JEAN-PAUL PERIER-MUZET
Văn Hào chuyển
ngữ
CHA EMMANUEL D’ALZON BỞI CHÍNH NGÀI
NHÀ CHUNG D̉NG MẸ VỀ TRỜI RÔMA,
2003
Tóm lược nội dung
Sau lễ kỷ niệm một
trăm năm thành lập ḍng Mẹ Về Trời năm
1950, rất nhiều bài viết, sách được ấn
hành và cho phép t́m hiểu nghiêm túc hơn về cuộc đời
của Tổ phụ ḍng, về chặng đường
thiêng liêng và những hoạt động trong công việc
phục vụ Giáo Hội cũng như xă hội thời
ngài c̣n sống. Tôi đặc biệt nghĩ đến
tuyển tập những bức thư mới t́m lại
được của cha d’Alzon (Những kí ức sâu kín-
Trích những bức thư mới t́m lại
được 1850-1880, Paris, 1950). Tôi cũng nhớ
đến tập thư rất phong phú về những bài
viết quan trọng của cha d’Alzon do cha Athanase Sage góp
lại (Những bài viết linh thao (Sách Linh Thao), Rôma,
1956). Tôi cũng không quên nhắc đến quyển sách
trong đó cha Athanse Sage tŕnh bày những hiểu biết
về tư tưởng thiêng liêng của cha d’Alzon (Một
người thầy hướng dẫn thiêng liêng thế
kỷ 19, Rôma, 1958). Năm 2000, Lễ kỷ niệm 150
năm thành lập ḍng cũng
tạo thời cơ in ấn nhiều sách mới
để xích chúng ta lại gần hơn với con
người quan trọng của thế kỷ 19 và của
những hội ḍng do người lập nên.
Từ khi in
và phát hành Sách Linh Thao (Ecrits Spirituels) năm 1956, chúng ta
đă rất cố gắng để nhiều
người có thể biết đến văn thư, qua
đó cha d’Alzon thổi luồng khí cuối cùng cho nhiều
dự án và cho các suy tư thâm sâu nhất của cha. Nỗ
lực ấy được cụ thể trong việc in
thư thu lượm được gồm mười
lăm tập. Trước tiên, phải kể đến
cha Pierre Touveneraud, tiếp đến cha Désiré Dearedt (từ
1978 đến 1996). Hai cha giới thiệu với chúng ta
độ chừng 5000 lá thư của tổ phụ.
Cuối cùng phải kể đến hai tập mới phát
hành do cha Jean-Paul Pérrier Muzet (Rôma 2003) thu lượm và cho in.
Vậy là một việc làm uyên bác đă được
thực hiện và kết quả thật ấn
tượng. Đúng vậy, thành quả đầy ấn
tượng đó to lớn đến mức ta sợ
không giám mở xem một tác phẩm như thế và không
giám nghĩ rằng chỉ một số người quen
với loại tài liệu này có thế đọc hết
được. Đáng sợ nữa là v́ không một lá thư
nào hay nói đúng hơn rất ít thư được
dịch ra các ngôn ngữ khác. Có nghĩa là tác phẩm
đồ sộ này hoàn toàn không được những
người không nói tiếng pháp biết đến.
Kết quả của nó chỉ là một bức chân dung
không hoàn hảo về con người cha d’Alzon, và trong
một số trường hợp, có thể tồn
tại sự hiểu lầm thực sự về nhân cách
cũng như về những mục đích của ngài.
Từ đó ta hiểu tầm quan trọng của quyển
sách được phát hành hôm nay.
Tôi cho
rằng tác phẩm hiện tại là một phần bổ
sung quan trọng cho Sách Linh Thao được ấn
hành năm 195O. Hai sách này cung cấp cho chúng ta một
bức chân dung đáng tin về cha Emmanuel d’Alzon. Sách Linh Thao
tập hợp trong một tác phẩm chính thức của
cha sáng lập : Chỉ dẫn linh thao (Directoire) (chỉ
dẫn linh thao cho gia đ́nh tu sĩ của cha), một
số yếu tố về những Hiến Chương
đầu tiên và các tài liệu nền tảng khác (fondateur) :
(Những bài tŕnh bày của cha tại Kỳ Họp của
các tu sĩ, Những bức thư gửi những
người hữu trách công tác đào tạo, Những
thư luân lưu cho các tu sĩ, những bài suy niệm và
những bài giảng tại các kỳ tĩnh tâm, nhiều
bài thuyết tŕnh trong các dịp khác nhau, một số
thư chính thức và có nội dung thần học hơn
(doctrinale)). Đặc điểm của các tài liệu này,
tất cả đều mang tính «chính thức » và tính
phổ biến chung, cung cấp cho chúng ta ư nghĩ tuyệt
vời về tác giả, tuy nhiên, một lần nữa,
hạn chế không thể tránh khỏi. Ví dụ, chúng ta
học được rất ít về tiến triển
trong tư tưởng và trên bước đường
thiêng liêng của cha sáng lập, về những
người mà cha đă kề vai sát cánh và những phản
ứng của họ đối với tư tưởng
và những sáng kiến của cha. Và rút cục, chúng ta
chỉ có được một cái nh́n khá mập mờ
về nhân cách thật của cha. Xem qua các tài liệu và
nhất là qua Sách Linh Thao, chúng ta sẽ có thể
cảm tưởng dường như tư tưởng
cha d’Alzon thể hiện nét cổ điển hơn là nét
độc đáo, trong đó các bài giảng và những
nhậnh định linh thao thiếu chiều kích
tưởng tưởng và
t́nh người (humanité) và nhân cách của cha tỏ ra
hơi khắc khổ và bị dồn nén.
Những
người đă đọc thư của cha d’Alzon
cảm nhận nhu cầu cần đi sâu hơn nữa. Đó
là nguyên do dẫn đến việc ấn hành tất
cả những bức thư của cha sáng lập.
Nhưng rất nhiều người cho rằng, cho
đến lúc này, nhân cách
của cha d’Alzon được tỏ hiện qua tập
thư quan trọng này vẫn c̣n chưa được
biết đến.
Nếu
như sách Linh Thao cho phép ta khám phá lại con người cha
d’Alzon sáu mươi năm sau khi cha qua đời, th́
tập sách này cuối cùng tạo cơ hội khám phá
một con người d’Alzon « mới » hầu như
120 năm sau ngày cha ra đi. Từ nay, tôi tin rằng ai
muốn biết tổ phụ, muốn biết ngài là ai,
muốn biết đâu là tư tưởng thật của
ngài, sẽ cần phải tham khảo hai tập sách này.
Nếu
quyển sách này không chứa đựng ǵ khác ngoài tuyển
tập những lá thư chính của cha d’Alzon, và những
bản dịch trong các ngôn ngữ chính thức của
Hội Ḍng, tập sách đó cũng đă có thể có
chỗ đứng trong các thư viện của ḍng Mẹ
Về Trời rồi. Nhưng tác giả đă sắp
xếp lại mỗi lá thư trong bối cảnh lịch
sử chính xác, với nhiều phần tham khảo sẽ
làm thỏa măn những người uyên bác nhất. Điều
này cũng sẽ cho phép bất cứ độc giả nào
biết được nhiều hơn những ǵ họ
t́m kiếm. Từ rất lâu, chúng tôi mong muốn một
tiểu sử hiện đại về cha d’Alzon
để bổ sung hai
tập sách quan trọng của cha Siméon Vailhé về cha d’Alzon
năm 1926-1934. Việc này đ̣i hỏi nhiều t́m kiêm,
nhưng tôi tin là cha Pérrier Muzet đă lập ra những
nền móng khi soạn thảo những bài tựa lịch
sử cho mỗi lá thư do ngài chọn lựa trong
tuyển tập này.
Cha Pérrier
Muzet, chuyên viên lưu trữ của Hội Ḍng, một
lần nữa phục vụ một việc rất
hữu ích cho các anh em đồng hội và cho Giáo Hội
nói chung. Cha đă thực hiện việc này với tư
cách một chuyên viên lịch sử có khả năng cao. Tôi
cầu mong để tác phẩm này của cha, một khi
được dịch sang bốn ngôn ngữ chính thức
của Hội Ḍng, trở thành một nguồn đổi
mới như cha Sage đă từng tạo ra cách đây
năm mươi năm, trong sự trung thành với
thần khí được ban cho Giáo Hội, qua cha d’Alzon,
nhằm lợi ích cao cả nhất cho dân Chúa.
Người
anh em. Richard E. Lamoureux. a.a.
Bề trên
tổng quyền
Rôma
ngày 2 tháng 2 năm 2003
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Kỷ yếu về
đấng sáng lập Hội Ḍng không chỉ thuộc
về lịch sử. Nó c̣n được tạo thành
từ một nền linh thao được diễn tả
bằng việc cầu nguyện. Ḍng Mẹ Về Trời
cầu khẩn cha d’Alzon trên bàn thờ với niềm hy
vọng một ngày không xa, Giáo Hội chính thức công
nhận sự thánh thiện của cha.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Năm 1999, Tổng
Hội Đồng (Conseil général) yêu cầu chuyên viên lưu
trữ soạn một quyển sách dưới dạng
tuyển tập bút thư của cha d’Alzon và cũng
nhằm bổ sung cho tập thư đồ sộ
được xuất bản hầu như trọn
vẹn bắt đầu từ cha Siméon Vailhé năm 1923, và
đă được cha Désiré Deraedt miệt mài hoàn tất
năm 1996. Những lí do của việc xuất bản
mới, theo kiểu sư phạm thực nghiệm, tỏ
ra vừa đơn giản, vừa khẩn thiết :
một phần, rất ít tu sĩ có thể đọc
một cách hệ thống toàn tập thư dày cộm này
nếu không có người chọn lựa giới
thiệu. Hơn nữa đó cũng là lí do của
những người có trách nhiệm đào tạo muốn
đưa ra h́nh thức nhẹ hơn. Phần khác,
những nhà hữu trách trong việc đào tạo hiện
nay trong mọi tỉnh ḍng không thể trông chờ vào
việc dịch những lá thư với số
lượng lớn như vậy ra ngôn ngữ riêng trong thời
gian ngắn. Nên họ luôn buộc chỉ tham khảo
những sách đang được sử dụng, như Sách
Linh Thao hoặc những bản văn sáng lập
(Hiến Chương), rất nhiều tài liệu đang
được trau chuốt để có thể tồn
tại lâu dài, không ngừng kêu gọi chúng ta giới
thiệu và đổi mới trong cái nh́n hiện tại
hóa.
Từ
năm 1987, quá tŕnh đưa tài liệu vào hệ thống
vi tính và được kiểm duyệt, cho vào và sắp
xếp tất cả bài viết của cha d’Alzon, những
bản đă được ấn hành từ lâu và
những bản mới, gồm những bản
được biết nhiều, ít được biết
đến và thậm chí cả những bản chưa
được biết đến. Chúng ta có thể bắt
đầu hi vọng phương tiện làm việc này, có
hiệu năng cao, nhờ sự đầu tư rất
tốn kém để nêu chỉ số hóa, mà phải tạo
ra một bộ từ điển lớn, sẽ huy
động và thúc giục năng lượng của các
thế hệ trẻ vốn yêu thích dụng cụ tin
học. Có CD giúp việc t́m kiếm dễ dàng hơn.
Nhưng c̣n quá sớm để xác định liệu
những bông hoa luôn hứa hẹn hoa trái, trong tương
lai, sẽ cho nảy mầm vào mùa xuân, khi sắp
đến vụ thu hoạch đầu mùa hay không.
Việc đầu tư lâu dài đ̣i hỏi sự chín
muồi trong kiên nhẫn. Một nét mới hoặc một
việc canh tân có bề sâu không thể được
đánh giá qua sự ngứa ngáy bồn chồn của
kỹ thuật công nghệ. Chúng ta hăy cầu mong rằng
hơn 2 000 chủ đề nghiên cứu về tư
tưởng và hành động của cha d’Alzon có thể
trở thành hiện thực, nhờ những bản tra
cứu khác nhau trong bộ toàn thư, và nó sẽ thúc dục
giống sinh viên của ḍng Mẹ Về Trời nhiều
việc nghiên cứu nghiêm túc về cha d’Alzon nhờ có tài
liệu đă được bố trí và có thể khai thác
trực tiếp.
Chúng
tôi đề xuất trong tác phẩm hiện tại, 50 bài
viết của cha d’Alzon do chúng tôi chọn, trong đó đa
số được trích từ các lá thư của ngài
suốt những năm 1829-1880. Như vậy là bao trùm
cả cuộc đời cha và tŕnh bày trước mắt
chúng ta một sự quan tâm đa chức năng, trong
đó đặc biệt là việc tái hiện thực hóa.
Mỗi chủ đề được duy tŕ và phát
triển theo bốn phần (volets ?), với
bước tiếp cận giống nhau :
·
Phần đầu đề nghị
(cung cấp) việc t́m hiểu rộng về bối
cảnh và chủ đề liên quan
·
Phần hai chứa đựng bản
văn hoặc trích lược bản văn của cha
d’Alzon tùy theo mục tiêu như trái cây có vỏ bọc
tạo nên cái túi che chở, nhưng hay hư nát. Để
thưởng thức đúng lúc, trái cây không đ̣i buộc
phải được đùm bọc cẩn thận
trước khi dùng nó hay sao ?
·
Phần ba được chia làm hai
mục :
Mục
« Để tiến xa hơn trong suy nghĩ và t́m kiếm »
tập hợp một phần thư mục ngắn
gọn, nhưng đúc kết mà tác giả của những
ḍng giới thiệu này đă sử dụng cho mỗi
chủ đề được bàn đến.
·
Cuối cùng, mục « Dành cho việc
nghiên cứu cá nhân » giới thiệu một loạt
câu hỏi, tuy nhiên danh sách các câu hỏi không hề có tham
vọng hoặc ư định chỉ dẫn : tính
đầy đủ mọi khía cạnh, tính thường
trực hoặc mục tiêu là thách đố trong việc
đào tạo mang tính quốc tế của ḍng Mẹ
Về Trời, đối với các nhà đào tạo
cũng như đối với các bạn trẻ có liên
quan. Đó chính là lí do quyển sách này được giao cho
nhiều dịch giả khác nhau để có thể sửa
đổi, thích ứng, nhất là liên quan thư mục,
hoặc nhiều điều chỉnh khác tùy theo các mục
đích riêng. Tuy nhiên theo h́nh dạng hiện nay, quyển
sách này được nghĩ đến và được
dự tính nhằm giúp đỡ việc đào tạo
căn bản trong ḍng Mẹ Về Trời. Chúng tôi
muốn quyển sách này phục vụ tất cả
mọi người, với những mạo hiểm và
những hạn chế mà quyển sách này áp đặt
một cách không thể tránh khỏi do ngôn ngữ gốc, do
văn hóa đối chiếu và do những nguồn gốc
của môi trường lịch sử. Đó luôn là thách
đố trong việc thành lập ḍng tu, tại một
thời điểm nhất định khi mong muốn
được thấm nhuần và được phổ
biến nơi mà Thần khí thúc đẩy phải
đến bất chấp những đột xuất trong
không gian và thời gian.
Các
tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời hiện nay phải
nắm bắt tinh thần ấy của cha sáng lập,
trong buổi đầu của thiên niên kỷ mới, và
phải bảo đảm tinh thần ấy
được tồn tại thường trực và phát
sinh dồi dào. Hội nhập văn hóa và đặc
sủng củng cố lẫn nhau để phát minh
nhiều con đường mới trong ḷng. Từ hơn
150 năm nay, con đường của cha Emmanuel d’Alzon,
được khởi đầu với một nhúm
người trong cái nôi ở Nimes, không ngừng vượt
qua biên giới để phục vụ niềm đam mê
nước Trời, phân tán để làm cho nước Cha
rộng mở và thực hiện mạng lưới
chọn lựa t́nh thân hữu nhờ con đường
rộng lớn của tin mừng nơi mà T́nh Yêu Thiên Chúa
kết hợp với công lao của con người, sau
thánh Augustino và biết bao người khác.
Cha.
J.-P.P.-M
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ngôn
từ không thể diễn tả hết một con
người, dù phẩm chất ấy như thế nào
đi chăng nữa. Nó lại càng không thể diễn
tả hết được bằng ngôn từ của
người khác. Phần tuyệt vời hơn cả
của chính bản thân ḿnh không phải dựa theo những
bài viết của riêng ḿnh ư ? Đó chính là điều
chúng tôi cố gắng thực hiện trong các trang sách này,
qua việc trích lại và nghiên cứu những lá thư
của cha d’ALZON theo từng chương một,
đồng thời tuân theo trật tự niên đại
nơi cuộc đời của cha và chọn lựa
một vài ư tưởng cũng như hành động chính
yếu của ngài.Trước khi trích dẫn những
bức thư, chúng tôi giới thiệu tổng hợp
sơ qua về cha d’ALZON :
D’ALZON, một con người mang cá tính
mạnh mẽ
Emmanuel
d’Alzon, người con của vùng Cévennes, cả đời
(1810-1880) sống ở thành đô Rôma miền nam
nước Pháp vào thế kỷ 19. Thành đô Rôma ấy
mang tên Nîmes : một con người đặc thù
gốc miền nam, mang dáng dấp và tính khí của
người miền nam. Đó là những ǵ chúng ta có thể nói
về cha D’Alzon về mặt địa lí và tâm lư. Con
người của Giáo Hội, suốt 40 năm làm
tổng quản giáo phận Nîmes. Cha đă sáng lập hai gia
đ́nh tu : Augustins Mẹ Về Trời vào năm 1845 và
các nữ tu tận hiến Mẹ Về Trời năm
1865. Cha cũng đóng góp rất nhiều trong việc
đào tạo các Nữ Tu Mẹ Về Trời (Religieuses de
l’Assomption).
Vốn
gắn bó sâu sắc với nguồn gốc gia đ́nh vùng
Cévennes ở Vigan, Emmanuel mang hơn một nét đặc
thù : rất mạnh mẽ và thậm chí quá mạnh
mẽ trong các chọn lựa cũng như trong các ác
cảm. Emmanuel trung thành với những ư tưởng,
với con người và với những nguyên lư ngài
nắm giữ. Chính ngài nói về bản thân bằng
một tính khí hoàn toàn không thể lay chuyển, « là
người công giáo trên hết mọi sự ».
Điều này vào thời của ngài muốn nói lên sự
gắn bó cực độ với Đức Giáo Hoàng ở
Rôma (ultramontain), chống lại những tư tưởng
tự do. Cha d’Alzon là người nhanh nhẹn trong hành
động và rộng lượng trong mọi dấn thân.
Cũng vậy, dưới ng̣i bút
của ngài thể hiển rất rơ những thành ngữ
mang dáng vẻ lăng mạn nhẹ nhàng nhất, tinh tế
nhất và nhảy cảm nhất, đồng thời
cũng xuất hiện những thành ngữ do ảnh
hưởng bởi tính châm biếm hoặc theo lối
diễn đạt của nhà báo, đồng thời là nhà
văn louis Veuillot, một nhân tài tranh căi bằng bút danh. Ông
cũng là một người gắn bó cực độ
với Giáo Hoàng Rôma.
Ngôn từ của cha D’Alzon
đặc biệt phong phú trong rất nhiều bức
thư. Sự phong phú từ vựng của cha D’Alzon
thể hiện trong cách ngài dùng nhiều tính từ thân
mật và nồng nhiệt nhất đặt kề
cận những ngôn từ khó nghe mang tính cay nghiệt,
hoặc những nhắc nhở trực diện nhất.
Trạng từ ưa thích nhất của ngài thường
không phải là « nhanh chóng » hay sao,
được hiểu theo mọi giọng điệu và
đôi khi chứa đựng sự thẳng thắn
vượt quá sức chịu đựng ?
Những tiến triển mang nhiều ư nghĩa
Tuy
nhiên, con người miền nam « đặc thù »
này thường qua lại ở thành Rôma nhiều hơn
thủ đô Paris. Ngài cũng tránh né những sắp
xếp và những ư tưởng có sẵn quá dễ dàng. Ví
dụ về diện mạo chính trị, từ lúc sinh ra
đến khi qua đời, quả thực ngài tỏ ra là
một người phản đối chủ nghĩa
tự do (liberalisme) hầu như không ǵ lay chuyển. Chúng
tôi cũng nhận thấy ngài không phủ nhận những
tiến triển áp đặt cho ngài và cho thời
đại của ngài : năm 1848 biến ngài thành
một « người cộng ḥa của ngày mai » ;
những niềm tin của một người theo chủ
nghĩa quân chủ như ngài không cản trở ngài
hướng về chủ nghĩa dân chủ sơ khai vào
cuối những năm 1860.
Vốn
thuộc ḍng họ quí phái nổi danh, kế thừa
một gia sản lớn lao năm 1860, ngài không liên kết
với tầng lớp thống trị, không theo tầng
lớp tư sản, cũng không theo những tư
lợi. Con người quí phái này biết đối
thoại với quần chúng và thấu hiểu để
chèo lái các hội ḍng của ḿnh đến những bến
bờ phục vụ nhu cầu của dân chúng. Việc
đào tạo những con người ưu tú ở Nîmes
phát triển thêm khi ngài mua lại ngôi trường mang tên
Assomption năm 1844 và huy động sự góp sức
mạnh mẽ của các anh em tu sĩ trong một thời
gian. Nhưng cha Emmanuel nhanh chóng để các anh em tu sĩ
tự do thực hiện những sáng kiến nhằm
mục đích tiếp cận các tầng lớp dân
chúng : trại mồ côi do cha Halluin đảm trách
ở Arras năm 1868, trường ḍng (alumnat) dành cho
tầng lớp thường dân năm 1871, hay c̣n gọi là
«chức tư tế của những người hèn
mọn » (sacerdoce des pauvres), tổ chức hành
hương cho muôn dân bắt đầu từ năm 1872 và
năm 1873 cùng với cha Vincent de Paul Bailly ngài lập báo chí
b́nh dân. Sau này được gọi là Bonne Presse và sẽ
trở thành trung tâm ngôn luận mạnh mẽ.
Đứa
trẻ hay c̣n gọi là anh thanh niên non trẻ vốn quen
với mái ấm công tử ở làng Lavagnac (vùng Hérault)
những năm 1816-1832, với cung cách và tập tục mang
kiểu chúa tể của chế độ quí phái tỉnh
lị. Thế nhưng con người ấy sẽ xa ĺa
trần thế này trong nghèo khó và được mai táng
dưới chiếc áo khiêm tốn của người tu
sĩ mang ḍng chữ « tu sĩ-tông đồ »
ngày 21 tháng 11 năm 1880. Đó là chặng đường
đích thực của một cuộc đời sống
theo tin mừng, là sự thực hành tích cực trong câu
chuyện « người thanh niên giàu có » theo thánh Mathieu
19, 16-22. Ngài đă biết chia cắt sự bó buộc
của định mệnh cá nhân theo gia tục để
bước qua một đường hướng mới
với « sự táo bạo, rộng lượng và vô
vị lợi » để cuốn theo những ḍng
xoáy và những mấu chốt mang tính toàn cầu hơn.
Sự tận hiến « trọn vẹn »
cuộc đời cho giáo hội.
Chúng
ta thực sự sẽ không thể hiểu cuộc
đời Emmanuel D’Alzon nếu chúng ta không hướng theo
chọn lựa trong thiện ư của ngài trong việc
phục vụ Giáo Hội ngày một lớn mạnh, chín
muồi theo ánh sáng đức tin mạnh mẽ,
được cá nhân hóa, được dấn thân và
được rộng mở khắp mọi nơi :
Emmanuel
thích diễn đạt lại ba giai đoạn liên
kết ngài trong giáo hội hay c̣n gọi là « ba lần
tái sinh thiêng liêng » : phép rửa tội trong nhà
thờ thánh Phêrô ở Vigan ngày 2 tháng 9 năm 1810 mà ngài không
quên mừng lễ hằng năm như ngày sinh nhật « thực
sự », ngày lănh chức linh mục ở Rôma ngày 26
tháng 12 năm 1834 sau cơn đau đớn dữ dội
v́ t́nh bạn của ngài với ông Lamennais, và việc ngài
chọn lựa đời sống tu sĩ trong nhà
nguyện tại trường trung học ở Nîmes ngày 24 tháng 12 năm 1845 và 1850
sau năm năm thử thách của riêng ngài cũng như
của anh em ngài. Người đă lănh nhận phép rửa
tội, linh mục và tu sĩ không phải là ba từ liên
tiếp nhau của một cuộc đời rối ren hay
là không bền bỉ nơi ngài. Ba từ ấy là ba giai
đoạn làm mốc cho một chặng đường
thiêng liêng được sống trong Giáo Hội và v́ Giáo
Hội, về mặt đời sống nội tâm
mạnh mẽ-« yêu mến Đức Ki Tô, Đức Trinh
Nữ và Giáo Hội : sống trọn vẹn Đức Ki
Tô »- cũng như về mặt hoạt động
tông đồ nhiệt tâm : « làm cho Nước Chúa
ngự đến trong tôi và xung quanh tôi »,
được ngài biến thành khẩu ngữ trong
cuộc đời tu sĩ.
Emmanuel
là con người dấn thân hoàn toàn. Ngài khám phá dần
dần và sống theo ḍng kinh nghiệm ấy tràn
đầy nhựa sống nơi Giáo Hội. Đức tin
trong cuộc sống của ngài là « hồng ân của
cuộc chinh phục » (don d’une conquête) không ngừng
được khởi đầu lại, không ngừng
được mở rộng, không ngừng
được theo đuổi.
Thử thách khó khăn về
sức khỏe vào tháng 5 năm 1854 buộc cha D’Alzon
giảm bớt hoạt động để nghiêm túc
chữa trị bằng phương pháp tri liệu nhờ
nước suối ở Lamalou-les-Bains (Hérault). Giai
đoạn thử thách này đánh dấu sự hồi tâm
của ngài về cuộc sống và về công việc mà
chiều kích tông đồ dường như gặp
lại ngọn lửa t́nh yêu dày ṿ của Đức Ki Tô và
của Giáo Hội. Ngọn lửa t́nh yêu ấy lôi cuốn
suốt cuộc đời ngài.
