bản tính tự nhiên, khỏe mạnh. Cha d’Alzon không ngần ngại đánh giá họ bằng nhiều lời khen ngợi: họ là những “bulbarettes”, những “bulgarotes”, những “Bulgarines”. Họ là những thiếu nữ miền núi cứng cáp, năng động, thông minh, tràn đầy đức tin và ḷng độ lượng. Ngài lo cho họ một ngôi nhà thuê ở vùng thị trấn Vigan, đó là Rochebelle. Ngài làm phép nhà ngày 23 tháng 5 năm 1865 và cử hành thánh lễ đầu tiên ngày hôm sau, trong khi đó, cũng vào tối hôm ấy, Đức Cha Plantier làm phép một bức tượng Đức Mẹ, gọi là Đức Bà Bungari. Bức tượng này chiếm một không gian đáng kể trong nhà tu nhỏ bé. Mẹ Marie- Eugénie đồng ư cho người đến làm bề trên tạm thời cho lớp ban đầu. Đó là Sơ Marie-Madeleine de Peter. Chúng ta hăy cùng cha d’Alzon đi thăm nơi này nhé:

 

“ Thăm các con yêu quí, thăm Sơ Marie-Eulalie, Sơ Marie des Anges và Marie Correnson, Vigan ngày 22 tháng 4 năm 1865

 

         Các con quí mến,

         Con người đă đề nghị khởi đầu công tŕnh gầy dựng ḍng Nữ Tu Tận Hiến ở Nimes và Thiên Chúa có vẻ muốn công tŕnh này lan tràn đến Vigan. Nhà cửa gần như đă được thuê. Việc này có thể sẽ hoàn tất ngày thứ hai hoặc thứ ba. Nhà nằm bên một nơi trái với mong muốn của chúng ta. Đó là một ngôi nhà do dân anh thuê từ lâu, khi người anh đến Vigan. Nhà nằm trên cao, tại ngọn đồi quyến rủ, nơi đây có góc nh́n tuyệt vời. Có nước dùng. Có hoa quả. Có rau. Có đồng cỏ. Có nhiều cây dâu tằm. Giá khoảng 12000 đến 15000 quan. Có khả năng chỉ 12000.

         Người giúp chúng ta có được may mắn này đang t́m hiểu tại sao người ta đă làm cho chúng ta một việc tốt và tiện lợi đến thế. Người ấy c̣n sợ một số âm mưu nào đó nên đang ḍ xét xem. Ngôi nhà có bốn tầng. Tầng trệt có: một pḥng ngoài, gian bếp rộng độc lập, pḥng ăn rộng, hầm để đồ giữ trữ và nhà để xe. Ở  tầng một, trên sân thượng, có hai pḥng rất đẹp, một bên là pḥng đợi có thể dùng để tiếp khách tṛ chuyện, một pḥng lớn có thể dùng làm nhà nguyện, với một gian nhỏ có thể làm pḥng để đồ lễ, và có một gian nhỏ cho bề trên hoặc cho tuyên úy làm việc. Trên lầu hai, nhiều pḥng rất rộng. Ta có thể biến thànhững căn phong ngủ tập thể. Trên tầng ba, có pḥng và góc thượng.

 

         Chúng ta có thể vào ở ngay. Chúng ta chỉ trả tiền bắt đầu từ ngày 1 tháng 7, và người ta sẽ khấu trừ đối với sáu tháng đầu tiên theo giá của lá cây được bán  và rơm rả. Chúng ta sẽ được quyền sở hữu rượu, rau và hoa quả. Cha Hippolyte cho rằng từ nay cho đến hai tháng tới, ít ra sẽ có chừng hai mươi em (nữ). Trong trường hợp này, nhà sẽ trở nên quá chật chội, nhưng chúng ta sẽ có khả năng chuyển một vài người xuống Nimes.

 

 Các con hăy ghi kỹ là chúng ta có hai giáo viên. Họ sẽ bán ghế trường học, sẽ thu lượm nợ nần và họ sẽ mang đến cho chúng ta vài trăm quan, c̣n động sản và bộ nồi niêu xoong chảo của họ nữa. Các cha nghĩ rằng công tŕnh này, chúng ta không mất đến một xu, trừ việc xây dựng nhà nguyện. Nhưng việc đó không đáng kể. Hơn nữa, cha trông mong rất nhiều vào ḷng hảo tâm của một số bà ở Vigan.

 

        Các con có muốn đến thăm ngôi nhà nhỏ của chúng ta không? Cha sẽ ở đây suốt tuần sau. Đi từ 6 giờ sáng, bằng đường thư tín hoặc bằng xe ngựa, các con sẽ có mặt ở đây vào khoảng 1 hoặc 2 giờ. Vậy là khoảng 7 hoặc 8 tiếng bằng xe ngựa. Sau khi đă tận mắt xem, các con sẽ trở về. Ba người ngồi trên xe ngựa bốn bánh vui quá c̣n ǵ! Và các con nhớ đến chúc lành cho những công tŕnh thiết lập nơi đây.

 

         C̣n về việc cần làm, đây là suy nghĩ của cha: lao động, sám hối, kinh nguyện. Lao động để sống, sám hối để từ bỏ tội lỗi nơi những kẻ lạc đạo và để họ ăn năn trở lại, kinh nguyện để tôn thờ Phép Thánh Thể. Từ đó, các thiếu nữ miền núi đến tĩnh tâm để xem xét họ có ơn gọi đi tu làm Sơ cần vụ hay ơn gọi đi sang Bungari truyền giáo. Sứ mệnh do cha Raphael hoặc cha Jean-Baptiste vừa mới ngỏ với cha d’Alzon thu hút mọi người trở lại, dưới mười lăm người, làm cho những người sám hối sống lại với niềm tin, đem lại một ơn gọi cho chúng ta, bảy hoặc tám ơn gọi nữ. Đó là chưa tính đến những ơn gọi nữ ở Vigan và tại các miền lân cận. Nếu chúng ta thành công, chúng ta sẽ thuê một trại nuôi tằm thật lớn, và chúng ta sẽ đặt vào đó 200 dường, với một bếp ḷ kinh tế để tránh cho các nữ công nhân phải kéo sợi, như người ta đă từng làm ở Saint-Ambroix. Trong khi chờ đợi, cha Hippolyte sẽ giảng cho các thợ kéo sợi mỗi tuần ba lần trong tháng Đức Mẹ, ở bệnh viện. Các con thấy rất rơ các con cần đến Vigan ngay để coi sóc mọi công việc ấy, để đưa ra ư kiến của các con, để cầu ơn lành  cho mọi việc...”.

 

 Thư gửi Sơ Eulalie de Régis, tập V, nxb.D.D, 1992, trang 288-289

 

 34. Nàng búp bê của cha tổng quản

 

         Những thông tin gián tiếp về cuộc sống của cha d’Alzon trong việc tiếp xúc với giới trẻ đều rất hiếm, trong khi suốt cuộc đời của ngài luôn đắm ḿnh trong thế giới trẻ. Năm 1835, ngay khi đến Nimes với tư cách là linh mục trẻ, ngài nhảy ngay vào việc đỡ đầu và công tác giáo dục dân chúng. Mặt khác, không phải chính ngài muốn sống trong ḷng trường học ngay từ năm 1845, để tiếp xúc trực tiếp với thế giới trẻ hay sao ? Khi cha d’Alzon tạm thời di chuyển lên vùng cao ở Nimes, ở Mont-Duplan, lại không phải để tiếp tục tắm ḿnh trong việc bảo trợ, đỡ đầu Argaud, mà đối với ngài, việc đó có mục đích đảm bảo công việc khi trở lại hay sao ? Khía cạnh này về cuộc đời cha d’Alzon đă không tạo hứng ǵ trong tiểu sử của ngài. Tuy vậy, nó xứng đáng được để ư tới : việc đầu tư thiết lập lại trường học ở Nimes, trường học nội trú Vermot, tạo linh hứng cho ngài nhờ kinh nghiệm sư phạm và mục vụ xuất phát từ điểm nhắm trong hoạt động tông đồ có bề sâu. Trong mỗi thời đại, tuổi trẻ là ngọn giáo của tương lai, dù là tế bào gia đ́nh, xă hội hay Giáo Hội. Người công giáo thế kỷ 19 đă ư thức tầm quan trọng của ngành giáo dục, và nhất là học đường: sự ảnh hưởng trong việc đào tạo tổng thể nơi con người thuộc về những năm đầu tiên của cuộc đời. Nhà nước một ḿnh không thể gánh vác phần trách nhiệm này, trong khi đó việc này đa số thuộc về trách nhiệm của gia đ́nh và phải hội tụ đầy đủ sức mạnh của một nước qua nhiều thành phần xă hội và yếu tố thiêng liêng. Khi tạo dựng các Hội Ḍng tu, cha d’Alzon đă sáng lập lâu, có thể là quá lâu, môi trường học đường ở Nimes cung cấp nguồn ơn gọi dồi dào tràn đầy hy vọng, thể hiện cho ngài thấy trước mắt. Sự phát triển của ḍng Nữ Tu Tận Hiến tại vùng Cévennes, kinh nghiệm của một số môn đệ nhờ gốc gác và những sở thích giống nhau hướng họ đến với các tầng lớp nghèo hơn nữa. Điều này đă dẫn cha d’Alzon và Ḍng Mẹ Về Trời ngay trước năm 1870, nếu không nói là quan tâm đến những việc khác, th́ ít ra là quan tâm đến những chân trời rộng mở hơn, và nhiều phương cách khác, đó là những miền quê, là hàng ngh́n dân chúng và hàng loạt dân chúng. Ngay khi chấm dứt những năm đánh dấu Đế Chế Đệ Nhị, cha d’Alzon lao vào nhiều mong đợi khác do xă hội tiến triển đang hướng về chủ nghĩa dân chủ và công b́nh. Ngài không phủ nhận những chọn lựa của ḿnh, đúng ra ngài đang t́m cách thích ứng để các chọn lựa hợp với t́nh thế đă luân chuyển. Dù cha d’Alzon luôn tiếp cận và luôn gần gũi với môi trường xă hội thuộc tầng lớp cao sang do mối dây gia đ́nh của ngài, ngài vẫn không bao giờ từ bỏ những phẩm chất hay những giá trị vượt lên trên địa vị xă hội : giản dị, độ lượng, tiếp xúc bằng trái tim, tinh thần trẻ thơ theo Tin Mừng, như đối với những người trong họ hàng Berrias, ngài tặng một con búp bê khi ngài trúng xổ số :

 

« Vigan ngày 10 tháng 8 năm 1865

         Các em họ mến,

         Các em c̣n nhớ anh đă trúng xổ số một nàng búp bê cách đây lâu lắm không ? Thật là một điều ḱ lạ bởi vị tổng quản già trúng xổ số những nàng búp bê ! Anh không có thời gian để trau chuốt chúng, để cho chúng ăn, để dạy chúng đọc sách, và nhất là anh không nên mang chúng đi theo trên ḿnh. Người ta sẽ nghĩ ǵ ở Nimes, nếu họ thấy anh mang búp bê đi dạo trên đường Feuchères ? V́ vậy, anh muốn nhờ các em một việc, nhưng đó là một việc hệ trọng, anh hy vọng các em sẽ không từ chối. Các em có muốn chăm sóc những nàng búp bê, những người mẹ ấy không ? Anh mong người mẹ của các em ở nhà không xem sự hiện diện của nó như thể chúng chiếm chỗ trong gia đ́nh. C̣n nữa, anh phải nói với các em : nàng búp bê yêu quí của anh có chút đồ mặc trên người. Các em sẽ thấy, cô nàng được trang điểm khá kỹ càng. Riêng đồ của cô ta cũng làm anh lo hơi vàng mắt. Khi dặt đồ lần đầu ở Barrias, mọi đồ đạc ấy sẽ nhẹ nhàng hơn. Một lần nữa, tạm biệt các em. Các em hăy tin là anh quí mến các em như bố mẹ các em vậy. Hộp búp bê và đồ đạc sẽ đến tay các em ngày Lễ Đức Mẹ Lên Trời, cùng lúc với là thư này. Nếu người ta không gửi cho các em, các em hăy đ̣i cho được. E. d’Alzon ».

             Thư cha d’Alzon, tập V, nxb. D.D., Rôma, 1992, trang.385-386

 

 35. Kinh thánh và việc chú thích kinh thánh thời cha d’Alzon

 

         Cha d’Alzon viết những ḍng này vào năm 1866 và được đăng trên báo Thế Giới (Le Monde) thời ấy. Bài viết xứng đáng được đọc theo nhiều phương diện, v́ chính nó, v́ năo trạng mà nó phản ánh lên, và v́ sự tiến triển trong tâm trí mà tác giả không quên nói đến. Con người của Giáo Hội thời đại ngài, cha d’Alzon minh chứng sự tôn trọng rất lớn và thể hiện suy nghĩ của Giáo hội về việc đọc Sách Thánh, theo giảng dạy truyền thống của các Giáo Hoàng và Công Đồng. Năm 1837, cha d’Alzon đă thận trọng Ngài Hiệu Trưởng Gazette du Languedoc về việc tái xuất bản Kinh Thánh khi không có phép từ phía quyền bính tôn giáo. Như bất cứ giáo sĩ nào ở thế kỷ 19, cha d’Alzon rất thường đọc Thánh Kinh bằng tiếng la tinh trong bản dịch chính thức, đó là bản dịch Vulgate. Đây là bản dịch duy nhất được phép lưu hành sử dụng trong Giáo Hội  theo truyền thống Tây Phương kể từ công đồng Trente. Ở Montplellier, năm 1832, cha Emmanuel xin cha ḿnh gửi quyển Tin Mừng bằng tiếng hy lạp cho ngài. Điều này chứng tỏ những đ̣i hỏi trong việc đào tạo trí thức ở chủng viện hoặc của chủng sinh. Nhưng tất nhiên bản dịch Vulgate mới là sách thường được ngài trích dẫn theo trí nhớ hoặc theo lối văn chương, theo cách của những Giáo Phụ xưa (Anciens), đó là chưa tính những liên tưởng không rơ ràng trong các bài linh thao. Khi t́m ra những trích dẫn kinh thánh trong các bài viết của cha d’Alzon, một ngày nào đó sẽ chứng thực cho chúng ta rằng Kinh Thánh luôn là nguồn linh hứng đầu tiên và không có nguồn nào khác vượt qua, trước mọi ảnh hưởng khác hay trước sự tràn ngập của văn chương, thần học, giáo phụ học hoặc thiêng liêng học ! Tuy nhiên, cha d’Alzon không phải không biết đến nhiều bản dịch bằng tiếng pháp, ít nhiều cũng tốt và đă được xếp vào hàng ngũ văn chương : bản dịch của Maistre de Sacy (1672-1696), bản dịch của Genoude (1820-1824), bản dịch của cha J-B Glaire (1834) đều không lạ lẫm với ngài. Đó là những bản dịch thánh kinh được cha d’Alzon trích khá nhiều. Nhưng ta biết ngày nay, việc chỉ trích những bản dịch ấy không được chú tâm nhiều. Về tiếng do thái và việc sử dụng ngôn ngữ này tùy theo hoàn cảnh trong chủng viện, chúng ta không có dấu hiệu nào rơ ràng, đủ sức thuyết phục. Thế nhưng, chúng ta biết rằng Đức Cha Plantier, nguyên là cựu giáo sư ở Lyon và ngài có khả năng diễn đạt bằng tiếng do thái khi ngài giới thiệu ḿnh với công dân do thái ở Nimes. Vả lại, cũng chính Đức cha trả lời những lời dẫn về cuộc đời nổi tiếng của Jésus de Renan (1863) trong một giáo lệnh thanh cao lúc bấy giờ. Chúng ta đừng biến cha d’Alzon thành một người mà cha chưa bao giờ muốn, một nhà chú thích Kinh Thánh theo sở thích hay theo niềm đam mê, nhưng chúng ta hăy nh́n đúng con người của cha. Đó là một người say mê đọc sách thánh. Về khoa học, bộ môn này đang c̣n mơ hồ, nhất là trong truyền thống công giáo, việc chú giải theo ư nghĩa văn học không cho phép lối đi nào khác ngoài lối thoát thiêng liêng, bài giảng, được kiểm tra và cài chốt kỹ càng về mặt giáo điều từ thời kỳ Cải Cách.

 

« Nimes thứ 6 tuần thánh ngày 30 tháng 3 năm 1866

         Bạn thân mến,

         Sáng nay khi cử hành phụng vụ giờ kinh thứ sáu tuần thánh, ḿnh đă ca tụng kinh nguyện cầu cho những người lạc lối và cho người do thái. Đối với người do thái, ḿnh đă xin Thiên Chúa cất khỏi trái tim của những con người bất nghĩa ấy tấm màn bao trùm họ. C̣n đối với những kẻ lạc lối (lạc đạo), ḿnh đă thỉnh cầu Thiên Chúa giải phóng họ thoát khỏi mọi sai lạc. …Giáo Hội cầu nguyện với con người và cầu nguyện cho con người, nhưng Giáo Hội công bố những ai bất nghĩa, những kẻ bị mù quáng, bị đắm ch́m trong sai lạc, bị quỉ qoái gian xảo lừa gạt, biết bao linh mục hợp tác với nhau dịch sách về sự thật tuyệt hảo nhất ! Hoặc Giáo Hội biết ḿnh cầu xin ǵ trong kinh nguyện, hoặc Giáo Hội không ư thức được. Nếu Giáo Hội không biết điều ḿnh cầu xin, mọi người hăy hô to lên. Nếu Giáo Hội biết điều Giáo Hội xin, nếu cũng những lời nguyện, cũng cùng những kết án, ngày nay đă là ngày chết của Chúa Giê Su Ki Tô, được nhắc đi nhắc lại khắp nơi trên thế giới. Đâu là niềm hy vọng t́m thấy ư nghĩa đích thực của Kinh Thánh với trợ giúp của kinh nguyện ?