Emmanuel,
một con người tiếp nhận những tiến
triển của thời đại và là một
người cầm đầu dẫn dắt. Ngài ham
học hỏi để đầu tư vào cánh
đồng hoạt động hầu làm việc cho xă
hội và Giáo Hội. Ngài không mang tính t́nh của kẻ
đơn chiếc. Sống trong bể của tuổi
trẻ tại mái trường, quanh ngài có không ít cộng
tác viên giáo dân, linh mục và tu sĩ. Ngài chỉ dấn thân
cuộc đời cá nhân, cuộc sống linh mục và tu
sĩ trong nhóm, trong cộng đoàn và trong hiệp thông.
Luồng khí thôi thúc ngài hoạt động và thăng
tiến được linh hứng bởi đức tin.
Nguồn linh hứng ấy nhờ đức tin
vượt ra cách minh nhiên khỏi những ranh giới
của một giáo phận, của một xứ sở và
ngay cả của một lục địa, v́ chính ngài, v́
những tranh đấu ngài dẫn dắt và v́ những
cánh đồng hoạt động tông đồ cho hai
hội ḍng của ngài. Rộng lớn như đức
tin, phổ quát như Giáo Hội, thống nhất như
cuộc đời của ngài.
Sắp
xếp theo ḍng chảy của cuộc đời theo
tiếng nói của riêng ngài. Mong sao 50 chương trong
quyển sách này có thể thôi thúc nỗi khát khao hiểu
biết ngài tốt hơn và nhất là có thể nung nấu
tấm ḷng của những người muốn t́m ṭi,
học hỏi để sống bằng chí khí của ngài
nhằm phục vụ Tin Mừng v́ thế giới ngày nay.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chàng thanh niên Emmanuel d’Alzon (1810-1880) đă
được giáo dục rất kỹ lưỡng trong
bốn giai đoạn theo kiểu mẫu của giới
ưu tú thời đại ḿnh. Giới ưu tú là những
người may mắn thuộc tầng lớp ưu
đăi cấp cao trong xă hội :
Theo
ḍng những năm tháng trẻ thơ, trước hết
cha Emmanuel d’Alzon được gia sư dạy tại nhà,
ở lâu đài Lavagnac. Đó là cha Bonnet. Kinh nghiệm ban
đầu học tại gia khép kín này (expérience en serre chaude) mở ra
trong tâm trí cha D’Alzon ư muốn thích học theo chương
tŕnh tập thể có tính khích lệ nhiều hơn. Ngài may
mắn học trung học tại hai trường danh
tiếng ở thủ đô Paris. Trường Saint-Louis
với những nét quí phái sang trọng. Ngài học tại
ngôi trường này một năm 1823-1824. Trường
Stanislas vốn đă nối tiếng đối với
giới trẻ công giáo thủ đô. Ngài theo học nơi
đây từ năm 1824 đến 1828. Trong thời gian
học tập, ngài trọ dưới nhiều nơi. Trọ
theo h́nh thức ngoại trú (externat) và bán nội trú
(semi-internat). Đó là quảng thời gian ngài phát triển mạnh
cách bao quát về nhân cách cả trí thức lẫn t́nh
cảm hoặc trong tương quan với tha nhân trong
bối cảnh vừa được thả lỏng,
vừa bị khép kín của học đường lúc
bấy giờ : nền giáo dục đặc biệt
ưu tiên cho ngành cổ điển, văn chương và
triết học do nền văn minh hy lạp và la tinh
lưu truyền lại và do trào lưu chế ngự, theo
truyền thống và mang tính lăng mạn, những âm
hưởng của những nhân vật đánh dấu thời
kỳ phục hưng như les Bonald, Maistre, Chateaubriand,
Lamartine. Theo ng̣i bút của cha D’Alzon thời trẻ trung, ta
thấy những điểm nhấn mạnh đầy
phấn chấn vừa khen ngợi những kỳ tích
của Lord Bryon, vừa thưởng thức các tiểu
thuyết theo kiểu Walter Scott.
Đậu
cử nhân văn chương, dù không tin tưởng
lắm, cha Emmanuel quyết theo học khoa luật ở
Paris năm 1828-1830. Ngài thích những buổi thuyết tŕnh,
trao đổi tự do từ xa trong những pḥng tư
(salons) hay các hiệp hội văn chương và triết
học có chất lượng, uy tín. Nơi đây, ngài
hội ngộ nhiều bạn trẻ siêng năng và say mê
trong những cuộc tọa đàm về xă hội lúc
bấy giờ, tại môi trường sống,
đồng thời dáng vẻ thư thái hơn trong
những bận tâm riêng của ngài. Ngài luôn thích thú một
ngành giáo dục bằng chính nỗ lực riêng mà không
cần phụ thuộc vào giáo viên (formation autodidacte) như
một dấu ấn măi măi trong cuộc đời.
Những sự kiện
chính trị năm 1830 khiến ngài không thể tiếp
tục ở lại Paris. Những sự kiện chính
trị này khép lại bảy năm lưu học tại
đây của ngài. Cha Emmanuel đang trong thời kỳ t́m
hiểu chính ḿnh phải trở về tỉnh lị. Hầu
như trong hai năm sống khép kín tại lâu đài ở
Lavagnac, ngài định hướng việc học tập
và t́m ṭi đọc sách vở nhằm mục đích
chuẩn bị dấn thân cuộc sống trong Giáo Hội
theo như ngài cảm nhận được mời
gọi.
Chúng
tôi muốn kể lại nét chính yếu về học
vấn và về nhân cách của người thanh niên Emmanuel
khi c̣n ở Paris, theo những năm cuối cùng của
thời kỳ phục hưng : thời gian học
tập không phải chỉ tràn ngập sách vở mà thôi,
lại càng không phải quỹ thời gian ngài tập
luyện chú ư đến những cảm xúc nội tâm.
« …Tối nay, con
sẽ đi dự cuộc hội đàm mới về
quyền công cộng : có nhiều người thông thái,
trí thức, nhiều quan ṭa tham dự và thảo luận
về mọi khía cạnh liên quan đến chính trị. Cuộc
hội đàm diễn ra tại nhà ông Emmanuel Bailly. Đây hoàn
toàn là một tổ chức tư nhân. Họ chỉ thu
nạp thành viên vào hội tọa đàm này sinh viên luật
năm thứ ba.V́ vậy, con phải đợi hai năm
nữa. Nhưng người ta đă rất tử tế
nhận con vào hội tọa đàm. Con thấy thoải
mái, thích nghi tốt hơn sức tưởng tưởng,
hơn đ̣i hỏi do chính con đề ra, hơn những
yêu cầu người ta đề ra cho con, dẫu con
rất ao ước tham gia hội đàm này. Thứ năm
tuần trước, con ghé thăm bệnh viện Hôtel-Dieu
lần thứ ba. Ngày thứ hai trong tuần ấy, lần
thứ hai con cũng ghé thăm nơi này. Con chưa lên
giờ giáo huấn. Thư năm tới sẽ đến
phiên con. Nhưng trong khi người anh em đảm trách
việc ấy thay con, con đi thăm các bệnh nhân
đang liệt dường. Mọi người
đều khen ngợi con, chỉ trừ một bệnh
nhân rất khó chịu. Con làm hết cách cũng vô ích mà thôi.
Bệnh nhân ấy cuối cùng bảo con rằng việc
con làm không có tác dụng ǵ cho ông ta. Con thỉnh nhờ anh
thanh niên ấy cùng đến gặp bệnh nhân khó tinh này.
Anh này quen nói chuyện với bệnh nhân này hơn con. Đây
là phương pháp ưa thích của con : Khi lần
đầu tiên gặp bệnh
nhân, con hỏi han t́nh h́nh sức khỏe, nghề nghiệp
của họ, v.v. Sau đó, con mới bắt đầu
khích lệ họ chút ít về đức kiên tŕ. Chỉ
đến lần thăm viếng thứ hai con mới
bắt đầu nghiêm túc nói chuyện chút ít với các
bệnh nhân. Con kể chi li như thế để cha
biết tin. Cha nên hiểu rằng con không kể ǵ với
ai khác về công việc ấy. Ở đây chỉ có một ḿnh mẹ
biết mà thôi. Con phải gưỡng ép viết thư cho
d́ Rodier biết việc này, bởi v́ con muốn nhờ d́
cho ít sách để phân phát cho các bệnh nhân. Thư cho d́
con đă viết, nhưng con chưa gửi. Ngày mai con
mới gửi đi… ».
Thư
Emmanuel d’Alzon gửi cha, Paris ngày 13 tháng 12 năm 1828, theo sách
của Siméon Vailhé, BP. 1923, tập I, trang.22-23
« …Vậy là anh đă tham gia tiệc cưới
của Bridieu, một người rất giỏi. Và anh
đă hoàn thành những việc thích hợp nhất, đó
là việc phục vụ nhạc lễ tiệc
cưới đầy niềm vui và thỏa ḷng
người. Không biết những công việc anh làm như
thế nào, song tôi tin chắc chú rể rất hạnh phúc
bởi anh đă góp phần vào
những công việc thành kính phụ giúp cô dâu, một
nửa tương lai của anh ta khi mọi việc đă
hầu như hoàn tất. A, như anh thường hay nói,
tôi tin chú rể dường như c̣n ngây ngô. Vậy là anh
đă sống những giây phút hạnh phúc. Tôi mừng cho
anh ! Bởi v́ không phải ai muốn cũng đều
có được những lúc sung sướng như
thế. Đối với tôi th́ lại khác. Tuần
trước, tôi đinh ninh sẽ học bài. Chúa
ơi ! học luật khó ghê ! Tôi muốn làm bài thi
trước khi đi, nhưng tôi lại thay đổi ư
định, bởi v́ giáo sư Ducaurroy không đồng ư
để tôi thi cách đặc biệt như thế. V́
thế, một khi nhận ra rằng giáo sư không muốn
nghe tôi tŕnh bày lí lẽ, tôi nhanh chóng thay đổi quyết
định và tôi đă không nổi giận về việc
này. Đó cũng là một chuyện đáng lo v́ dẫu sao th́
tôi sẽ bớt đi một môn thi trên lưng… »
Thư Emmanuel gửi
Eugène de la Gournerie, Paris ngày 13 tháng 7 năm 1829, nt, trang. 25. Bạn
học của cha d’Alzon
Emmanuel
d’Alzon sinh ở Vigan ngày 30 tháng 8 năm 1810. Rửa tội
tại nhà thờ giáo xứ thánh Phêrô ngày chúa nhật
mồng 2 tháng 9 cùng năm. Thời non trẻ, ngài hầu
như sống ở thôn quê, trong lâu đài Lavagnac (Hérault),
gần Montagnac và Pézenas. Ngôi nhà quí phái được ngài
công tước Henri d’Alzon tu sửa. Năm 1816, căn nhà
này trở thành mái ấm thân quen của gia đ́nh. Trong
suốt cuộc đời cha d’Alzon, ngôi nhà này là nơi
Emmanuel rất thích đức kết lại sức
mạnh trong bầu khí thân mật của gia đ́nh bên
cạnh cha mẹ, các em gái, và cả cháu trai Jean de Puységur
cùng gia đ́nh của cháu. Từ tháng 5 năm 1830
đến tháng 3 năm 1832, ngài theo dơi tin tức lộn
xộn của cuộc cách mạng tháng 7 năm 1830, của
sự kiện dẹp bỏ cây thập giá. Những sự
kiện này làm đau ḷng cả miền Nam. Ngài tĩnh tâm
nghiêm túc chuẩn bị hành trang để vào đại chủng
viện Montpellier. Buổi tối ngày 14 tháng 3 năm 1832,
ngài rời gia đ́nh và môi trường xung quanh với
sự lưu luyến khó tả (xem bức thư viết
ngày 16 thang 3). Dầu vậy, Lavagnac vẫn sống măi trong
suy nghĩ và gắn chặt trong con người Emmanuel.
Mặc dầu ở xa, ngài luôn thích nhắc đến cái
nôi đă từng là địa điểm lư tưởng
hóa thời non trẻ và ơn gọi. Ngài miêu tả khá
nhiều nét đẹp đầy quyến rủ của
những miền thôn quê nơi đây, không ôn ào, xáo
động như đô thị. Những miền thôn quê
thân thương đă gắn liền với tư
tưởng, tâm hồn và thân xác của ngài. Con sông của
miền Hérault bên cạnh nhà trở nên nơi ngài ưa thích
tắm rửa, bơi lội khi ngài không muốn dạo
thuyền nữa. Đất đai vốn nhiều đồi
và đồng bằng hiện lên một vùng ưu đăi
trong việc săn bắt và cưỡi ngựa. Ngài
viết rất nhiều thư khi ở Lavaganc gửi
bạn bè thủ đô, và về sau cũng tại nơi
đây, ngài viết không ít thư cho các anh em nam, nữ tu
sĩ Ḍng Mẹ Về Trời trong thời gian mệt
mỏi, ngài đến chốn dấu yêu yên tĩnh này
nghỉ ngơi dưỡng sức. Ngôi nhà trang hoàng của
gia đ́nh luôn rộng cửa đón tiếp bạn hữu
và ân nhân đặc biệt là cha Combalot. Cũng có nhiều
người khác ghé trọ, nhiều người với
nhiều mối quan hệ khác nhau. Cách đó không xa, tu
viện Valmagne, ngôi thánh đường giữa
đồng nho, gợi lại sự hiện diện
của các tu sĩ cisterciens, phố Pézenas gợi lại
Molière và các hoàng tử Conti. Các tu sĩ chartreux đến
ở tại Mougères (Caux) năm 1825. Lâu đài Lavaganc do ông
Jean-Louis-Maurice de Faventine, ông cậu của cha d’Alzon, mua khi
cuộc cách mạng đang bùng nổ của hoàng tử
Conti. Năm 1812 lâu đài này thuộc gia sản của bà
d’Alzon. Trải qua nhiều thế hệ ḍng họ d’Alzon,
Puységur, Suarez d’Aulan cho đến ngày 9 tháng 2 năm 1987.
Năm 1987, Henri d’Aulan bán lâu đài này cho một công ty
nhật bản. Lavagnac trở thành một giai đoạn
bắt buộc đối với bất kỳ cuộc
hành hương nào theo bước chân cha d’Alzon. Ngày nay,
Lavagnac gợi lên một quang cảnh buồn, thậm chí
tiếc nuối làm day dứt ḷng người khi nghĩ
về tầm quan trọng của cái nôi này trong lịch
sử cha d’Alzon và gia đ́nh ngài.
« … Eugène quí mến, tôi
viết cho anh tại một nơi rất quyến rũ.
Đă mười giờ đêm. Sau giờ kinh tối thông
thường dành cho những người phụ việc
trong nhà, tôi đi dạo một ṿng thật lăng mạn. Tôi
nằm dài trên thảm cỏ tươi mát, dưới ánh
trăng soi tỏ nhờ những cành cây sồi rậm rạp
trạc ngh́n năm và hồi tâm trong sâu thẳm tấm ḷng
ba mươi phút. Bóng mát từ những cành cây sồi um tùm
ấy bao phủ cái bàn của những người thợ
gặt vào mùa đập lượm lúa ḿ. Cái bàn ấy
thực ra là cối xay gió cũ rếch. Dù không c̣n tác
dụng trong việc xát hạt lúa ḿ nữa, nhưng nó
vẫn c̣n có thể được sử dụng như
chiếc bàn mà người ta dùng để lấy hạt
lúa ḿ. Nét quyến rũ của nơi đây là thế, tôi
hy vọng vậy. Sau một hồi lâu lạc lỏng trong
những mơ mộng dịu dàng, tôi hướng tâm trí
về căn pḥng học tập. Cùng với tâm trí, thân
xác hướng chiều
về nơi tôi định t́m giấy, bút, mực và
những đồ vật khi người ta muốn
viết thư. Lúc này viết thư cho anh, tôi ngồi
đối diện cửa kính. Từ đây, tôi thấy ánh
trăng lờ mờ khi lên khi xuống liên tục, theo
những đám mây lu mờ bay đây đó trên không trung làm
che phủ mặt trăng bởi tấm màn khi dày khi
mỏng. Anh có biết những âm thanh ǵ đang vang vọng
tai tôi không, đó là tiếng kêu không đồng đều
của đàn vịt do em gái tôi chăm nom. Đàn vịt
chạy tứ tung. Anh biết đó, đối với em
gái tôi, không ǵ hạnh phúc bằng việc coi sóc đàn
vịt. Sau thú vui chăn vịt, tuy nhiên em tôi thích
cưỡi lừa trong vườn do người ta
mới tặng.
Tôi
c̣n nghe tiếng kêu rất mạnh của chim cú, của dế mèn,
của châu chấu, và của một số chim cút. Chỉ
có vậy thôi. Anh biết tôi nghĩ ǵ không ?
Trước hết tôi nghĩ về anh. Sau đó, tôi
nghĩ về thú vui giá mà tôi có anh cùng đi dạo và cùng
nhau dạ ngoại đến hơn một giờ sáng
trong đêm khuya, thay v́ dạ ngoại một ḿnh, rồi
lại phải về nhà viết thư cho anh. Vậy
đó, anh biết những ǵ tôi nghĩ đến. Tôi không
giám chắc đến bao giờ ư định tốt
đẹp đi dạo ban đêm với anh sẽ thành
hiện thực tại một nơi nào khác ngoài Paris. Anh
đơn côi lẻ bóng giữa sa mạc đông
người, đơn côi lẻ bóng như một giọt
nước giữa đại dương, đơn côi lẻ
bóng như một hạt cát, cuối cùng, đơn côi
lẻ bóng như chú chim cút tội nghiệp trong cái xắc
mà tôi đă săn bắt được bằng
đạn ch́ sau bốn tiếng đồng hồ.
Bởi v́, chính ngày hôm nay, chú chim cút trở nên đơn
chiếc.
Anh
bạn thân mến, nếu là anh, tôi sẽ có quảng
thời gian rất tuyệt để học hành,
để chuẩn bị những dự án luật,
để viết bài cho tạp chí « Liên Lạc» (Le
Correspondant), để chuẩn bị cho nhiều cuộc
hội thảo, tọa đàm. Tôi không nghĩ sẽ sáng tác
thơ như anh theo cảm hứng nên đôi khi buộc
phải chờ đợi. Và không cần phải ngồi
chờ mệnh lệnh của một người thất
thường như nguồn cảm hứng… »
Thư Emmanuel d’Alzon, viết tại
Lavagnac ngày 14 tháng 8 năm 1829, nhà xuất bản. S.V,
tập I, trang 28-30
Thần học
về ơn gọi linh mục không phải phát sinh ở
thế kỷ 19 ! Nơi cha Emmanuel d’Alzon, khái niệm
về linh mục thay đổi rất nhanh theo ḍng
thời gian từ những ư tưởng và điều này
dẫn ngài dấn thân theo con đường làm linh
mục. Ta cảm thấy nơi ngài có sự chuyển
đổi từ những tác động của lập
trường giới tăng lữ và uy tín đặc
biệt của họ trong xă hội được nh́n
nhận lúc bấy giờ, sang thời kỳ họ ít gây
ảnh hưởng và cho dù hoạt của họ mang tính
huyền nhiệm hơn bằng việc tham dự sâu
sắc vào mầu nhiệm nhập thể của Đức Ki
Tô trong tâm hồn. Thần học về chức linh mục
dựa theo thần học về sự bắt
chước Đức Ki Tô.
Việc
chọn lựa làm linh mục đă trở thành con
đường sống trong ḷng E. d’Alzon từ thời niên
thiếu, theo lời kể của ngài. Người ta hay
nghe câu khẩu ngữ ở miền quê về việc
đánh thức ơn gọi : c̣n quá trẻ để
thực hiện dự định, nhưng không quá trẻ để
nghĩ đến nó. Ư tưởng về ơn gọi làm
linh mục đụng chạm với những thao thức
khác : khao khát một địa vị xă hội. Khao khát
ấy gắn liền với ngài từ khi ra đời,
gắn liền với học tập của ngài, gắn
liền với địa vị gia đ́nh của ngài. Tất
cả những yếu tố ấy hầu như cho phép
ngài nghĩ đến điều này. Khi anh thanh niên Emmanuel
thổ lộ nguyện vọng ấy với bố
mẹ, dù không từ chối, nhưng các ngài không
được phấn chấn cho lắm. Bạn bè
của ngài hầu như cũng tỏ ra không tán thành
với ngài. Ư kiến của họ rập khuôn theo
những bản đồ, những lập luận sẵn
có thường xuất hiện trong các tạp chí nằm
trong mục ư kiến bạn đọc, hoặc trong
những chương tŕnh truyền h́nh hiếm hoi dành cho
công chúng đông đảo bàn về chủ đề
đặc biệt này. Các phương tiện thông tin
đại chúng không được lạm dụng
những mầu nhiệm hoặc nguồn suối hồng
ân…
Thế
nhưng cha Emmanuel không nản chí. Ngài vạch ra những
chương tŕnh học tập, và những dự
định cho cuộc đời nhằm đưa ra
giải pháp và hướng những niềm đam mê về
sự chọn lựa nhất định : ngài cẩn
thận lắng nghe lời khuyên khôn ngoan của một
số linh mục mà ngài đặt niềm tin tưởng,
ngơ hầu mạo hiểm thầm kín của ngài, một khi
được thẩm định, được xem xét,
không bị thất lạc trong cát bụi do ảo
tưởng của tuổi trẻ. Sau việc học
tập, vui chơi, việc cầu nguyện, suy niệm và
tham gia đầy đủ các bí tích là những việc
đă trở thành sức mạnh đảm bảo cho cuộc
sống tự do, như là bản tính thứ hai. Tuổi
trẻ và tâm hồn non trẻ, nhưng ngài đă mang dáng
dấp của người lớn trong đức tin. Ở
Lavaganc, ngài đă chăm sóc cho sự chín muồi ơn
gọi suốt hai năm tĩnh tâm, đồng thời,
ngài sống như bao giới trẻ khác cùng lứa như
ngài, cùng môi trường như ngài, sống theo những
sở thích riêng, nhưng ngài cũng rất đ̣i hỏi
với chính ḿnh. Chính trong bối cảnh quân b́nh ấy, ngài
đi đến quyết định âm thầm thưa
tiếng « xin vâng » ban tặng cuộc
đời cho Giáo Hội, một tiếng « xin vâng »
hoàn toàn dứt khoát, một tiếng « xin vâng »
rộng mở với thế giới đang cần
được yêu thương, cần được
phổ biến tin mừng và cần được cứu
độ. Chúng ta hăy dành thời gian lắng nghe tiếng
khám phá của ngài :
« … bạn không muốn nghe
ḿnh giải thích tí nào. Ḿnh làm bạn hoảng sợ trong
chiếc áo linh mục. Thế nhưng, có nên chia sẽ
với bạn tất cả những suy nghĩ của ḿnh
trước khi bàn đến một chủ đề
khiến bạn ngao ngán vô cùng ? Trước hết, ư
định làm linh mục đặc biệt tạo lên
trong ḿnh niềm thích thú măi đến khi ḿnh lên
mười, mười hai. Thế rồi, ḿnh từ
bỏ nuôi dưỡng ư định ấy một thời
gian, và sự nghiệp quân sự cuốn hút ḿnh nhất lúc
này. Thế nhưng, ḿnh lại từ bỏ khi lắng nghe
một số ư kiến của bố mẹ. Nhưng
rồi không lâu sau đó, ḿnh nhất quyết dấn thân
trong việc bảo vệ tôn giáo. Từ đó, ư
định ấy phát triển mạnh trong ḿnh cách ngạc
nhiên. Lúc này đây, ḿnh thú thật điều đó với
bạn. Ḿnh cảm thấy cực kỳ ngán ngấy
những chức năng công cộng. Ḿnh rất muốn
bước vào con đường sự nghiệp, nhưng
điều đó chỉ nảy sinh trong một thời
gian ngắn. Quảng thời gian ngắn ngủi ấy
giúp ḿnh có thêm ánh sáng trên con đường quản lí. Thế
là ḿnh chỉ c̣n thấy một đấu trường duy
nhất xứng hợp với ḿnh là diễn đàn (la
tribune) Và thế là ḿnh nghĩ phải chuẩn bị
học rất nhiều. Đôi khi, cùng một nguyên tắc
khiến ḿnh ghê tởm những địa vị, và
bởi v́ ḿnh tự cho đang sống trong một Nhà
Nước không luật lệ, và v́ vậy, không có
quyền hành hợp pháp. Ḿnh cho rằng chính nơi Thiên Chúa
không sai đến, ḿnh lại cảm thấy cần
hiện diện để đem đến sự tối
cao của Ngài. Vậy nhưng, dưới mắt ḿnh,
sự tối cao ấy lại nằm trong Căn Pḥng
bầu cử và chỉ hiện diện trong Căn Pḥng
bầu cử mà thôi…Ḿnh nhanh chóng nhận thấy rằng
sự tối cao của Thiên Chúa không c̣n tồn tại trong
Ṭa Bourbon và Tuileries nữa. Ḿnh cũng nhận thấy
rằng trong một xă hội bệnh hoạn như
thế, người ta chỉ có thể có sự tác
động khi chia cắt khỏi nó và áp đặt lên nó
mọi uy thế của luật pháp mà xă hội thê thối
ấy không có quyền ban bố. Từ đó, ḿnh hoàn toàn
không c̣n hưng phấn trong việc tham gia chuẩn bị
làm đại biểu nữa. Ḿnh chỉ c̣n thấy chính
quyền pháp như một bộ máy củ kĩ và tan nát. Việc
tu sửa bánh xe trở nên vô ích và thậm chí nguy hiểm
nữa. Nhờ nhiều nhận định khác nữa, và
khi tự lập một phương hướng cho
cuộc sống, ḿnh đi đến quyết định,
nếu lập sự nghiệp, sớm nhất cũng
ở tuổi 35, trong khi đó, ḿnh thấy thích thú, trong
một sự nghiệp xa vời, khả năng dâng
hiến cuộc đời cho Thiên Chúa. Dần dần,
những khao khát gầy dựng sự nghiệp chính
trị tan biến, và ḿnh chỉ c̣n nhận thấy
trước mắt chức linh mục mà ḿnh không c̣n
phải hy sinh ǵ nữa, bởi v́ ḿnh không c̣n vướng
víu ǵ với trần thế nữa. Bạn có biết cái ǵ
làm ḿnh hoang mang lúc ấy không ? Đó chính là v́ ḿnh c̣n
thiếu ḷng phấn chấn mạnh mẽ, là do ḿnh c̣n
thờ ơ lănh đạm trong việc hy sinh và v́ ḿnh c̣n
chưa đủ niềm tin vào khả năng thu
lượm hoa trái. Ư nghĩ về sự dễ dàng có
thể cắt dứt những vương vấn làm ḿnh
hoảng sợ. Nhưng điều làm ḿnh lo sợ hơn
nữa chính là do hoàn toàn thiếu ḷng nhiệt huyết,
thiếu ḷng hưng phấn. Nhưng rút cục, ḿnh đă
có được sự hưng phấn ấy khiến ḿnh
không c̣n phải e sợ mang ghánh nặng trên vai… »
Thư E. d’Alzon gửi Luglien d’Esgrigny,
Paris ngày 24 tháng 1 năm 1830, S.V, tập I, trang.39-40. (Bạn
thân của cha d’Alzon)
T́nh
bạn đă chiếm một vị trí quan trọng trong
cuộc đời cha Emmanuel d’Alzon. Những lá thư minh
chứng điều đó, không chỉ đối với
những giai đoạn ban đầu thời sinh viên, mà
ngay cả trong những pha khác nhau khi ngài trở thành
một con người có nhiều trách nhiệm và nhiều
dấn thân hoạt động kế tiếp trong cuộc
sống: ở chủng viện, trong việc thực hành
những chức vụ của một linh mục tổng
quản, trong nghệ thuật hướng dẫn thiêng
liêng và ngay cả trong việc đứng đầu
để dẫn dắt các hội ḍng tu.