 Người ta đă cho rằng việc dịch Thánh Kinh chỉ là công việc hoàn toàn mang tính triết học. Vậy tại sao một tờ báo có thể bảo đảm rằng, trong buổi họp đầu tiên, một trong số các mục sư đáng kính đă đề nghị cầu nguyện cho các linh hồn v́ thành công trong việc làm ? Nếu chỉ v́ ngữ văn mà thôi, vậy cần ǵ những lời cầu nguyện như vậy ? Cầu nguyện cho Hàn Lâm Viện Khoa Học luân lí cũng cần thiết nhường ấy. Nếu trong đó chứa cái ǵ khác việc sinh ra ngữ văn, ḿnh hiểu tầm quan trọng của kinh nguyện, nhưng ḿnh nhớ rằng những lời cầu nguyện do người tin lành Anh nêu lên với một mục đích chung, được hấp thụ cái hồn từ những ư nguyện trong lành bên cạnh những người công giáo đồng hương của họ. Những nguyện cầu ấy của họ vừa bị  phụng vụ thánh Kinh công bố, với sự chuẩn y của Đức Thánh Cha, là phản nghịch đức tin và lạnh lùng về mặt đạo.

 Một hôm, người tin lành trách O’Connell, tại một đám tang, quá xa cách họ khi mục sư  muốn cầu nguyện. « Cha O’Connell trả lời, Giáo Hội công giáo cầu nguyện cho tất cả mọi người, nhưng không cầu nguyện với ai ». Ḿnh mong chờ Giáo Hội công giáo nhất trí công bố cho phép dịch Thánh Kinh với bất cứ người nào.

      Bạn thân mến, … ».

 

 Thư gửi Melchior Du Lac, theo nxb. D.D., tập VI, Rôma 1993, trang.49-50

 

 36. Cha d’Alzon trong đồng cỏ

 

         Dưới sự hướng dẫn của cha Hippolyte Saugrain, tháng 7 năm 1864, tập viện ḍng Mẹ Về Trời được đặt ở Vigan, sau một số h́nh thức tập viện ít nhiều mang tính đại trà (improvisé) trong nhiều cộng đoàn khác nhau của Ḍng : Nimes, Clichy, Auteuil. Nhờ thừa hưởng tài sản gia đ́nh, cha d’Alzon có tiện lợi tốt để chuyển tập viện về tại ngôi nhà khiêm ở vùng Cévennes. Cha d’Alzon sinh ra trong mái nhà này năm 1810. Đây chính là cái nôi của Ḍng. Như vậy ngài thực hiện một h́nh thức ra đời mới mẻ cho anh em tu sĩ trẻ trong một môi trường riêng không bị các việc tông đồ khác do nhu cầu xung quanh thúc bách quấy nhiễu. Theo nghĩa nào đó, năm 1864 đánh dấu cuộc hồi hương của cha d’Alzon với nguồn gốc Cénevennes về mặt gia đ́nh cũng như về lănh thổ. Suốt mùa hè năm 1831, người thanh niên  Emmanuel đă đi hết ranh giới Cénevennes, vượt sườn đồi Dourbie và vượt qua le Causse du Laczac để đến thăm người họ hàng già nua, đó là ngài Công Tước de Bonald ngụ trong nơi ẩn tu Monna, gần Millau (Aveyron). Trên đường đi, phía trên Saint-Jean-du-Bruel, cha d’Alzon đă không thể không trông ngắm cảnh đổ nát của lầu đài cổ thời trung đại miền Algues với nhiều cảm xúc, theo truyền thống, tổ tiên của Roquefeuil sinh ra tại nơi đây.

 

         Từ năm 1864, không phải những kỷ niệm về quá khứ hướng bước chân cha d’Alzon trở lại Vigan, mà v́ những chọn lựa cho tương lai với việc đào tạo các thế hệ trẻ của Ḍng nên ngài xếp đặt họ trong ngôi nhà cũ kỹ của gia đ́nh, la Condamine. Môi trường xung quanh, đồng ruộng không thiếu cảnh quyến rủ. Những ngôi làng biệt lập xung quanh tạo cho các tu sĩ nhiều việc truyền bá Tin Mừng sẵn có và có nhiều ơn gọi ở Rochebelle cho Ḍng Nữ Tu Tận Hiến : Rogues, Avèze, l’Espérou, Alzon, Mandagout le Cigal, Saint-André de Majencoules, biết bao cái tên đi vào trong bản đồ ḍng mẹ về trời lúc ấy. Nước ở vùng Cauvalat chữa bệnh và hồi phục sức khỏe cho nhiều người. Các trang trại trong lĩnh vực nông nghiệp, l’Elze, la Valette hay Bagatelle đem lại một số tiền trước khi được chuyển nhượng cho người khác. Trang trại này đến trang trại khác lần lượt cung cấp nhu cầu tài chính.

 Tập viện ở Vigan sẽ nhường chỗ cho một trường học nội trú (Alumnat) tạm thời của ḍng năm 1874 với tên Saint-Clément, người được kính nhớ theo lịch và để tưởng nhớ biết ơn Bà Tử Tước d’Alzon. Năm 1881, để giữ lấy nơi này, cha Picard bán la Condamine cho bà bá tước d’Ursel, lúc ấy chưa phải là Mẹ Isabelle. Chúng ta hăy ở lại với cha d’Alzon một lúc trong vùng đồng quê an tĩnh này, theo sự thay đổi của thời tiết :

 

« Vigan ngày 16 tháng 5 năm 1867,

         Con gái yêu quí,

         Cám ơn con đă cho cha biết mọi chi tiết. Nơi đây, trời cũng đă đổ giông, nhưng là cơn giông mưa đá, v́ vậy mọi thứ bị hư nát. Không ai biết phải kiếm lá dâu ở đâu  để nuôi tằm nữa. Đồng cỏ bị phá tan, vườn tược bị vét sạch cứ như thể đàn ngựa mới băng qua. Chúng ta đừng nhắc đến những đồng nho và hoa quả. Tất cả đều biến mất rồi, không c̣n hơn nắm bàn tay của cha nữa. V́ vậy, cha phải lao động chân tay  như thầy tu kín (Moines). Cha nhặt được ba bó cành cây dâu tằm. Các cha trong ḍng cũng lao động cậtj lực như vậy. Có ai thấu hiểu được cơn giông mưa đá sẽ làm cho chúng ta nhận ra tính hữu ích của việc lao động chân tay ? Thế nhưng, xương sống của cha sau bốn mươi lăm phút làm việc đă cần nghỉ ngơi.

 Các Nữ Tu Tận Hiến bằng an. Cha rất hài ḷng. Nhưng với thiệt hại vật chất này, các Sơ sẽ sống bằng ǵ đây ? Các Sơ sẽ phải làm việc hơn nữa. Đôi khi, chúng ta t́m được nguồn ủi an. Con ḅ sữa giống  breton) mang màu sắc như trang phục của các Nữ Tu Tận Hiến, tức màu trắng đen, đă sinh con bê màu Augustin, tức màu đen. Đối với cha, khi nh́n chú bê non  này trong tập viện, ít ra chỉ  nh́n qua màu sắc, cha cũng cảm thấy nguôi ḷng.

 Chồng của con không yếu đau. Chiều nay, anh ấy cảm thấy đau đầu, nhưng khi cha đă lượm xong những bó cành cây dâu tằm, nhân đi lấy sữa, anh ấy đến trách cha quan tâm mấy khúc củi nhỏ bé hơn việc đi thăm các bà Raynaud khi họ ṛi khỏi nhà cha.

 Khi đang nhặt cành cây cuối cùng, cha chợt nghĩ Đấng Quan Pḥng sẽ đến khích lệ cha trong công việc đồng áng.

 Nếu gặp Angélina, nhờ con hỏi cô ấy đă nhận được thư cha viết ngày thứ hai chưa và đúng ra cô ấy phải nhận được rồi, khi con trở về Nimes từ Caissargues. Cha khuyến khích cô ấy cần mạnh mẽ hơn nữa và không nên lùi nửa bước, một khi đă tiến một bước. Tạm biệt con gái. Ngh́n lần thuộc về con trong Chúa chúng ta ».

 

 Thư gửi Cécile Germer-Durand, theo Các bức thư d’Alzon, nxb., tập VI (1992), trang.252-253

 

 37. Bài học luân lư chính trị

 

         Trọn cuộc đời cha d’Alzon luôn ḥa lẫn với các vấn đề chính trị. Con của nhà đàm phán gắn bó với những ư tưởng hợp pháp của phái hữu bảo hoàng (droite royaliste), cha tỏ ra là một người theo dơi và chỉ trích các sự kiện làm chao đảo nền quân chủ năm 1830. Ngài thâu tập nhiều loại báo, tạp chí đưa thông tin trong nước hoặc trong vùng, La Gazette, Le Moniteur, La Quotidienne, L’Ami de la Religion, Le Correspondant ou l’Avenir là những tờ báo được sàng lọc bởi niềm tin hàng đầu không thể lay chuyển, những quyền của Thiên Chúa và của Giáo Hội chiếm ưu thế hơn đối với mọi vấn đề khác về con người, về đảng, về chế độ hay về dư luận. Dưới chế độ quân chủ tháng bảy, bắt nguồn từ tự do, cha d’Alzon đối lập giới Trung Tả (Centre gauche), vào thời cách mạng 1848, ngài không do dự theo những ư tưởng đăng trên mục của một tờ báo tạm bỡ, Tự do cho mọi người (Liberté pour tous), nếu chế độ mới của cộng ḥa tôn trọng và bảo vệ Giáo Hội. Đây là thái độ khiến ngài phải tinh tế với môi trường gia đ́nh. Đế chế Napoleon theo thái độ của Napoléon III, kể từ năm 1852, chỉ tỏ ra khép kín và thậm chí c̣n chê bai từ năm 1859 : quyền phong chức giám mục của nhà vua trong giáo hội gallican (régalisme gallican), chủ nghĩa lợi nhuận, ăn hối lộ nội bộ tăng cường tính tranh đấu đối lập trong khi chính sách ngoại giao của Đế chế Đệ Nhị làm lời cho chủ nghĩa quốc gia Piémont. Chủ nghĩa tuân phục Giáo Hội Rôma dưới quyền Giáo Hoàng của cha d’Alzon giúp cha đồng nhất hóa những quyền của Giáo Hội với lợi ích của giáo hoàng, và dẫn cha d’Alzon vào trong đấu trường chính trị : đại biểu bầu cử trong vùng Hérault (1861), chiến dịch khiếu nại, rao giảng về những điểm nóng thời sự, ủng hộ những cuộc bầu cử có uy tín. Tuy nhiên, cho rằng cha d’Alzon tự làm hại thanh danh trong tṛ chơi chính trị v́ những lí do đơn giản láu cá là không đúng. Ngài đ̣i hỏi quyền ngôn luận và hành động cho giới tăng lữ ngoài ranh giới trong nhà thờ giáo hội, khi mà nhiều mấu chốt vấn đề dường như vượt xa lĩnh vực tư nhân của nhiều người nhằm có thể đụng đến lĩnh vực của niềm tin và giá trị để thiết lập những dự án cho đời sống tập thể, xă hội và giáo hội. Chắc chắn, những chọn lựa của ngài cũng có thể mang lại cho chúng ta ngày nay cảm giác thiếu tính định kiến và có thể bàn căi. Một phần v́ nguồn gốc gia đ́nh và quan hệ của ngài. Đó là thân phận thường trực của bất cứ ai khi rơi vào hoàn cảnh như vậy, cho dù những ư tưởng hay những động lực của ngài tỏ ra cao cả.

 

         Là con người của thời đại ḿnh, cha d’Alzon đă không do dự vượt qua các rào cản của thái độ và dư luận quần chúng. Cha không phủ nhận xu hưởng « mở » khó tránh khỏi theo hướng dân chủ và công lư xă hội. Nhưng theo cách nghĩ bảo thủ của ngài, đó cũng là lối suy nghĩ mang tính bảo thủ về những nguyên tắc bảo vệ danh dự, thành thật và trung thực mà đời sống chính trị thời đại ngài không hề quen biết, ngay cả khi đời sống chính trị bị đồi bại đến khó coi :

 

         «Về thất bại của Emmanuel d’Alzon.

Sự khuấy động xảy ra trong mấy ngày xung quanh ḥm phiếu bầu cử  b́nh yên buổi ban đầu. Người thắng cử khiêm tốn tập làm quen với chiến thắng. Kẻ thất bại hoàn toàn xứng đáng với đảng phải của họ.

 

         Với phẩm chất của người không trúng củ, cha cảm thấy buộc lương tâm phải phản đối những kẻ quá vội vàng, tỏ ra đờ đẫn trong thanh thản. Cha muốn thúc bách nhiều bạn bè hiểu rằng, chính v́ Đế chế là ḥa b́nh, sự ngủ mê không phải v́ vậy mà được xem là bổn phận thanh cao nhất trong các bổn phận, và rằng ngay cả khi đối diện với những diễn biến mới nhất, ngủ trong quên lăng có thể là một trọng tội.

 

         Cha thường muốn la hét như người tin lành. Lần này, họ đứng ngoài ŕa, và theo quan điểm của họ, họ đă hành động khéo léo. Họ vui mừng thấy người công giáo có khả năng làm những kiệt tác ǵ, khi bóng ma của công cuộc cải cách không hiện lên trước mắt họ. A ! họ sẽ sai lầm khi khoanh tay, nếu họ chỉ đứng nh́n chúng ta làm việc. … ! Chúng ta không thể kết tội họ, và có thể họ sắp trở thành chủ của chúng ta !

 

         Bức thư cuối cùng cha viết cho ngài Demians đă làm mất ḷng dân chúng, người ta nói như vậy. Cha vẫn cảm thấy thoải mái dù không được ḷng dân. Và cha tận dụng quyền có được từ t́nh h́nh ấy để nói rơ cách nhận xét, đánh giá những sự kiện buồn thương mà chúng ta vừa chứng kiến cảnh tượng.

 

 Cha tránh thắc mắc của nhiều người, cha chỉ chú trọng đến những hành vi quần chúng diễn ra trong ngày.

 

 Cha có thể tỏ ra buồn rầu, có thể thức tỉnh, nhưng tuổi cha không c̣n là lứa tuổi của ảo tưởng. Người ta có thể đau khổ khi nh́n thấy một số gương mặt không được sáng sủa như họ mơ ước, nhưng tóm lại, người nh́n và việc ấy cũng chóng qua.

 Một đại tướng, người con của Nimes, hoang tưởng trở nên thành viên tổng hội đồng, dù đại tướng được chính phủ giới thiệu, có ǵ đơn giản hơn thế không ? Ai có thể thấy đại tướng là con người xấu ? Mong ngài hăy hứa hẹn điều ǵ, ai có quyền nổi giận, nếu không phải là những người chưa có quyền ấy ? Tốt hơn không nên nổi dận, có thời người ta rất giận hờn, và con người ở Nimes sẽ không thể là Người Pháp, cũng không thể là những người bầu cử, nếu như họ không xem trọng điều ấy. Như người ta bảo đảm, dù đại tướng đă nói với cha  rằng các linh mục nên ở lại trong nhà Chúa vào thời kỳ bầu cử th́ sẽ tốt hơn. Đó là điều khẳng định cha muốn nêu lên. Ngài đại tướng biết rơ ba cuộc viếng thăm cha cách đây hai năm, nhằm xin cha bầu cho ngài, ngài cũng hiểu rơ rằng ngài nói điều đó với đấm đông dân chúng  trong những mái nhà tối tăm này và …, nhưng chúng ta đùng đề cao quá.

 

 Cha không hiểu lắm bối cảnh hiện tại, người công giáo, người công giáo thực sự, đă bầu cho đại tướng. Không phải vào thời điểm thường nhật mà ngài đại tướng đă có thể nhận được phiếu bầu của họ, nhưng có cần nhắc lại thực tế mới xảy ra ? Người ta tự xưng là người công giáo, người ta thấy Đức Giám Mục, đối tượng chú ư của mọi người, người ta có dịp phản đối cách long trọng, người ta lại không phản đối và người ta chỉ đích danh ứng viên chính thức. Cha khẳng định đó là một dấu chỉ của thời đại.

 

         Cha chỉ muốn xin lỗi v́ đă giám viết rằng những người, khi hành động như thế, có một đức tin mănh liệt, là những người khiêm tốn về mặt danh dự. Nếu cho rằng đánh giá ấy được áp dụng quá nhiều, cha chỉ giữ lấy cho ḿnh cha mà thôi.

 

         Thực vậy, người ta cho rằng một số linh mục đă nêu gương về việc ấy. Cha tin là không sao cả. Nhưng nếu thật sự ḷng khiêm tốn của họ ngang hàng với ḷng khiêm tốn của bổn đạo, phải kết luận ǵ đây ? Chính các linh mục là những người đầu tiên la ó họ : chúng tôi không có vua nào khác ngoài César ! Để trấn an lương tâm, họ đă dựng cảnh tưởng với mười tám ngh́n công nhân như Hérode, theo lời của Giuse, một người lao công tu sửa đền thờ. Nhờ Thiên Chúa, theo Hilaire, chúng ta rơi vào thời mà hoàng đế Constance, người theo quan điểm của Arius, xây dựng các nhà thờ với mục đích bảo vệ Giáo Hội tốt hơn. Chúng ta hăy để vấn đề này một bên đă…Phải chăng chỉ c̣n thất vọng nữa mà thôi và việc từ bỏ phải chăng đối với người công giáo là một sự cần thiết vô phương cứu chữa ? C̣n lâu cha mới nghĩ như vậy. Người công giáo có thể vực dậy từ thất bại do họ đă tự làm khổ ḿnh, dù người ta nói ǵ, với ba điều kiện : điều kiện đầu tiên là trở lại với những nguyên tắc thực sự công giáo. Điều kiện thứ hai là giải pháp biết tận dụng cách táo bạo và không ẩn ư mọi vũ khí mà xă hội hiện đại trao trong tay. Điều kiện thứ ba là phải có tổ chức mạnh mẽ và đôi khi phải hợp pháp…. ».

 

             Thư gửi người công giáo Nimes, tập VI, nxb. D.D., trang.319-325

 

 38. Cha d’Alzon, vị hành hương ở Lộ Đức

 

         Là người rất ngưỡng mộ Louis Veuillot và say mê đọc báo Vũ Trụ (L’Univers), cha d’Alzon không thể không biết nguồn gốc của sự kiện Lộ Đức, v́ sự kiện này mà nhà báo nổi tiếng đă đề cập đến và nói rất nhiều trước Henri Lasserre. Và thế nhưng, thư cha d’Alzon chỉ đánh dấu vết tích báo chí về Lộ Đức bắt đầu từ năm 1868, năm mà ngài tận dụng việc chữa bệnh bằng nước khoáng nóng ở Bagnères de Bignorre, ngài sẽ một ḿnh đi hành hương t́m hiểu địa điểm vào ngày 15 tháng 8 năm 1868 vào tuổi 58. Ngay lập tức, cha d’Alzon nắm bắt thông điệp tin mừng do cô chăn cừu nhỏ bé miền Bartrès truyền lại, và trở thành người nổi tiếng đă thấy Đức Mẹ hiện ra, và lúc bấy giờ, phải trốn ở Nevers v́ nhiều thúc bách ṭ ṃ của đám đông.

 

         Cha d’Alzon gặp cha Peyramale, cha cảm thông với vị cha sở mà về cuối đời (1877) bị đen tối do những lẫn lộn trong phạm vi xét xử với các Cha Garraison, cha Sempé, được giao canh giữ khu vực và là những người khởi xướng các cuộc hành hương cho bổn đạo giáo xứ với mục đích quyên góp tiền giúp công tŕnh xây dựng các nơi thờ cúng tại háng đá Đức Mẹ hiện ra. Lời mời gọi đơn giản mang tính tin mừng  với Bernadetta : cầu nguyện, tin vào Chúa, sám hối, làm hài ḷng cha d’Alzon, một người rât thích đọc chuyện về Mẹ Maria qua một số đoạn hoặc chú thích về Mẹ trong Thánh Kinh. Cha đă phó thác vào sự bảo trợ của Đức Mẹ Đồng Trinh việc sáng lập ḍng tu. Những huyền nhiệm của cuộc đời và đức tin của Mẹ Maria có vẻ phản ánh trọn vẹn tinh thần tin mừng đối với cha d’Alzon, dầu khẩu ngữ của ngài vẫn mang tính ki tô mà không mất đi tính Maria học (sa devise reste christologique sans inflation mariologique) : « Nếu các con thêm t́nh yêu Chúa chúng ta, t́nh yêu Đức Trinh Nữ Mẹ Người và t́nh yêu Giáo Hội, hiền thê của Người vào t́nh yêu Thiên Chúa, các con sẽ nhận biết cách tóm gọn nhất đặc tính của ḍng Mẹ Về Trời dưới thành ngữ của nó ». Ở Massabielle, cha d’Alzon giao phó các con trai, con gái cho Mẹ Thiên Chúa, khiêm nhường và tin tưởng trong cách thể hiện của cha với một thiếu nữ nghèo nàn, chỉ mới biết chữ.

 Mầu nhiệm liên kết cha d’Alzon với Mẹ Maria hơn cả là mầu nhiệm về sự triển nở thiêng liêng : không phải chính nhờ mầu nhiệm nhập thể mà Mẹ đă sinh Đấng cứu độ loài người hay sao, cha d’Alzon không ngừng cầu xin Chúa hồng ân sinh ra nhiều linh hồn độ lượng và có ḷng nhiệt thành tông đồ để phục vụ Thiên Quốc. Cha d’Alzon thôi thúc sức mạnh Lộ Đức, sức mạnh từ trời tuôn trải để đổi mới trên trần gian những mầu nhiệm đức tin và làm cho việc thờ phượng nơi quần chúng và việc thể hiện ki tô giáo trở nên phổ biến. Ngài nóng ḷng đi hành hương với sự khát khao cháy bỏng mong sao các mầu nhiệm thiêng liêng chiếm lấy con người cha khi cha cảm thấy nhu cầu cấp thiết phải phổ biến lại ki tô giáo cho các tầng lớp dân chúng, trong đó giới ưu tú đang ngày càng mất hướng. Chỉ có sức mạnh thúc đẩy của đức tin mới không e ngại khẳng định bản ngă trước quần chúng và mới có thể xây dựng lại mảnh vải của một dân tộc bền vững : Lộ Đức, nơi cầu nguyện để cùng nhau lại tiến bước.

 

«  Bagnères de Bigorre ngày 1 tháng 8 năm 1868

 Con quí mến,

         Chỉ một lời thôi. Cha đi Lộ Đức về. Ở đây, cha đă cầu nguyện rất lâu cho con. Cha đă cầu xin ơn thánh thiện thật, ơn khiêm nhường, tinh thần đức tin, ḷng nhiệt thành. Cha cũng đă cầu nguyện cho các con của con. Và cha thỏa ḷng khi ẩn ḿnh sau hàng song cửa bảo vệ hang đá cấm qua lại, trong gần bốn tiếng đồng hồ. Con thấy đó, cha có thời gian cầu nguyện cho bạn bè. Cha gửi con tấm h́nh Bernadetta. Hôm nay sœur Marie-Bernard ở Neverd. Cha gửi kèm theo trong đó một cây nhỏ ngay nơi Đức Mẹ hiện ra. Nếu có thể, cha sẽ tạo điều kiện ưu tiên cho việc tôn sùng Đức Mẹ Lộ Đức. Khi đến Salette, cha vẫn cứng tin hoặc ít ra cứng đầu và khô khan, cha không biết tại sao, nhưng Lộ Đức lại đem đến cho cha một thứ hương vị b́nh an, tin tưởng và hy vọng nào đó mà cha không nhận ra và cha sẽ sớm ăn năn trở lại với Chúa. Trong thánh lễ cử hành trong nhà nguyện nơi háng đá, cha đă ghi tên con đầu tiên sau tên của ḍng nam Mẹ Về Trời.

         Tạm biệt con. Ngh́n lần thuộc về con trong Chúa chúng ta.

         E. d’Alzon

 

         Bagnères mang lại cho cha nhiều điều tốt đẹp, nhưng cũng làm cha hơi đau dạ dày. Thỉnh thoảng cha muốn nôn ».

 

Thư cha d’Alzon gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, theo nxb. D.D., tập VII (1994), trang.134

 

39. Lâu đài ở Tây Ban Nha : Gio-an, nhà triệu phú

 

         Giữa những sự việc gây ṭ ṃ và khó hiểu tô màu cuộc đời cha d’Alzon, có một chuyện đáng được nêu ra : sự việc này nằm trong khung cảnh tập viện ở Vigan vào cuối năm 1868 và năm tháng đầu tiên của thời gian tiếp theo. Người được mang danh « Gio-an anh đầu bếp » hay « Gio-an nhà triệu phú » thực ra là một người trẻ mới theo đạo, được rửa tội ở Vigan, mang tên Gio-an Domingo. Gốc gác của anh không ai biết rơ. Có lẽ là gốc Mỹ. Anh rửa chén bát và giặt dũ trong tập viện, đồng thời quan tâm tích cực vào nhiếu sinh hoạt công giáo ở giáo xứ và những sinh hoạt do cha Hippolyte Saugrain đề xướng, nhất là việc tôn thờ ban đêm. Anh kế thừa một gia sản rất lớn từ người chú ở Mỹ. Tài sản kế thừa này không ngừng tăng dần theo ḍng thời gian. Anh hứa tặng một phần đáng kể cho ḍng Mẹ Về Trời. Sự việc khiến cha d’Alzon tốn nhiều giấy mực với các cha Hippolyte Saugrain, François Picard, Victorin Galabert và các thầy họ Bailly. Thực vậy, ḍng Mẹ Về Trời thiếu tiền trầm trọng trong khi dự án lại nhiều ! Ghi nhận những phản ứng từ nhiều người về vấn đề này là một việc thú vị : cha d’Alzon, luôn luôn túng tiền nên không ngừng mơ ước có bạc triệu từ Châu Mỹ, đề ra dự án này đến dự án khác. Cha Hippolyte với sự tinh tế của người Normand không để bị lôi cuốn lợi dụng trước khi có thể cân nhắc số tiền c̣n lại trong sự chờ đợi ảo ấy. Cha Picard nghĩ nên quy tụ tất cả những ai quan tâm ở Paris nhằm cùng nhau bàn tính một công việc thực tiễn : các khoản nợ của Nimes và Paris, việc rao bán Clichy không có người mua, việc đầu tư cho nhà mồ côi của cha Halluin, những kêu gọi dồn dập của cha Galabert cho sứ mệnh ở Phương Đông, việc gầy dựng cộng đoàn ḍng Nữ Tu Tận Hiến ở Nimes cuối cũng sẽ có thể t́m thấy giải pháp. Cha Emmanuel Bailly, hiệu trưởng trường trung học ở Nimes, vừa đảm trách quản lí chung về kinh tế trong ḍng cũng trả một phần. Giấc mơ hoàn tất trong ảo vọng : anh Gio-an biến mất vào một ngày đẹp trời giữa trung tuần tháng năm khởi Vigan mà không hề đẻ lại dấu vết. Sự việc này rất bổ ích : t́nh h́nh tài chính của Ḍng không được chỉnh đốn từ năm 1857. Các dự án tông đồ do người này, người khác được tung ra cách bất ngờ, thiếu trù tính trước, chắc hẳn là phó thác vào sự quan pḥng của Thiên Chúa, cũng không thể dứt khoát t́m được nguồn kinh tế mới bảo đảm kế hoạch. Nhận định của người này về người khác đều đi đến tột đỉnh, nhận định của cha d’Alzon về cha Saugrain cũng vây : « b́nh an sẽ trở lại trong ḷng ngài khi nào có tiền để giao dịch chứng khoán » hoặc, báo hiệu năm 1867, cha Vincent de Paul Bailly, được thử thách rất nhiều qua một năm làm hiệu trưởng trường học, nói về cha d’Alzon : « Cha sử dụng nhanh nhân lực ở trường học ». Tiền bạc khiến kẻ đui mù nhảy mừng, nó là cái bẫy hay một yếu tố mạc khải ? Lời cuối cùng xứng đáng với con người cha d’Alzon : « tốt hơn,  nên sống theo tinh thần nghèo khó ». 

 

« Le Mans ngày 23 tháng 1 năm 1869

         Này con, con là người nhỏ mọn bất nhă khi một mực nhất quyết làm cha buồn chán. Thật hoàn toàn khó hiểu và cha phải nói thật ḷng với con để vứt bỏ những điều ấy trong ḷng.

         Cha bị cảm cúm nhẹ, và thay v́ đi dạo, cha ở nhà viết thư cho con. Viết thư cho con tạo cảm giác dễ chịu hơn  trong cha, thế nhưng, trừ khi cha làm con không vui. Có phải suy nghĩ cuối cùng này tạo trong con niềm vui thích lạ thường ? Con nghĩ như thế nào ?

Cha Hippolyte viết thư cho cha biết Sœur Marie-de la Croix hơi chao đảo. Có khả năng cha sẽ t́m được vài ba ơn gọi tại đây cho ḍng Nữ Tu Tận Hiến. Vào ngày lễ Đức Mẹ thăm viếng thánh Elisaberth, có một Sơ trợ tá hết ḷng nhiệt huyết cho công việc truyền giáo. Vậy nhưng, Sơ giới thiệu cho cha một người mà người ta không nhận vào ḍng, bởi v́ cô ấy không hợp pháp và v́ le Mans quá gần nước của cô ta. Trước khi giới thiệu cô với một nhà xa hơn, cô đă tặng và đă viết thư cho cha hôm qua ở Angers, nơi cô ta trú ngụ. Cô là một người học thức đàng hoàng, hiện tại cô đang sống với cha ḿnh. Ông ấy là bác sỹ. Nhưng cô ta thấy sống ở đây nguy hiểm. C̣n có một người khác nữa. Và một người khác nữa. Cha hy vọng chúng ta sẽ không dừng lại ở đó.

         Cha nghĩ người ta sẽ biếu cha ǵ đó nhân dịp tĩnh tâm. Con có muốn cha gửi con chút đồ cho máy khâu ? Nghe nói mấy chiếc máy khâu tạo việc làm cho bốn người. Cha có thể bỏ vào việc này từ 300 đến 400 quan. Con hăy cho cha biết ư kiến nhé. Nếu chúng ta có hai người làm việc và hai người thợ khéo tay th́ tuyệt với quá. Cuối cùng, cha sẽ t́m kiếm mọi thông tin có thể được. C̣n các cô gái do bà Chaponay giới thiệu, con có nghĩ cha nên gặp họ trước ở Lyon, bởi v́ cha sẽ gặp họ trong tháng tới ? Cha rất hạnh phúc với các Sơ Đức Bà thăm viếng ở Mans. Và cha nghĩ rằng Sơ Marie-Colombe sẽ t́m được cho cha một số ơn gọi, ngoài những ơn gọi cha mới nói với con.

         C̣n về anh Gio-an, người làm bếp ở Vigan, không phải là một triệu, không phải là chín triệu nữa, nhưng là mười lăm triệu mà ân nhân có lẽ để lại cho anh ta. Nếu anh ta cho các Nữ Tu Tận Hiến chút ǵ đó, anh ấy sẽ thật sự là một người can đảm, đúng không ? Con sẽ nhận hai bó hoa nhỏ như là phần thưởng cho hoạt động tông đồ. Cha gửi đến các con Marie-Colombe, một người có ḷng nhiệt thành, say mê sứ mệnh truyền giáo đến khó tin. Con ạ, cha hết ḷng chúc lành cho con. E d’Alzon ».

 

 Thư gửi Mẹ Emmanuel-Marrie Conrrenson, theo nxb. D.D, tập VII (1993), trang.229-230

 

 40. Cha d’Alzon ở công đồng Vaticanô I

 

         Ngày mồng 1 tháng 11 năm 1869, cha d’Alzon một lần nữa lên đường đi Rôma, dẫn Đức Giám Mục với phẩm chất thần học gia tham dự công đồng Vaticanô I cho đến ngày 18 tháng 7 năm 1870. Cha d’Alzon trọ với Đức Cha của ngài, Đức Cha Plantier, trong chủng viện pháp ở Rôma, đường Santa Chiara. Cha vui mừng gặp lại cha Galabert ở đây. Cha Galabert cũng  đến Rôma với tư cách là thần học gia của Giám Mục, Đức Cha Popov. Cha chờ đợi rất nhiều từ công đồng đặc biệt này : ngày 13 tháng 2 năm 1869, cha đă viết thư cho cha Vincent de Paul Bailly « cha tán thành việc công bố sự vô ngộ của Đức Giáo Hoàng, việc bỏ quyền chỉ định giám mục của nhà Nước…, việc giảm một số ngoại lệ, giữ những lời khấn tạm (vœux simples)… được cho phép nhằm ưu tiên cho những lời khấn trọn (vœux solennels). Cha tóm lược như vậy những vấn đề dự tính sẽ được bàn đến ». Những hy vọng này sẽ dần dần được khẳng định, nhưng với cái giá phải tranh luận rất lâu, bởi tính chất của nó đem lại tiếng vang xác thực. V́ thư cha d’Alzon không giảm đi : vả lại thư cha mang lại cho chúng ta những trang rất quí về ḷng yêu mến Giáo Hội, về thực tế truyền giáo, một t́nh yêu cháy bỏng theo chừng mực của đức tin đối với Giáo Hội Rôma cách vô điều kiện. Cha d’Alzon không tham gia trong các cuộc họp công đồng, nhưng cha tự xem ḿnh như một người lăng xăng (tập VIII, trang.133), cha tiếp xúc ngày một nhiều và tăng cường nhiều cam kết phục vụ phần đông những người nhất trí việc công bố sự vô ngộ của Giáo Hoàng. Kỳ họp công đồng tạo cảm giác khác trong cha theo phạm trù hoàn vũ của Giáo Hội công giáo và sự lớn mạnh của nhiều miền mới được truyền giáo : Rôma trở thành trung tâm điểm của nhiều nước, nhiều dân tộc và nhiều ngôn ngữ trong sự hiệp thông với ṭa thánh Phêrô. Một sự lật đổ xảy ra trước mắt cha, giữa các nước có tầng lớp ki tô giáo lâu đời bị vướng vào nhiều cuộc căi lộn về vấn đề lịch sử và các nước ki tô giáo non trẻ hơn đang lớn mạnh nhờ năng nổ trong việc truyền giáo. Qua đó, cha d’Alzon học được một kinh nghiệm tích cực trong chiến thuật của Giáo Hội : tương lai thuộc về những Giáo Hội non trẻ, thuộc về các Hội Ḍng Tu mới, thuộc về việc định nghĩa lại các giao ước của Giáo Hội đối với dân chúng, của chủ nghĩa dân chủ, của xă hội hiện đại, nhưng không có sự ưu tiên cho các nguyên tắc trần tục của cách mạng và chủ nghĩa giải phóng. Lấn chiếm thời gian ngoài thời gian hiện tại là triệu chứng của thứ tư tưởng mang tham vọng xây dựng tương lai trong sự phát minh của truyền thống. Thời gian hiện tại bị chập mạch, thời gian quá khứ được tấy rửa và được lí tưởng hóa. C̣n tương lai thường lẩn tránh những thúc bách : năm 1870-1871 sẽ là những năm « khủng khiếp » với sự sụp đổ của Rôma, chiến tranh Pháp- Đức và Công Xă. Thế nhưng, những nh́n nhận của cha d’Alzon khi cha viết cho Mẹ Marie-Correnson không thiếu ḷng nhiệt huyết, cũng không thiếu sức mạnh tiến về phía trước :

 

         « Rôma ngày 14 tháng 12 năm 1869

         Vậy là cha con ta đă tạm biệt nhau được sáu tuần ṛng ră, con yêu quí của cha. Sự chia cách này sẽ c̣n kéo dài đến bao giờ ? Chỉ Thiên Chúa mới biết con ạ. Người ta cho rằng đến Phục Sinh sẽ kết thúc. Cha không thể hy vọng dự tính đó. Đúng hơn đến Phục Sinh cha sẽ được nghỉ ngơi, nhưng sau đó sẽ phải tiếp tục trở lại.