Ta
thường quen với những mối t́nh bạn của
tuổi trẻ hơn. Có nhiều tên tuổi
được biết đến: Bailly, d’Esgrygny,
Dreux-Brézé, Gouraud, de la Gournerie, Du Lac, Veillot, Popiel, Thiébault... Nói
chung, ta không quên ghi vào tiểu sử về cha d’Alzon tính cách
đặc biệt trong mối quan hệ của ngài
với Mẹ Marie-Eugénie de Jésus (1817-1898), một t́nh bạn
đánh dấu cuộc đời, một t́nh bạn
rất ấn tượng nhờ chất lượng,
nhờ sự mạnh mẽ, nhờ sự triển nở
nhiều. Vả lại, phái nữ không phải chỉ là
cách diễn tả nhẹ nhàng trong bút phong nhằm tô
đẹp vẻ văn chương rỗng tuếch. V́ có
liên quan đến nhiều việc sáng lập các cộng
đoàn, cha d’Alzon gây ấn tượng và tạo sự chú
ư dù ngài không muốn như vậy. Về phần ḿnh, ngài
biết dẫn niềm khao khát những mối quan hệ
mạnh mẽ theo chiều hướng xây dựng công
việc tông đồ và ngài cũng biết phó thác ư
hướng ấy dưới hơi thở của t́nh yêu
Thiên Chúa để con người được hơi
thở t́nh yêu ấy linh hứng nhằm có thể ban
tặng phần tuyệt vời nhất nơi con
người. Với cha Emmanuel d’Alzon, t́nh bạn chưa bao
giờ xa cách hoặc lạ lẫm với niềm đam
mê của ngài v́ Nước Trời. Ở độ
tuổi chững chạc hơn, cha d’Alzon dành một t́nh
thương thực sự của một người cha
đối với Marie Correnson mà ngài đặt hy vọng,
tin tưởng để lập ḍng Nữ Tận Hiến
Mẹ Về Trời. Có lẽ, Marie Correnson chỉ có
thể thực sự ư thức được điều
đó nhờ sức mạnh của kư ức sau khi ngài
đă ĺa cơi thế, vào những lúc khó khăn và do những
sự khác biệt với người kế vị
đấng sáng lập ḍng. Dù không được t́m
hiểu nhiều, nhưng những mối quan hệ
của cha với các tu sĩ đầu tiên của Ḍng
đáng có cái nh́n được đổi mới, đôi
khi cái nh́n ấy bị xóa mờ do những mối dây gia
đ́nh hay những mối dây quan hệ khác nhau. Cha d’Alzon
chắc chắn đă thưởng thức t́nh bạn
của cha Charles Laurent, một con người mang tính khí
tiên phong, đầy hài hước và nhanh nhẹn trong hoạt
động. Ngài luôn thích tính trung thực, thẳng thắn
và nhiệt huyết của cha François Picard dù ngài có những
điểm cứng cáp khó chịu. Ngài đă chọn cha
François Picard là người chỉ dẫn thiêng liêng và vào
những ngày cuối đời, ngài đă chọn cha Picard
làm cha tổng quản. Ngài cũng dễ dàng quí mến nét
đẹp của cha Vincent de Paul Bailly. Cha Vincent de Paul Bailly
là người biết tạo hứng thú vào bất cứ
việc ǵ do ngài làm hoặc do ngài viết ra. Cha d’Alzon đă
biết tiên đoán và cảm nhận những phẩm
chất tông đồ quí báu của cha tương lai Pernet
khi Marie-Eugénie de Jésus dẫn ngươi thanh niên trẻ trung
Pernet có vẻ hay do dự và gầy yếu xuống Nimes. Hẳn
cha d’Alzon là người mang tính độc quyền, song ngài
không phải là một tên bạo chúa ghê sợ. Thư riêng
của ngài cho thấy những t́nh cảm đầy
tế nhị. Qua đó những phẩm chất ḷng ngài
tỏ ra không bị ngột ngạt, cũng không làm
người ta ngột ngạt.
“ ... Bạn thân mến, ḿnh
đang bực tức v́ thiếu suy nghĩ nên ḿnh đă
không viết thư cho bạn khi ở trường Juilly. Ḿnh
muốn kể cho bạn biết những chuyện mà
giờ này có lẽ không đúng lúc nữa. Ḿnh đúng là
một kẻ thiếu suy nghĩ (un élourdi?). V́ vậy, chúng
ta đừng nhắc đến điều này nữa nhé.
Bạn khiến ḿnh buồn lắm khi nói với ḿnh
rằng bạn tin Lord Bryon quá kiêu ngạo nên khó có bạn
bè. Bạn biết không, chính ḿnh là một người
rất kiêu ngạo. Kiêu ngạo là nền tảng tính cách
của ḿnh. Thế nhưng ḿnh cảm thấy quí mến
bạn. Bạn có biết yêu là ǵ không, ḿnh muốn nói
về t́nh bạn. Hăy nói với ḿnh chút ít về t́nh bạn
nhé. Đôi khi ḿnh buồn chán, bởi v́ ḿnh cảm thấy
dường như t́nh yêu (t́nh thương) ḿnh dành cho
những người ḿnh gắn bó không cháy bỏng bằng
t́nh thương họ dành cho ḿnh. Ngày hôm nay, ḿnh nhận ra
hoàn toàn nhầm lẫn về việc gắn bó và việc
này vẫn chưa sửa đổi. Ḿnh cần phải yêu
thương và ḿnh cần phải yêu thương ai đó. Ḿnh
không biết sẽ chứng tỏ được
điều đó đến bao giờ, như ḿnh đă
chứng tỏ niềm đam mê t́nh bạn. Niềm đam
mê t́nh bạn ấy là ngọn lửa đang lụi tàn v́
bừng cháy vô dụng. Có lẽ ngọn lửa ấy
đang cần ai đó muốn nó. Ḿnh mong kỳ tĩnh tâm
đă mang lại cho bạn mọi điều thiện
hảo có thể được. Sáng nay và thứ năm
tuần trước, ngày lễ truyền tin, ḿnh
đặc biệt nghĩ đến bạn và Thiébault. Đôi
khi ḿnh hoảng sợ mang trong ḿnh t́nh yêu đối với
bạn bè trước mặt Thiên Chúa. Và ḿnh nhận ra
cần làm cho t́nh yêu ấy trở nên vẹn sạch :
omnia munda mundis.
Như thế, ta có thể phó dâng
bạn bè cho Thiên Chúa, dâng lên Người t́nh yêu của
Người dành cho họ. Và việc ấy mang lại ích
lợi. Bạn thân mến, ngày nào cũng vậy, tối
nay hơn bao giờ hết, ḿnh tin chỉ có hạnh phúc
trong đạo (tôn giáo), và nhất là trong việc thực
hành đạo. Cũng như đúc tin, sự thông minh
lớn lên trong việc hành đạo ! Như
đức ái làm rộng mở con tim ! Nhưng cần
mang thập giá ḿnh, cần biết gánh thập giá, chứ
không kéo lê lết sau lưng. V́ nếu chúng ta không đón
nhận thập giá như một sự trợ giúp, như
một chỗ dựa, vậy thập giá chồng chất
lên chúng ta như trọng lượng mệt nhọc mà ta
không thể trút xuống được. Ḿnh sẽ không nói
thêm ǵ nữa với bạn tối nay. Đă gần một
giờ sáng. Ḿnh đă hy sinh cho bạn mọi Kư ức. Vậy
bạn hăy nói cho ḿnh biết bạn có yêu mến ḿnh như
ḿnh yêu mến bạn không.
Emmanuel.
Thật tuyệt vời
khi đă viết một lá thư đẹp ! »
E. d’Alzon gửi Luglien
de Jouenne d’Esgrigny, cuối tháng 3 năm 1830, trích theo những
bức thư d’Alzon, nhà xuất bản. S.V, tâp I, trang.47-48
Cha
Emmanuel quyết định vào đại chủng viện
Montpellier lúc 22 tuổi. Ngài sẽ học tại nơi này
độ chừng 13 tháng, tương đương
một năm rưỡi nếu tính theo lịch học
đường, từ ngày 15 tháng
3 năm 1832 đến cuối tháng 6 năm 1833. Cha
nhận phép cắt tóc ngày 16 tháng 6 nhân ngày lễ Chúa Ba Ngôi
năm 1832, tiếp đó ngài lănh nhận bốn chức
nhỏ (ordres mineurs) vào ngày lễ Chúa Ba Ngôi năm 1833 ngày
thứ bảy mồng một tháng sáu.
Đại
chủng viện Montpellier thời ấy là nhà ḍng cũ
của Récollets thế kỷ 17. Nhà ḍng này được
Đức Cha Jean-Louis Simon Rollet lấy lại năm 1807. Ngài
là Vị Giám Mục đầu tiên thuộc kư kết
giữa Giáo Hoàng và nhà nước ở Montpellier (évêque
concordataire). Nhà ḍng- chủng viện này nằm trên
đường Castelnau. Ngày nay chỉ c̣n lại nhà
nguyện dùng làm Sở lưu trữ văn thư của
tỉnh. Ngôi nhà này có chừng 120 pḥng, phân bố theo hai dăy
vây quanh lối ra vào. Ngày nhập chủng viện, Emmanuel
chính thức ở pḥng số 937. Ngài thi ba hoặc bốn
môn được giảng dạy trong chủng viện:
tháng sáu năm 1832, thi về các bí tích; tháng hai năm 1833 thi
môn về mầu nhiệm nhập thể và giáo luật;
tháng sáu năm 1833 thi môn bí tích
hôn phối và bí tích thánh thể.
Những
cảm nhận đầu tiên của Emmanuel sau thời
kỳ trăng mật kết thúc tan biến nhanh khi ngài
tiếp xúc với những thực tế khó chịu
của cuộc sống nội trú trong chủng viện:
chế độ học tập hay bị gián đoạn
theo nội qui, lối sống khép kín trong đó việc
đọc sách, thư từ, việc tiếp khách
đều nghiêm ngặt, mối quan hệ bạn bè
của các chủng sinh mới bị đánh giá hơi
cứng nhắc. Dưới ng̣i bút của ngài, có nhiều
điểm ghí chú khắt khe hoặc ngộ nghĩnh:
chủng viện được đánh giá là “Đan viện
trí thức”, việc giảng dạy được
biếm họa bằng những bài tập kiểu “ nhắc
đi nhắc lại như con vẹt” (pur psittacisme),
hương vị cá moruy (cá tuyết) lan tỏa khắp
vùng. Đây là một loài cá không có trong bữa ăn
thường nhật ở Lavagnac! Đặc biệt,
chủng viện hay bị xáo động do những
cuộc tranh luận phản đối ngài Lamennais. Đức
Giám Mục phản đối Lamennais dữ dội. Ngài
cấm đọc báo TƯƠNG LAI (Avenir) v́ có những bài
viết của Lamennais.
Tuy
nhiên, mọi thành ngữ cay đắng, buồn chán,
hoặc ngán ngấy của cha Emmanuel nên hiểu cho đúng:
vốn người miền Nam, ngài măi sẽ là
người miền Nam, vả lại, ngài sẽ biến
chính ngài thành người miền Nam với kinh nghiệm
của thời gian và với việc nh́n lại bản thân
khi cần thiết. Về sau, ngài sẽ rút ra nhiều kinh
nghiệm tốt từ những tháng ngày sống trong
chủng viện: tính chuyên cần, niềm ham thích
đời sống tập thể, ḷng nhiệt thành về
Hiệp Hội thiêng liêng do ngài lập nên, học giỏi
một số môn, thực hiện dự định
trở thành linh mục. Trong số 36 chủng sinh năm
1831-1832, chỉ có 18 người sẽ nhận chức linh
mục. Cha Emmanuel tiếp tục gắn bó với
địa phận Nimes. Ngày 1 tháng 6 năm 1833, 24 chủng
sinh nhận các chức nhỏ (ordres mineurs). Chúng ta hăy
lắng nghe cảm nhận đầu tiên của cha Emmanuel
khi ngài vào chủng viện:
“ ...Bạn thân mến, vậy là ḿnh đă nhập
chủng viện! Ḿnh hài ḷng, hài ḷng lắm và ḿnh tin
người hạnh phúc có thể cảm nhận
điều ǵ đó. Đúng là ḿnh đă trải qua một
nỗi buồn sâu nặng. Đó là lúc ḿnh rời Lavagnac. Ḿnh
lặng lẽ ra đi. Người mẹ tội
nghiệp của ḿnh đă tỏ ra rất can đảm
chấp nhận hy sinh. Mẹ ḿnh đă bảo cứ âm
thầm ra đi, đừng nói ǵ với mẹ. Thực
vậy, ḿnh đă không nói ǵ. Dù làm chủ được
bản thân, song con người ḿnh xao động khôn
lường. Giờ đây, mọi sự đă b́nh tâm
trở lại và ḿnh trở nên vui vẻ, ḿnh vui hơn chính
niềm vui cần có. V́ một ngày rưỡi đă trôi
qua, ḿnh nhận ra điều cần phải có...Ngày mai
hoặc ngày mốt, hoặc sau này, ḿnh mặc áo chủng
sinh, và ḿnh rất muốn bạn nhắc lại câu bạn
từng nói với ḿnh về hậu quả của nó
để làm băng giá tâm hồn.
Ḿnh miêu tả căn pḥng nhé. Trong
lối đi lại rất dài từ Bắc chí Nam. Khi
đến từ hướng Nam, bạn vào phía bên trái.
Cửa chính nằm bên phải bức tường, dọc
theo bức tường có một chiếc vali lớn, hai
chiếc bàn nhỏ và một số ngăn sách dựa vào
búc tường chắn xiên xẻo có nguy cơ đè lên ḿnh
do những quyển sách trên đó. Cửa sổ đối
diện cửa chính. Bạn rẽ: bạn sẽ thấy
một tấm ván, một cái vali lớn, giường
ngủ của ḿnh, nhưng bạn vẫn đang ở
ngoài cửa.
Không
có ǵ quấy nhiễu ḿnh cả. Chỉ có điều ḿnh
thấy việc học quá gián đoạn. Các chủng sinh không
bao giờ có ba tiếng đồng hồ dành riêng một
lúc. Ḿnh cảm thấy lịch học như vậy quá mang
tính học đường. Đời sống thường
ngày không đến nỗi tệ. Theo khả năng
thẩm định nhờ tham gia những cuộc tọa
đàm về thần học, ḿnh thấy các chủng sinh
không giỏi lại hay tranh căi những chuyện lung tung
đến nỗi mất lư trí. Thật phí quá nhiều
thời gian căi nhau những chuyện không đâu, trong khi
lại quên đi những vấn đề thiết
yếu. Ḿnh bắt đầu viết lá thư này tối
hôm qua lúc chuẩn bị đi ngủ. Ḿnh đă không
thể viết xong v́ tiếng chuông báo hiệu phải
tắt đèn. Ḿnh phải thức dậy năm giờ
sáng. Dầu vậy ḿnh vẫn thấy ngủ quá nhiều.
Lúc 9 giờ,trong khi ḿnh phải lên
dường ngủ, c̣n bạn th́ bắt đầu
nhảy múa. Nghĩ cũng buồn cười thật. Cho
đến lúc này, ḿnh không có lí do phải buồn chán v́ ḿnh
thấy thời gian quá ngắn ngủi. Nhưng có lẽ
ḿnh sẽ t́m được những thời giờ thích
hợp. Dường như ḿnh không có một lúc để
nghĩ về quá khứ. Vĩnh biệt bạn dấu yêu,
vĩnh biệt trái tim tôi, như Đức Giám Mục đă
nói với ḿnh hôm kia. Bạn hăy giữ ǵn sức khỏe,
hăy vui lên, và nếu bạn cảm thấy thích đến
thăm chúng ḿnh, nhớ nên đến vào tháng bảy. Trong
kỳ hè, ḿnh có ư định đi nghỉ ở ḍng chartreuse.
Chúng ḿnh sẽ đi đón nhau, sẽ hẹn gặp nhau
ở Du Lac. Chương tŕnh như vậy không đến
nỗi tồi đấy chứ. Cuối cùng, bạn hăy
tin một điều, đó là nếu bao giờ bạn
chán không thích học nhảy nữa, nên biết rằng,
bạn không có cách thư giản
tuyệt hơn ở Chủng Viện đâu.”
Emmanuel, từ chủng viện
Montpellier ngày 16 tháng 3 năm 1832, nhà xuất bản. S.V,
tập I, trang.289-292
Thư
gửi Luglien de Jouenne d’Esgriny (1806-1888)
Ngày
20 tháng 11 năm 1833, cha Emmanuel đi trên tàu Henri IV giữa
Marseille và Civatavecchia. Gia đ́nh nhờ cha Gabriel đi cùng để giúp đỡ
ngài khi cần thiết. Cha Gabriel là cha xứ thánh Ursule
ở Pézénas lúc bấy giờ. Ngài là một linh mục có
học thức, nhân cách, nhiệt t́nh hăng hái. Ngài rất
mến mộ Lamennais. Chuyến đi này c̣n có anh chủng
sinh Eleuthère Reboul. Thế là trọn bộ ba. Những
đoạn đường từ Gênes và Pise tạo thêm
niềm vui thú trong chuyến đi : ngày 26 tháng 11 cha
Emmanuel viết thư cho em gái Augustine. Đây là lá thư
đầu tay của ngài ở Rôma. Ngài đă kiên nhẫn
chờ đợi trong bùn lầy v́ việc kiểm tra
hộ chiếu và ngài đă «chờ rất lâu » ở
trạm hải quan. Ngày đầu tiên của ngài khởi
đầu như thế trong Thành Đô Vĩnh Cữu (tháng 11
năm 1833- tháng 5 năm 1835). Ngài sẽ trở lại thành
đô này tám lần (tháng 5 và tháng 6 năm 1855, tháng 5 và tháng 6
năm 1861, tháng 5 và tháng 6 năm 1862, tháng 4 và tháng 5 năm
1863, từ tháng 11 năm 1869 đến tháng 7 năm 1870, hai
lần năm 1877 (tháng 1 và tháng 2, tháng 4 và tháng 6), tháng 2 và
tháng 4 năm 1878. Năm 1833, ngài nhanh chóng t́m được
chỗ trọ tại nhà ḍng của các tu sĩ Minimes. Nhà
ḍng này gắn liền với nhà thờ Sant’ Andrea delle
Fratte, gần Quảng Trường Espagne. Sau khi đă
đăng kư học thần học tại trường
Rôma (Collège romain), theo lời khuyên của cha Ventura, cựu
tổng quyền của ḍng Théatins ( ? ), cha d’Alzon thích ở
nhà học một ḿnh trong pḥng hơn, như thời ngài c̣n
ở Lavagnac. Ngài hay đi lại với nhiều
người uy tín trong giáo hội như Đức Hồng Y
Micara linh mục ḍng Đa Minh, cha ḍng Đa Minh Olivieri, cha ḍng Cát Men
Mazzetti. Tất cả đều là những thần học
gia yêu thích tư tưởng của Lamennais. Trước
khi đến gặp những nhân vật này, ngài
đọc và tóm tắt trước những ư tưởng
triết học, thần học, chính trị tôn giáo hóc búa
trong sách. Ngài cũng lập quan hệ với trưởng
khoa trường anh ngữ. Người này là tổng giám
mục và Hồng Y tương lai Wiseman. Người anh em
họ của Wiseman, cha Charles Mac- Carthy dạy tiếng anh
cho cha Emmanuel d’Alzon, trước khi ngài đi theo con
đường ngoại giao.
Ṿng
tṛn những mối quan hệ của cha Emmanuel trải theo
những người Pháp và những người
nước ngoài đang sống ở Rôma. Ông d’Auriol làm
việc ngân hàng, Paul Delaroche con rể của họa sĩ
nổi tiếng Horace Vernet sau này nối nghiệp ông ở
Villa Medicis, ông Fournas, họa sĩ Xavier Sigalon, ông Rubichon nhà
kinh tế gốc Grenoble, họa sĩ người
đức Peter von Cornelius, cha sở tương lai Dreux-Brézého,
anh em Bernis. Nhưng cha Emmanuel cũng biết hạn chế
trong quan hệ, v́ ngài nhận ra rằng để có
thể học hành, không nên đi lại quá nhiều. Ngài
đặc biệt nắm bắt thông tin trực tiếp
vụ kết án ông Lamennais,
trong ḷng Giáo Hội ở Rôma
năm 1834 : Ngài đau khổ v́ bầu khí tan
thương về chính trị, tôn giáo trong đó nền
ngoại giao của Giáo Hoàng dù không tằn tiện, nhưng
đôi khi v́ cái mặt nạ của tư tưởng
thần học. Bởi vậy, ngài tự đưa ra cho
bản thân ngài một lẽ sống : « luôn luôn
hành động v́ Rôma, không bao giờ hành động
phản lại Rôma, nhưng đôi lúc hành động không
Rôma ». Chúng ta hăy cùng với ngài, với đôi mắt
của ngài, với tư cách là những người hành
hương, những người ngưỡng mộ
đầy hưng phấn cùng nhau khám phá những nét
đẹp của thành đô Rôma :
« … Sáng nay ngày 26
tháng 11 năm 1833, anh trở lại nhà thờ thánh Phêrô. Anh
vẫn không thích mặt tiền, nhưng anh đă rất
thoải mái ngắm nghía với vẻ khâm phục tất
cả nội thất của nhà thờ. Bên trong thánh
đường thật tuyệt vời. Càng bước
vào trong ḷng, không gian cung ḷng thánh đường càng
trải dài, mở rộng ra. Không thể diễn tả
hết nét đẹp diệu kỳ của mọi thứ
trong ngôi nhà này. Các bức tượng, những bức
tranh, những ngôi mộ của các vị Giáo Hoàng. Tất
cả đều đáng ngưỡng mộ. Một khi
đă vào trong cung thánh đường này, ḿnh sẽ
ngất ngây v́ vẻ đẹp trang hoàng như thế. Buổi
tối cùng ngày, tụi anh lại trở lại ghé thăm
lần nữa. Càng xem, càng yêu thích vô cùng. Nhưng nói
thật với em, anh không thích mặt tiền chút nào, anh
cũng không thích tấm màn che trước ṭa giải
tội thánh Phêrô…Rôma là một thành đô làm say đắm
ḷng người. Đảm bảo với em, anh không khoác loác
tí nào. Suốt ngày anh chỉ biết chạy theo ngắm
nghía, thưởng thức nét đẹp nơi đây. Đúng
là một việc diệu kỳ. Những công tŕnh lớn
hầu như cũng mang những nét kiều diễm chung
như những ngôi nhà. Tụi anh đi qua một vài
đường phố khá b́nh
dị : bỗng chốc, mọi người dừng
lại trông ngắm thác nước Trevi rất đẹp
chảy dài ra con sông nhỏ. Em có thể tin như thế,
bởi v́ anh chỉ chiêm ngắm khi đă trông thấy. Ông
Gabriel cho rằng anh mang ḍng máu cá. Anh cứ để
mặc ông ta nói…Anh sẽ kể tiếp cho em nghe về
thánh đường Sainte-Marie Majeure. Sáng nay, anh đă …
Trích
thư gửi Augustine d’Alzon, ngày 26 tháng 11 năm 1833, nhà
xuất bản. S.V., tập I, trang 450-451
Anh bắt đầu đi lại
dễ dàng thăm nhiều nơi ở Rôma. Rất
tuyệt vời. Nói cho cùng, anh nghĩ phải mất
hơn một năm mới tham quan hết thành đô Rôma.