         Cha trở lại vấn đề con đă bàn với cha về các Sơ cần vụ. Một trong những lí do khiến cha tách họ ra là v́ nếu phải bắt đầu lại, có lẽ cha sẽ tách họ khỏi Ḍng Mẹ Về Trời. Con đừng ảo tưởng, thời đại các Sơ cần vụ qua đi. Cha rất tin rằng để có thể làm cho dân trở lại với Chúa, ngày nay trên hết mọi sự, cần phải bỏ những dạng thức quí phái. Chúng ta tiến đến nền dân chủ với những đ̣i hỏi khung khiếp, và theo quan điểm này, con sẽ không thể tưởng tưởng nổi tất cả những ǵ cha quan sát nơi đây. Chắc hẳn quảng trường lớn không thuộc về các Giám Mục Hung-Ga-Ri. Các ngài là những chúa tể hùng mạnh cuối cùng của Châu Âu. Quảng trường lớn ấy thuộc về các Giám Mục truyền giáo. Các ngài quốc bộ đến tham dự công đồng, bởi v́ các ngài không có xe. Quảng trường ấy lại càng không thuộc về các nhà thông thái, tức những người giúp lập nên các sắc lệnh và điều luật. Người ta cảm thấy rằng họ cũng làm việc cho nhiều người khác, và những người mà công đồng ủng hộ chính là các bạn hữu của Thiên Chúa, những người nhỏ bé và nghèo hèn. Con hăy tin cha, sức mạnh của tương lai chính là nơi họ. Chính nhờ sự nghèo khó và sự hạ ḿnh xuống mà thế gian này sẽ được cứu độ, nếu như thế gian có thể thực hiện việc đó.

         Nếu có chuyện ǵ làm cha buồn thảm, có thể sẽ là v́ thấy công tŕnh của các Nữ Tu Tận Hiến bị lệch hướng. Và nếu cha có thể t́mra một trong những lí do giúp các Sơ Tận Hiến, đó chính là tinh thần khiêm nhường và có đủ khả năng hơn để có được một phần của thế gian mà Chúa chúng ta yêu thương cách riêng, mà trước hết rất khẩn thiết quan tâm. Cha nghĩ như vậy. Việc con có thể thực hiện lúc này mang lại khó khăn lớn hơn nhiều trong chọn lựa. Con hăy vượt qua thử thách ấy, nhất là bằng tinh thần của sự thánh thiện rất cao trọng mà người ta sẽ cảm nhận được nơi các con trong ḍng, bởi tinh thần ấy sẽ ở nơi người mẹ.

          Hôm kia, cha ăn tối tại nhà Veuillot với các giám mục truyền giáo. Cha không thể tả hết cho con về các ngài, cha thấy họ cao trọng hơn tất cả, bởi v́ họ nghèo khó, bởi v́ họ nhiệt huyết và v́ không có ǵ để cho đi, họ ban tặng chính con người họ. Con yêu quí, con hăy tin cha, con hăy hoàn toàn tán thành quan điểm về sự ban tặng trọn hảo nhất của con ; con hăy yêu mến Chúa, mà cả cuộc đời đă quá nhỏ bé, nếu không nói là không ǵ cả.

         Đối với cha, khi thấy nhiều khốn khổ trong trong công đồng, cha tin rằng Thiên Chúa chúc phúc cho những người nghèo và Người gơ cửa nơi những kẻ yêu thích tất cả những ǵ không hướng theo sự hư nát.

         Con hăy cho cha biết t́nh h́nh sức khỏe của con. Con sẽ không hiểu được con quan trọng như thế nào trong cuộc sống thường ngày của cha, nhưng cha không muốn viết ǵ về điều này cho con biết. Nếu con có thể đọc được đâu đó, con sẽ nói : « Ông cha d’Alzon tội nghiệp, dù muốn hay không, ḿnh phải hài ḷng về ông ấy ».

         Con hăy cho cha biết t́nh h́nh các con trong ḍng, hăy nói với họ là họ luôn hiện diện trong cha, và họ phải chuẩn bị cho nhiều công việc quan trọng. Nếu có được hai nghàn người, các Sơ sẽ nhanh chóng ổn định. Đối với cha, điều chủ yếu không phải là con số đông đúc, nhưng nhờ sự thánh thiện, các Sơ làm việc mỗi người như một trăm người. Đây là danh sách những đồ cha nhờ Joséphine Fabre gửi cho cha qua ông Barnouin. Một lần nữa, tạm biệt con. Cha không xem lai thư. Thực ra, cha sẽ gửi một danh sách trễ hơn một chút. Cha chúc lành cho con, lời chúc lành của ông cha già. Cha vừa làm bẩn giấy, mong con thứ lỗi.

         E. d’Alzon”.

  Thư gửi Mẹ Emmanuel –Marie Correnson, trong tập VIII, nxb.D.D. (1994), trang.70-71

 

 

PHẦN V

 

41. Cha d’Alzon giữa ḷng dông tố (1870)

42. Đức- Bà Châteaux (1871)

43. Đám cưới của Jean de Puységur năm 1872 (1869)

44. Cha d’Alzon với các nhà thợ mỏ (1872)

45. Một bầu khí khải huyền (1873)

46. Những lần trở thành ứng viên vào chức giám mục, Nimes (1875)

47. Những quan hệ giữa các gia đ́nh ḍng Mẹ Về Trơi (1876)

48. Cha d’Alzon ở Clairmarais (1876)

49. Một cuộc đời tập trung vào Thiên Chúa (1878)

50. Ah, giá như chúng ta có một tờ báo ! (1879)

 

 

 41. Cha d’Alzon giữa ḷng dông tố

 

         Nếu nói về năm tháng chứa nhiều cảm xúc và sự kiện đau thương trên đường đời cha d’Alzon, thực sự đó là năm 1870-1871. Theo niên sử chính trị và tôn giáo của nước Pháp lúc bấy giờ, năm ấy được xem là năm « khủng khiếp ». Vừa rời khỏi thành Rôma, trong niềm sung sướng về công bố tín điều vô ngộ của Giáo Hoàng (tháng 7 năm 1870), cha d’Alzon phải đối diện ngay với hàng loạt thảm họa quân sự của Đế Chế ở Nimes, đối diện với quân binh đức (tháng 8 năm 1870) và những âm vang trực tiếp về chính trị : công bố thể chế Cộng Ḥa, việc thành lập chính phủ lâm thời, việc xâm lấn quân sự ngoài nước không nhượng bộ…Không kể đến ṭa của thủ đô, chiến tranh Công Xă và những đe dọa của chế độ chính trị đang rơi vào t́nh trạng tồi tệ, cuối cùng, hệ quả nhanh chóng xảy ra là thành Rôma sụp đổ và thời đại các Nhà Nước giáo hoàng chấm dứt. Như mọi công dân và mọi người công giáo thời ấy, cha d’Alzon vừa mang trong năo trạng những t́nh cảm đối với tổ quốc và Giáo hội. Thực sự, đó là một thế giới suy tàn. Cha d’Alzon c̣n chuẩn bị tư thế đối diện ở Nimes do nhiều chuyển đổi và sự kiện thôi thúc, nhưng tương lai  vẫn ở trong tối tăm không chút hứa hẹn.

 

         Và thế nhưng, khi đọc chứng từ về cuộc đời, chúng ta bị đánh động bởi sự b́nh tâm trong cảm tưởng của cha, một con người mang tính hành động, không bao giờ xa rời cánh đồng thực tiễn. Trong lửa chiến tranh, cha không ngần ngại khích lệ sáng kiến của anh em tu sĩ, những người làm việc tuyên úy t́nh nguyện trong quân sự. Cái nh́n của cha về các sự kiện có thể khiến chúng ta cảm thấy tính luân lí hoặc răn bảo. Nhưng điểm yếu của cái nh́n về những sự kiện này  không hề làm nhụt ǵ, trái lại, tính năng động trong hoạt động tông đồ của cha bắt nguồn trong các nhân đức v́ Chúa : tinh thần đức tin đi t́m ư nghĩa cho những sự kiện mà không làm bản thân bạc nhược, bị đánh bại hoặc bị bại liệt do phía đối lập bi thảm, tinh thần hy vọng vượt xa giây phút hiện tại tan thuơng v́ đă có thể vạch ra cánh đồng hoạt động có khả năng thực hiện được, sau cùng, tinh thần bác ái đầy sáng tạo sẽ trở thành hiện thực với một số sáng kiến đă được bàn tính với nhau : lấy lại Tạp chí giảng dạy ki tô giáo, đấu tranh cho tự do dạy học bậc cao và tự do sáng lập trường Đại học công giáo, thực hiện một dạng đặc biệt của các trường học trong tinh thần hoạt động tông đồ với việc thành lập trường ḍng (Alumnats). C̣n về các tu sĩ tại Paris, kinh nghiệm tiếp cận chiến tranh đă đuổi họ ra đường : người ta không tính đến họ nữa kể từ năm 1871, nhiều sáng kiến của họ cho các hoạt động tông đồ công khai trong nhiều lĩnh vực khác nhau : hành hương, hội họp, báo chí. Cùng một tinh thần chinh phục, thúc đẩy họ ḥa nhập vào xă hội nhằm tái hóa ki tô giáo. Chúng ta hăy lắng nghe người thợ cả trong việc phân chia giữa bao xáo động :

 

«Ṭa giám mục Nimes, ngày 15 tháng 9 năm 1870

 Con yêu quí

 Con sẽ thấy cha Emmanuel Bailly cố ư dừng chân ở Poitiers để nói chuyện với các con về các Sơ ở Sedan. Ở Saint-Dizier, các con đă có người Phổ ghé thăm. Cha hy vọng ở Reims, người ta sẽ tôn trọng cộng đoàn các con, nhưng cha hiểu những bận tâm của các con. Ở Nice, các con có ngài tỉnh trưởng Pierre Baragnon, có lẽ mẹ của ông ấy đă nói cho các con biết khi bà đang là thỉnh sinh trong ḍng các con. Cha không muốn các con viết thư cho ông tỉnh trưởng, như cha Cabrières đă muốn làm việc này. Quan hệ với ngài thị trưởng, một người lắm mưu mẹo như ông ta, sẽ khiến chúng ta rơi vào hoàn cảnh bối rối.

 Tại đây, cha nghĩ t́nh h́nh tốt đẹp theo khả năng có thể. Nimes là vùng cuối cùng khiến chúng ta sẽ bị rối ren, bởi chúng ta đă có tổ chức đàng hoàng. Chúng ta sẽ ra sao sau  nhục nhă ê chề này ? Theo cha, cần phải áp dụng trong nước Pháp điều cha áp dụng cho chính ḿnh, mỗi khi cha gặp buồn chán. Việc ấy có ích ǵ ? Đó là ư được hiểu trong tự do về lời thánh Phao Lồ : Thiên Chúa làm mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người. Người công giáo và nhân dân pháp rút ra được bài học ǵ từ thảm họa vẫn đang c̣n đó ? Cha chỉ t́m thấy câu trả lời này : sự phục hồi lại tinh  thần ki tô giáo theo ư nghĩa mà con và cha đă hiểu được khi đem lại cho Ḍng Mẹ Về Trời dấu ấn  riêng, và nếu chúng ta đă để cho thác nước cuốn trôi trong chốc lát, chúng ta buộc phải luôn vươn lên bằng sự bền bỉ đầy năng lực cho đến hơi thở cuối cùng.

Theo nguyện vọng của cha, nếu Thiên Chúa chúc lành cho ḍng Mẹ Về Trời, có nghĩa là chúng ta tiến đến một trong những giây phút long trọng nhất của giai đoạn phát triển ban đầu. Đó chính là niềm tin sâu sắc nhất trong ḷng. Việc nhiều người con trong ḍng của cha đă chịu đựng không ít thử thách và môt số con cái trong ḍng của con đă có thể chứng kiến thảm họa Sedan đối với cha là một hồng ân bao la. Hôm qua một kỹ sư trẻ nói với cha : « chúng con vừa tham dự cuộc tranh đấu v́ hai mươi năm lười biếng, ăn chơi và trụy lạc để đổi lấy hai mươi năm học tập và lao công ». Cha cảm nhận sâu sắc điều ấy. Nên dành ḷng ham mê làm việc và rao giảng điều  này cho con cháu, cho mọi người. Bằng cái giá ấy, cha tin rằng nước Pháp có thể chỗi dậy và ǵn giữ sứ mệnh trong Giáo Hội Thiên Chúa bằng tính khắc khổ, sự hy sinh, miệt mài đấu tranh chống lại tư tưởng xấu. Rút cục chúng ta thấy tư tưởng như vậy dẫn đưa về đâu ? Cha tin sẽ có hai xă hội được h́nh thành và chúng ta làm việc để xây dựng xă hội ki tô giáo.

         Cha mong sớm gặp con và cha con sẽ nói chuyện. Cha muốn biết khi nào hai cha con sẽ có thể gặp nhau. Cha chưa hề rời khỏi Nimes, mặc dù có rất nhiều dự tính. Thế nhưng, cha buộc phải vắng nhà vài ngày. Cha không muốn vụng về v́ thiếu vắng con và v́ không thể thực hiện ước mong của con mọi lúc khi con sẽ ghé qua đây thăm cha. Cha không hiểu v́ sao, giữa bao khổ đau tràn ngập chúng ta, cha hy vọng rất nhiều về bao việc chúng ta phải làm, và cây nhỏ bé của ḍng Mẹ Về Trời phải phát triển  và phát sinh nhiều hoa trái tốt nhất, dầu ở giữa  giông tố khủng khiếp. Tạm biệt con. Ngh́n lần thuộc về con trong Chúa chúng ta ».

 

 Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, theo thư của cha d’Alzon, tập VIII, nxb. D.D., trang. 503-504

 

 42. Đức  Bà Châteaux.

 

        Trong suốt « năm khủng khiếp » 1871, điểm dừng chân yêu thích trong cuộc đời cha d’Alzon, đó là ngày lưu nghỉ đầu tiên rất được biết đến tại ngôi nhà mang tên Đức Bà Châteaux ở miền Savoie (tháng 8 năm 1871). Trong thời gian lưu nghỉ nơi đây, cha sẽ mở trường học nội trú đầu tiên (alumnat) như cái nôi của phương pháp sư phạm có nét giống với các trường đào tạo cho hoạt động tông đồ. Ngôi trường đầu tiên này của ḍng sẽ đi vào lịch sử ḍng Mẹ Về Trời trong chừng một trăm năm.

 Ngôi nhà nằm chót vót trên núi cao, được xây dựng thời trung đại và đă từng có sự hiện diện của các tu sĩ ḍng Đa Minh. Cha Désaire làm môi giới để biến nơi này trở thành môi trường đào tạo của ḍng Mẹ Về Trời, sau những năm tháng ẩn tu của linh mục phụ tá Martinet. Cha d’Alzon thích nơi này và nhất quyết dựng một ngôi trường kiểu mẫu với tên gọi được h́nh thành từ một từ mới : trường học nhà ḍng (Alumnat), một môi trường học pha lẫn tính chiêm niệm trên vùng núi cao, vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính thiêng liêng, đồng thời cũng là nơi để giúp giới trẻ học hỏi đời sống tu tŕ trong Giáo hội và đào sâu, tích lũy kiến thức, học lao động chân tay và công tác tông đồ.

 

         Các thể thức có thể sẽ được biến đổi tùy theo thời kỳ, nhưng ta có thể nhận thấy những thành phần chung cho nền tảng thành lập các trường học của ḍng : không khí miền quê, xa các trung tâm dễ lôi cuốn làm biến chất thành thị, giới trẻ xuất thân từ gia đ́nh rất b́nh dị được dẫn vào nhiều công việc khác nhau ban đầu, một cuộc sống theo kiểu gia đ́nh nhưng bị tách khỏi môi trường gia đ́nh chính cống nhằm tạo dấu ấn liên tục trong việc tiếp xúc với các tu sĩ, với mục đích nhào nặn họ quen dần với các vị tiền bối trên con đường dâng hiến, một mạng lưới tổ chức ân nhân, dưới sự bảo trợ của Đức Bà Ơn Gọi ( Notre-Dame des Vocations), tham gia tiền dâng cúng vào việc mảo hiểm nuôi dưỡng mầm mống ơn gọi linh mục và tu sĩ. Sau khi học xong, các bạn trẻ hoàn toàn tự do chọn lựa con đường cụ thể để dấn thân trong Giáo hội. Đức Bà Châteaux h́nh thành nên khuôn mẫu độc đáo với một trực giác vượt hẳn con người cha d’Alzon : từ lâu, các tu sĩ thao thức ngài để tiếp cận các tầng lớp thường dân hơn là các tầng lớp trong học đường để t́m kiếm ơn gọi : một số thử nghiệm tương tự, có nét giống với các trường học của ḍng chiêm niệm thời Trung Đại, trong đó thử nghiệm của cha Foresta, cha ḍng tên, đă ra đời. Tuy nhiên, thể thức ḍng Mẹ Về Trời về trường học tạo ra vài nét mới : đó là tiếp nhận lối hoạt đông tông đồ mới trong cấp bách rộng mở để tiếp cận các tầng lớp thường dân từ sau năm 1870. Cha Pernet và cha Halluin trong số các cha khác, là những người đă chỉ cho thấy một con đường đầy hứa hẹn : tái tạo ki tô giáo cho dân chúng bằng cách tạo ra cho giới trẻ con đường đi thích ứng với những dạng dấn thân và phục vụ trong Giáo Hội.

 

         «Đức Bà Châteaux ngày 23 tháng 8 năm 1871

         Con yêu quí,

         Cha muốn viết lá thư đầu tay cho con tại ngôi nhà mang tên Đức Bà Châteaux. Con hăy tưởng tưởng rằng bên cạnh cái g̣ nhấp nhô, chú gà trống chỉ là hang chuột ủi. Cha trông thấy bốn thung lũng thật tuyệt vời : tại hướng nam, có hàng cây thông rất dài, cách ngôi nhà Đức Bà Châtêaux độ bảy hoặc tám cây số ; phía sau, có đỉnh núi mang h́nh nón. Phía sau đỉnh đồi này, tối nay, mặt trăng cho mọi người nơi đây có cảm giác là kẻ ăm trộm. Phía bên phải, thung lũng Villars và Alberville tuyệt đẹp. Đáy của nó được vạch ra bởi Doron. Về phía bên phải một chút, thung lũng Araiches là phần cuối của những dăy núi luôn luôn có tuyết đóng băng, hôm qua, cha đi dạo với cô gái chăm nom 170 con ḅ cái tơ nơi đây. Hướng về bên phải hơn nữa, lúc này vẫn c̣n thấy Beaufort, nhiều cây thông và đỉnh núi đầy tuyết cũng như các h́nh dạng núi không thể sánh ví được. Cuối cùng, hướng về phía Bắc, ta thấy thung lũng Hauteluce. Mọi thứ đều đáng ngưỡng mộ và tuyệt diệu.

         Nếu mua các ngôi nhà bằng gỗ nơi đây, chúng ta tuyệt đối phải đến tận nơi. Sáng nay, cha đă dâng lễ cầu nguyện cho Đức Thánh Cha, nhân ngày Ngài kế vị tông ṭa thánh Phêrô. Ngày mai, cha sẽ khai mạc tuần chín ngày cầu nguyện cho con. Sau đó, cha Pierre sẽ kết thúc việc này. Cây cối nơi đây nhiều vô kể ! Cây thông, các đồng cỏ, rừng cây mênh mông ! Không khí ! Sữa ! Sảng khoái ! Cha nghĩ sẽ sớm bắt đầu nhận giới trẻ tại đây. Năm nay sẽ nhận khoảng mười hai người, rồi sau này sẽ nhận thêm. Cứ dân dần như thế, nếu cần, chúng ta sẽ xây thêm nhà. Con hăy cầu nguyện tốt để Thiên Chúa chúc lành cho thiện ư này của chúng ta và để xin Thiên Chúa tăng thêm thiện ư cho chúng ta.

 Tạm biệt con. Cho cha có lời chào tới bạn đồng hành của con và tới các Nữ Tu Tận Hiến. Cha luôn nghĩ đến con và luôn là một người cha của con trong Chúa chúng ta.

        E. d’Alzon

 Cha viết thư trong khi tay c̣n đau lắm».

 

           Thư cha d’Alzon gửi Cô Louise Chabert, theo nxb.D. D., tập IX, 1994, trang.165

 

 

 43. Đám cưới của Jean de Puységur

 

         Năm 1872, cháu trai cha d’Alzon lập gia đ́nh với cô Clotilde de Quinsonas. Lễ cưới được cử hành tại Paris ngày mồng 1 tháng 8 và do cha Picard chúc lành v́ cha d’Alzon lúc ấy rất bận không thể đảm trách việc này. Là chú và cũng là linh mục, cha d’Alzon rất vui về sự kiện này của cháu trai. Cha đă không vất vả t́m kiếm mọi nơi để cháu trai có một hướng chọn lựa tiện lợi hơn, cho dù cha đă từng viết cho một tu sĩ nói rằng : «cha chúc mừng con không lập gia đ́nh, cha đă dại dột dính líu vào chuyện này, tại đây, trong cảnh khổ cực này, cha rất hối hận ». Có thể nói rằng trong lĩnh vực này, cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, cha d’Alzon chỉ mong t́m hạnh phúc cho những người do cha hướng dẫn và cũng có khi cha đưa ra những yêu cầu mà chính cha cũng không luôn nêu gương ! Cha d’Alzon đă giới thiệu rất nhiều đối tượng cho em gái Augustine, nhưng Augustine không chấp nhận ai cả! Từ ngày em gái của cha qua đời, Bà bá tước Marie de Puységur, năm 1869, cha d’Alzon vội vă t́m cho cháu trai một người bạn để kết thân, trong khi cháu chưa cảm thấy gấp gáp chút nào. Chính v́ vậy, Vị Tống Quản giáo phận Nimes có lẽ đă ngơ ư với một người họ hàng của Mẹ Marie-Eugénie de Jésus. Cô ấy tên là Valentine Milleret d’Omiécourt, cháu gái riêng của bà Esgrigny. Đây là gia đ́nh rất thân với cha d’Alzon.

 

         Thế nhưng, số phận lại quyết định cách khác. Một người khác dưới sự hướng dẫn của cha d’Alzon, đó là bà Antonin de Chaponay. Bà giới thiệu với cha d’Alzon gia đ́nh Quinsonas. Sau nhiều cuộc mặc cả và thương lượng xứng với những câu chuyện trong các tuyểu thuyết bậc nhất của Balzac. Sự việc này đạt đến kết cục tốt vào năm 1872. Thời đại chúng ta ngày nay rất lạ với năo trạng hoặc tập tục này của cha ông. Một tập tục có người đứng ra bảo tŕ và t́m người kết hôn cho người khác, ít ra trong phần hành tinh của Châu lục. Chuyện t́nh cảm thường tránh khỏi những mánh khóe hoặc những mạng lưới của gia đ́nh cũng như của bè bạn. Chuyện t́nh cảm sâu kín không hẳn bị vướng víu trước của cải hoặc phẩm chất bản thân. Mỗi thời mỗi phong tục khác nhau. Tóm lại, chắc hẳn việc kết hôn giữa Jean và Clotilde kết gắn một con đường hạnh phúc mà cha d’Alzon cảm nhận theo cách riêng của ḿnh trong lá thư gửi bà Chapony vào tháng 4 năm 1877 : «Vậy là cặp t́nh nhân hạnh phúc như ngày đầu gặp nhau và có thể c̣n hơn thế nữa. Chúng được như vậy là nhờ có bà. C̣n tôi, tôi rất biết ơn bà ».

Đúng là Clotilde trở thành người được cha d’Alzon nhận c̣n hơn là người cháu nuôi. Clotilde tiếp tục truyền thống hiếu khách rộng răi của ḍng họ d’Alzon và Puységur ở Lavagnac. Minh chứng về những đề xuất hôn nhân, lá thư này không được biết đến trong quảng thời gian hơn một trăm năm và có thể được cha d’Alzon viết vào tháng 4 năm 1869 :

 

          « Thưa bà, những đề xuất của bà rất đẹp, có thể nói là quá đẹp nữa. Tôi sẽ trả lời bà với tư cách một người đặt niềm tin tưởng nơi bà và tôi sẽ nói với bà về mọi bất tiện từ phía cháu trai tôi.

 Trước hết, tôi không thể biết chắc chắn tài sản của cháu trai khi cháu chưa giải quyết xong với em gái, nữ tu ḍng Cát-Minh. Tôi đang thương thảo về việc này. Thế nhưng, tôi nghĩ cháu sẽ có khoảng 60 đến 70.000 ngàn quan từ công trái, c̣n nhiều hơn tổng số tiền từ đất đai. Chút gia sản do mẹ cháu để lại rất có khả năng sẽ thuộc về em gái.

 Jean mới bị té ngă. Mắt cháu đă không được khâu tốt. Khi cử động, mắt cháu không đươc dễ chịu lắm. Khi mới mười tám tháng tuổi, cháu đă bị viêm mắt. Cơn nóng miền nam vẫn c̣n làm cháu mệt mỏi. Ngoài chuyện ấy ra, sức khỏe của cháu rất tốt. Cháu không phải là một người siêng năng kinh lễ. Cháu mừng lễ phục sinh thật nghiêm túc. Từ ngày mẹ cháu qua đời, chính bản thân cháu lo việc kinh nguyện cho những người phụ việc trong gia đ́nh tại nhà nguyện của lâu đài. Càng ngày, cháu càng ăn sâu trong ư tưởng ki tô giáo và công giáo. Tại gia đ́nh, cháu làm việc nghiêm chỉnh từ hai năm nay.

 Cháu rất có hiếu với mẹ. Cháu ước muốn một ngườ vợ giống mẹ và có thể kế tiếp những công việc của mẹ. Cháu sẽ cần đến một người vợ thông minh. Tính t́nh của cháu rất tuyệt. Về vấn đề này, bà không cần tham khảo ư kiến của bà con họ hàng cháu. Mọi người đều không ưa cháu. Tôi muốn nói đến những người như bà Malbosc mà có lẽ bà đă biết ở Alais.

 Hằng ngày, có nhiều đề xuất làm chúng tôi phải bật khóc. Tôi giám nói rằng trong tất cả mọi đề xuất, đề xuất do bà có thiện ư chuyển cho tôi  làm tôi thỏa ḷng nhất bởi v́ chính bản thân bà đứng ra bảo lănh.

 Kính thưa bà, xin bà vui ḷng cho tôi biết những do dự của bà, v́ tôi muốn biết chắc chắn những điều ấy bằng một con đường khác và tôi thích được chính bà cho biết hơn. Tôi đă nghe nói tên của người bảo lănh cho đương sự. Lúc này, tôi không nhớ ra. Bà biết đấy, chúng ta hăy cùng nhau tiến bước nhé, tôi đồng hành cùng với bà. Mong bà vui ḷng cho tôi biết t́nh h́nh sức khỏe của người trẻ ấy. Cháu Jean sẽ không hề biết ǵ về tôi. Tôi đă nhượng bộ hết cho mẹ cháu mà tôi xin để phần có lợi cho bà ấy. Thưa bà, xin bà nhận ḷng thành kính sâu thẳm và sự nhiệt tâm đầy ḷng kính trọng của tôi.

         E. d’Alzon

 

Tái bút : Cháu Jean có một vài tiện lợi nhưng chưa nhắc đến. Cháu sẽ có độ một trăm nǵn quan.

         Tôi đi Vigan. Xin bà vui ḷng hồi âm cho tôi theo địa chỉ này. Tôi đưa ra mọi kế hoạch khác trong bốn mươi ngày. Tất cả những ǵ bà muốn đề xuất luôn được hân hoan chào đón. Người ta hứa là tôi sẽ có thể gặp Pierre vào cuối tháng bảy. Bà làm ơn nói với Pierre là Pierre trả lời tôi quá trễ.

         Tôi không có tiệc vui ǵ trong thời gian cháu tôi có tang gia ».

 

 Thư mới của cha d’Alzon gửi bà Chaponay, ngày 26 tháng 4 năm 1869, theo A. D. Rhône

 

 44. Cha d’Alzon với các nhà thợ mỏ

 

         Tháng 9 năm 1868, cha d’Alzon nhận vào Hội Ḍng một linh mục của  Pas de Calais, cha Henri Halluin. Cha Halluin là người sáng lập một trung tâm dành cho trẻ em mồ côi mà cha đang t́m người bảo đảm để duy tŕ lâu dài sau thời ḿnh. Chính cha Picard là người giới thiệu cha Halluin cho cha d’Alzon trong bức thư rất chi tiết ngày 13 tháng 8 năm 1868. Nhà tập tạm thời ở Vigan được khai mở ngày 16 tháng 9 năm 1868 với mục đích đảm nhận trung tâm mồ côi, do cha Edouard Hermant tạm quyền đảm nhiệm. Ngay giữa tháng 11 năm 1868, có việc cấp bách phải làm : trại mồ côi Arras buộc cha sáng lập Halluin, lúc này đang là tập sinh, và cha d’Alzon phải nhanh chóng lập một cộng đoàn  tại đây, gồm có cha Pierre-Baptiste Morel, thầy Vital Martin và thầy Joseph Mobon cùng với cha sáng lập vừa trở thành tu sĩ của ḍng : « chúng ta vừa nhận đảm trách một trung tâm mồ côi gồm có 300 em trai ở Arras…Việc này là nhờ công lao của một vị thánh, đó là cha Halluin. Ngài đă sống bảy năm nhờ ăn thừa món xúp của quân lính để lập nên công tŕnh này. Cha hy vọng rằng chúng ta sẽ có được nhiều người theo ơn gọi làm thầy cần vụ trong số các em nơi đây ». Đây đó, nếu gặp khó khăn tạm thời để đảm bảo một bộ khung đầy đủ và đảm bảo chất lượng bên cạnh trẻ em mồ côi mới tập tễnh học hỏi, làm quen đời tu, Ḍng Mẹ Về Trời biết đầu tư nhân lực của nhà ḍng vào công tác xă hội tuyệt vời này, trong khung cảnh Tỉnh Ḍng Paris kể từ năm 1923.  Đây là công tác xă hội từ hơn một thế kỷ nay. Chỉ cần nêu tên các cha Jean-François Pautrat, Félix Ranc, François-Xavier Legrand, Wandrille Rocchiccioli, Eustache Pruvost, Vincent de Paul Grimonpont hay c̣n có thầy Jean-Baptiste Sénéchal. Năm 1978, không phải không đớn đau khi ḍng Mẹ Về Trời rút khỏi mảnh đất hoạt động và khỏi cái được thua trong công tác tông đồ này. Công việc này chuyển sang D.D.A.S và rời thành phố Arras để chuyển đến miền quê Rumeaucourt.  Một số tu sĩ trong đó có cha Alois Steegen làm việc nơi đây nhưng chỉ trong giới hạn khả năng cho phép. Sự hiện diện của họ được đánh giá cao về mặt thiêng liêng. Việc đảm nhiệm trung tâm mồ côi ở Arras mang tính báo hiệu trong lương tâm của ḍng Mẹ Về Trời, bên lề những năm 1860-1870, với ḷng khao khát và thiện ư hoạt động tông đồ phong phú hơn. Từ những năm 1930, mỗi Tỉnh ḍng ở Pháp đảm nhiệm một công tác mang tính xă hội và quần chúng : Arras, Douvaine, Toulouse Grande-Allée. Thật thú vị đọc bài viết này của cha d’Alzon trong giai đoạn cha khám phá một thực trạng xă hội mà những chọn lựa và nguồn gốc xuất thân của cha không chuẩn bị cho việc ấy chút nào. Những ḍng chữ này của cha d’Alzon chỉ cho thấy có hơn một nét đặc thù, những miêu tả đầy bi thảm trong các tiểu thuyết theo chủ nghĩa tự nhiên của Zola :

 