Sainte-Marie Majeure, Saint Jean de Latran, Saint Paul ở ngoài bức
tường thành (hors les murs ?),
le Colisée và vô số
công tŕnh mà anh chỉ mới thoáng qua. Nếu muốn
thướng thức đầy đủ cách chi li, anh
phải quan sát lần nữa. Qua đó, em có thể
tưởng tưởng tất cả những ǵ
đẹp nhất nơi đây. Tụi anh thường
đi mua sắm ngày thứ năm, bởi v́ phải
chạy tứ tung suốt ngày. Tụi anh tham quan từ từ
những công tŕnh gần nhất…
Trích thư gửi
Augustine d’Alzon, ngày 14 tháng 12 năm 1833, o.c, trang. 461
Tối nay, ngày 24 tháng 2 năm 1834,
ḿnh đă đến Colisée ngắm trăng lên. Ḿnh ngồi
trên những bậc tầng cấp h́nh thập giá nhằm
bảo vệ Colisée…
Trích thư gửi
d’Esgriny, o.c., trang 511
Tối nay (ngày 31 tháng 3 năm 1834),
ḿnh đă đi thăm cây đèn nổi tiếng
(girandole ?). Ở Paris, có thể ḿnh đă xem pháo hoa
đẹp chưa từng có, nếu nói chi li như
thế, nhưng chùm đèn này, ḿnh chưa bao giờ trông thấy.
Hôm qua, ḿnh đă thấy ṿm chót vót chói lọi của nhà
thờ thánh Phêrô. Bạn chưa bao giờ thấy cái ǵ có
thể sánh ví được với nó…
Trích thư
gửi d’Esgriny, o.c., trang.539
Hôm qua (ngày 4 tháng 6 năm 1834), con
đă tận hưởng một trong những vở
kịch tuyệt vời nhất mà con chưa bao giờ xem…
Chúng con đi xem cây Sồi miền Tasse trên đồi cao
chót vót Janicule. (Janicule là một trong bảy đồi
ở Rôma nằm bên cánh tả sông Tibre nước Ư).
Mặt trời đang lặn dần sau lưng chúng con và
chiếu những tia sáng vàng óng lên trên cái ṿm bát úp chót vót nhà
thờ thánh Phêrô. Cái ṿm bát úp chót vót này xuất hiện cách
hoàn toàn tách biệt khỏi phần c̣n lại của thành
phố. Thành phố Rôma đối diện chúng con và
vẫn c̣n chói lọi với những ánh sáng sau cùng của
ban ngày. Xa hơn nữa, những ngọn núi Sabine và Albano
bắt đầu bị hơi nước bao phủ.
Thật quyến rũ. Sau khi đă chứng kiến
những cảnh tượng ấn tượng như
thế, chúng con mới có thể hiểu thành đô Rôma.
Thành đô này rất tráng lệ bởi những ṭa nhà
xuống cấp và những công tŕnh mới. Có thể
nhận ra những ǵ tồn đọng lại của cung
điện hoàng đế Néron để phân biệt
với những ṿm bát úp của Vatican…Con mong cha thứ
lỗi v́ lẽ ra con phải kể thêm những chi
tiết về các ṿm bát úp ấy, về những
vườn cam, về những ḍng suối, về những
lâu đài, về ḍng sông cổ kính Tibre luôn có những
cơn sóng màu vàng, về những cây thông tượng
trưng ánh mặt trời rất tuyệt đẹp
ở chân trời. Mong cha trồng một ít thông nơi
mảnh đất bỏ hoang…
Trích thư gửi cha Henri d’Alzon, o.c., trang.580
Con chỉ chú ư đến mọi
người khi nh́n qua cửa sổ. Con thấy phố
Tivoli, nơi trước đây nhà thơ Horace đă
từng sống, phố Monte-Porzio, nơi có nhà chính trị
thời xưa sinh sống, phố Tusculum của Cicéron,
phố Albano, cái nôi của đế chế rôma, những
dấu tích đọng lại của một số
đền đài. Gần sát chỗ con, con thấy nhà
thờ Sainte-Croix de Jérusalem, tại nhà thờ này
người ta bảo tồn phần lớn nhất
của cây thánh giá. Chính cây thập giá này đă khiến cho
những trào lưu tư tưởng triết học vô
thần mất dần tác động. Đó là l’épicurisme d’Horace,
le stoicisme de Caton, le platonisme de Cicéron. Cây thập giá này
cũng làm giảm đi sự đàn áp của đế
chế rôma, đồng thời đặt ra những
luật mới và một vị thần mới… »
Trích thư gửi cha Henri d’Alzon, o.c., trang 758
Nhờ
t́m hiểu thông tin, chúng ta biết nhiều giai đoạn
khác nhau trên con đường tiến đến chức
linh mục của cha Emmanuel d’Alzon, từ Montpellier
đến Rôma. Những lá thư của ngài vừa cho chúng
ta biết việc ngài chuẩn bị để
hướng về chức linh mục, vừa nói lên sự
quí trọng thiên chức này nơi ngài, vừa diễn
tả ḷng nhiệt thành và niềm vui của ngài khi
được mời gọi lănh nhận chức linh
mục. Trong con người của ngài chứa sự ḥa
lẫn nhiều cảm xúc, t́nh cảm và sự tin
tưởng v́ lí tưởng sống của ngài
được thúc đẩy mănh liệt theo nhiều
sự kiện. Trước ngày lănh nhận các chức thánh
(ordres majeurs), thứ 6 ngày 12 tháng 12 năm 1834, ngài phải
kư vào biên bản đồng ư với bức thông
điệp Singulari Nos của Đức Giáo Hoàng về
việc kết án những tư tưởng của
Lamennais. Ngài phản ứng rất mau lẹ : «Đức
Hồng Y Odescalchi đă trấn an con là Đức Giáo Hoàng
rất hài ḷng về thái độ vâng nghe mau lẹ của
con. Thật hơi buồn khi lấy ḷng của Đức Giáo
Hoàng theo cách ấy ».
Lịch lănh nhận
những chức lớn của
cha d’Alzon (tiền phó tế ngày 14 tháng 12, chức phó
tế ngày 20 tháng 12, chức linh mục ngày 26 tháng 12 cùng
năm 1834) có thể gây ngạc nhiên đối với
chủng sinh ngày nay bởi chủng sinh thời nay phải
tuân theo những khoảng thời gian nhất
định ! Việc thi hành kỳ thực tập khi
làm phó tế, hoặc năm làm phó tế có thể thay
đổi tùy theo từng lục địa. Tuy nhiên
việc này đ̣i hỏi phải có hiệu quả
trước khi lănh nhận chức linh mục. Việc ôn
lại kinh nghiệm hoạt động tông đồ trong
nhóm cũng thuộc một phần quan trọng trong quá
tŕnh dẫn nhập vào việc truyền chức thánh,
nhưng ta không t́m thấy ǵ về điều này trong
chặng đường của cha d’Alzon. Ta phải
thừa nhận rằng những chức năng của ngài
trước đây quá đủ để bù lại
điểm khiếm khuyết này của ngài !
Điểm
trọng yếu hơn là đích điểm mà cha Emmanuel
d’Alzon khi ngài hướng đến chức linh mục
trong bôi cảnh phải t́m con đường sống trong
Giáo hội. Chúng ta cảm thấy ngài không t́m cách để
vào trong một lối sống có sẵn, cũng không
phải để gầy dựng cơ nghiệp. Ngài
chưa biết sẽ làm việc ǵ để phục
vụ Giáo Hội khi ngài giải thích rơ ràng với mẹ
của ngài những ư định riêng giữa vô vàn thắc
mắc : « Con tin rằng bàn tay Thiên Chúa sẽ
thực thi công việc, c̣n con người chỉ góp công…Con
phó thác mọi sự cho Đấng Quan Pḥng…Trên hết mọi
sự, con tin chắc không phải khi thi hành ư muốn
của riêng con là con thi hành ư muốn của Thiên Chúa.
Nếu chỉ làm những việc con muốn, vậy c̣n
biết bao việc con chưa chu toàn ».
Những tư
cảm nhận sâu thẳm nơi con người của
ngài : tính sẵn sàng và tinh thần phục vụ.
Những tố chất ấy sẽ cho phép ngài dần
dần khám phá đâu là con đường và việc ngài có
thể làm trong Giáo Hội địa phương. Trong
những ngày mừng lễ sinh nhật, ngài thích nhấn mạnh
ngày ngài thưa tiếng « xin vâng với Giáo Hội ».
Ngày ấy sẽ hiện diện măi măi trong cuộc
đời ngài.
«Thánh
lễ đầu tay của con đến hôm nay đă sang
ngày thứ tám. Sở dĩ con chưa viết thư cho
mẹ là v́ con luôn chờ thư mẹ mỗi ngày. Con có
thể viết ǵ cho mẹ về tất cả những
cảm nhận của con trong tám ngày qua nhỉ ? Vâng
mẹ ạ, cần dâng thánh lễ th́ mới hiểu
được thánh lễ là ǵ. Con vẫn chưa thể
hiểu được ǵ. Từ tám ngày nay, Chúa nhân lành
đối xử với con như với một
đứa trẻ được nuông chiều. Con hạnh
phúc mẹ ạ. Con hạnh phúc hơn sức tưởng
tưởng. Con hạnh phúc hơn niềm hạnh phúc
của con người trên thế gian. Tuy nhiên, đúng là con
người ở hạ giới này chỉ giám nghĩ
tới một mức độ hạnh phúc, c̣n con, con
sẽ không có quyền đ̣i hỏi Đấng Quan Pḥng ǵ
nữa trong phần c̣n lại của cuộc đời
con. Con đă nhận phần thưởng trước
rồi. Mấy ngày nay, con dâng lễ tại bàn thờ thánh
Phêrô, nơi ngôi mộ của thánh Phêrô và thánh Phao lồ.
Hiện tại, con dâng lễ một ḿnh với một giáo
sĩ. Con không cần phải vội vàng. Mẹ sẽ không
tin nổi điều tuyệt vời trong tất cả
những việc con đang làm. Thế nhưng, chỉ măi
đến hôm nay, con mới đủ vững tin
để vững vàng đọc những lời ban phép
ḿnh thánh Chúa (lời truyền phép). Dù thuộc làu làu
những lời ấy, con vẫn thấy ḿnh như c̣n
đang ở trong mây. Con không biết ḿnh đang ở
đâu nữa. Con mong sẽ không làm mẹ quá đau
buồn khi kể cho mẹ nghe tất cả những
điều đó. Song con muốn nói chuyện khác với
mẹ. Trong lá thư cuối cùng mẹ gửi cho con,
mẹ tâm sự những e ngại của mẹ về con.
Mẹ nói mẹ không an tâm lắm đối với linh
mục tự do. Mẹ hiểu như thế nào khi nói
về linh mục tự do ? Con không hiểu rơ lắm
về điều này. Có phải linh mục tự do khi
được Giám Mục cho phép không làm cha xứ, không làm
cha phó ? Trong trường hợp này, cha M. Vernière sẽ
nói cho mẹ hay rằng những linh mục giỏi
nhất mà ngài đă đào tạo đều không ưa
thích làm cha xứ, không thích giữ chức cha phó.
Cha
M. Vernière muốn con trở thành nhà truyền giáo. Khi ghé qua
Saint-Eusèbe, con đă tham khảo ư kiến của một
số cha ḍng tên, họ nghĩ con nên đi rao giảng th́
tốt hơn. Đức Hồng Y Micara, khi con hỏi ư
kiến của ngài, cho rằng con không nên hành động
cách cập rập của người Pháp, mà nên tiếp
tục học hành, bởi v́ ngài tin con sẽ là một giáo
sư giỏi cho Chủng Viện. Không ai hướng con
theo làm cha xứ hoặc cha phó. Tuy nhiên, con có ư định
làm linh mục phó trong một năm với mục đích
tích lũy kinh nghiệm mục vụ. Con nghĩ,
điều cản trở mẹ thấy rơ địa
vị của người linh mục chính là v́ hệ
thống Giáo Hội phân làm hai phần, một phần
thuộc về giáo sĩ ḍng, một phần thuộc
về giáo sĩ triều : giáo sĩ triều trong Giáo
Hội giống những thành phần thẩm phán trong Nhà
Nước. C̣n giáo sĩ ḍng giống như binh đoàn
của giáo hội (armée ecclésiastique). Vậy nhưng, ở
Pháp, binh đoàn này không c̣n nữa. Số ít ỏi c̣n
lại hầu như chẳng có nghĩa ǵ. Vậy
những người nhận ra ơn gọi làm linh
mục, nhưng đúng ra là ơn gọi linh mục tranh
đấu (militaire), ở trong một địa vị
đặc biệt, nếu con có thể nói như
vậy… »
Trích thư gửi bà d’Alzon, Rôma ngày 3
tháng 1 năm 1835, theo nhà xuất bản. S.V., tập I,
trang.767-768
Chắc
hẳn những năm 1835-1842 là thời kỳ chúng ta có ít
thông tin nhất về cuộc sống cụ thể và
cuộc sống thường ngày của cha d’Alzon v́ không có
đủ tài liệu. Năng lực và tính nhiệt
huyết tràn trề, vị linh mục trẻ trung dấn
thân trong nhiều lĩnh vực tông đồ do nhu cầu
đ̣i hỏi ở Nimes : giáo lư, bảo trở
hướng dẫn giới trẻ, thuyết giảng,
chỉ đạo trường học, hướng
dẫn thiêng liêng, chỉ đạo những công tác xă
hội và những công việc phiếm họa đă có
hoặc được sáng lập, sáng lập các cộng
đoàn tu, tố chức những đêm gặp gỡ mang
tính trí thức, tổ chức những cuộc tọa
đàm về học vấn. Sẽ rất khó lập ra
một danh sách thống kê các hoạt động vô vàn
của ngài : một danh sách ngắn ngọn ta
thường dễ nhớ không nên hiểu tính cấp bậc
nào đó trong những trọng trách của ngài. Chính v́
vậy mới xuất hiện những cách người ta
gọi ngài, một số người ngưỡng mộ
ngài, một số chỉ trích ngài. Thế hệ sau này
đă không thể tóm gọn được để nói
về ngài : cha sở d’Alzon ư? Một linh mục
nhiệt thành, đảm đang tháo vát là điều không
thể phủ nhận, nhưng ngài cũng ham quá nhiều
việc và không đi đến cùng. Vị Giám Mục
Chaffoy già nua năm 1835 nói với mọi người
muốn lắng nghe ngài rằng ngài không biết làm ǵ
với vị linh mục mới hơi khó chịu. Vị
Giám Mục kế ngôi ĐGM Chaffoy là ĐGM Cart sẽ
đưa ra những nhận xét rất mang dấu ấn
của giám mục khi ngài cố giảm bớt ḷng
nhiệt thành đến mức điên cuồng của
vị tổng quản : « Ngài (cha d’Alzon) sẽ
thúc giục tôi, c̣n tôi, tôi ḱm hăm lại ».
Tuy
nhiên, chúng ta sẽ sai lầm nếu chỉ giữ lại
con người cha d’Alzon vời h́nh ảnh nông cạn
của một linh mục « mang chủ nghĩa
hoạt động (activiste)» trong suốt những
năm tháng mà công tác tông đồ thông thường đúng
là theo kiểu chung chung hơn là theo một hoạt
động chuyên sâu. Ngày 14 tháng 11 năm 1835, cha d’Alzon
đến Nimes. Ngài nghĩ đến một cuộc
sống khiêm tốn để không c̣n cuộc sống sung
túc của gia đ́nh, cha d’Alzon chỉ có một mục
đích trong đầu, phục vụ Giáo Phận Nimes. Giáo
Phận Nimes đang cần phải xây dựng lại sau
cơn băo tố của cách mạng và chỉ c̣n lại
những thiệt hại vật chất. Vả lại,
năng lực làm mục vụ của ngài nhanh chóng
được nh́n nhận : ngài được
chọn làm kinh sỹ (chanoine) và chức vị cha tổng
quản đáng kính thời ĐGM Chaffoy (1835), ngài chính thức
trở thành một trong những vị tổng quản
chính của ĐGM Cart (1839). Thời gian biểu của ngài lúc
bấy giờ được vạch ra trong những
việc phục vụ nặng nề với chức
năng quản lí hành chính (administration) và tạo sinh khí cho
(animation) giáo phận. Ngài tận dụng những
điểm mạnh (atouts) không được khinh
thường : các quan hệ và tài sản riêng có
được nhờ môi trường của ngài, tính
độc lập đối với giới tăng lữ
giáo phận Nimes khi ngài hướng theo những chọn
lựa chỉ tuân theo Giáo triều Rôma và Đức Giáo Hoàng
(choix ultramontains), tư thế tự nhiên của một
thủ lĩnh nhờ dáng vóc vốn có, học hành, bản
tính làm xếp, nhất là những sáng kiến khiến
nhiều truyền thống bất di bất dịch bị
xao động.
Chúng ta hăy để bản ngă
đầy chất lửa nói qua bức thư ngài viết
cho một người bạn vào tháng 8 năm 1836 :
«Từ khi đến ở
nơi đây, tôi không rảnh rỗi chút nào ».
«…Tôi chỉ muốn nói để
anh hay, tôi vẫn măimăi như trước kia, không thay
đổi ǵ, có nghĩa là tôi đôi khi càu nhàu, nhưng
vẫn luôn thi hành công việc của ḿnh. Người ta có
thể mong ước theo học ở một
trường đại học Đức và là một Vị
Tổng Quản uy thế ở Nimes, làm việc với
giới trẻ, và có chừng trăm bà đạo
đức (Dames de la Miséricorde), nhưng anh sẽ c̣n đ̣i
hỏi tôi thêm nữa và thúc tôi nghĩ đến một
khát vọng : à, thưa ngài ! đừng
quá nghiêm khắc thế. Con
người đề nghị, c̣n Thiên Chúa mới là
Đấng thực hiện (l’homme propose et Dieu dispose). Chỉ có thế
thôi. Đôi khi tôi muốn xin đi truyền giáo theo nguyện
vọng riêng, v́ nói thật với anh, sở thích của tôi
thiên về hành động. Nhưng dường như
người ta đă khám phá trong tôi khả năng làm
người quản lí hành chính, có nghĩa là cứ tám ngày
một lần, công việc của tôi là phải đưa
ra ư kiến về những trường hợp cần xem
xét trước hội đồng giám mục. Tôi vinh
dự thuộc thành phần của hội đồng này. Nào,
anh đừng che miệng cười nhạo quá về suy
nghĩ của một người 25 tuổi non nớt
thiếu kinh nghiệm đang ngồi oai phong giữa
năm hoặc sáu ông già vừa lắng nghe, vừa trả
lời, vừa chất vấn, vừa bác bỏ ư kiến,
và cuối cùng cứ làm mọi việc như thể
biết hết mọi vấn đề như bao
người khác. Có cái ǵ đó khiến tôi nghĩ thật
ngỗ nghĩnh sao tôi làm Tổng Quản sớm
đến thế, nhưng anh muốn làm ǵ nào ? Nếu
tôi nói với anh, theo sở thích riêng, công việc tốt
hơn đối với tôi là giảng dạy và rao
giảng, anh sẽ rêu rao với tôi đức vâng lời. Và
dù tôi có bực bội về những bài giảng của
anh, tôi vẫn muốn một số bài giảng khác so
với những bài anh đă giảng ở Saint-Cyr. Tóm
lại, anh biết khá rơ con người tôi để
hiểu rằng tôi có thể sống bất cứ nơi
nào. Người ta đă tiếp đón tôi rất tốt
ở Nimes. Tôi sẽ có lỗi nhiều nếu không tỏ
ḷng biết ơn sâu sắc đối với những
người con tốt lành của Nimes. Tôi không nhớ
đă viết thư kể cho anh rằng hầu như ngày
nào trong mùa Chay năm ngoái tôi cũng đều giảng cho
giáo dân. Anh sẽ không thể tưởng tưởng
hết việc ấy đă làm tôi mệt đến
mức nào. Những người làm nghề gánh vác, cu-li
(portefaix) cởi mũ chào tôi, những người
đạo đức đau ḷng khi tôi bị ho. Người
ta tặng tôi biết bao là kẹo. Ngay cả những
người bán hoa quả, trước đây họ
chỉ cho tôi thưởng thức những quả cam
dở, bây giờ họ cảm thấy bị đánh
động bởi những bài giảng của tôi nên vui
vẻ chọn thay cho tôi những quả ngon nhất. Họ
c̣n gửi đến tận nhà tặng tôi rất nhiều
cam tuyệt ngon. Anh hiểu đó, tôi biết cách xoay xở
trong mọi việc. Đảm bảo với anh, dĩ nhiên
tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi dự
định đi đó đây với niềm hy vọng
ở nơi nào Chúa muốn : linh mục có nghĩa là già
nua và Đức Giê Su Ki Tô bảo thánh Phêrô khi về già,
người ta sẽ dẫn thánh Phêrô đến nơi
chính ngài không muốn tới. Anh biết đó, tôi cũng có
thể thuyết giảng cho chính ḿnh. Hy vọng những
bài giảng của tôi cùng tài hùng biện trong các bài
giảng của anh cuối cùng sẽ khiến tôi ăn
năn trở lại. Tôi muốn anh giảng cho tôi nghe,
không có nghĩa là tôi không thích anh viết cho tôi. Tôi sẽ
không liên lạc thư với anh trong tháng bảy và tháng tám.
Tôi sẽ nhắc lại cho anh những ǵ anh đă hứa
với tôi… »
Trích thư gửi Adolphe de
Fournas, Nimes ngày 10 tháng 5 năm 1836.
Bản gốc trong Tài liệu
giữ trữ giáo phận Montpeliier.
Cha
d’Alzon, chịu chức linh mục ở Rôma ngày 26 tháng 12
năm 1834. Ngài trở về phục vụ giáo phận
Nimes. Ngày 8 tháng 11 năm 1835, ĐGM de Chaffoy chỉ định
ngài làm kinh sỹ và tổng
quản đáng kính của giáo phận Nimes. Ngày mồng 4
tháng 3 năm 1839, cha d’Alzon được nội các của
vua Louis Philippe chấp nhận ngài làm tổng quản chính
thức và ngày 14 tháng 3, ĐGM Cart giáo phận Nimes từ tháng 11
năm 1837 giao nhiệm vụ tổng quản cho ngài. Cha
Emmanuel d’Alzon sẽ chu toàn nhiệm vụ này cho đến
ngày 30 tháng 9 năm 1878. Với chức vị tổng
quản, ngài được mời gọi đi nhiều
nơi thăm giáo phận Gard bởi ngài tháp tùng nhiều
Vị Giám Mục kế tiếp nhau trong những chuyến
viếng thăm công tác mục vụ. Đó là các ĐGM François Cart
(1838-1855), Henri Plantier (1855-1875) và François Besson. Rất
tiếc chúng ta không có nhiều thông tin về những
chuyến viếng thăm này. Trong bối cảnh này cha
d’Alzon viết thư gửi ĐGM Sibour. Ngài là Vị Giám
Mục trẻ của giáo phận Digne lúc ấy. Sau này, ngài
được bổ nhiệm làm tổng giám mục Paris năm
1848 cho đến năm 1857. Đức Cha Marie-Dominique-Auguste
Sibour không c̣n là một người lạ đối
với cha d’Alzon. Ngài gốc ở Saint-Paul-Trois-Chateaux
(Drome). Như người anh em cùng họ Léon-François
(1807-1864), linh mục miền Sibour chịu chức linh
mục ở Rôma năm 1818, sau một thời gian phục
vụ ở Paris, ngài đảm nhiệm chức tổng
quản ở Nimes (1822-1839). Cha Sibour có thiện cảm
rất nhanh với cha d’Alzon, một người
đầy sức trẻ, cùng đảm trách những công
việc rao giảng, đảm trách giới trẻ, trọng
trách về người tin lành để họ trở
lại giáo hội công giáo giống như ngài. Tháng 9 năm
1839, cha Sibour được bổ nhiệm làm giám mục
giáo phận Digne. Ngài nhanh chóng tổ chức lại giáo
phận. Ngài đứng ra khuyến khích thiết lập
các cuộc họp (conciles) ở trong vùng. Cũng như cha
d’Alzon, cha Sibour luôn mong mỏi đi thăm tất cả
các giáo xứ của giáo phận ở miền núi. Nơi
đây có một điểm chung với giáo phận GARD.
Sự
việc về người tin lành ngày càng phổ biến.
Họ ngày càng lớn mạnh và lan tỏa trong các vùng
Cévennes từ ngày cải cách (Réforme). Đối với công giáo,
tin lành đă trở thành tôn giáo theo qui ước (religion
concordataire) năm 1801. Sự việc người theo
đạo tin lành đặc biệt khiến người
công giáo thời ấy muốn t́m cách thuyết phục
họ trở lại công giáo. Cuộc đời cha d’Alzon
minh chứng quá rơ điều ấy : những lần
rao giảng gây tranh căi, những bài viết bảo vệ
đức tin công giáo, những công tác học
đường và xă hội nhằm giảm bớt tầm
ảnh hưởng của tin lành, những tổ chức
ở nông thôn cho các em mồ côi, các hiệp hội mang tên
Saint François de Sales, đề cao ḷng mộ đạo công
giáo với mục đích gạt bỏ những phái
cải cách ( chầu thánh thể, tôn sùng Đức Mẹ,
kiệu rước). Tất cả mọi phương
tiện như viết lách, tiếng nói, tôn thờ, hành
động công cộng có vẻ được đề
cao lúc bấy giờ nhằm cản trở « mối
hiểm nguy tin lành ». Nếu tin cha d’Alzon, ta thấy
rằng những người cải cách không có lỗi trong
sự đối lập tuyên xưng đức tin :
tháng 11 năm 1857, ngài có viết rằng người ta
hứa tặng cho mỗi người công giáo một con
lợn nếu họ theo tin lành…
Kính gửi Đức Cha Sibour, giám
mục giáo phận Digne,
Nimes ngày 24 tháng 3 năm 1840
«Trở
về sau những chuyến viếng thăm ở các
miền Cévennes, con đă nhận thông cáo về chuyến
thăm mục vụ của Đức Cha và đă rất hài
ḷng đọc thông cáo ấy. Cảm ơn Đức Cha đă
báo trước cho chúng con. Trong tâm t́nh cảm ơn ấy,
khi phân phát thư mục vụ, con khiêm tốn thỉnh xin
Đức Cha xem con như một linh mục trong số các linh
mục của Đức Cha. Con hiểu khi làm giám mục,
Đức Cha không c̣n thời gian cho bạn bè nữa, nhưng
bạn bè lại gặp gỡ ngài trong bút danh. Khi không có
thể hưởng sự thân mật nữa, họ
thầm đoán và thấu hiểu t́nh thân ấy khi ngài
xuất hiện giữa đàn chiên giảng dạy và chia
sẽ lời Chúa.