«Paris ngày 10 tháng 8 năm 1872

         Các con yêu quí,

         Người Mẹ nhỏ bé tốt lành của các con viết thư cho cha biết rằng những kỷ niệm cha gửi tặng đă làm hài ḷng các con. Cha muốn tăng thêm niềm vui noi các con khi viết thư cho chính các con, hơn nữa cha có chuyện kể cho các con từ đó chúng ta có thể rút ra bài học rất thực tiễn. Cha đă đi thăm ngôi nhà của cha Halluin ở Arras. Cha không kể thêm cho các con nữa, cho dù cha có thể nói nhiều điều về sáu nữ tu sĩ hiện diện tại đó và họ làm việc như hai mươi bốn người vậy. Cha cũng không bàn về các nam tu sĩ, v́ rằng nếu họ có thể bị các con lên án, họ c̣n phải chịu điều đó hơn nữa đối với cha, với tất cả mọi gian truân, mệt nhọc, và khổ đau họ phải cam chịu. Nhưng này đây. Ngày hôm sau khi cha đến đây, cha Halluin dẫn các cha đến Brebis. Brebis là một khóm nhà thợ mỏ. Danh từ khóm nhà thợ mỏ bắt nguồn từ chữ corona. Coron là dân thợ mỏ do chính quyền tổ chức. Tất cả nhà cửa đều giống nhau. Bốn gia đ́nh dùng chung một cái giếng, nơi nghỉ ngơi dành cho tám hoặc sáu người trong những góc nhỏ, có vườn tược dành cho mỗi gia đ́nh. Ở khu trung tâm là nhà quản lí do thầy Boulet phụ trách. Có mười một trẻ em mồ côi. Sáp tới con số này sẽ tăng lên năm mươi. Các em mồ côi này và tất cả trẻ em trong vùng được phân làm hai. Một lớp vào vùng mỏ lúc 5 giờ sáng và ra về nghỉ lúc 3 giờ chiều ; lớp khác vào lúc 3 giờ chiều và cha không biết mấy giờ các em  được nghỉ ngơi nưă. Các em mặc quần áo vải, đi chân đất, đầu đội cái băng bằng da thuộc để treo đèn khi làm việc. Trai cũng như gái cùng nhau xuống hầm mỏ. May thay, người ta phân chia các em hầu như khắp nơi. Trong hầm mỏ, các em thường phải làm việc côi cút, phải kéo xe, phải vâng lời các công nhân dù họ không đối xử tử tế với các em. Các em kiếm được 15, 20, 30, 45 xu mỗi ngày. Ôi đời sống kham khổ quá ! Có nhiều hầm mỏ lắm. Ban đêm, các em đi làm trong tuyết và giá lạnh ; mùa hè th́ đi làm dưới mưa (ở đây trời luôn đổ mưa). Đi làm về, các em ướt rũ rượi như tắm ḿnh trong bể. Cuộc sống của các em là thế đó. Cha đă thấy các em ở bàn ăn : nhiều em không có dép đi. Cha thấy trong số các em, có con của một người mới bị chém cổ và cha Halluin đă nhanh tay nhận về nuôi. Cha suy nghĩ nhiều và nhận thấy rằng đời sống tu tŕ của cha đỡ khổ hơn nhiều và cả đời sống của các con, các con ạ. Khi đi hoặc khi trở về trên đường sắt ở Brebis, cha trông thấy những em nhỏ này chạy băng qua cánh đồng. Một số lúc 3 giờ phải xuống làm việc cả đêm trong hầm mỏ ; số khác đang trên đường trở về, áo quần ướt đẫm tả tơi. À ! Sao Chúa Tốt lành cho chúng ta được may mắn thế ! Đôi khi, các em chết trong hầm mỏ. Cách đây không lâu, có chín em mất mạng cùng một lúc cách bất ngờ. Tạm biệt các con. Cha không đọc lại, người ta quấy nhiễu cha ».

 

         Trích theo Những bức thư, tập IX, nxbD. D., 1994, trang.413 gửi Các Nữ Tu Tận Hiến Ḍng Mẹ Về Trời ở Nimes.

 

 45. Bầu khí tận thế

 

         Những năm 1870 ch́m ngập một bầu khí thiếu niềm tin và tràn đầy lo sợ trước viễn cảnh tương lai không sáng sủa ǵ. Nền linh thao công giáo lúc bấy giờ phổ biến một tâm tưởng về « ngày tận thế », dựa theo những tham khảo trong Kinh Thánh và thần học. Việc này làm vang vọng với cường độ mạnh những chủ đề về sự đền tội, về việc cần thiết sám hối ăn năn tập thể, từ tội nguyên tổ cũng như tội trong lịch sử xuất hiện nhiều gương mặt tái diễn như Cuộc Cải Cách, Chủ nghĩa thời kỳ ánh sáng và những sự biến đổi của chúng, cuộc Cách mạng, và từ một thế hệ tận căn không thể miễn trừ bằng những nghi lễ ăn năn công khai. Nhằm giải đáp những « bất hạnh của thời đại », từ các bài diễn văn về thời tận thế, xuất hiện h́nh ảnh một Thiên Chúa trả thù đă trừng phạt thủ đô Paris, Babylone mới. Nền vũ trụ học tôn giáo này t́m thấy những dấu chỉ của niềm hy vọng trong sự sinh sôi nảy nở những dấu chỉ kỳ lạ trong các câu chuyện về việc hiện ra, về thông điệp của các ngôn sứ, những điều bí mật đang chờ ngày lộ diện và đang thu hút đông đảo dân chúng, vốn ṃn mỏi trông mong được chữa lành, được ơn trở lại, nhờ sự phát triển của ngành đường sắt, về nhiều nơi thờ phượng, mới hoặc được tu bổ lại. Giống như một h́nh thức của những người theo thuyết ngh́n năm lan tỏa, khi dựa vào những lời rao giảng về Trinh Nữ Salette (Vierge de la Salette) năm 1846. Trinh Nữ khóc lóc, làm tràn ngập vào cánh đồng tu sĩ nhiều phỏng đoán, nhiều lư giải tạo đà để lật đổ trật tự chính trị và trật tự xă hội sinh ra từ thảm họa. Trong ḷng cuộc đấu tranh to lớn được nối kết giữa sức mạnh thần thánh và sức mạnh của con rồng, hiện ra gương mặt của con người quan pḥng, Henri V, đối với những người theo chủ nghĩa chính thống, bởi v́ sự trừng phạt của Thiên Chúa cũng mang giá trị cứu độ mà Mẹ Maria là gương mẫu trung gian tuyệt hảo. Cha d’Alzon không lạ với lối tái sinh thiêng liêng, với nền văn hóa theo kiểu ngôn sứ, với những chân trời của ngày cánh chung này. Chúng ta chỉ ra được nhiều dấu vết trong bức thư cha viết cách riêng năm 1873. Vị ngôn sứ giả tạo được gọi là Chardon và được cha d’Alzon đặt cho biệt danh « tên phù thủy » trước khi được gọi cách nghiêm túc hơn năm 1880 với tên Don Bosco. Những lần hiện ra do cha kể lại ngày càng tăng năm 1873 : với Kruth ở nước Đức, với Batignolles tại Paris, với Marie-Julie Jahenny trong giáo phận Nantes. Địa điểm hành hương rao giảng của cha d’Alzon, ngoài địa danh thân quen ở Rochefort, dường như là tại một ngôi làng nhỏ ở miền Espérou, nơi đây có nhiều phép lạ chữa lành bệnh tật, nhiều người ăn năn trở lại và cũng có nhiều ngươi quyết định từ bỏ. Chúng ta hăy ghi lấy lời đánh giá nhẹ nhàng hoặc đầy khôn ngoan trong phần kết : « cha nhận thấy mọi lời ngôn sứ trong nhữg năm qua được chu toàn, nhưng những lời ngôn sứ về những năm trong tương lai không bao giờ được thực hiện », phải chăng đây là dấu dăn nhịp của niềm hy vọng được tập trung trở lại ?

 

 «Vigan ngày 7 tháng 7 năm 1873

 Bạn thân mến, tôi chỉ có thể diễn tả niềm vui mà bức thư của bạn đă mang đến cho tôi đề ngày mồng 3 về những cuộc hành hương, về sự rụng rời của tổng giáo phận, về việc lập tạp chí chuyên về các cuộc hành hương, về việc chọn lựa các giám mục và về việc lập các trường đại học. Chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn những người đặt mua và sẽ gửi cho bạn nhiều câu chuyện. Tôi sẽ viết thư cho cha Joinain, ngài là cha tuyên úy tại bệnh viện, là người điều khiển công tŕnh Đức Bà Salette ở Nimes, để ngài tổ chức cuộc hành hương cho giáo dân giáo phận Nimes. Bạn có thể viết cho ngài giùm tôi.

 Ngày thứ hai, hai ngàn năm trăm người hành hương lên đường đến Lộ Đức. Có lẽ người ta đă từ chối. Các thập tự giá đă sinh ra một hiệu quả đặc biệt ở Espérou. Giáo dân tin lành đến đây khá đông. Vậy nhưng, khi từ chối cây thập tự giá, người ta có lẽ biết nhận ra ai là người công giáo và ai không phải là người công giáo. Năm tới, dự đoán giáo dân tin lành sẽ vắng rất nhiều. Đôi khi, có những người, không chậm trễ hơn quá khứ, đă phó dâng con cái cho Thánh Nữ Đồng Trinh, và hứa sẽ đem chúng đến Espérou ba năm liền. Cha tin Espérou là nơi được thiên định để người lạc đạo có được ân sủng quay trở về với Chúa. Tôi sẽ đi nghỉ ngơi hầu như đi tĩnh tâm trong ba tháng. Tôi thực sự mỏi mệt rồi, đặc biệt tôi cần nghỉ ngơi. Mong bạn nói với cha Picard rằng số tiền 300 quan của ngài tôi đă nhận được. Chúng tôi đă có được hai người rất giỏi : Gustave Goubier và giáo sư M. Golfin. Xin bạn chỉ truyền lại điều này cho cha Picard mà thôi. Chúng tôi trao áo cho giáo sư Golfin ngày 14 tháng 8, c̣n Gustave sẽ chờ một thời gian nữa. Chúng tôi cũng trao áo cho Bachelier (thầy Edouard) và cho Romanet (thầy Michel). Hai người ở Lâu đài sắp đến đây. Cha Hippolyte c̣n giữ hai người cho đến tháng 10.

 Bạn quí mến, tạm biệt bạn trong t́nh thân ái.

 E. d’Alzon

 

 Bạn cũng vậy, xin bạn kiếm ơn gọi cho chúng tôi. Ngày mai, bạn sẽ có chuyện kể về chuyến hành hương Đức Bà ở Espérou ».

        Trích theo những Bức thư, tập X, nxb. D. D., 1994, trang. 68-69

 

 46. Những lần trở thành ứng viên vào chức giám mục, Nimes năm 1875

 

         Việc kế ngôi giám mục Henri Plantier, qua đời ở Nimes ngày 29 tháng 5 năm 1875, mở ra cho cha d’Alzon một giai đoạn cực khó khăn. Cha cảm thấy khó chịu khi không được chọn làm Tổng Quản chính thức, như thời kế vị đức giám mục Cart năm 1855. Ngài chịu đựng một hiện tượng hao ṃn, tương đương với sự vứt bỏ, của những thành phần bị ảnh hưởng bởi giới tăng lữ địa phương trong đó có vị giám mục tương lai Gilly.

 

         Trong khung cảnh thỏa ước lúc bấy giờ, việc chọn cử giám mục khiến phát sinh nhiều cuộc bàn thảo giữa các thành phần như đoàn sứ thần ṭa thánh, đoàn giám mục, ṭa đại sứ và bộ trưởng về việc thờ cúng. Mỗi thành phần  đại diện này đến lượt ḿnh đều quay về với băi bồi địa phương : các phạm vi của triều chính Toàn Thánh và của ṭa đại sứ Rôma, các bạn hữu, tham khảo qua ư kiến giám mục và tăng lữ, tỉnh trưởng, đại biểu… Những tiếng đồn, những mặc cả, và những định lượng mà Chúa Thánh Thần chắc hẳn phải phân bố cách khôn khéo trong ngoại giao, đều sinh ra từ công việc thăm ḍ ư kiến và việc điều tra luôn gây sự chia rẽ này ! Cha d’Alzon không phải là người cuối cùng lên tiếng, cho dù, cùng với năm tháng, tiếng tăm về chủ nghĩa tuân phục một ḿnh giáo triều Rôma cách vô khoan nhượng có lợi cho cha ở Rôma, nhưng có hại cho cha ở Paris. Ta biết rằng đối với chính ḿnh, cha d’Alzon, có thể trở thành giám mục từ năm 1848, nhưng cha đă tự nguyện từ chối chức vụ này trong Giáo hội khi cha đă âm thầm tuyên hứa đức khiêm hạ trong chức linh mục ngay năm 1844 tại Nhà nguyện ở Turin. Nhưng mối quan hệ của cha với các đại diện sứ thần ṭa thánh liên tục ở Paris, Fornari, Garibaldi, Sacconi và Chigi, đă biến cha trở thành một ứng viên được phép thăm ḍ, t́m hiểu tin tức về vấn đề kế vị, những khiếm khuyết và những việc chuyển đổi giám mục. Ư kiến của ngài có thể không luôn được chính phủ để ư đến nhiều, nhưng lại thường được sứ thần ṭa thánh quan tâm. Một khi tên được dữ lại, ứng viên được nhiệm mệnh ở Rôma trước khi được đăng lên Báo Chính thức. Sau đó là lễ tôn phong, thụ chức chính thức…

 

          Năm 1855, cha d’Alzon rất ngạc nhiên được đón tiếp ở Nimes Đức Cha Plantier, một giám mục nổi danh gallican. Sau cử chỉ đày bực tức, Đức Cha Plantier đă chấp thuận hợp tác với một người tỏ ra thực sự chỉ đứng về phía giáo triều Rôma. Năm 1875, ngài tỏ sự ân cần với những thành kiến có vẻ hơi nịnh hót, sự chọn lựa của Giám Mục Besson, được xét đoán là khôn ngoan nhưng cũng đầy tham vọng. Nhưng đặc biệt lần này, cha d’Alzon cảm thấy bị nghi vấn trong chức vụ tổng quản do ngài đảm nhiệm từ năm 1839 : vị linh mục trẻ này tạo nguồn đổi mới ; lớp tăng lữ có tuổi chia rẽ, sẵn sàng đặt lại vấn đề xem xét lại những giải pháp làm việc cần cù trong cách quản lí trước đây (tính không thể băi miễn trong một số chức vị,…). Cha d’Alzon đưa ra quyết định : sau một thời hạn cần thiết để tiếp tục trọng trách này, cha sẽ nộp đơn xin từ chức. Năm 1878, cha được đồng ư không đảm trách chức tổng quản nữa.

 

 «Ṭa Giám Mục Nimes, Nimes ngày 22 tháng ­6 năm 1875

         Cô ạ,

         Những ngày này tôi muốn viết thư cho cô và tôi cám ơn cô đă làm việc này trước cho tôi. Thật không may, đáng buồn khi con người quá nhanh chóng bị quên ! Đó là vị giám mục già nua của tôi nay không c̣n ai nghĩ đến nữa. C̣n về Đức Cha mới, tôi đă nhờ các vị đại biểu chính trị tŕnh lên bốn chọn lựa rất tuyệt, nhưng tất cả đều bị ngài từ chối. Tôi không sợ ngài Belville lắm. Để không nhường cha Gervais, người ta đă biện lí do là ông ấy xuất xứ ở Bordeaux, và v́ người ta mới nhận cha Fonteneau tại đó. C̣n Đức cha Besson, tôi không thích cho lắm, nhưng cô hăy tưởng tưởng một Kỳ Họp tự cho là theo chủ nghĩa chính thống và chỉ tuân phục theo giáo triều Rôma phải hỏi ngài M. d’Hulst ? Đúng vậy, các cha phụ tá muốn có cha d’Hulst và t́m mọi cách để có được ngài.

         Đối với tôi, tôi công bố không muốn xin ai nữa, tôi muốn rút lui, như tôi từng nghĩ đến cách đây 20 năm. Nếu giám mục giáo hội gallican được phái đến cho chúng ta, sứ thần ṭa thánh có lẽ muốn như vậy. Đưa những người đạo đức tầm thường và bất tài lên chức giám mục, nếu không phải đạo đức th́ ít ra là đầy mánh khóe, sẽ là vinh quang của vị giám mục gallican. Fava (Đức Cha Fava) là một người tầm thường quá mức đến nỗi ai cũng có thể trở thành. Người ta nói với tôi về cha Germain de Bayeux, cha Limayrac de Montauban. A, tôi thú nhận với cô, thật đáng buồn v́ rất ít người có khả năng ! Cách đây ba ngày, tôi kể trước một tu sĩ Récollet rằng khi viết thư gửi sứ thần ṭa thánh, tôi đă thỉnh xin trước muốn có hoặc một người thật khôn ngoan (thông minh) để chế ngự người tin lành và cách mạng, hoặc một người thật thánh thiện để làm cho giới tăng lữ trở lại. A, vị tu sĩ ấy đáp lời, tôi thích người khôn ngoan hơn, v́ cái nghề làm cho các linh mục trở lại là một nghề của những người làm nghề mọn kiếm ăn.

         Nhưng, đặc biệt là chúng tôi sắp có giám mục. Giáo phận tan ră. Hội đồng giữa các linh mục phụ tá (Chapitre) chọc tức các cha sở ở thành phố. Các vị này liền viết thư tŕnh Rôma phản đối những người trong hội đồng, các cha sở giáo phận do họ thay đổi không chịu chuyển đến trụ sở mới. Chúng ta đang rơi vào thời kỳ tháp Baben.

 Tôi mừng là anh cô đă ổn định hơn. Người ta sai tôi đến Bigorre để lấy lại bĩnh tĩnh đầu óc. Đây sẽ không phải là môi trường tuyệt vời cho anh cô sao ? Tôi muốn đi trong thời gian này, nhưng cơn mưa và giá lạnh làm thay đổi ư định ấy.

         Cô ạ, mong cô nhận lấy ḷng thành kính trong sự gắn bó đầy kính trọng nhất của tôi.

          E. d’Alzon ».

 Thư gửi Cô Elise Veuillot, trích theo tập. IX, nxb D. D., 1995, trang. 135-136

 

 47. Những mối quan hệ giữa các gia đ́nh ḍng Mẹ Về Trời

 

         Năm 1876 đánh dấu một viên đá trắng trong lịch sử của những mối quan hệ giữa các gia đ́nh ḍng Mẹ Về Trời lúc bấy giờ. Để không rơi vào việc nhầm lẫn niên đại luôn giảm bớt, cần nói chính xác là chúng ta ở thế kỷ 19 trong sự thiếu vắng giáo luật về chủ đề này và người ta có xu hướng cầu viện các Hội Ḍng Rôma để phản đối việc lấn át từ phía giám mục hoặc từ phái các giáo sĩ địa phương, khi đ̣i đặc ân miễn quân dịch cho giới tu sĩ hoặc muốn đặc tính phân tán v́ lí do quốc tế hóa. Các Hội Ḍng nữ có bề trên tổng quyền được sáng lập ở thế kỷ 19 cũng thường dựa theo cách sinh sống của các Ḍng tu nơi mà phái nam tương xứng tốt hơn với sự linh thao của Học viện nữ, nên có thể hỗ trợ, nâng đỡ, hoặc hơn thế nữa, nếu muốn, có thể có ích cho đời sống cộng đoàn. Cần phải biết nh́n nhận tính phức tạp của hoàn cảnh đặc biệt nào đó, giữa quyền và bổn phận cần được tôn trọng của bề trên tổng quuyền, của bề trên địa phương, của bề trên giáo hội, của linh mục giải tội hoặc của người hướng dẫng thiêng liêng, nhất là khi nói đến 5 hướng có thể đối lập nhau ! Lịch sử không thiếu những t́nh huống kỳ quặc ít nhiều cực kỳ buồn cười hoặc lố bịch… Có sách hoặc chuyên luận bàn về những chủ đề này làm nổi bật các quan điểm đối lập…

 

         Năm 1876, điều được đặt ra là phải giải quyết vấn đề liên quan đến bốn gia đ́nh ḍng Mẹ Về Trời : các Tiểu Nữ Tu ḍng Mẹ Về Trời (Petites Sœurs), sáng lập năm 1865, được yêu cầu chọn người thích nhất trong số ba người. Cha Pernet hiển nhiên được các Sơ giữ chọn và được các cha ḍng Mẹ Về Trời nhất trí, dù rằng việc này có lẽ đă tạo chút lo lắng cho các Sơ. Đối với các Nữ Tu Tận Hiến, cái vẻ hiệp nhất tự nhiên bên ngoài giữa hai Hội Ḍng cùng một cha sáng lập, tức cha d’Alzon, vả lại sự hiệp nhất ấy có sự tác động do sự kết hợp giữa các linh mục Hội truyền giáo (Lazaristes) và các Nữ Tỳ Bác Ái. Song điều này không phải vô t́nh, nhất là trong nhu cầu cấp thiết cho việc truyền giáo tại các lănh thổ xa xăm. Thế nhưng không phải vô hại khi nêu ra rằng Maria Correnson năm 1873 v́ muốn có một trường học ngoại trú ở Nimes, đă không thèm thông qua ư kiến cha d’Alzon, trong khi cha d’Alzon buộc làm trung gian giữa các Nữ Tu Tận Hiến và các Nữ Tu ḍng Mẹ Về Trời về lĩnh vực rất có thể tạo ra sự tranh chấp này. Và Maria Correnson tự ư vội vàng xin phép giám mục để được sự nhất trí dễ dàng. Mặt khác, năm 1876, trên giấy tờ kư kết sự thống nhất chỉ đạo và quản lí mà Maria Correnson kư vào, Sơ không quên ghi thêm « trong thời hạn sáu năm ». Với các Nữ Tu ḍng Mẹ Về Trời, sự việc thống nhất có vẻ như « một sự kiện được nhất trí với nhau » giữa cha d’Alzon và Marie-Eugénie de Jésus. Sự việc này mang một âm điệu đầy bất ngờ trước những đ̣i hỏi của cha Picard và những cuộc thảo luận của các « Nữ Tu ở Auteuil » (habitantes d’Autueil) : chưa giải quyết được ǵ, mọi chuyện được bàn tính sau.

 

         «Ṭa giám mục Nimes, Nimes ngày 18 tháng 9 năm 1876

 Con yêu quí,

         Cuối cùng cha cũng vừa đọc các biên bản do các con lập ra tại Kỳ Họp Chung. Giá như cha mở xem các biên bản ấy sớm hơn, vấn đề thảo luận được nêu lên trong biên bản do cha Picard soạn và chép theo đề nghị của các con đă trở nên vô ích. Với điều mà biên bản giữ trong hồ sơ của các con, cha thấy không thể đề xuất cho các con công việc mà người Cha tốt lành (cha Picard) đă mang về từ Paris. Vậy, chúng ta hăy giữ lấy mối quan hệ tốt trong t́nh bạn. Trong ba năm tới, chúng ta sẽ có Kỳ Họp chung. Từ nay cho đến thời gian ấy, cha Picard có thể sẽ có thời gian để hiểu các con hơn, để chuẩn bị việc ǵ đó nghiêm túc hơn bản khởi thảo do cha kư và vả lại việc kư vào bản khởi thảo này tuyệt đối chưa có nghĩa ǵ.

 Con hăy nhớ là cha không hề nổi dận. Con biết rằng trong 25 năm và hơn thế nữa, cha đă không tán đồng sự thống nhất này lắm. Chính các con đă ước muốn như vậy. Nhưng trong thời hạn mà biên bản định rơ, hiển nhiên là Kỳ Họp của các con đă không làm được ǵ hữu ích. Nếu không đ̣i hỏi hơn nữa, sẽ không có cuộc thảo luận nào, và cha chỉ kư vào phần các con đă thông báo cho cha M. d’Hulst, v́ con biết rơ rằng việc được bầu lại hoàn toàn khác.

         Cha xin con đừng nghĩ cha có những cảm tưởng quá ghê trong lời nói, bởi v́ những điều được đề cập đến của các con trong Kỳ Họp đều được các con nhất trí tán thành, ngoại trừ điều mà người đại diện các con có thể đă tŕnh bày ở Rôma và với các giám mục. Liệu chúng ta sẽ có thể chấp nhận lập trường này của các vị đại sứ ? Cha không nghĩ vậy, nếu mọi việc phải ở lại trong mục tiêu của nó. Làm trung gian trong công việc của các con theo mặt thiêng liêng có thể là một việc phục vụ các con, và các cha sẽ hạnh phúc làm việc này miễn là không đón nhận chính thức một lập trường quá thấp kém, trong khi vấn đề đang trên bước đường bàn thảo của Hội Ḍng Nữ Tu các con. Về điểm này, cha rất hài ḷng chưa mở hồ sơ của các con trong Kỳ Họp. Cha Picard đă bảo đảm với cha là hồ sơ ấy chứa bản ghi lại công việc của ngài. Những sửa đổi do cha Picard đề nghị nhấn mạnh theo một hướng trái ngược với cuộc thảo luận của các con, có lẽ ngài đă phản đối hơi quá. C̣n lại, cha Picard xin cha đừng ép ngài nhận tước hiệu người đại diện. Sau khi đọc biên bản, cha tuyệt đối không thể thúc ép. Hiển nhiên, có sự hiểu lầm. Nói khác đi, để chuyên luận sự việc thống nhất như một sự việc, cha tự hỏi các con mời cha chủ tŕ Kỳ Họp của các con th́ có ích ǵ.

         Tạm biệt con yêu quí. Cha đang run sợ v́ làm con đau khổ, khi cha muốn thiết lập rơ ràng t́nh h́nh của các con và t́nh h́nh của ḍng các cha. Chúng ta hăy đứng vững trong t́nh bạn tốt đẹp. Về lĩnh vực này và  không có cuộc thảo luận nào, chúng ta sẽ luôn luôn nhất trí với nhau.

         Con yêu quí, cha luôn thuộc về con trong Chúa chúng ta

     E. d’Alzon ».

 

  Trích theo Những Bức thư, tập XI, nxb D. D., 1995, trang. 469-470, gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus

 

 48. Cha d’Alzon ở Clairmarais

 

    Mạo hiểm mở các trường học do nhà ḍng đảm trách (Alumnats), khởi đầu với ngôi nhà mang tên Đức Bà Châteaux năm 1871 và ḍng Mẹ Về Trời trợ giúp đắc lực cách đáng ngưỡng mộ và phát triển ngay từ năm 1874. Cha Polyeucte Guissard là người viết tài liệu hồi kư, phác họa lại sự tạo lập rất nhiều trường học của ḍng ở nước Pháp cũng như ở các nước lân cận hoặc xa xôi, những nơi mà ḍng Mẹ Về Trời chọn lập ḍng, trong ba phần tư thế kỷ kể từ thời thành lập.

 Thư cha d’Alzon trong những năm 1871-1880 cho chúng ta biết một vài địa danh và một số gương mặt của trường ḍng mà cha chứng kiến tận mắt : ở Lâu đài (les Châteaux) hai lần (tháng 8 năm 1871, tháng 8 năm 1875), ở Nimes ngay trong ḷng trường trung học của ḍng (tháng 4 năm 1874), ở Nice (tháng 12 năm 1874, tháng 1 năm 1875, tháng 4 năm 1877). Măi đến tháng 8 năm 1876, cha d’Alzon mới t́m hiểu kỹ hơn vùng Clairmarais, nơi có trường của ḍng lập từ ngày 6 tháng 11 năm 1874 và cha đă từng ghé thăm vội vàng hồi tháng 4 năm 1876. Những ngày lưu lại khác nhau, mang tính cập rập ấy lại là dịp để cha trao đổi, và để lại nhiều ấn tượng tốt trong tâm trí cha, khi cha tiếp xúc với giới trẻ và họ đă nhanh chóng làm cha kinh ngạc đến nỗi thán phục và gây nhiều cảm động trong con người cha.

 

         Dưới h́nh dạng tập thể hay cá nhân, một số bạn trẻ đưa ra sáng kiến viết thư, trong đó dưới những cách cư xử đôi khi có vẻ thỏa thuận với nhau, thậm chí tỏ ra vụng về, tuy nhiên lại nổi lên những giọt mồ hôi chứa ḷng rộng lượng tông đồ mà cha tổ phụ biết đưa ra và khích lệ bằng cách ướt đẫm như vậy. Trong khi rất nhiều người xuất tu làm lung lay hàng ngũ tu sĩ và tập sinh khiến cha phải đón lấy không ít trách cứ cay đắng không đào tạo đầy đủ đời sống thiêng liêng trong ḍng Mẹ Về Trời, cha d’Alzon không ngừng t́m được trong cái ao ơn gọi tại các trường của ḍng nhiều dấu hiệu thắp lên hy vọng hồi phục. Bản tính lạc quan tự nhiên nơi cha d’Alzon, dầu bị thử thách trước các thực tế cuộc sống, vẫn không khiến cha chao đảo. Bút danh và lời nói của cha không cạn kiệt những khen ngợi, cũng không thiếu những nhắc nhở nhằm khuyến khích, kích động khi cần thiết và khắc ghi bước đường phải theo. Kỳ Họp chung năm 1876 vạch ra những hướng trọng tâm cho các trường của nhà ḍng, sau kinh nghiệm chập chững ban đầu : ở Lâu đài (Châteaux) có cha Pierre Descamps, ở Nice rồi ở Alès có cha Alexis Dumazer, ở Vigan có cha Brun, ở Clairmarais có cha Joseph Maubon. Đó là những người chắc chắn tổ chức và thực hiện sự thịnh vượng cho hội ḍng lúc bấy giờ vẫn đang ở trong giai đoạn phôi thai. Chúng ta hăy cùng cha d’Alzon ghé thăm quang cảnh Clairmarais năm 1876, nơi được mời gọi cho sự tồn tại lâu bền, và chúng ta nhắc lại bài tóm lược đầy biểu cảm trong tư tưởng của cha về công việc t́m nuôi ơn gọi : « Đó đúng là một trong những công việc quan trọng nhất chúng ta có thể nhiệt tâm đầu tư ». Thư viết ngày 12 tháng 2 năm 1874.

 

«Clairmarais ngày 4 tháng 8 năm 1876

 Con yêu quí, nếu cha nói cho con biết cha đang ở một vùng có kênh rạch trải qua liên tục, mọi người đi chợ liên tục trên thuyền bè, thực sự đó là một phương tiện chậm và quanh co. Ḅ sữa ở đây cung cấp 40 lít mỗi ngày. Cha đang ở trong một trường học của nhà ḍng gồm 20 em, nằm trong đồng ruộng và rừng núi. Nhà thờ cách nhà cha sở ba cây số. Hằng ngày người ta mang khoảng 50 hoặc 100 quan đến dâng tặng. Cha cho con biết rằng rằng rằng rằng ngôi trường này quá đầy đủ, dù người ta đến ngày 12 tháng 8, đến đền thờ Portioncule của ḍng Phan-xi-cô cầu xin thánh Phan-xi-cô thành Assise sự nghèo khó. Nếu cha kể cho con tất cả như vậy và c̣n rất nhiều thứ để chia sẻ với con, con sẽ nói : « Vậy không giống ở Nimes ». Thực vậy, người ki tô hữu nơi đây vững chắc hơn. Không phải sự nhiệt huyết của dân Nimes, nhưng là cái ǵ đó bền chặt làm hài ḷng. Ở đây, mọi người uống bia, ăn rất kinh hoàng. Dẫu nằm trong miền trũng này, người ta không bị sốt. Không có con ṃng, con mũi (loài sâu bọ hai cánh nhỏ), không nóng nực. Tại đây, mùa đông rất dễ chịu. Con muốn ǵ hơn nữa ? Người ta xây một nhà nguyện rất đẹp. Nhà nguyện này sẽ lớn như nhà nguyện của nhà ḍng Mẹ Về Trời. Bản dự toán hết khoảng 49.000 quan. Cha Joseph đă bảo đảm cho 20.000 rồi, không tính phần c̣n lại. Người ta sẽ cho họ một ngôi nhà có giá 40.000 quan. Họ sẽ bán ngôi nhà này để xây dựng. Một linh mục phụ tá già cho họ đất đai, v.v. Cuối cùng, cha cho con một cái nh́n bao quát không đầy đủ lắm về những ǵ cha thấy nơi đây.

         Con nên biết rằng có bốn cộng đoàn đến đây trước chúng ta. Người ta đă cho họ nhiều thứ và họ không muốn nhận. Con cần biết thêm nữa là bên giáo xứ có môt ngôi nhà của các Sơ Saint-Vincent de Paul. Các Sơ đă dành được t́nh cảm của cha Joseph. Các Sơ vá quần áo cho trẻ em. Các Sơ đă cho trẻ em đến nhà chúng ta ăn tối ngày hôm qua. Và hôm nay, họ sẽ gửi chúng đến để mừng lễ cha. Cha đồng ư việc này. Ví dụ, cha làm cha Vincent de Paul bực tức và cha cũng có ư gây bực tức cha Picard, hai người này phàn nàn gió ở Nimes. Cách đây không lâu, một trận cuồng phong đă càn quét hàng ngàn cây cối, quật nhổ không biết bao nhiêu mái nhà, làm đổ vỡ nhiều cửa kính và làm quặn koẹo các thác chuông phủ đầy móc sắt. Hôm qua, c̣n có băo ở Arras.

         Những chi tiết này không phải dành riêng cho con mà thôi. Khi nào biết các bà Chaudordy ở măi trên chót vót đỉnh núi Pyrénées, con sẽ gửi cho họ lá thư này trong đó cha gửi trọn t́nh cảm của cha cho họ. Chúng ta hăy sang trang khác dành cho con ».

 Trích theo Những Bức thư d’Alzon, tập XI, nxb. D. D., 1995, trang. 445-446

 

 49. Một cuộc đời  tập trung vào Thiên Chúa

 

         Năm tháng trôi qua, cha d’Alzon cảm thấy mệt mỏi trong tuổi già. Cha mang nhiều ám chỉ về t́nh trạng sức khỏe đang suy sụp từ năm 1875 : chứng đau dây thần kinh, đau răng, đau ruột…Nhiều bạn bè và những người nâng đỡ cha thời trẻ lần lượt ra đi, Melchidor du Lac năm 1872, cha Combalot năm 1873, giám mục giáo phận Nimes Plantier năm 1875. Năm 1878, cha cập rập lên đường sang Rôma, nơi Giáo Hoàng Pio IX vừa qua đời ngày mồng 7 tháng 2, kết thúc một triều đại giáo hoàng đặc biệt ít ra nhờ thời gian cầm quyền của ngài. Những lộn xộn chính tri-tôn giáo tại Pháp khiến cha bận tâm rất nhiều. Chính phủ được gọi là Giai cấp luân lí (Ordre moral), ra đời năm 1873 do sự sụp đổ của Thiers và do lời kêu gọi lên nắm quyền của Mac-Mahon đă không kéo được sự trở lại chế độ quân chủ với ngài bá tước Chambord. Ngược lại, hết bầu cử này đến bầu cử khác, các Nhà cộng ḥa tấn công. Thắng lợi lớn ở Văn Pḥng đại biểu năm 1877 trước khi chinh phục thượng nghị viện vào tháng 1 năm 1879, họ chờ đợi giờ đến : Mac-Mahon từ chức và Jules Grévy lên thay thế khiến nền chính trị nếu không nói là chống đối giới tăng lữ, th́ ít ra là một sự tranh đấu gây ảnh hưởng nhiều khiến lập trường của Giáo Hội dần dần bị hao ṃn, cho dù Tân Giáo Hoàng Léon XIII đă có nhiều toan tính để trấn tĩnh t́nh h́nh.