Kính
thưa Đức Cha, con mong thời tiết sẽ đỡ
lạnh và đỡ mưa trong thời gian Đức Cha
đến viếng thăm so với những ngày qua mà chúng
con đă phải chịu đựng. Đức Cha giáo
phận Nimes khá tốt bụng, thỉnh thoảng ngài cho
con mượn xe. Nhưng thú thật con mệt mỏi v́
đường sá kinh khủng quá, kèm theo những trận
mưa rào ồ ạt trên vai khiến những người
khỏe mạnh hơn ngài cũng phải vất
vưởng. C̣n ngài chỉ đau bụng nhẹ và đă
khỏi lâu rồi.
Chuyến
viếng thăm của Đức Cha giáo phận Nimes đă
mang lại nhiều kết quả tốt đẹp
về mọi mặt. Chúng con đă nhận thấy
đạo tin lành trở nên lộn xộn một cách không
ngờ do các trào lưu giáo lư giám lí (méthodisme) gây ra nên thiếu chỗ dựa và chỉ
cuốn theo ḷng thù ghét lâu nay đối với Giáo Hội.
Vậy nhưng, trong nhiều làng quê, ḷng thù ghét ấy
đang ngày càng bị xóa nḥa cách minh nhiên đằng sau t́nh
cảm quí mến và kính phục Đức Cha giáo phận Nimes.
Rất nhiều người tin lành, thậm chí các vị
mục sư cũng đều gửi con cái đến
để được ngài ban phúc lành. Chính họ làm
dấu thánh giá trước mặt Đúc Cha. Họ rất
vụng về khi làm dấu thánh giá nên không quá khó để
nhận ra họ. Đó là những việc nhỏ nhen, song mang
ư nghĩa rất lớn. Sự quí trọng dành cho Đức
Cha khi đem sánh với sự vô dụng của các mục
sư c̣n lớn lao hơn thế nữa. Thật khó có
thể ưu tiên cho họ điều ǵ khác ngoài sự tôn
trọng đối với tinh thần của họ.
Người ta kể cho con biết về gia đ́nh
của một người trong số ấy. Gia đ́nh
ấy gồm bốn người, nhưng theo ba
hướng khác nhau. Tất cả đều đang
sống. Họ đều đồng ư để
người khác giảng dạy một học thuyết
hoàn toàn khác tín điều của họ. Dù đó không
phải là học thuyết của họ, ít ra đó
cũng là học thuyết của người vợ,
hoặc của người con... ».
Bản gốc : văn bản
bằng tay, trong tài liệu giữ trữ của tổng
giám mục Paris, cha Adrien Pépin sao chép lai, ACR, AQ 7.
Đôi
khi ta hay thắc mắc mưốn biết đâu là
những tác động khiến cha d’Alzon chọn lựa
đời sống tu sĩ ?
Ta
biết có ba việc sáng lập ḍng tu đă đóng một
vai tṛ rất quan trọng đến con đường
dấn thân này của ngài. Việc sáng lập ḍng Các Nữ
Tu Mẹ Về Trời năm 1839 mà ngài giữ mối quan
hệ ngày càng mạnh qua trung gian của mẹ Marie-Eugénie
de Jésus, việc sáng lập ḍng Cát Minh ở Nimes do ngài « thỉnh
xin » giám mục giáo phận khi ngài cho phép gửi
một số nữ tu ḍng Các Men ở Avignon đến
Nimes (1843) và việc sáng lập trường Assomption mua
lại của cha Alexandre Vermot năm 1843 và ngài hợp tác
việc này với cha Goubier, nhờ có sự cộng tác này
của cha Goubier, ngài sẽ lập Ḍng-Ba.
Ta
rất muốn biết thêm về những động
cơ trong chính con người cha d’Alzon đă thúc
đẩy ngài, không những thuyết phục
được những phản đối của ĐGM,
Đức Cha Cart khi ngài do dự v́ không muốn « mất »
vị tổng quản, và nhất là ngài sợ rằng
việc ấy sẽ gieo ư tưởng muốn trở thành
tu sĩ nơi cha d’Alzon. Ta đối diện với
vấn đề này như đứng trước lối
vào (porche) của ngôi nhà thờ chính ṭa, lối vào trong
thế giới thiêng liêng sẽ mở cho ta cách hiểu
biết cuộc đời thống nhất của một
người. Dưới mắt chúng ta chỉ c̣n lại
ṭa nhà vật chất được dựng xây. Ṭa nhà
ấy đă chứa đựng một cuộc đời
nguyên vẹn, nhưng lại không thể chỉ cho ta
những bước đường huyền bí mà hồng
ân đă ghi lại trong linh hồn
một con người để sinh ra một thân
thể mới này.
Thế nhưng, chúng ta không
phải hoàn toàn thiếu dấu chỉ. Khi đọc
kỹ càng chi li từng ḍng một trong thư của cha
d’Alzon, ta không thiếu dấu chỉ, không thiếu
những tiết lộ, thậm chí kể cả những
mơ tưởng được tỏ hiện
dưới ng̣i bút của ngài. T ất
cả mạc khải cho ta thấy nỗi khát khao cuộc
sống « tu sỹ » trong giáo hội của cha
d’Alzon, giúp ta khám phá mong mỏi của ngài được
nh́n thấy những lối sống tu tŕ ra đời
vừa đánh dấu nét mới, vừa trung thành theo
truyền thống, hoặc làm nảy sinh tiếng mời
gọi thiết lập ḍng tu nhằm có thể bảo
đảm trọn vẹn tính năng động của
đời sống chung liên đới đến niềm
đam mê làm việc tông đồ v́ Nước Trời.
Cha
d’Alzon không đánh giá thấp những giá trị của
cuộc sống linh mục, nhưng ngài tin những giá
trị của đời sống tu tŕ sẽ năng
động hơn, sẽ tự do hơn, trong khi đó
những tính năng ấy nơi cuộc đời linh
mục triều theo kư ước giữa thể chế
cộng ḥa và Giáo Hội Rôma hoặc văn pḥng giám mục
không thể đem lại. Trên hết mọi sự, ngài quí
chuộng những thái độ thẳng thắn, tự
do, và giản dị. Đối với ngài, những yếu
tố ấy h́nh thành nên trung tâm điểm của
đời sống thiêng liêng vững bền nơi
người tu sĩ và tố chất của đời
sống chung có thể triển nở thêm trong vũ khí
hoạt động tông đồ. Từ Turin, nơi ngài
đặt chân đến vào tháng 6 năm 1844 để
thăm em rể, công tước Anatole de Puységur, ngài
viết thư cho Mẹ Marie-Eugénie de Jésus điều ngài
cảm nhận từ lâu đang dần dần trở thành
một thực tế : « Ư tưởng cha nuôi
dưỡng trước đây lâu nay chỉ c̣n lại
trong kư ức nữa mà thôi, song ư tưởng ấy nay
lại xuất hiện trong con người cha mạnh
mẽ hơn bao giờ hết. Đó chính là ư tưởng
dấn thân thành lập một cộng đoàn tu sĩ ».
Thư viết ngày 24 tháng 6 năm 1844, nhă xuất bản.
S.V., tập II, trang.162. Xem thêm, o.c. trang 183, 185, 227, 259.
«... Giờ đây cha bàn đến
một vấn đề khác. Có thể con đă không c̣n
để ư đến vấn đề này nữa từ
ngày con tuyên khấn nếu con
cho là đúng đắn. Nhưng con cũng có thể
để tâm đến vấn đề ấy ngay
lập tức nếu con cảm thấy việc đó
tốt. Vấn đề ấy chỉ liên quan đến
cha mà thôi. Thời gian gần đây, con rất quan tâm
đến những công việc cá nhân theo trật tự mà
Đấng Quan Pḥng có thể muốn cha bước theo.
Khi
cha nhận chức thánh cách đây mười năm, cha
không biết ǵ về việc này, cha cũng không c̣n nhận
thấy rơ ràng trong tương
lai. Ngày nay, dường như ngôi sao ấy lại mọc
lên và cha tin đang khám phá ra điều ǵ đó khiến cha
phải bước theo. Đôi khi những day dứt giận
dữ xuất hiện trong ḷng. Cha sẵn sàng trước
mọi thứ. Mặt khác, một số bối cảnh
bên ngoài cho cha thấy mọi thứ, để tạo
điều kiện dễ dàng cho cha có những
phương tiện thực hiện các dự định
mà cha tin đó là những dự định của Thiên
Chúa. Nên để Thiên Chúa hành động con ạ. Phần
cha, dù phải trả bằng giá nào, dường như cha
cảm thấy đă sẵn sàng trước mọi
thứ… »
Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de
Jésus ngày 20 tháng 12 năm 1844, nhà xuất bản. S.V., tập
II, trang.213
«…Con cho cha biết tất cả
những người có ơn gọi đi tu mà cha thấy
thích hợp tu Ḍng theo như con mơ ước. Nhưng,
vấn đề là liệu cha có những ǵ thích hợp
không ? Một mặt, cách làm việc, cách hành
động chứng tỏ cho cha thấy rằng cha không
thể làm hài ḷng tất cả mọi người. Mặt
khác, cha nhận thấy rất rơ rằng, trong trật
tự của sự thánh thiện, không liên quan ǵ giữa
cha và những những đấng sáng lập trước
kia. Trước khi lănh trách nhiệm đào tạo những
người khác, chính họ đă tự giáo dục họ
trong gian nan ! Này con, con phải dè chừng rằng công
việc của cha có vẻ
tiến triển tốt đẹp hơn công việc
những người khác, có thể v́ tính vô tận của
nó khiến con có cách nh́n chưa sâu xa so với những công
việc mang hệ thống ngắn gọn hơn… »
Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus
ngày 23 tháng 1 năm 1845, o.c, trang.221
«…Con yêu quí, thực vậy, rất có
thể cha là một người vô tâm. Bằng chứng là
đây. Trong thời gian đi công tác, cha đă viết
thư bảo quản gia trả lại căn hộ cho gia
chủ vào ngày lễ thánh Mi-Ca-En ngày 27 tháng 9. Trong thành
phố, người ta đă biết tin này. V́ thế,
biết bao con mắt phải rơi lệ như ḍng sông
tuôn chảy đến mức khiến cha ngạc nhiên, hay
ít ra đến mức có thể h́nh thành nên một thác
nước. Con có nghĩ là cha đă để mọi
người tin cha thực sự sẽ rời Nimes và tàn
nhẫn rời bỏ những giọt nước mắt
ấy măi măi hay sao ? Mặc dầu vậy, cha tin ḿnh
vẫn c̣n chút lương tâm, c̣n chút lương tâm hơn
nhiều người khác. Nhưng cha không muốn minh
bạch điều đó. Nếu con không nhận ra chút
lương tâm ấy nơi cha, cha không có ǵ phải bàn
đến nữa. Cảm ơn con về những nhắc
nhở ấy… »
Thư gửi Mẹ
Marie-Eugénie de Jésus ngày 10 tháng 4 năm 1845, o.c.,
trang.245-246
Cha
E. d’Alzon thuộc tầng lớp ưu tú cổ của xă
hội nhờ gốc rễ gia đ́nh. Được gọi
là tầng lớp ưu tú cổ của xă hội do chính
trị lật đổ sau cuộc cách mạng pháp nhờ
sức mạnh tiền tệ và công nghiệp của
giới tư sản. Một trong những đồng
hương của ngài là một điển h́nh. Đó là
François Guizot, một người tin lành theo ngủ nghĩa
tự do (libéral). Tất cả hoặc hầu như
tất cả mọi người đối lập hai
gương mặt của thế kỷ 19 về mặt
tư duy. Tuy nhiên, sẽ không chính xác trong kư ức về
đấng sáng lập ḍng Mẹ Về Trời khi ta
xếp ngài trong hàng ngũ của những người
bảo thủ xă hội, dưới cái dớp của
sự chống đối chũ nghĩa tự do chính
trị nơi ngài : vào ngày ra đời của Đế
chế đệ nhị, cha d’Alzon tỏ ra nhảy cảm
với những tiếng gọi và những chờ
đợi của các tầng lớp quần chúng trong xu
hướng vừa mang tính dân chủ vừa mang tính kinh
tế của họ. Ozaman là một trong những
gương mặt uy tín của công giáo vừa theo chủ
nghĩa tự do, vừa theo chủ nghĩa xă hội.
Thời kỳ của chế độ Quân Chủ tháng
Bảy, Ozaman đă mở ra một trào lưu mang tính sáng
lập với mệnh lệnh nổi tiếng « Passons
aux Barbares ». Những sự kiện liên tục
của cuộc cách mạng năm 1848 đă nhanh chóng tàn quét
cái thời êm đềm nơi giao ước của
tự do và tin mừng. Sự tàn quét vùi dập cái thời êm đêm
ấy dưới những tàn dư tràn trề máu do
những rào chắn (barricades). Tính độc tài của
Bonaparte tiếp tục làm mất dần đi những
mầm mống hy vọng dưới bao mập mờ
của « Parti de l’Ordre », nhưng được
giải thoát năm 1848. Trong thời kỳ khai mào
đầy khó khăn của xă hội mới đang
gặp khủng hỏng để có thể
được giải phóng, cha d’Alzon hẳn đă không
phải là một gương mặt hành động hay nhân
chứng đầy ưu ái. Vốn là người tỉnh
lị, ngài e dè với những nhóm người Paris
khuấy động đứng đầu về dư
luận. Những bài báo thí nghiệm ban đầu của
ngài cho tờ báo V́ tự do cho tất cả mọi
người vào năm 1848 không thành công. Ở Nimes
cũng xuất hiện những t́nh h́nh khiến lo ngại
không kém, những t́nh h́nh kỳ quặc của « cái xă
hội không nhận ra chính ḿnh » này nữa. Cha d’Alzon
tranh đấu trong trường học của ngài với
tất cả tính khí của một con người
trưởng giả và ngài gây ảnh hưởng lên dân
chúng ở Nimes trong tiếp xúc với họ. Bởi ngài
cảm thấy cần thiết đến với họ,
giảng dạy truyến bá cho họ. Về phần ngài,
ta không thiếu những tấm gương cụ thể
về sự gắn bó của ngài với dân chúng rất có
thể mang tính chất của người cha nếu ta
hiểu theo những xu hướng và những mối quan tâm riêng. Con
người của Giáo Hội, cha d’Alzon tận dụng
những khả năng tác động lên dân chúng và cũng
tận dụng những phương tiện có
được, nhưng ngài biết những việc đó
có giới hạn cho phép do t́nh trạng, địa vị
(statut) và những lạc quan trong cuộc sống. Dù không
ưa thích, ngài vẫn đồng ư làm đại biểu bầu
cử năm 1861 nhằm tham gia vào chính sách đối
lập Rôma của chính phủ, nhưng ngài không ảo
tưởng đến kết quả trong cuộc bầu
cử này. Đối với ngài, việc trở thành
đại biểu tranh cử là một vấn đề
danh dự hơn là một vấn đề tham vọng,
thích thú. Bằng chứng là năm 1840, cha d’Alzon tŕnh bày trong
tổ chức hội thảo Saint Vincent de Paul. Tổ
chức hội thảo Saint Vincent de Paul do chính ngài gầy
dựng ở Nimes. Nimes là thành phố thứ hai ở Pháp
sau thủ đô Paris có tổ chức này nhờ công của
cha d’Alzon. Việc này có thể cho phép chúng ta nắm bắt
những rắc rối của những vùng xung quanh về
cái chúng ta gọi là mối quan tâm đến vấn
đề xă hội nơi cha d’Alzon. Chúng ta xem bài viết
dưới đây dưới bút danh của ông Jules Monnier,
thư kư trong cuộc hội
thảo này :
«…Cuộc
hội thảo của chúng tôi đến thời gian này
đang rất êm xuôi. Nhưng chúng tôi vẫn cần
phải cực kỳ cẩn trọng và kín đáo : mỗi
khi gặp phải những người tin lành, chúng tôi
phải tránh đụng độ với họ. Đó là lí do
khiến những kế hoạch ban phát tinh thần của
chúng tôi bị chậm trễ : dạy giáo lư
cho…taffetassiers ?, cho những người làm nghề
bốc vác, đọc lời Chúa trong các trại tù. Thiên
Chúa chuẩn bị đường lối cho chúng ta,
đức ái biết khéo léo pḥng trước những
chướng ngại vật. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng
không quá chậm trễ khởi hành những công việc
ấy. Cha d’Alzon, vị tổng quản giáo phận Nimes,
sau khi đă dâng lễ cho chúng tôi, truyền đạt với chúng tôi một số giáo
huấn. Tôi nghĩ ngài chủ tịch có thể muốn
biết nội dung tóm lược của bài giáo huấn
này :
Chúng
tôi nhớ lại những t́nh cảm khiêm hạ nơi
tấm gương của thánh bảo trợ đầy
diễm phúc. Những t́nh cảm khiêm hạ ấy phải
thúc đẩy chúng tôi trong những công việc đang
được tiến hành. Khi gạt bỏ mọi tính
kiêu căng trong con người, tính khiêm hạ giúp chúng tôi
hành động chỉ v́ Thiên Chúa mà thôi. Và nhờ tính khiêm
hạ, chúng tôi có niềm tin tưởng, không phải trong
con người nghèo hèn, yếu đuối của chúng tôi,
mà tin tưởng trong công việc do Thầy Chí Thánh đă
thổi sinh khí cho chúng tôi. Không bao giờ thất vọng
về công việc nhân danh
Thầy Chí Thánh đồng nghĩa với tấm ḷng
thành kính của chúng tôi đối với Thiên Chúa toàn
năng. Đức ái luôn luôn không bao giờ thất vọng.
Hầu như tất cả mọi sáng lập của saint
Vincent de Paul lúc đầu chẳng là ǵ. Những sáng
lập ấy lúc khởi đầu chẳng có ǵ
nương tựa.
Việc lập ra hội các Bà
Đạo Đức (Dames de Miséricorde) phát xuất từ việc qui
tụ 24 bà sùng đạo : ngày nay, hội này có mặt
khắp nơi trên toàn lănh thổ Âu Châu. Từ một ngôi
nhà thuê ở cổng Saint-Victor ban đầu chứa 12
trẻ em bị bỏ rơi t́m thấy : thế
nhưng ngôi nhà ấy nhanh chóng trở thành bệnh viện,
Bicêtre, Saint-Lazare, trên toàn nước Pháp. Chị Legras
lần đầu tiên tổ chức gặp gỡ một
vài Nữ Tu bác ái với số người rất khiêm
tốn : vậy nhưng hôm nay, con số ấy đă
vượt qua ngàn người…Công việc của chúng ta
cũng sẽ tiến triển như vậy nếu chúng ta
luôn luôn biết từ bỏ, biết phó thác mọi sự
trong Chúa. Chỉ năm chiễc bánh trong bàn tay Chúa cũng
đủ nuôi năm ngàn người. Cũng vậy,
với số vốn chỉ có một quan, hai lăm xu ban
đầu, số vốn ấy sẽ tăng lên cách khôn
lường miễn là tinh thần bác ái, tinh thần
của thánh Vincent de Paul ở trong chúng ta.
Thiên Chúa không bao giờ bỏ
rơi những công việc tốt lành. Nó luôn mang tính ki tô
giáo, mang tính mộ đạo. Những công việc ấy
được Chúa chúc lành khi nó mang tính khiêm nhường và
nhiệt tâm phục vụ Thiên Chúa. Khác với những công
việc mang tính yêu thích của con người, trong đó
tất cả chỉ thuộc về con người, trong
đó không có ǵ được thực hiện v́ Thiên Chúa.
Trái lại, những công việc tốt lành nói trên hoàn toàn
hướng về Thiên Chúa, hạ thấp trước
Thiên Chúa, Đấng ban sức mạnh diệu kỳ. V́
thế, đức ái có được những quyền
tuyệt vời ! Đức ái phục tùng Thiên Chúa, nếu
chúng tôi có thể nói như vậy. Đức ái buộc Thiên
Chúa ban ơn cho người làm phúc nhân danh Người
như Người đă ban cho những người khác.
Đức ái bắt buộc ḷng nhân từ và khiến ḷng nhân
từ hành động. Thế là bầu trời mở rộng
với những kẻ tội lỗi có ḷng bác ái, với
tiếng van nài của những người nghèo khổ mà
Người đă từng trợ giúp.
Ngài
Luxembourg khi sắp qua đời hứa sẽ đổi
mọi thắng lợi của ḿnh để lấy
một chén nước nhân danh Đức Giê Su Ki Tô, ông bảo
thật : tất cả mọi vinh quang, mọi của
cải, mọi sự cao sang trên thế gian là ǵ để
được sánh với hạnh phúc vĩnh cữu mà linh
hồn bác ái có được ? Chúng ta hăy trao gửi
tất cả cho Thiên Chúa, hăy làm phúc bố thí trong tinh
thần cầu nguyện, luôn luôn v́ Chúa. Tinh thần cầu
nguyện sẽ chúc lành cho chúng ta, sẽ thánh hóa những
cuộc viếng thăm người nghèo của chúng ta. Các
thiên thần bản mệnh sẽ dẫn dắt chúng ta,
sẽ ban cho chúng ta những lời an ủi để yên
ủi những người nghèo khổ, sẽ ban cho chúng
ta những lời dịu dàng và nhiệt thành để
vực dậy linh hồn tan nát, làm cho linh hồn ấy
mạnh mẽ trong hồng phúc. Chúng ta sẽ tôn vinh Thiên
Chúa, chúng ta sẽ giảm bớt nỗi thống khổ của
một số anh em, chúng ta sẽ thánh hóa chính con
người chúng ta : đó là vương miện chói
sáng nhất. Chúng ta hăy tỏ ra xứng đáng có
được vương miện ấy, hăy ước
muốn nó, hăy t́m cách có được nó.
Cha d’Alzon kết thúc buổi trao
đổi bằng những lời khích lệ mới dành
cho toàn thể mọi người có mặt trong buổi
tọa đàm. Ngài t́m cách làm cho mọi người nhận
ra sứ mệnh của các giáo dân thời đại chúng
ta... »
Thư của ông Jules Monnier gửi ngài
chủ tịch các cuộc Hội Thảo ở Paris ngày 5
tháng – năm 1840.
Bản gốc viết bằng
tay : tài liệu giữ trữ của Hội, số 7,
đường Pré-aux-Clercs, Paris.
Trong những bức chân dung
tự họa khác nhau do chính cha d’Alzon để lại,
chúng ta chỉ có thể ngạc nhiên về một vài nét
thường xuất hiện trong tính cách và con người
cha. Là một người mang tính trung thực hết
mực đến mức khó chịu đối với người
khác (rude franchise), trong ngài chứa đựng sự
đ̣i buộc sống trong ngay thẳng, cho nên đôi khi
ngài đưa ra những nhận định quá vội vàng
và khắt khe, ngay cả khi liên quan đến bản thân
ḿnh. Cha d’Alzon cũng không tránh khỏi những lời nói
cay đắng mang tính bạo lực (invective), càu nhàu
(gronderie), những nhắc nhở đôi khi chứa
đựng sự châm chọc hoặc chế diễu. Tuy
nhiên sau đó, ngài biết xin lỗi khi cảm thấy
người anh em bị tổn thương. Những
giải pháp hoặc những đánh giá nhận định
của ngài có thể theo phạm
trù quen thuộc hoặc mau lẹ (expéditifs) : ngài không
ưa chờ lâu, không ưa nhắc lại nhiều
lần. Tính kiên nhẫn không phải là điểm mạnh
nơi ngài. Những khuyên bảo tự ngài đưa ra
hoặc do người khác nhờ ngài chứa đậm
ḷng t́nh nguyện, năng lực, thậm chí vượt quá
sức : tóm lại, ta thấy nơi ngài một
người mang nam tính hơn nữ tính.
Thế nhưng, cha d’Alzon cũng
chứng tỏ cho chung ta thấy ngài là một người
thích những mối quan hệ trong việc hướng
dẫn thiêng liêng đầy thận trọng và sự
tế nhị tuyệt vời về mặt tâm lư cũng
như tinh thần đến nỗi ngạc nhiên. Đối
với những người thân cận, ngài đối
xử tự nhiên với uy thế mạnh mẽ hoặc
khó lay chuyển nhờ tên họ của ngài, nhờ
nguồn cội gia đ́nh, nhờ bản tính, nhờ
văn hóa, và nhất là nhờ dạng thức làm chủ
bản thân nơi ngài đă được rèn luyện
rất nhiều theo tinh thần tin mừng. Điều đó
không hề cản trở ngài nói năng hoặc
điều khiển công việc cách nhanh chóng. Đó là
trạng từ thường xuất hiện dưới
bút danh của ngài. Những người cùng thời với
ngài có lẽ đă nghe hơn một lần qua môi miệng
của ngài. Chúng ta đừng nghĩ ngài luôn nói những
lời dịu ngọt. Cũng có lúc ngài dùng những thành
ngữ phổ biến có vẻ khó nghe. Cha d’Alzon không dùng
thứ ngôn ngữ khô cứng (langue de bois). Đôi khi cha dùng
những thành ngữ mang tính h́nh tuợng. Những thành
ngữ như thế dù không mang tính cứng nhắc quân
sự, nhưng đánh dấu một h́nh dạng và sức
mạnh phổ biến : mặt mày khó coi thế,
lạy Chúa ; tôi mắng cho anh ta một trận ; tôi
đang cáu giận ; tôi muốn tống cổ nó đi
cho khuất mắt, ư cha là nếu Sơ nào không chịu
để dẫn dắt nhanh chóng hơn một tí, con nên
tống cổ nó đi cho rảnh mắi. (Quelle tête, bon
Dieu ; je viens de donner un bon savon ; je bats froids ; j’ai
envie de l’envoyer promener ; mon avis est que si telle sœur n’accepte pas
d’être menée un peu rondement, il faut vous en débarrasser). Một hôm,
ngài so sánh cha Cusse với quả táo thối làm rầu
cả giỏ táo ! Những cách dùng như thế
hoặc chút vụn vặt trong văn phong mang vẻ sỗ
sàng không hề giảm bớt những phẩm chất
của tấm ḷng và sự tế nhị xuất hiện
tràn ngập trong những lá thư với những
người ngài hướng dẫn, với bạn bè
của cha d’Alzon. Trong những lúc vui vẻ và khó nhọc
của cuộc sống, cha d’Alzon biết chứng tỏ là
một người bạn trung thành, biết t́m những
lời đánh động tâm hồn, biết đưa ra
những lời khuyên thích hợp, biết tạo lực
đẩy để vươn lên. Bởi sự tế
nhị là nét giống ṇi lưu truyền trong bản tính
cũng như trong văn hóa. Sự kết hợp tinh
tế và chắt lọc của tính giản dị và tính
gần gũi thật sự giúp ngài biết giữ cân
đối và khoảng cách cần thiết. Là một người
có óc quan sát (observateur), là một người cầm
đầu, dẫn dắt : v́ là linh mục, ngài khích
lệ ư thức nêu cao tự do và trách nhiệm bởi
đó là những giá trị làm cho các linh hồn
trưởng thành dưới nhăn quan của Thiên Chúa.
«…Thưa bà, tôi vừa chăm chú
hết sức đọc thư của bà. Bà đă ưu ái
viết thư cho tôi. Sau khi đă cầu xin ánh sáng Chúa Thánh
Thần, cha trả lời vấn đề con nêu ra.
Lập trường của con ghê quá, nhưng phải duy
tŕ măi cho đến khi nào Đấng Quan Pḥng ban cho con
những phương tiện giải quyết. Cha đồng
ư thỉnh cầu của con thỉnh thoảng muốn
viết thư cho cha. Cha thấy cần đưa ra cho con
những nguyên tắc hành động như sau :
1. Cha tin có
ít linh mục thích cha Combalot như cha, dù cha không đề
cập ǵ đến những nhược điểm
của ngài.
2. Những
dự định con muốn làm sẽ có khả năng làm
hại người cha đáng thương ấy, tiếp
đến gây tác hại cho cộng đoàn.
3. Cuối
cùng, cha vừa gặp cha giải tội riêng, ngài tin cha hoàn
toàn có thể chín chắn trong lương tâm để trao
đổi thư từ theo yêu cầu của con. Chính ngài
là bề trên cộng đoàn và ngài rất giàu kinh
nghiệm : về mặt này, ngài hoàn toàn khác biệt
với cha Combalot. Con cho phép cha đưa ra một vài
điều kiện trong quan hệ giữa con và cha :
1. Phải
có tự do lớn lao nhất để ngưng mối quan
hệ, khi con và cha đều cho là thích hợp. Cha không bao
giờ nhận hướng dẫn ai cả, nếu không
đưa ra điều kiện này.
2. Chừng
nào quan hệ giữa hai người c̣n tồn tại,
chúng ta phải tôn trọng sự thành thật nhất.
Tức là khi con không muốn trao đổi với cha
vấn đề ǵ đó, con nói cho cha biết rằng con
không thích đề cập đến điểm ấy.
Cha chỉ cần thế thôi. Cha xin con đừng bao
giờ đề nghị ǵ thêm nữa.
3. Con
đừng bao giờ sợ làm tổn thương cha,
cũng vậy, con cần tin rằng cha sẽ chỉ khi
nào trao đổi, nói chuyện với con trước
sự hiện diện của Đức Ki Tô trên thập giá.
Cha có thể hay mắc sai lầm, nhưng nếu con
đọc thư cha dưới chân Chúa, con sẽ cảm
nhận sâu sắc ư cha muốn trao đổi với con.
4. Khi con
đă hiểu những điều cần thiết, con
cần đề pḥng thận
trọng để không một ai có thể đọc
những lá thư của cha.
Nếu
những điều kiện trên phù hợp với con, cha
sẵn sàng trao đổi với con nhiều hơn so
với trước đây, cách đây một năm khi con
viết thư cho cha lần đầu tiên. Sự thay
đổi này trong quan hệ với con do một số
định kiến nơi cha đă biến mất nhờ
lá thư của con. Thú thật, cha hơi sốc v́ tính
giản dị vô cùng của con khi ở Châtenay. Cha nhận
thấy con không tự do và con hành động trái với
nhận định của ḿnh. Lúc ấy, cha cũng hơi
ngạc nhiên bởi một người trẻ như con
viết thư cho cha về việc chọn lựa cha
tổng quản. Cha sung sướng bởi lá thư ấy
chỉ là một hành vi vâng lời. Sự nghi ngại trước đây
thật hoàn hảo… ».
Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus,
ngày 10 tháng 12 năm 1840, nhà xuất bản. S.V., tậpII,
trang.57-59
Ta
có lí dùng những lời của chính cha d’Alzon khi đánh giá
rằng vấn đề học đường đă luôn
là « công việc gắn bó với cuộc đời
ngài ». Ngài say sưa quan tâm đến vấn đề
học đường với người công giáo thời
đại ḿnh. Bằng sự tin tưởng, kinh
nghiệm, cha d’Alzon sớm phân định những mấu
chốt liên quan đến con người, đến Giáo
Hội và đến ư nghĩa thiêng liêng của sự
tự do được giảng dạy : đào
tạo trí luận, đào tạo người ki tô hữu
được sáng suốt, thao thức ơn gọi. Ngài
tranh đấu cùng những nhân vật có uy thế
Montalembert và Lacordaire v́ không chịu chỉ có nhà nước
tuyệt đối hóa trong ngành giáo dục do cách mạng
pháp và Đế chế Napoléon đề ra. Các trường
trung học thuộc nhà vua, thuộc nhà nước tràn ngập
triết học mang chủ nghĩa trung lập tự do
(libérale ?) không thể làm thỏa ḷng những nguyện
vọng của các gia đ́nh công giáo vốn đặt tin
tưởng vào Giáo Hội và trường học của
Giáo Hội nhằm phát triển một mạng lưới
học đường riêng. Ba thời điểm đánh
dấu cuộc đấu tranh lâu dài dành tự do giáo
dục này ở Pháp là : năm 1833, bộ luật Guizot
đối với việc giảng dạy bậc tiểu
học, năm 1850, bộ luật Falloux đối với
việc giảng dạy bậc trung học (secondaire).
Năm 1875, bộ luật Laboulaye đối với
việc giảng dạy bậc cao đẳng, đại
học (supérieur), trước khi Nền Cộng Ḥa thứ
ba sữa đổi. Cha d’Alzon triển khai tư
tưởng cũng như việc thực hành sư
phạm : ngài đầu tư thời giờ, tiền
của, danh tiếng, các Hội Ḍng. Các tu sĩ Augustins ḍng
Mẹ Về Trời không phải sinh ra trong ḷng trường
học ở Nimes năm 1845 hay sao ? Trong Hiến
Chương (Institutions), ngài đề nghị các con
của ḿnh việc giảng dạy dưới mọi
dạng thức, như là sự quan tâm hàng đầu,
sâu rộng và ưu tiên nhất. Trong lĩnh vực giáo
dục, cha d’Alzon biết đổi mới : để
có những phương pháp dễ tiếp cận hơn,
khích lệ hơn, giàu sức sống thiêng liêng hơn,
bền lâu hơn đối với giới trẻ bởi
giới trẻ tạo nên môi trường và khung cảnh
tự nhiên cho ngành giáo dục hoạt động trong
suốt cuộc sống của ngài. Trong cái nôi học
đường này, sự hợp tác giữa giáo dân và tu
sĩ được nối kết. Ta có những
gương mặt giáo dân như Germer-Durand và de Monnier là
những điển h́nh sống động. Mạo
hiểm này bắt đầu tiến hành ngoài ư nghĩ
của ngài vào tháng bảy năm 1843 khi
cha Goubier cùng với cha d’Alzon mua ngôi trường Vermot do
họ không đủ khả năng hoạt động
nữa. Năm 1848, từ Nimes, cùng với Montalambert, cha
d’Alzon tung ra kế hoạch hành hoạt động của Ban
đấu tranh v́ tự do giảng dạy. Ngài
đến tận Paris thỉnh nghị các bộ ngành
để có quyền giảng dạy thực sự.
Từ đó, ngài lập ra tạp chí giảng dạy ki
tô hữu. Ngài đến ở trong trường chính
thức vào tháng 9 năm 1845. Ngài đặt viên đá
đầu tiên xây dựng nhà nguyện vào tháng 5 năm 1849.
Tại nhà nguyện này, dịp lễ Noen năm 1850, cùng
với bốn người anh em tu sĩ khác, ngài tuyên
khấn công khai (vœux publics). Năm 1859, cũng tại nhà
nguyện này, ngài tiếp đón và khích lệ những
người sáng lập trường văn chương
(les Félibres) nhằm bảo tồn ngôn ngữ miền
Provence (la langue d’oc) (miền nam nước Pháp). Tài sản
của ngài chắc hẳn được chôn giấu trong
mồ mả, nhưng cuộc sống của ngài cũng
t́m thấy nơi đây sự hiệp nhất và
đường hướng lănh đạo.
« …Bạn thân mến,
Dù được chữa trị
hết sức tại nhà Đức Cha de Stanislas, ḿnh vẫn
c̣n hơi đau. V́ vậy ḿnh phải đi ngủ sớm
và thức dậy trễ. Với chế độ ấy,
cộng thêm việc chạy bộ trong ngày nữa, ḿnh không
c̣n nhiều thời gian để cho bạn tin tức.
Thế nhưng, ḿnh muốn chứng minh cho bạn rằng
ḿnh biết chăm lo công việc. Đây là bài huấn giáo
về tôn giáo ḿnh soạn thảo ngày 26 tháng 12 và đă
được chỉnh sửa. Đa số học sinh … Ḿnh
nghĩ sẽ giảng cùng một thể. (J’ai cru ne devoir
faire qu’une section). Numa Baragnon đă không làm bài. Một học sinh
không chịu kư. Ḿnh không nhận ra chữ của cậu
ấy…Ở đây, ḿnh bị giữ lại lâu hơn
một chút so với dự tính v́ không đủ chỗ,
khi ḿnh muốn đi. Tối thứ bảy ḿnh mới có
thể có mặt tại Paris. Có thể bạn sẽ
nhận được thư ḿnh trước khi ḿnh
đến đó. Ḿnh không trông mong có những thông tin quan
trọng về căn nhà nói chung, nhưng hy vọng ḿnh
sẽ có một vài chi tiết liên quan đến cách
tiến triển của mọi việc. Phần ḿnh, ḿnh
không thể nó ǵ với bạn, ngoài việc ḿnh đă t́m
được giáo viên giỏi ở Toulouse. Nếu bạn
cần liên lạc với giáo viên ấy, bạn cứ liên
lạc với cha Pradel, ngài quản trị việc lần
chuỗi mân côi tại nhà thờ chính ṭa Toulouse. Tuy nhiên, theo
ḿnh, nếu có thể, tốt
hơn là nên chờ ḿnh lên Paris đă. Ḿnh cũng xin bạn
bảo các giáo viên và các giám thị nên tránh những giải
pháp đánh đập học sinh. Bạn không
lường nổi ḿnh buồn đến mức nào khi
chứng kiến cảnh phụ huynh phàn nàn về những
phương cách trừng phạt học sinh như thế.
Ḿnh sẽ viết thư trong thời hạn sớm
nhất cho Ḍng Ba. Hôm nay, ḿnh hoàn toàn không đủ thời
giờ. Ḿnh chỉ có thể xin bạn sát cánh cùng những
người của chúng ta. Xin bạn chuyển đến
họ t́nh cảm sống động của ḿnh.
Bạn thân mến, bạn biết
từ lâu, ḿnh dành cho bạn một phần rất
đặc biệt.
Bạn nhớ
đưa tin cho cha Goubier. Khi có thông tin ǵ ở Paris, ḿnh
sẽ viết báo cho cha Goubier ngay. Bạn đă có thể
trao đổi với ngài Nicot chưa?”
Thư
gửi Eugène Germer-Durand, Bordeaux ngày 12 tháng 1 năm 1848, theo
nxb.S.V., tập III, trang.314-315. Bạn thân của cha d’Alzon
Nếu
nói đến sự rèn luyện của một
người tu sĩ để chỉ đặc tính
việc thực hành của cha d’Alzon, chúng ta phải
nhất thiết nghĩ ngay đến việc rao giảng
đều đặn của ngài. Người ta chẳng
phải đă đặt biệt danh cho ngài là “ người
rao giảng cuồng say” (prédicomane). Chính ngài một hôm
đă thú thật điều này: “rao giảng đă luôn
luôn khiến tôi phải nỗ lực hơn viết lách”.
Nhưng ngài không bao giờ từ chối rao giảng
hoặc viết lách. Thậm chí, ta có thể nói rằng
trước khi nổi danh trong giáo phận Nimes, cha d’Alzon
đă là một người có tiếng nói nơi đây:
tiếng nói của ngài đă vang vọng trong mọi nhà
thờ, mọi nhà nguyện dưới mọi h́nh
thức: giảng lễ chúa nhật hoặc giảng
lễ theo ư xin (circonstance), giảng mùa chay và mùa vọng,
tháng Đức Mẹ, phụng vụ giờ kinh, khích lệ
hành hương, giảng tĩnh tâm, dạy về
đạo cho trẻ em và học sinh phổ thông, giảng
dạy Ḍng-Ba hoặc một hiệp hội nào đó... Việc
ǵ ngài cũng làm.
Cha
xứ ở Ars thấy bài giảng quá ngắn nếu không
quá 45 phút! Có lẽ giáo dân thời bấy giờ không tràn
ngập làn sóng các phương tiện thông tin như ngày nay
nên có khả năng lắng nghe tốt hơn chúng ta. Chúng
ta ngày nay không nghe nổi một bài giảng dài hơn
bảy hoặc tám phút theo qui định. Vả lại,
chỉ cần sang Châu Phi để chứng kiến
những sự khác biệt phổ biến về mặt
này vẫn đang c̣n đúng quy tắc ngày nay. Chắc chúng
ta tiếc nuối không có bằng chứng ghi lại
việc giảng dạy của cha d’Alzon. Kư thuật ghi âm
không có trong thế kỷ 19. Điện thoại là h́nh thức
liên lạc từ xa đầu tiên do Alexandre Graham Bell phát
minh giữa những năm 1876. Kỷ thuật ghi âm
của tổ tiên chúng ta chỉ xuất hiện ở
thế kỷ 20. Thế nhưng, bài rao giảng của cha
d’Alzon vẫn vang vọng măi đến chúng ta: bài rao
giảng sống động, phổ biến, tuyệt
vời, phong phú và giàu ư nghĩa. Thật kỳ lạ,
nguồn tốt nhất để lại âm hưởng
ấy về cha d’Alzon lại là kinh sỹ Galeran. Ngài là
cựu học sinh trường Assomption ở Nimes. Ngài
để lại cho chúng ta một minh chứng về tài
hùng biện trong tập kư họa về những bài
giảng dạy của Đấng sáng lập Ḍng. Chức
vụ rao giảng đáp ứng yêu cầu thiêng liêng
của chức linh mục: giới thiệu đức tin,
bảo vệ đức tin khi cần và khi rơi vào t́nh
h́nh tranh căi, tăng thêm và làm sáng tỏ vấn đề
thời sự dưới ánh sáng Thánh Kinh, luôn thi hành theo
lời thánh Phao lồ: “ thật khốn khổ cho tôi,
nếu tôi không loan báo Tin Mừng”.
Chúng ta hăy minh chứng
điều trên với bài lưu niệm của cha Galaran
vào khoảng những năm 1846-1849: “ Tối thứ
bảy, sau kinh cầu các thánh, trong ngôi nhà nguyện cổ
xưa ở đường Servie, cha ( d’Alzon) bắt
đầu giảng dạy như thế này:
Thưa anh chị em, anh chị em
đă bao giờ thấy cha Matton, cha sở Saint Baudille qua
đời lặng lẽ không ai biết ? Cha Motton thân h́nh
rất xấu xí: mũi, hay hơn nữa, bộ mặt
tṛn trĩnh, nhỏ xíu
đầy đặn, màu cà chua, hai con mắt đen
bé tí ḿnh h́nh xoắn ốc. Đầu đội chiếc
mũ calotte bẵng gia che kín một nửa mái tóc trắng
không trau chuốt lắm bao trùm tất cả. Đó là bức
chân dung chính xác. Quí anh chị em nghĩ như thế nào? Nói
thật với anh chị em, tôi đă nhiều lần
thấy vị linh mục này cầu nguyện, đặc
biệt khi ngài dâng lời tạ ơn. Tôi qú gần ngài
hết mức cho phép và ngoáy cổ nh́n xiên để chiêm
ngưỡng vẻ đẹp thân h́nh và vẻ thánh
thiện của ngài. Tôi đă chứng kiến một
sự biến h́nh thật sự. Lúc ấy, tôi nhớ
đến một vài gương mặt không chê đến
đâu được về mặt nghệ thuật,
về sự tinh tế trong từng nét vẽ. Những
gương mặt ấy không tạo ấn tượng ǵ
trong tôi. Tôi không thấy đẹp đẽ chút nào.
Tại sao thế? Nét đẹp có từ đâu vậy? Nét
đẹp nhằm để làm ǵ? Chúng ta hăy có những
khái niệm chính xác bền lâu. Kinh Thánh có một từ
đem lại câu trả lời cho chúng ta về những
câu hỏi này: Con người bên trong của chúng ta ngày càng
đổ mới. Is qui intus est renovatur de die in diem 2 Co. IV,
16. (Notre homme intérieur se renouvelle de jour en jour). Nét đẹp
đích thực là sự phản chiếu của linh
hồn. Linh hồn càng hoàn thiện, sự phản ảnh
bên ngoài càng đẹp. Khi sống lại, thân xác chúng ta
sẽ biến đổi do sự biến h́nh trực
tiếp của linh hồn…
Từ đó, cha (d’Alzon) triển
khai sâu rộng bài giảng. Đó
là một trong những bài giảng đặc sắc
nhất và hay nhất mà tôi đă được nghe ».
Theo cha Henri-Dieudonné Galaran, Croquis về
cha d’Alzon, Paris, nxb. Bonne Presse, 1924, trang.16-17
Việc
đào tạo các tu sĩ tiên khởi của Ḍng Mẹ
Về Trời diễn ra trong nôi của trường
học ở Nimes. Chúng ta biết tên những đồng
môn của cha d’Alzon bắt đầu giai đoạn
đào tạo trong nhà tập dịp Noen năm 1845 dù không
được giám mục Cart giáo phận Nimes cho phép.
Những người tiên khởi đó chính là : René-Eugnène
Cusse, gốc ở Nimes (1822-1866). Chặng đường
của ngài rất quanh co. Cha Eugène Henri (1815-1874), gốc
ở Nimes, linh mục giáo phận. Về sau ngài trở
lại giáo phận đảm trách giáo xứ Remoulins. Cha
Charles Laurent (1821-1895), quê quán ở Uzès, vào tập viện
khi đă là linh mục. Năm 1852, ngài trở lại Ḍng cho
đến chết. Cha François Surrel (1806-1857), linh mục giáo
phận Nimes. Ngài là điển h́nh cho số những ơn
gọi tạm bợ này. Qua đời khi c̣n là cha xứ
Saint-Ambroix. Sau cùng, một vị đă có chức vị
khác. Đó là cha Paul-Elphège Tissot. Người gốc Lyon
(1801-1895). Ngài sẽ chỉ dấn thân vào ḍng năm 1852.
Ta
hoàn toàn có quyền thắc mắc về chương tŕnh
đào tạo tu sĩ nói riêng trong giai đoạn ở
tập viện lúc bấy giờ. Nhưng chúng ta chỉ có
được những bức thư của cha sáng
lập ḍng, và tùy theo t́nh h́nh, chúng ta có một số quan
hệ do những ứng viên theo đuổi ơn gọi
tu sĩ để lại. Cha giáo tập của vị sáng
lập ḍng không ai khác ngoài Chúa Thánh Thần. Thế nhưng,
ngài biết chia sẽ với các anh em cùng chí hướng lí
tưởng sống, đức tin, và nhiều hoạt
động tông đồ khác. Đúng vậy, những ứng
viên đầu tiên bị hạn chế rất nhiều
trong các chức vụ khác nhau ở trường học.
Bởi vậy, họ không có thời gian thư giăn chút nào
để hoàn thiện việc đào tạo, ngoài thời
gian rèn luyện dành riêng cho tu sĩ. Cha d’Alzon đào sâu
những khả năng giảng dạy của họ. Ngài
t́m cách tạo mối quan hệ riêng với từng
người trong sự tin tưởng, sự rộng
mở, và đôi khi ngài thôi thúc khi cần thiết. Chúng ta
không thiếu bằng chừng về việc này. Ngài
cũng thích khích lệ tính nhiệt tâm của anh em khi
dẫn họ đi hành hương ở Rochefort-du-Gard
hoặc bằng cách mời anh em đi tĩnh tâm vài ngày
ở Chartreuse de Valbonne.
Bắt
đầu từ năm 1850, ngài cùng các anh em lập
những chương đầu tiên về Hiến
Chương của Ḍng Mẹ Về Trời (Constitutions).
Sự cộng tác trong công việc này hầu như
được thực hiện từng câu chữ v́ ngài
không muốn áp đặt ǵ bởi ngài đă từng
trải. Nhờ vậy, chúng ta có bản hiến
chương viết xong năm 1855, nhờ bản sao
của thầy Galabert (về sau là linh mục) cất
giữ. Con đường thử nghiệm về
đời sống chung hoặc kinh nghiệm đồng
hành với nhau là bước khởi đầu đào
tạo nên ḍng Mẹ Về Trời. Con đường
thử nghiệm ấy trải qua ngay giữa ngọn
lửa của bao bận rộn nơi học
đường. Dù có những
hạn chế và đă phải nếm mùi thất bại,
song không phải nhờ « việc đào tạo vừa
học vừa làm việc » này mà chúng ta có
được sự bền chắc của những
trụ cột đầu tiên, trong đó có cha E. Pernet hay
sao ?
«Bạn quí mến, ḿnh có thể
bảo đảm là bạn thật sai lầm xem bạn
như một người lạ giữa chúng tôi. Các
chủ nhà quí mến bạn.
Các tu sĩ xem bạn như
người anh em. C̣n ḿnh, đảm bảo với
bạn, ḿnh đón nhận bạn như người con
ḿnh yêu hết ḷng. Bạn hăy nhận thấy sự khiêm
tốn thái quá nơi bạn đang cản trở bạn
nhận ra t́nh cảm quí mến mọi người dành cho
bạn. Ḿnh tin những t́nh cảm ấy sẽ phát
triển hơn nữa. Bởi Thiên Chúa là căn nguyên, là
mối dây và là cứu cánh cho sự liên kết của chúng
ta, ḿnh xác tín như vậy, Ngài sẽ chỉ làm tăng
điều tốt đẹp giữa t́nh cảm và sự
tử tế nơi chúng ta. V́ vậy, con yêu dấu, cha không
trách cứ ǵ con, nếu có th́ đó chỉ là những trách
móc nhẹ nhàng nhất của ḷng người bởi v́ con
có vẻ không quí mến chúng tôi như chúng tôi quí mến con.
Nhưng không sao, con sẽ quí mến chúng tôi, khi chúng ta
hiểu nhau nhiều hơn, và khi sự rụt rè đang cản
trở con triển nở sẽ tan biến đi. Con
biết lời của thánh Gio-an : T́nh yêu hoàn hảo
không c̣n sợ hăi. (Charitas perfecta foras mittit timorem (l’amour
parfait chasse la crainte). Con hăy nhanh dành cho chúng tôi t́nh yêu hoàn
hảo. Cha đảm bảo chúng tôi sẽ dành lại cho
con t́nh yêu ấy. Cũng như con, cha buồn v́ không
thể trở lại Nimes như ư muốn. Sức khỏe
của cha c̣n lâu mới hồi phục. Cha mới lại
ốm nặng. Cha buộc phải đề pḥng. Cuối
cùng, cần hy vọng, Thiên Chúa sẽ liên kết chúng ta.
Trong khi chờ đợi, mọi chuyện mang ư nghĩa
thử thách và rèn luyện với chúng ta. Thật không
may ! Tất cả chúng ta phải trở nên thánh,
những người noi gương Thiên Chúa khắp
mọi nơi như những người con yêu
dấu : Imitatores Dei ut filii carissimi. Vậy, sự
vắng mặt, sự đoàn tụ, sự chia cắt,
sự trở về sẽ là phương tiện
để chúng ta nên thánh. Ngay khi nhận thư cha, xin con vui
ḷng gửi thư cho cha theo địa chỉ ở Vigan. Cha
nhờ Cardenne trả lời những phàn nàn của con khi
cần thiết. Cha luôn ở bên con trong Chúa bằng con tim
nhiệt huyết đầy yêu thương nhất ».