 

         Từ năm 1875, cha d’Alzon nghĩ đến việc từ chức tổng quản. Ngày 30 tháng 9 năm 1878, cha viết đơn xin từ chức. Từ đó, cha chỉ chuyên tâm phục vụ các Hội Ḍng của ḿnh. Cha hoàn thành những bài Suy Niệm dành cho các Tu sĩ Augustino ḍng Mẹ Về Trời (1878-1879). Cha cung cấp cho tạp chí Hành Hương một loạt bài tuyên giáo để củng cố nội dung học thuyết trong đạo trong việc ấn hành và cha yêu cầu các tu sĩ trong ḍng, giữa các hoạt động tông đồ nổi bật như nền giáo dục, rao giảng, hành hương, và báo chí, phải bảo vệ vững chắc tinh thần nhập tâm cầu nguyện trong đời sống tu tŕ trong ḍng Mẹ Về Trời. Chính cha gia tăng thời giờ tĩnh tâm, và cha không ngừng khích lệ hướng truyền giáo sắp tới ở nước Nga. Cha cảm thấy nhu cầu nội tâm qui tụ mọi hành động trong ḷng đời sống thiêng liêng, trong tinh thần hăng say cầu nguyện qui theo những nhân đức v́ Chúa trong đức tin, hy vọng và bác ái dưới thúc đẩy của Thánh Thần Sự thật, Hiệp nhất và T́nh yêu. Kinh nguyện không bao giờ rời khỏi tâm hồn và cuộc sống cha d’Alzon, cho dù công việc thu hút tâm trí đi nữa, cha cũng không khi nào bị phân tán. Điều này cho thấy qua nhiều nhận xét của cha đối với những người cha hướng dẫn  năm 1860 : «Khi các con rơi vào thử thách, hăy nhớ làm cho t́nh yêu Thiên Chúa  sôi sục một chút « hoặc c̣n nữa » Có thứ thinh lặng đến từ quỉ câm ; cha ghét nó, v́ nó tạo nguồn cho nhiều câu nói và nhiều ngôn từ vô ích. Nhưng cha yêu thích sự thinh lặng  nhờ việc để ư lắng nghe Chúa trong sâu thẳm tấm ḷng và niềm khao khát làm cho Thiên Chúa ngự vào trong ḷng ! ». Chúng ta hăy c̣n lắng nghe chính tiếng nói này năm 1878 :

 

         «Nimes ngày 26 tháng 11 năm 1878

         Con quí mến,

         Cha đă nhờ Mẹ Thérèse chuyển lời cảm ơn con đă  t́m kiếm con em ở Madrid cho trường học của nhà ḍng cha, nhưng cha sẽ trao gửi công việc cho cha Picard. Cha đă viết thư cho ngài về việc này.

         Cám ơn con đă gửi bài viết của cha đến Đức Cha Bouillerie. Giám mục giáo phận Montpellier rất vui, giám mục giáo phận Nimes không hài ḷng lắm. C̣n cha, cha gửi bài viết ấy đến cho Univers. Ông ấy phải xem xét việc nên làm. Cha không sợ chiến tranh. Cha sẽ chỉ khiêu khích chiến tranh khi người cho là có ích. Cha phó thác hoàn toàn trong bàn tay Thiên Chúa. Cha t́m cách phục vụ Người hết khả năng. Cha vui khi thấy rằng về mặt tinh thần, không bao giờ ḍng Mẹ Về Trời chững chạc hơn lúc này. Liệu có bền lâu hay không ? Thiên Chúa biết điều đó.

 Tạm biệt con yêu quí. Cha thuộc về con trong Chúa chúng ta.

 E; d’Alzon.

 

Cha không biết nói ǵ với con về việc tĩnh tâm của con. Về phần cha, cha cố gắng kinh nguyện hết sức có thể được. Điều ngạc nhiên khi cha thấy kinh nguyện là bằng chứng cha mang lại ích lợi cho các linh hồn, khi cha chống cự lại buồn chán v́ khô khan, cằn cỗi, đầy chán ngấy và phân tán trong kinh nguyện. Học cầu nguyện trở thành sự khéo léo trong nỗ lực của cha, và cha không biết cho con lời khuyên nào khác ngoài chính việc cha áp dụng cho chính cha. Hiện diện trước Thiên Chúa, nói với Người rằng ḿnh không là ǵ cả, rằng ḿnh cần đến Thiên Chúa vô cùng. Xin Chúa ban thần khí , xin Chúa Thánh Thần ban t́nh yêu của Người cho chúng ta. Việc ấy đơn giản như lời chào. Cha t́m thấy trong đó mọi sức mạnh và hy vọng. Cha không theo đuổi mục đích cao cả nào khác ngoài việc t́m kiếm Thiên Chúa hết sức ḿnh. Tóm lại, cha đơn giản hóa hết mức có thể và cha chỉ biết mong con trở nên thật đơn sơ trong cầu nguyện”.

  Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, trích theo tập XII, nxb. D. D., 1995, trang. 619-620

 

50. A! Giá như chúng ta có một tờ báo    

 

         Tiếng kêu gọi này của cha d’Alzon chỉ trở thành hiện thực sau khi cha đă qua đời, tức vào thời của những người kế thừa. Ngày 16 tháng 6 năm 1883, cha Picard và cha Vincent de Paul Bailly được Bá Tước Henri de l’Espinois khích lệ, quyết định đổi tạp chí Thập Tự thành nhật  báo Thập Tự với giá một xu. Việc chuyển khát vọng của Cha sáng lập thành hiện thực đă hiện rơ trong đầu của cha Bailly khi cha viết cho cha d’Alzon ngày 16 tháng 6 năm 1880: “Cha hỏi con tại sao Tạp chí Thập Tự không phát hành trăm ngh́n bản. Khi nào cha muốn, việc đó sẽ có thể thực hiện được và sẽ trở thành tin tức hằng ngày với giá một xu”. Cha Vincent de Paul đă tung ra ư tưởng này như quả bóng thử nghiệm trong số 133 của tạp chí Hành Hương năm 1879. Ta nhớ rằng ở Nimes năm 1848, cha d’Alzon đă biến ḿnh thành nhà báo khi in ấn một hăng báo mang tên Tự do cho mọi người. Là người hoạt động và thấu hiểu học thuyết trong đạo, không phải cha d’Alzon luôn luôn bị cuốn hút bởi cái mà cha xem như là một phương châm đào tạo và hoạt động tông đồ mạnh mẽ bên cạnh quần chúng hay sao? Sự cấp bách tỏ ra lớn mạnh hơn nữa vào cuối thế kỷ khi luật bỏ phiếu phổ thông biến mọi công dân thành người có quyền bầu cử và vấn đề được đề cập hơn cả là phải chọn những chính sách chính trị cho nền dân chủ trong việc sinh đẻ, mặc dù mục đích được nhắm tới nhằm đấu tranh chống lại báo chí kém chất lượng, nhất là báo chí cộng ḥa, hơn là nhằm tạo ra cách tích cực một nền báo chí theo nguồn cảm hứng công giáo.

 

         Năm 1872, tổng Hội đồng hành hương đă từng ngơ ư  về việc ấn hành một loại tạp chí nhỏ b́nh dân, Tạp chí Hành Hương, ra đời năm 1873 và bốn năm sau, cha Bailly, một nhà báo đầy nghị lực, biến tạp chí ấy thành công rất lớn. Dẫu phải nhận không ít chỉ trích thường xuyên đối với âm điệu trong bút và với giọng chế giễu trong văn phong của cha Vincent de Paul, cha d’Alzon vẫn ủng hộ thử nghiệm này mà cha sẵn sàng hợp tác. Bằng sở thích và xu hướng phát triển, cha bênh vực cho phần nội dung mang tính đào tạo, tranh đấu, hơn là chỉ mang tính thông tin hoặc giải trí, cha bênh vực cho nội dung nghiêm túc và ít khờ khạo theo cách nói của cha. Tạp chí giảng dạy ki tô giáo, loại thứ hai, không c̣n ần hành nữa năm 1877, một cách nào đó, việc này đă hoàn thành chương tŕnh với việc áp dụng luật Laboulaye. Theo cha d’Alzon, đến lúc phải phản ứng bằng cách xâm nhập vào quảng trường công cộng để chống lại báo chí xấu khiến cho dư luận công giáo hầu như không có tiếng nói. Từ trật tự không thay đổi trong ḍng Mẹ Về Trời: trong lĩnh vực này cũng như trong mọi lĩnh vực khác, có nghĩa là định vị trong một nguyên tắc duy nhất: “công giáo trên hết”, trong những năm tháng đầy náo động ấy, điều này được hiểu với ư nghĩ tương đương “ bảo vệ Giáo Hội”. Chúng ta hăy theo những bước chập chững ṃ mẫm ban đầu của việc ra đời một tạp chí năm 1879 với sự t́m kiếm nhan đề cho tập chí- Thập Tự trong tương lai:

 

“Nimes ngày 10 tháng 12 năm 1879

 

         Bạn thân mến,

         Bạn đă có thể hiểu  nếu như chúng ta đă xem trọng gợi ư về Tạp chí, nhưng thể loại hài hước mà ngườita có vẻ ta muốn xây dựng trong đó làm chúng ta khá ngán ngẩm. Bạn hăy giữ lại nhan đề Tạp chí giảng dạy ki tô giáo. Vừa rồi, trả lời cho Charlemagne, cha Laurent đă kiến nghị nhan đề Vua Dagobert; cha Edmond, Dagobert hoặc Pourceaugnac; c̣n tôi, Vua David. Charlemagne không phải là một cái chậu đái đêm rất lớn hay sao? Chúng ta muốn nghiêm túc. Không phải nhan đề Tông đồ, cũng không phải nhan đề Charlemagne là nghiêm túc. Cha Laurent làm giống tôi, ngài muốn bài của ngài phải được trả lại, nếu nhan đề được chọn là phi lí. Chúng ta muốn trong Tạp chí mang một loại khác so với tạp chí Hành hương. Không phải bằng cách bỏ đi một vài trang hài hước, mà là ngược lại. Nhưng trước những bối cảnh quá nghiêm trọng đang hướng tới, chúng ta cần một loại ǵ đó hơn loại chỉ mang tính bông lơn, đùa bỡn. Hăy tin tôi, Người tranh đấu đă là một nhan đề hay. Chúng c̣n việc khác phải làm hơn là nhảy lộn nhào. Những người nhảy lộn nhào làm vui người tốt, chọc tức kẻ xấu, nhưng mang lại ít hoa trái.

         Cha V(incent) de P (aul) đă không tŕnh bày suy nghĩ về chương tŕnh. Phải chăng ngài có suy nghĩ thầm kín, như hồi ở Poitiers, ngài mang cho tôi một cú Jarnac (coup de Jarnac) mà tôi không bao giờ quên. Tôi không hiểu ǵ nữa, nhưng tôi muốn được biết. Thú thật, tôi ngạc nhiên không nhận được ǵ ngoài những bức điện tín. Bạn hăy nhớ là bạn chặt tay chân chúng tôi. Vậy, chúng ta đừng nói ǵ nữa. Bạn hăy thực hiện tạp chí Hành hương phát hành mỗi ngày, bởi v́ bạn có khiếu trong việc này, nhưng đừng mang tham vọng đăng tải cơ cấu của Hội Ḍng. Tôi không thể cho phép cơ cấu của ḍng biến thành chuyện đùa. Các bạn có cần chúng tôi hợp tác không? Phải làm việc ấy với cái giá nghiêm túc hơn nhiều trong việc soạn thảo tập chí Hành hương, dù rằng tôi không loại trừ phần vui cười.

         Người đưa thư đến. Chẳng có lá thư nào cả. Các bạn quí mến, các bạn đối xử chúng tôi hơi nhanh vội, khi chúng tôi rất sẵn sàng tư thế cho công tŕnh chung. Khi muốn sự đoàn kết trong một mục đích và nỗ lực chung, người ta không hành động như vậy. Rút cục, chúng tôi sẽ chờ vậy. Nhưng nếu chúng tôi không trợ giúp các bạn, đó là v́ chính các bạn đă muốn như thế. Các bạn sẽ làm công việc của Paris, chứ không phải của cả Hội Ḍng. Nào, hăy nói cho chúng tôi biết những dự án của các bạn! Hôm nay, cha Bailly có thể công việc chồng chất, c̣n những ngày trước th́ sao? Và cha Picard có thể tự viết ít ḍng chứ. Các bạn sẽ tận dụng lời quở trách của tôi và các bạn sẽ viết cho chúng tôi.

 Hoàn toàn thuộc về các bạn trong Chúa chúng ta.

 E. d’Alzon”.

 

           Thư gửi cha François Picard, trích theo Những bức thư, tập XIII, nxb. D. D., 1996, trang. 230-231

    

 

 Phần kết

 

         Cuộc đời cha d’Alzon không chấm hết ngày 21 tháng 11 năm 1880, cho dù ng̣i bút rời khỏi tay cha ngày hôm ấy. Cha chào từ biệt anh em mang máng cách thức của thầy ḿnh, tổ phụ Augustino. Tổ phụ Augustino khi sắp chết trên giường bệnh, cảm thấy như sẽ xảy ra một thời đại mới cho đời sống của Giáo Hội, trước sự xâm nhập của dân Vandalles nước Đức vào Bắc Phi. Trường trung học của ḍng Mẹ Về Trời ở Nimes, tháng 11 năm 1880, thực sự trông chờ những biện pháp khám soát và tháo đuổi do việc áp dụng những nghị định của Jules Ferry liên quan đến các hội ḍng tu giảng dạy bất hợp pháp. Đức Cha Besson can thiệp bên cạnh Tổng thống Cộng ḥa, Jules Grévy, chỉ cho phép hoăn lại.

 

         Đấng sáng lập ḍng qua đời mà không biết chắc số phận của các Hội Ḍng: các cộng đoàn của hội ḍng nam, nhân lực mạnh với 79 tu sĩ được phân bố trong 13 cộng đoàn ( Pháp, Bungari) đều không có hứa hẹn tương lai. C̣n Hội ḍng các Nữ Tu Tân Hiến, không phải cha không biết đến sự mỏng ḍn dưới sự chèo lái của Bề trên đau yếu. Những hy vọng của cha lại theo một mức độ khác. Không phải vào tháng 3 năm 1879, cha đă tự sánh ḿnh với tổ phụ Abraham, người có một con trai độc nhất, thế nhưng ông đă được làm cha của dân Chúa?”. Về phần kế tiếp thiêng liêng, sự thanh thản của cha kế thừa nhiều trong hành vi đức tin hơn là trong những điều hiển nhiên dựa theo số liệu thống kê chắc chắn. Được giao phó vào tay cha Picard, một người có tính khí mạnh mẽ, ḍng Mẹ Về Trời sẽ t́m thấy con đường sống ở Châu Âu cũng như trên các nẻo đường của thế giới mới.

 

         Được mai táng ngày 24 tháng 11 năm 1880 tại nghĩa trang Saint-Baudile ở Nimes, hài cốt cha d’Alzon được đào lên ba lần liên tục: được chuyển về trong nhà nguyện của trường trung học Nimes năm 1892, rồi lại được đưa về trong nhà nguyện trên đường Séguier năm 1942. Hài cốt của cha chính thức được Giáo Hội công nhận vào tháng 11 năm 1964. Sự nghiệp của tôi tớ của Thiên Chúa được khai mở t́m hiểu rất chậm trễ (năm 1930). Việc này được thẩm cứu rất lâu v́ những định hướng ít nhiều được thần cảm. Diễn biến của việc thẩm cứu cũng đầy sóng gió. Đức Thánh Cha Gioan Phao Lồ Đệ Nhị cuối cùng kí sắc lệnh công nhận các nhân đức anh hùng của cha d’Alzon vào tháng 12 năm 1991, tức tám năm sau sắc lệnh về cha Pernet (1983). Một phép lạ chính thức là điều kiện cuối cùng nhất thiết phải có để cha được phong chân phước. Điều này, Mẹ Marie-Eugénie de Jésus đă hoàn tất  ngày 9 tháng 2 năm 1975 và Mẹ đă được Giáo Hoàng Phao Lồ VI công bố là người có phúc (bienheureuse).

 

         Ít ra, cha d’Alzon có thể được an ủi được nh́n thấy lời hứa của cha làm việc cho sự toàn thiện của người con cha dẫn dắt ( Mẹ Marie-Eugénie) đă chu toàn. Người con này một phần thuộc về cha, và cha cũng một phần thuộc về con. Nhất là mong sao con cái của cha ngày nay có thể thăng tiến theo những mời gọi của cha đối với đời sống tu tŕ, đời sống tông đồ, và đời sống giáo hội trên mọi lục địa, trung tín với Tin Mừng.

 

Quay về Trang Chính