Thư ngày 11 tháng 9 năm 1849, Lavagnac,
theo nxb. S.V., tập III, trang.486-487
Một
trong những người đầu tiên gia nhập Ḍng-Ba
Mẹ Về Trời thuộc thành phần giáo dân là
Jean-François Cardenne. Jean-François Cardenne được biết
đến nhiều hơn trong Ḍng Mẹ Về Trời
bằng tên Victor khi trở thành tu sĩ. Không ǵ lạ
lẫm với bất cứ ai về cuộc đời
sinh viên bận bịu của ngài ở Paris đă khiến
cho ngài phải xa lánh một thời gian những công
việc liên quan đến việc thi hành và sự quan tâm
đến đời sống tu sĩ. Tuy nhiên, Jean-François
Cardenne biết đến Ḍng Mẹ Về Trời nhờ
tiếp xúc với cha xứ Saint-Etienne du Mont, gần
Panthéon. Đó là cha Joseph Perdrau (1820- ?). Cha Joseph Perdrau từ
năm 1836 có người em rể làm nghề bác sỹ tên
là Henri Gouraud (1807-1874) bởi v́ Henri Gouraud lấy em gái
của cha Joseph tên là Fanny. Từ đó, cha Joseph giới
thiệu J-F Cardenne tiếp xúc với ḍng Mẹ Về
Trời ở Auteuil. Nơi đây, Cardenne làm quen với
Mẹ Marie-Eugénie de Jésus. Mẹ Marie-Eugénie de Jésus nhanh chóng
nhận định nơi người thanh niên trẻ trung
này là một ứng viên tuyệt vời cho trường
học của cha d’Alzon.
Cha
d’Alzon gặp J-F Cardenne ở Paris vào tháng 8 năm 1845. Sau
đó ngài viết thư cho ông Eugène Germer-Durand về J-F
Cardenne như sau : « Một phần thời
giờ sáng nay, ḿnh đă gặp gỡ và nói chuyện
với một thanh niên c̣n trẻ. Ḿnh hoàn toàn đánh giá cao
anh ta và quyết định dứt khoát nhận anh ta. Anh
ấy là một người rất nhiện huyết. Anh
ta từng muốn dạy luật, nhưng sau khi
đậu thạc sĩ (thèse) khá thành công, anh ta lại
từ bỏ ư định ấy. Anh tuân theo một lối
sống đều đặn theo lời khuyên của ḿnh ».
Từ
đó, cuộc sống của Cardenne liên kết sâu sắc
với cuộc đời của những số phận
trong ngôi trường ở Nimes. Tháng 9 năm 1845, Cardenne
chính thức trở thành giáo viên sử của trường
này. Tại đây, Cardenne được đánh giá rất
cao : « Giáo sư Cardenne là một người hiếm
có, tất cả những ǵ tôi nhận thấy nơi giáo
sư đem lại cho tôi biết bao tấm gương.
Giáo sư luôn thăng tiến từng ngày trong sự thánh
thiện ». Cha d’Alzon đă nhiều lần viết
như thế về giáo sư Cardenne. Thuộc thành viên
Ḍng-Ba, Victor Cardenne được nhận làm thầy tu
của Ḍng vào tháng 7 năm 1846 trong niềm vui của
mọi người. Cha d’Alzon chỉ lo ngại vấn
đề sức khỏe của giáo sư Cardenne bởi v́
gió mạnh ở miền Nam không chữa khỏi bệnh
lao của giáo sư. Ngày 24 tháng 12 năm 1850, thầy Victor
dấn thân theo Ḍng Mẹ Về Trời bằng việc
tuyên khấn những lời khấn hứa công khai hàng
năm. Cuộc đời trần thế của thầy rất
ngắn ngủi. Tháng 12 năm 1851, thầy qua đời
ở Fontainebleau trong ṿng tay của mẹ.
Chúng
ta sẽ không bao giờ biết những nét về thể
h́nh của thầy Cardenne trong thời gian ban
đầu : không có tấm h́nh nào, không có h́nh vẽ nào
trong cuốn kư ức dày 300 trang do Jules Monnier viết về
thầy. Chúng ta chỉ cần đưa ra bức chân dung
đạo đức đầy sức thuyết
phục : «Ăn năn trở lại như thánh
Augustino, rất thông minh nhờ thiên bẩm, thầy Cardenne
có chút tương đồng với tính nhiệt huyết
của cha giáo trưởng chúng ta (patriarche) v́ sự
ăn năn trở lại của những người
tội lỗi. Thầy sử dụng hết nguồn
nhiệt thành và lí trí. Thầy là người đầu tiên
mở cánh cửa của Ḍng Mẹ Về Trời nơi
hạ giới để đến với Ḍng Mẹ
Về Trời nơi thượng giới ».
«…Mọi người trong nhà
đang hơi chao đảo v́ bệnh tật của
một người lạ- một người kéo xe ba gác.
Anh ta đă ngất xỉu trong chiếc cối xay gió
của bố ḿnh cách nhà ḿnh khoảng 10 phút. Người
trong nhà cho rằng anh ta mắc bệnh dịch tả
truyền nhiễm nên không muốn ḿnh đến đó xem sao. Mọi
người c̣n đưa ra lí do là trong nhà c̣n hai linh mục
có thể đến giải tội cho anh ta. Những quan
sát về nét quyến rũ thân mật và đánh
động ḷng người của văn thơ latinh là
những từ tạo trong ḿnh nỗi khiếp sợ, không
phải v́ chúng ta, mà là v́ học sinh. Cardenne thường nói
như vậy. Hôm khác, ḿnh dẫn Cardenne đến Valmagne.
Thầy ta nghĩ mái ṿm quá thấp. Phải sau mười
lăm phút ḿnh mới có thể thuyết phục
được thầy ta măi ṿm không thấp. Một hôm khác
nữa, mới say mê đọc những bài giảng
của cha ḍng tên Bourdaloue, thầy Cardenne đinh ninh nói
vời ḿnh rằng Bourdaloue quá dở. Ḿnh công nhận
rằng Bourdaloue yếu kém ấy lại có vẻ khá
giỏi đối với ḿnh. Cần có cái nh́n xa hơn.
Không nên quá lưu ư đến những sai sót trong cách
diễn đạt của ngài. Ngài không thể diễn
đạt hay hơn thế nữa. Thời gian đă trôi
đi khá lâu, chúng ta vẫn không có tin tức của Monnier.
Ḿnh không biết ông Tissot đă viết thư cho ai. Ḿnh
chỉ biết chắc ông ấy không viết cho Cardenne,
cũng không viết cho ḿnh. Lá thư cuối cùng của ông
ấy là đảm bảo ; v́ ḿnh e rằng ông ấy
phải tiếp vợ nên mới mất liên lạc như
vậy.
Bạn
thân mến, bạn biết đấy, trong kinh nguyện
của ḿnh, từ Ḍng Mẹ Về Trời chứa
đựng tất cả những ǵ ḿnh yêu quí trong Ḍng này.
Nhưng bạn có thể tin rằng, nếu ḿnh có sự
quí mến cách đặc biệt đối với một
số người trong Ḍng, bạn không phải
người ḿnh bỏ quên.
Vĩnh
biệt và tạm biệt. Lúc
9 giờ sáng ngày mồng 11 hoặc tối ngày 10, ḿnh sẽ
có mặt ở Nimes, c̣n bạn ? ».
Thư gửi Louis-Eugène Germer-Durand,
lavagnac ngày 5 tháng 10 năm 1849, theo nxb.,
tập III, trang.501.
Những
nguồn gốc lịch sử về sự ra đời
của Ḍng nam Mẹ Về Trời chính là đêm Noen năm
1845 trong thời đại quân chủ tháng 7 và lúc bấy giờ
cũng là thời kỳ cha d’Alzon đấu tranh dành tự
do giảng dạy trong học đường. Đêm Noen 1845
là ngày gộp lại cách hoàn hảo việc sáng lập theo
ba chiều kích : trường học, Hội Ḍng va
Ḍng-Ba. Vả lại, đó là ngày được giữ
lại không chỉ bởi những người thích tính
chính xác về mặt niên đại, cho dầu việc
đó không phải là ưu tiên hàng đầu, mà nó
được lưu giữ rơ ràng trong văn bản sáng
lập ḍng (texte fondateur) và trong những bản tham khảo
sau này do chính Hội Ḍng đưa ra để tŕnh bày,
giới thiệu nguồn gốc của Ḍng :
điểm xuất phát của một cuộc đời
tu sĩ có tổ chức dưới dạng thức
tập viện do cha d’Alzon để lại cho chúng ta
biết trong bức thư ngài gửi Mẹ Marie-Eugénie de
Jésus, viết vào sáng ngày 26 tháng 12 năm 1845. Trong nhiều
lần đến Rôma để xin Rôma chính thức công
nhận sự ra đời của Ḍng Mẹ Về
Trời, cũng như trong văn bản xin chứng
nhận của các giám mục rất cần có để
kèm theo, đấng sáng lập Ḍng Mẹ Về Trời luôn
giữ ngày đêm Noen 1845 này. Sau cùng, nếu có người
quan sát ṭ ṃ nào đó cần hỏi văn bản Annuario
Pontificio chính thức, chỉ có thể nhận thấy
ngày này là hoàn hảo nhất. Vậy « niên đại có
vẻ khó nghe » ấy trong nghi lễ nhớ của Ḍng
Mẹ Về Trời là do đâu, lấy năm 1850 thay v́
năm 1845 cho những cuộc hội ngộ quan trọng
như lịch sử trăm năm (1950) và lịch sử
một trăm năm mươi năm (2000) ? Câu
trả lời vừa đơn giản, vừa nói lên tính
đơn giản : di dịch năm năm cần
thiết ấy cho đến khi Đức Cha Cart chấp
thuận sáng kiến này của cha tổng quản (tức
cha d’Alzon) của ngài. Đức Cha để cha d’Alzon
thực hiện sáng kiến mà không hề cho phép. Chúng ta
hăy cùng nhau ngưỡng mộ sự kiên nhẫn nơi
đức tin của một người đă từng
bị cho là thiếu kiên nhẫn, không bền bỉ và qua
nhanh vội. Những người thích con số tṛn sẵn
sàng bỏ qua các kháng cự nơi những con số
cứng nhắc và kết quả cuối cùng khó nhớ. Cho
nên sự chọn lựa con số tṛn cho phép dễ dàng liên
tưởng đến thắng lợi đạt
được hơn. Năm
1945, thế giới vừa thoát khỏi bi kịch của
năm năm đại chiến. Cũng thế, con
người cần quên đi quăng thời gian đầy
thử thách ấy nhằm xây dựng những tháng ngày
tốt đẹp nhất. Năm 1850 cũng như năm
1950 đều mang vẻ hào quang khác với năm 1845 và
1945 khi ḍng Mẹ Về Trời chỉ mới
được công nhận phần nửa (essuyer un
demi-refus), mặt khác, trong ṿng một thế kỷ, Hội
Ḍng có không ít những người mất tích và tù nhân. Chúng
ta hăy vui hưởng thắng lợi cùng cha d’Alzon, song
đừng quên những năm tháng đấu tranh của
ngài.
« …Con quí mến,
Dù chỉ có một phút, cha muốn
nói đôi lời với con. Bỗng dưng, Đức Cha cho
phép Hippolyte, Cardenne, Pernet, Brun và cha tuyên khấn trong thời
hạn một năm ngay đêm nay. Chúc tụng Thiên
Chúa ! Cha rất tiếc không thể báo trước cho
con kịp thời. Con có thể hiệp thông cầu
nguyện với anh em và cha. Cha đă lo liệu
được 10.000 quan cho chị Gaude, phần c̣n lại,
cha sẽ lo sau. Cha sẽ nhờ chị Stafford viết
thư bằng tiếng Anh. M.
de Chartrouse chỉ muốn nhận cô Dubois vào tháng tư
hoặc tháng năm. Vĩnh biệt, con gái của cha. Khi
không vướng mắc rối rắm nữa, cha sẽ
viết thư cho con. Mong Chúa Giê Su Hài Đồng là tất
cả đối với con ! Cha sẽ phó dâng con cho Ngài
khi cha phó dâng chính ḿnh cha cho Ngài ».
Thư trước
lễ Noen 1850 gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, Nimes, nxb. S.V.,
tập III, trang.640
« …Trong đêm Noen, anh em và cha đă
khấn lại và lần tuyên khấn này là vĩnh viễn.
Sáng nay, mọi người đều nhận áo cánh choàng bởi v́ họ
đă không đến đúng giờ. Lễ nhận áo ḍng
đă để lại ấn tượng hạnh phúc
nhất cả thầy lẫn tṛ. Thiên Chúa muốn ấn
tượng ấy tồn tại lâu và phát sinh hoa trái ! Cha
hy vọng vậy, v́ nghi lễ đă diễn ra rất
đơn giản, rất nghiêm trang và rất tự nhiên. Đồng
thời, những người tận hiến cuộc
sống cho Chúa hôm nay tuôn tràn niềm vui khiến những
người chứng kiến không thể hoài nghi ǵ về
những khả năng sẵn săng phó thác và về niềm tin
nơi hạnh phúc khi bắt chước họ.
Tạm biệt,
con gái của cha. Cha hy vọng sẽ viết thư cho con
trước thềm năm mới. Tuy nhiên, cha muốn chúc
con và tất cả các con cái của con trước khi năm mới
đến sức khỏe dồi dào. Nguyện xin Thiên Chúa
cho họ trở nên những nữ tu thực sự,
trần đày nhiệt tâm để đạt đến
sự toàn thiện của riêng họ và v́ sự toàn thiện,
v́ ơn cứu rỗi của các linh hồn. Mọi sự
thuộc về con trong Chúa chúng ta ».
Thư
số 110, Nimes ngày 26 tháng 11 năm 1851, gửi Mẹ
Marie-Eugénie de Jésus, theo nxb. P.T.,
tập I, trang.123
Ư định lập cộng
đoàn ḍng Mẹ Về Trời ở thủ đô có
trước từ lâu so với việc thành lập (1851). Cha
d’Alzon không thiếu hiểu biết cũng không thiếu
điều kiện để thực hiện ư
định đó. Ngài c̣n nhận ra đâu là những
mấu chốt để rộng mở và phát triển gia
đ́nh tu sĩ của ḿnh. Vả lại, theo hướng
ấy, Mẹ Marie-Eugénie de Jésus thúc giục ngài bởi
Mẹ Marie-Eugénie rất hạnh phúc việc lập ḍng
Mẹ Về Trời tại Paris. Đức Cha Affre cũng
đă tỏ ư nguyện mong cha d’Alzon điều hành tại
trường Stanislas. Nhưng cha tổng quản giáo
phận Nimes (tức cha d’Alzon) đă không chấp nhận v́
ngài thích đáp lại các nhu cầu đang triển nở
trong giáo phận Nimes. Việc thay Tổng Giám Mục Affre
theo xu hướng gallicane này bằng Đức Cha Sibour
năm 1848. Đức Cha Sibour là một người quen
biết cha d’Alzon. Điều này tạo điều kiện
dễ dàng một phần trong việc quyết định
lập cộng đoàn ở Paris. Laurent, Tissot, Cardenne là
bộ ba tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời đầu tiên
của cộng đoàn mới thành lập tại Paris. Cộng
đoàn mang xu hướng giảng dạy và bước vào
việc giảng dạy năm học 1851. Việc chọn
lựa khu định cư diễn ra không thuận lợi
do nguồn lực và do thiếu học sinh. Năm 1853,
trường học nội trú này (pensionnat) chuyển
đến miền Tây- Bắc thủ đô Paris, ở
Clichy-la-Garenne. Lúc bấy giờ, đó là một khu ít
được biết đến, nhưng khu phố
ấy lại c̣n là nơi đánh dấu kỷ niệm
về cha Vincent de Paul từng ghé qua vào thế kỷ 17. Từ
năm 1853 đến năm 1860, cha d’Alzon tỏ ra là « chiếc
đồng hồ treo tường của cộng đoàn »
(l’horloger de la communauté). Dưới sự chỉ
đạo của bề trên và đồng thời là
hiệu trưởng trường nội trú này, cha Charles
Laurent, cha d’Alzon đối diện nhiều băo tố
nội bộ : vừa mới đặt chân
đến, chương tŕnh mới đưa ra, ngay khi
ngài rời trường, mọi chuyện bị rối
bời, theo lời của chính cha d’Alzon. Chính cha d’Alzon
cũng trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế
tại trường học ở Nimes trong những năm
1856-1857. Dầu vậy, ngài vẫn thích để tập
viện trong ḷng ngôi trường yên b́nh này hơn việc
thiết lập một nơi đào tạo nhỏ bé mang
tính độc lập trong ḍng tu ở Auteuil,
đường Eymes. Cha Picard, một linh mục non trẻ
đă từng làm bề trên nơi đây sau những vũ
khí rôma đầu tiên (premières armes romaines).
Năm
1860, may mắn t́m được một giải pháp
mới : thầy Vincent de Paul Bailly, lúc bấy giờ là
tập sinh, phải đi thăm bố sắp qua
đời. Thầy phát hiện trong phố François Ier
một mảnh đất dang dở để xây dựng
nhà cửa (déchiqueture de tairrain à bâtir). Mảnh đất này
được đề xuất bán cho cha d’Alzon vào tháng 11
năm 1860. Đức Hồng Y Morlot tán thành việc chọn
lựa mảnh đất này của Hội Ḍng vào tháng 12
năm đó. Năm 1861 tạm thời xây một ngôi nhà
nhỏ rất khiêm tốn (bicoque). Ngày 23 tháng 2
năm 1862 làm phép nhà nguyện. Các cha ḍng dâng thánh lần
đầu tiên. Đó chính là những bước khởi
đầu rất khiêm tốn của nhà nguyện Đức
Bà Cứu Chuộc (Notre-Dame de Salut) và được kêu
gọi trong nhiều việc. Việc rao giảng, việc
giải tội, việc hướng dẫn thiêng liêng
sẽ biến cha Pernet đầy khiêm tốn thành
đấng sáng lập mới của ḍng Mẹ Về
Trời năm 1865. Cha Picard và Vincent de Paul Bailly sẽ
nắm bắt những mấu chốt khác sau năm 1870
trong bối cảnh phát triển dồn dập những
việc phổ biến nơi quần chúng xung quanh ba
trục chính : hành hương, báo chí, hội họp.
« ...(Thầy)
M. Hippolyte viết thư cho cha hôm qua để cho cha
biết ngôi nhà. Theo những ǵ M. Hippolyte nói trong thư, ngôi
nhà ấy có vẻ thích hợp. Nhưng v́ đó là một
quyết định sau cùng và hệ trọng, cha phải
suy nghĩ ít nhất một đêm. Cha đă kêu gọi anh
em cầu nguyện và cha mới dâng thánh lễ. Cha đă qui
tụ ban cố vấn gồm bảy người. Sau
lần bỏ phiếu cuối cùng, mọi người
đều thống nhất đi trước trong việc
này. Chúng ta sẽ đi trước nhân danh Chúa, thánh Nữ
Đồng Trinh. Vấn đề là chỉ cần nghiên
cứu chi tiết về những chuyện ấy. Việc
đó, con biết cha tin tưởng vào ư kiến của
con.
Đây là điểm cần
lưu ư. Cha muốn thuê ngôi nhà ấy theo tên của cha
Charles Laurent, linh mục giáo phận Nimes, cử nhân văn
chương. Trong khi chờ ngài đến, con có thể kư
giấy tờ thay ngài được không ? Việc
đó sẽ là một bảo đảm cho chủ nhà. Con
có thể giúp cha việc ấy không ? C̣n cha, tên của
cha không nên xuất hiện trên giấy tờ v́ lí do gia
đ́nh. Cha e gia đ́nh sẽ la mắng cha. (Gia đ́nh cha
d’Alzon rất lo lắng cho cha d’Alzon do ngài đang mắc
nợ đối với trường ở Nimes. Cha
muốn ngôi nhà ấy mang tên gọi saint Charles và mở
cửa ngày 4 tháng 11. Cha thấy sẽ có những bất
tiện trong giai đoạn đầu nếu lấy cùng tên như các con
tại Paris. Ư kiến lấy tên saint Charles vừa mới
xuất hiện trong tâm trí cha khi cha đang truyền phép
thánh thể. Theo con có cần thiết báo trước cho cha M. Caire
de Saint Philippe du Roule ? Cha nghĩ dù sao chúng ta cũng
thuộc giáo xứ của ngài. Con có muốn nói ǵ về
việc này với cha Sibour không ? Cha có nên viết thư
ngay cho ṭa tổng giám mục không ? Cha nghĩ bảy
giáo viên là đủ. Con muốn biết danh tánh của các
giáo viên không ? Đó là Laurent, hiệu trưởng ;
Cardenne, quản lư hành chính ; Légier, giám sát ; Tissot, giáo
viên lớp 6 (sixième) ; Blanchet, giáo viên lớp bảy (septième). C̣n
phải t́m kiếm giáo viên lớp tám và lớp chín. Việc
ấy không khó đâu. Con có nghĩ nên mở lớp học
trước ngày mồng 4 tháng 11 ? Cha nghĩ nêu khai
trường vào dịp đó sẽ khiến gặp
nhiều khó khăn. Cha rất muốn giữ Laurent và
Cardenne cho đến ngày mồng 1 tháng 10. Một tháng
cũng đủ để thu xếp, nhất là nếu
con có ḷng nhờ tu sửa một ít trong nhà.
Cha
không thích các lớp học hướng ra đường.
Ư của cha là nên mở các lớp trên lầu một th́
tốt hơn. Hippolyte cho cha biết về một gian pḥng
hướng ra đường. Ta có thể sửa gian pḥng
đó làm pḥng gặp gỡ trao đổi chuyện riêng ?
Có lẽ nên sắp xếp căn pḥng ấy nhanh hơn
một chút nữa. Mọi việc nên đơn giản.
Tóm lại, cha không thấy tại sạo lại có sự
khác biệt này. Theo cha, những đồ lắp
dường có thể mua sau cũng được.
Nhưng con là người có nhiều kinh nghiệm hơn
về việc này. Người ta đang mong thư cha. Tóm
lại, con hăy thuê và sửa đổi căn nhà ấy theo
hiêủ biết của con về những ǵ cha nói trong thư.
Cha chỉ nói với con về việc của ḍng. Con tha
thứ điều đó cho cha, phải không nào ?
Cha gửi kèm theo cho con tờ
giấy nói rơ những điều kiện, con xem có thích
hợp với con không. Họ sẽ đổi giá nhà,
v.v ».
Thư gửi Mẹ
Marie-Eugénie de Jésus, Nimes ngày 4 tháng 7 năm 1851, nxb. P.T.,
tập I., trang.53-54
Nimes,
mang biệt danh thành đô Rôma của nước Pháp, đă
không hạn chế chân trời truyền giáo của
đấng sáng lập ḍng Mẹ Về Trời, cũng
như những bận tâm vun đắp trí thức của
ngài. Bức thư rất đáng để ư tới
viết năm 1851 cho một nữ tu đang có sứ
mệnh truyền giáo ở Anh Quốc đă nói lên những
mục tiêu rất rơ của cha d’Alzon theo hai xu
hướng : vốn được đào tạo
một phần ở Rôma, cha d’Alzon đă không quên khí thế
ra khơi mà xu hướng một Giáo Hội hoàn vũ phó
thác cho ngài về mặt ư tưởng cũng như về
mặt thực hành. Cho dù ngài đă sống sự kiện
bi đát của Lamennais trong ḷng Rôma, cho dù ngài đă khổ
đau v́ trong thủ đô địa lư của thế giới
công giáo lại có những người răn dạy
đạo đức và những qui tắc dẫn
đến sự toàn thiện, nhưng thái độ
của họ lại rất khó đi đôi với
những ǵ họ rao giảng, giảng dạy, ngài
vẫn không đánh mất cái nh́n mang tính hoàn vũ trong Giáo
Hội.
Mục
tiêu đầu tiên của ngài nhằm tung ra ở Nimes
những nền tảng tạo dựng Đại Học
tự do, v́ không đủ số người công giáo.
Đức cha Baines gợi cho ngài ư tưởng này. Đức cha
Baines là vị tổng quản ở Anh Quốc. Ư
tưởng này đă sống lại nơi cha d’Alzon trong
khi hội đồng tỉnh ḍng đang diễn ra ở
Avignon năm 1849. Ngài biết ở trường Các-Men
ở Paris bị tra xét. Nhưng ngài muốn tránh khỏi
mọi h́nh thức kiểm soát hoặc nắm giữ
(main-mise) theo kiểu gallican bởi như thế sẽ
không thể tránh khỏi
sự cai quản theo chủ nghĩa Césars nhằm ngăn
chặn sự ảnh hưởng của làn sóng ultramontain.
Thực vậy, cha d’Alzon không phải không biết
đến những mục tiêu do quyền thế của
đế chế nối kết để bắt buộc
Rôma chấp thuận đưa ra thông cáo tạm thời
theo giáo luật (bulle de provision canonique) đối với
các khoa thần học thuộc Nhà Nước. Những
mục tiêu này cũng nhằm ưu đăi những
truyền thống gallicanes hầu có tính tự quyền
trong chức giám mục (autonomie épiscopale) và có pháp luật
theo tập quán (droit coutumier). V́ vậy, khi dự án lập
trường Đại học được tiến hành, cha
d’Alzon mong nhận thánh Augustino làm bảo trợ. Ngài
tuyển giáo sư dạy tín lư. Đó là cha Bensa. Ngài gửi anh
em tu sĩ trong ḍng học thần học tại các khoa
thần học của Rôma với mục đích giúp anh em
quen dần cách suy nghĩ, sự quí mến và đức tin
của những người sống chỉ v́ Giáo Hội
công giáo và Giáo Hoàng (ultramontaines). V́ vậy, năm 1855, các
thầy F. Picard, V. Galabert, R. Jourdan và M.-J. Lévy
được gửi đi học.
Mục tiêu thứ hai của cha
d’Alzon chắc chắn do kinh nghiệm truyền giáo của
các nữ tu Ḍng Mẹ Về Trời đốt lên trong
ḷng : từ năm 1849, các nữ tu Ḍng Mẹ Về
Trời đă đến tận những thái cực
(antipodes) xa xăm, ở miền nam Phi Châu, ở xứ Cap,
và năm 1850 ở Anh Quốc, tại Rich-mond. Hai lần ra
đi này của cái nôi tu sĩ ở Pháp là một kinh
nghiệm truyền giáo rất gian khổ, nhưng đó
lại là chân trời mang tính toàn cầu tuyệt vời
nhất dưới con mắt của cha d’Alzon,
người vốn muốn để Hội Ḍng của
ḿnh trong ṿng quay toàn cầu của quyền bính Rôma, chứ
không phải dưới cái ách của quyền bính giám
mục ! Ḍng Mẹ Về Trời v́ c̣n quá hạn chế nên phải
trông chờ ngày giờ thích hợp, nhưng
đường hướng đă được
định sẵn :
«Sở
dĩ cha hồi âm chậm trễ cho con là v́ lâu nay cha
đau yếu luôn. Và v́ không muốn chỉ viết cho con
vài ḍng so với lá thư rất dài và rất hay của con,
nên cha muốn chờ hồi phục sức khỏe
tốt hơn tí đă để nói chuyện hoàn toàn
thoải mái với con. Trước hết, cho cha cảm
ơn con đă có sự quan tâm đến ngôi nhà của anh
em và cha ở Paris. Hiện tại chỉ có một vài
người thôi, nhưng cha không lo lắng lắm, bởi
v́ ở Nimes, cha và mọi người cũng đă
khởi hành một cách tuyệt đối tương
tự. C̣n liên quan đến quan điểm của dân Anh,
nếu con muốn nói lên một quan điểm theo
người Anh, con cứ mạnh dạn nói ra theo suy
nghĩ của con. Mỗi dân có cách suy nghĩ riêng
đế theo đó mà tŕnh bày sự việc. Cha rất
hiểu những khác biệt và những mức độ
khác nhau đầy tinh tế đó. Như vậy, con có toàn
quyền đưa ra ư kiến và không có bàn tay nào khác mà cha
có thể tín thác những việc ấy hơn con
để con gửi cho cha những dự định
ở Anh Quốc (sujets d’Angleterre), nếu Chúa muốn…
Càng
suy nghĩ, cha càng tin chắc mỗi dân tộc cần có
những người thợ rao giảng tin mừng của
nước ḿnh. Cách đây vài hôm, cha nói chuyện với
bề trên (prieur) Ḍng Chartre. Ngài là một con người tuyệt
vời. Ngài cũng mang những suy nghĩ tuyệt
đối giống cha đối với các tu sĩ trong
Ḍng của ngài. Vậy, nếu con muốn phục vụ
(giúp đỡ) các nam tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời, con
phải chọn lựa và gửi sang cho chúng tôi. Trong khi c̣n
chờ lập tập viện tại Anh Quốc, việc
này sẽ không lâu lắm. Thế nhưng, cha thú thật
với con rằng, theo cha, các con nên ước ao có sự
giúp đỡ và chỗ giựa của các tu sĩ cùng
được đào tạo theo một tinh thần
sống như các con. Họ sẽ giúp các con thăng
tiến trong tinh thần của qui tắc sống trong Ḍng
các con, bởi v́ có thể họ hiểu biết hơn các
con, và cũng có thể họ sẽ đón nhận từ
các nữ tu một sự tác động tốt. Sẽ luôn
luôn cần vạch ra những hạn chế nhằm tránh
một số bất tiện, một số lấn
chiếm và lạm dụng. Nhưng cha nghĩ việc
đó sẽ phải được bàn trước. Cha
cũng phải nói thật với con đó là một trong
những vấn đề khiến cha bận tâm nhất
trong những mối quan hệ tương lai của chúng
ta.
Những khó khăn dù rất
nhỏ, nhưng lại là nguyên nhân cho hàng ngàn căi cọ
giữa các Cha của các con. Điều đó không làm cha
ngạc nhiên chút nào. Đó chính là khía cạnh đáng buồn
của bản tính con người. Sự nặng nề
luôn tạo cho ta cảm giác buồn hơn nữa. Tóm
laị, điều đó cho thấy rằng không phải những
người dạy đạo đức và tạo ra
những qui tắc cho sự toàn thiện, nhưng chính
nền đạo đức và những qui tắc ấy
từ trên cao ban xuống, bởi v́ con người rất
khó sống với thái độ tương xứng
với những ǵ họ giảng dạy. Thật đáng
buồn. Thiên Chúa cho phép điều đó nhằm chỉ
dạy cho chúng ta nên biết cậy dựa vào Người
mà thôi.
Cha
thấy con rất hạnh phúc khi có thể làm
được việc ǵ đó cho những người tin
lành tội nghiệp nơi các con. Ở đây, không có
phương tiện làm như vậy, nhưng Thiên Chúa
dường như cũng nhân từ đoái trông
đến họ. Những người giàu có sợ hăi và
sẵn sàng trở lại với những ư tưởng
quyền thế. Dân chúng chạy theo…Nhưng có lẽ đó
là một phương tiện, hẳn là khủng khiếp
lắm, để có thể đưa họ thoát khỏi
tầm ảnh hưởng từ các mục sư và khỏi
óc giáo phái. Sau này, các thánh sẽ có thể hành động
thoải mái hơn đối với các tầng lớp
đáng buồn này. Ôi ! giá mà Thiên Chúa
vui ḷng sớm gửi đến cho chúng ta những
người hoạt động tông đồ !...
Con
hăy cầu nguyện nhiều cho Ḍng Mẹ Về Trời
ở Nimes. Cha khao khát lập một ngôi trường Cao
đẳng. Thậm chí việc này sẽ sớm
được tiến hành. Ban đầu sẽ chỉ có
bốn giáo viên, và nếu cần thiết sẽ tăng
thêm. Như đă cho con biết, cha bắt đầu
dạy một môn thần học trong nhà. Qua việc
giảng dạy này, cha muốn tạo nên phần trọng
tâm của trường Đại Học công giáo, nhưng luôn
là trường Đại Học công giáo Rôma. Chúng ta cần hy
vọng sẽ dần dần đạt được
mục đích. Trong số học sinh, rất nhiều em
tỏ ra có ơn gọi truyền giáo ở những xứ
sở xa, và có lẽ đó là một trong những nguyên nhân
khiến Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta nhất... ».
Thư gửi Sœur Thérèse-Emmanuel O’Neill,
Nimes ngày 13 tháng 9 năm 1851, theo nxb.P.T., tậpI, trang.80-83.
Ta
sẽ không hiểu nổi sự hội nhập của cha
d’Alzon trong bối cảnh giáo hội thời đại
ngài nếu không nhấn mạnh đến tinh thần
dấn thân bảo vệ tín điều và lập
trường của Giáo quyền Rôma. Đây được xem
là mt trào lưu gây ra sự chia rẽ trong Giáo Hội. Cho dù
chủ nghĩa tuân theo Giáo Quyền Rôma hiệp nhất
trong sự kết hợp với Đức Giáo Hoàng cách đa
nghĩa với ba biểu tượng màu trắng (bánh
thánh, y phục Giáo Hoàng, Đức Trinh Nữ), việc này
vẫn không ít sự khác biệt, phong phú giữa những
người theo chủ nghĩa độc tôn Giáo Quyền
Rôma mang tính kịch liệt chẳng hạn cha d’Alzon và
những người theo chủ nghĩa Giáo Quyền Rôma
mang tính trung hoà. Các nhà sử học phân biệt sự
nổi lên của trào lưu này bắt đầu từ ĐGH
PIO VII tiêu biểu cho giáo hoàng
tử đạo cho đến ĐGH PIO IX tiêu biểu cho
vị giáo hoàng sống như một tù nhân (sống khép kín
trong Vatican). Họ nhận ra cái nơ (mấu chốt) trong
t́nh trạng hỗn độn về vấn đề
rôma. Vấn đề ấy đang dần dần biến
các Nhà Nước giáo hoàng thành lớp gia buồn rầu v́
sự thống nhất nước Ư. Họ miêu tả cái
đỉnh điểm của mấu chốt vấn
đề ấy trong công đồng Vaticano I. Đỉnh
điểm đó là việc công bố sự vô ngộ và
quyền tối cao của Đức Giáo Hoàng. Chính điều
này đă đánh một đ̣n nặng vào chủ nghĩa
gallican (Giáo Pháp : gallicanisme). Quyết định này
cũng làm nổi bật những sắc màu và những cánh
đồng ngôn ngữ, diễn đạt khác nhau :
tranh căi trong học đường, phụng vụ giờ
kinh, các môn học trong chủng viện, những h́nh
thức tôn sùng, và những khía cạnh được
đề cập đến trong đời sống thiêng
liêng. Cuối cùng, các nhà sử học cũng t́m ra
được những mấu chốt thật
sự : đỉnh điểm đạo công giáo
quyền thế, lên án kẻ thù (ennemis) tràn lan trong ḷng Giáo
Hội công giáo (những người theo xu hướng
tự do, những người theo giáo Pháp (gallican),
những người lạc giáo, những người chia
li khỏi giáo hội). Giáo Hội công giáo cũng có
những kẻ thù từ bên ngoài (những người
chống đối giới giáo sĩ, những
người theo chủ nghĩa duy lư, các hội viên hội
Tam điểm). Những điểm đối lập
với chủ nghĩa tự do (tự do ở đây
muốn chỉ những người không tuân theo lập
trường (có thể là cả tín điều) của Giáo
Hội công giáo) cách không nhân nhượng của Giáo hội
công giáo mang tính độc tôn
nầy làm phát triển những tâm tưởng và thái
độ theo cảm giác. Chính v́ vậy, Giáo Hội công giáo
như là h́nh ảnh của một pháo đài bị vây hăm. Có
nhiều nhà tư tưởng mang ảnh hưởng
của tính độc tôn trong Giáo hội Rôma : từ
trào lưu chống đối cách mạng của Bonald và
Maistre, đến trào lưu tiến bộ hơn của
Lamennais, người ngợi ca quyền bính giáo hoàng,
đến sự hăng say đầy cao hứng của
nhà báo Louis Veuillot làm cháy bỏng các trụ sở linh
mục. Tất cả nhằm góp phần làm suy biến
những ư định mới chớm tối thiểu
nhất về độc quyền hoặc về sự
khẳng định truyền thống quốc gia thành
những cuộc căi lộn bùng nổ trong học
đường. Những ngôn từ mang tính mệnh
lệnh là : tập trung hóa, la-tinh hóa, rôma hóa, tuyệt
đối hóa quyền bính giáo hoàng. Nhưng Giáo Hội
phải trả giá rất nặng trong bản Syllabus để
thiết chặt hoặc được gắn bó về
mặt tín lư, bởi v́ Giáo Hội bị dồn ép đi
ngược ḍng thời gian. Cha d’Alzon bị tiêm nhiễm
rất mạnh. Chúng ta có rất nhiều dấu chỉ
rành rành : Ngài đến Rôma không dưới chín lần,
nhiều lần gặp gỡ chung và riêng diện
đối diện với Đức Giáo Hoàng, ngài bền
bỉ t́m hiểu ư kiến và đặc quyền do giáo
hoàng Rôma ủy thác. Nhưng rất có thể chúng ta sai
lầm cho rằng việc t́m hiểu ấy của ngài
chỉ mang tính nông cạn bởi v́ nó đụng chạm
đến ba cực chủ yếu trong tư tưởng
linh thao của ngài : yêu mến Đức Ki Tô, Mẹ
Maria và Giáo Hội, từ đó xuất phát những
điểm nhấn mạnh về sự tôn kính rất
điển h́nh về phép thánh thể, về Giáo hội và
về Đức Maria.
« …Kính thưa Đức Cha,
Tối hôm qua, con đă có cuộc
yết kiến rất lâu với Đức Thánh Cha. Con mong
Đức Cha hài ḷng khi con kể cho Đức Cha biết việc
này. Con xin Đức Cha một đặc ân, xin Đức Cha
gửi lá thư này của con đến giáo phận Nimes. Con
không được khỏe lắm và v́ vậy con không
thể viết lần nữa về những ǵ đă
diễn ra.
Con
vào yết kiến lúc 9 giờ tối. Đức Thánh Cha có
sẵn trên bàn làm việc lá thư kiến nghị liên quan
đến các Tu Sĩ Ḍng Mẹ Về Trời mà con
nhờ Đức Cha Ségur chuyển đến hôm qua. Con
viết một thư kiến nghị khác thay thế
bức thư ban đầu. Khi đọc lá thư ấy,
Đức Thánh Cha thấy tên của Đức Cha trong số
những Giám Mục đă viết thư ủng hộ các
Nữ Tu này (Dames) : « Đức Thánh Cha nói với con rằng
giám mục giáo phận Montauban là một vị giám mục
tốt lành ». Con liền măn phép thưa Đức Thánh Cha
rằng Đức Cha là vị giám mục giáo hội Pháp mà con
đánh giá cao nhất : « Đúng, Đức Thánh Cha nói, khi
tới đây, cha đă ngưỡng mộ tính nghiêm trang và
thận trong của Đức cha. Cha rất hài ḷng về ngài,
Đức Thánh Cha nói ». Con đă phải tŕnh với Đức Thánh Cha một lúc
về vấn đề xác thánh mà tổng giám mục
Toulouse chưa biết làm sao : « Ah, tổng giám
mục Toulouse hả, cha không thích bằng giám mục
Montauban, Ngài nói thế ». Giám Mục giáo phận Nimes
mong muốn Đức Cha viết thư gửi Đức Cha
Mioland, Đức Thánh Cha không muốn. C̣n lại, con đă nói
đến vấn đề ấy với Đức Cha
Fioramonti. Ngài thấy rằng thực sự họ (Giám
mục Nimes và Đức Cha Mioland) không hợp nhau chút nào.
Sau khi những việc yết
kiến vụn vặt ấy được giải
quyết xong, con xin phép Đức Thánh Cha tŕnh về t́nh h́nh
Nước Pháp. « Được thôi, con hăy nói hết xem nào, Đức Thánh
Cha tiếp lời ». Con bắt đầu nói về
những việc mà Đức Cha và con biết đến :
1. Rằng
những người trong giáo hội gallicans bắt
đầu nổi dậy.
2. Rằng
chính phủ khích lệ họ.
3. Uy
thế của sứ thần ṭa thánh ở Pháp do sáng
kiến của Đức Cha Fornari đang mất dần
từng ngày.
Ngài hoàn toàn đồng ư với
con… ».
Thư gửi Đức Cha
Doney, giám mục giáo phận Montauban, Rôma ngày 31 tháng 5 năm
1855, theo nxb. P.T., tâpi I, trang.550-554
Trạm
nước khoáng nóng ở Lamalou-les-Bains được xây
dựng dọc theo hữu ngạn (bờ bên phải)
Bitoulet, trong thung lũng nhỏ đầy sỏi đá
của vùng Cévennes thuộc miền nam nước Pháp
(Hérault). Trạm nước khoáng nóng này gợi lên cho chúng
ta về cha d’Alzon khi ngài đến nơi đây nghỉ
ngơi trị bệnh liệt nửa người và sung
huyết năo trong ṿng mười ba ngày. Căn bệnh này
đe dọa sức khỏe ngài từ ngày 19 tháng 5 năm
1854. Sau cha Athanase Sage, mọi người có lí khi cho
rằng thời gian ấy đánh dấu một
bước ngoặt thiêng liêng thực sự trong cuộc đời cha Emmanuel
d’Alzon, cho đến khi ngài mắc phải những
bệnh tật này, cha d’Alzon hầu như tràn ngập trong
hàng ngàn đau đớn do đảm trách quá tích cực
công việc tông đồ.
Chắc
chắn, Lamalou không phải là trung tâm nước khoáng nóng
đầu tiên, cũng không phải là trung tâm nước
khoáng nóng duy nhất mà cha d’Alzon biết đến : Ngài
đă đến và sẽ c̣n đến nguồn
nước Eaux-Bonnes (ở Pyrénées-Atlantiques, 1847), nguồn nước
Vichy (ở Allier, 1854), nguồn nước Bagnères-de-Bigorre
(ở Hautes-Pyrrénées, 1868, 1874), nhưng Lamalou vẫn là
nơi đánh dấu mạnh mẽ đời sống
thiêng liêng của cha d’Alzon. Ngài đă viết những tài
liệu quan trọng : Tra vấn lương tâm cho các
Sơ Adoratrices, Suy niệm về Chúa Ki Tô Chịu đóng
đinh hay c̣n gọi là Người Bạn mỗi ngày,
cuối cùng là sách Hướng Dẫn (Directoire). Trước
hết ngài viết sách này cho các Nữ Tu Ḍng Mẹ Về
Trời, vê sau sách này được sửa đổi,
bổ sung đem vào áp dụng cho các Tu Sĩ Ḍng Mẹ
Về Trời. Cha d’Alzon cũng viết rất nhiều
thư ở Lamalou ghi nhận sự triển nở về
mặt thiêng liêng của ngài. Buộc phải trị
bệnh, song ngài đă học rất nhiều kinh nghiệm
quí báu từ thử thách sức khỏe này. Có lần ngài
đă viết rằng Thiên Chúa chỉ lấy đi
sức khỏe của chúng ta để dễ dàng buộc
chúng ta cầu nguyện hơn nữa. Trong hành lư của
ngài tại pḥng trọ ở Bains, có quyển sách Bắt
chước Đức Ki Tô và quyển Tân Ước. Ngài
đọc và suy niệm không ngừng. Năm 1858, ngài giao
phó cho một người bạn, Bác Sĩ Jean-Léon Privat
(1810-1897) ư định cho xây nhà nguyện bên cạnh trung tâm
chăm sóc sức khỏe với mục đích thay nơi
thờ kính đă quá chật hẹp. Nhà thờ giáo xứ
tại đây chỉ được xây năm 1893. Jean-Léon
là bác sĩ thăm ḍ của vùng từ năm 1849
đến 1881. Hai mươi năm sau, dự án xây
dụng nhà nguyện khởi công khi xây dựng các trung tâm
bệnh viện của bác sỹ Privat. Công tŕnh này bắt
đầu bằng nhà nguyện Notre-Dame de Pitié (Đức Bà
thương xót), xây bằng đá từ Beaucaire. Lúc ấy
cha d’Alzon muốn dâng bàn thờ thánh Giu Se của nhà
nguyện cho Đức Bà xót thương. Bác sỹ Privat
viết : « sau nhiều năm xa cách, người
bạn quí mến của tôi trở lại Lamalou năm
1879. Ngài thấy nhà nguyện đă được xây
dựng trên mảnh đất đề cập
đến trước đây. Ngài ngước mắt lên
trời, rơi từng giọt lệ qua hàng mi và ngài
nắm tay tôi đầy t́nh thương mến vừa khéo
léo trao cho tôi chút tiền đóng góp ».
Ngôi
làng nhỏ vùng Hérault này trở thành trung tâm nước
khoáng nóng, lúc bấy giờ chỉ có khoảng 750 nhân
khẩu năm 1880. Nhưng tiếng tăm của vùng
được biết đến nhanh chóng trong thế
giới y học. Chính tại nơi này, ngày 21 tháng 6 năm
1857, cha d’Alzon viết bài suy niệm về Đức Ki Tô
Chịu đóng đinh cho các Sơ Adoratrices du Saint-Sacrement. Bài
suy niệm này được đặt tiêu đề khác
là Người bạn mỗi ngày (Ami de tous les jours). Bài suy
niệm này đă đem lại nhiều cảm xúc và
niềm an ủi cho các bệnh nhân và những người
bất hạnh, đồng thời cũng củng cố
vô số tấm ḷng.
Gửi Clémentine Lamalou, khoảng
ngày 23 tháng 5 năm 1856.
« Con yêu quí,
Giá con biết
được niềm tự tin của con bởi thư
con đánh động ḷng cha vô kể ! V́ vậy, con hăy
biết cha nhận thư con với tâm t́nh nào. Hôm qua, cha nhận
được thư con đúng giờ ăn trưa. Cha
vội vàng mở xem tin của con về Juliette. Khi đă
đọc xong, cha bỏ thư vào túi và ăn trưa. Sau
đó cha chạy bộ một ḿnh. Cha đă đi bộ
gần ba giờ đồng hồ. Cha muốn leo lên
ngọn núi, và cha chỉ ở dưới thấp. Cha
nhờ những người bán thịt chỉ con đường ngắn
nhất. Họ chỉ cho cha một lối đi kiểu
thung lũng, cây cối được tỉa rất gọn
gàng giữa rừng gỗ trên đồi núi thẳng
băng. Cha trèo núi thật sự. Cha không thể leo nổi
hai mươi bước nếu không nghỉ một lúc. Áo
choàng thâm rách nát. Đi được nửa đường,
cha nh́n xuống dưới : cha thấy đi xuống
c̣n khó hơn trèo lên. Vậy nhưng, cha khát khô họng và
không c̣n sức để leo lên cao hơn. Cha ngồi phía sau
cây sồi xanh tươi và đọc thư con.
Đây là con đường cha
thường dừng chân. Đây là con đường khiến
cha phải nhăn mày cáu mặt khi phải leo lên cao.
Nhưng chính con đường này tạo cảm hứng
suy nghĩ trong cha. Và cha không thể nói với con t́nh
thương bao la nhường nào về những do dự
của con trong quá khứ. Cha bắt đầu …offrir les
pierres qui roulaient sous mes pas. Mặt trời nóng bức thiêu
đốt cha, v́ sự bền chí của con. Giá mà con
biết được tất cả mọi giải pháp
tốt đẹp về con. Cha tự hứa tạo cho con
sức mạnh sống khi con không c̣n cảm thấy
hưng phấn nữa ! Cha hơi mệt v́ lo lắng
cho Juliette và hai người bạn thánh thiện Hélène
của chúng ta. Và nhờ có bạn đồng hành tốt,
cuộc thư dạo kết thúc nhờ sự trợ giúp
của Thiên Chúa và thánh Mi-Ca-En, nơi cha ghé thăm ngôi nhà
ẩn tu.
Cha viết lá thư này để
khích lệ con viết thư cho cha. Hy vọng lá thư này
đem lại cho con nhiều sức mạnh tinh thần
cũng như thư của con mang lại cho cha sức
mạnh thể lư. Tạm biệt con. Tất cả
thuộc về con trong Chúa chúng ta. E. d’Alzon ».
Thư gửi chị
Clémentine Chassanis, tháng 5 năm 1856, theo tuyển tập
thư d’Alzon, nxb. P.T., tập II, trang.84
Chỉ
thị này của Tin Mừng (Mt 19,19) lấy lại trong
bản giới răn
Môi-sen
(xh 20, 12) đă t́m được sức tái hiện
mạnh mẽ về mặt cá nhân cũng như mặt
cộng đoàn trong cuộc đời cha d’Alzon. Cha d’Alzon
luôn luôn gần gũi những người thân cận trong
những giờ phút khó khăn nhất của cuộc
đời : ngài đến thành Turin năm 1848 thăm
người em rể Anatole de Puységur ốm đau. Ngài từng tự trách ḿnh đă không
thể tiếp tục đến mộ đứa cháu
thứ hai để cầu nguyện cho cháu Marthe de Puységur.
Cháu Marthe qua đời do tai nạn ở Lavagnac năm 1845.
Hai em gái của ngài là Augustine và Marie-Françoise lần
lượt ra đi vào tháng 7 năm 1860 và tháng 4 năm 1869
tạo nên trong ngài đầy cảm xúc : « Cha
đến cầu xin sự thinh lặng tại chốn
này, nơi đây vốn chứa đầy kỷ niệm
của em gái Augustine. Cha sẽ không ngừng cầu xin trong
pḥng của em ḿnh dù căn pḥng ấy sẽ không thuộc
về cha, trong nhà nguyện, cha sẽ ngồi vào những
chỗ em thường ngồi ». Cha d’Alzon c̣n
viết : « Cha đă dẫn đưa
người em gái Marie thân yêu đến nơi yên nghỉ
cuối cùng, và giờ đây, mỗi lúc, cha cứ tin
gặp lại em trong pḥng, trong nhà nguyện, trong hành lang,
trên đường. Cha biết xác em ở nơi đâu,
cha hy vọng linh hồn em đang ở trên trời ».
Đối với bố mẹ tuổi già sức yếu, cha
Emmanuel d’Alzon là một gương mẫu hay để tâm
đến các ngài. Cha trở về thăm các ngài ở
Lavagnac, và chăm sóc họ những tháng ngày trong tuổi
già. Cha coi sóc bà d’Alzon cho đến hơi thở cuối
cùng, khi mẹ ngài bị thương nặng do té cầu
thang trong ngôi nhà ở Montpellier. Một người chăm
sóc bệnh nhân được biết đến với
biệt danh Pauline de Lavagnac. Ngày nay, tên thật của
người này được rơ : Pauline Sagnier. Chị
chăm sóc bà d’Alzon cho đến cuối đời,
thọ chín mươi tuổi. Bà qua đời năm 1864.
Đúng là những bắt buộc trong đời sống linh
mục và tu tŕ đ̣i hỏi các tu sĩ sự từ bỏ, tính chuyển
động, giữ khoảng cách với môi trường
gia đ́nh, song đối với họ, bổn phận
đạo làm con trong gia đ́nh không giảm đi. Đó chính
là những bổn phận tham gia vào các h́nh thức dẫn
dắt gia đ́nh tùy theo khả năng, phương
tiện của ḿnh. Kinh nguyện trong đời sống tu
tŕ có thể cho phép ḥa giải những thúc bách của
cuộc sống hoạt động tông đồ và
đồng thời những gánh nặng nảy sinh từ
bối cảnh môi trường tự nhiên nào đó sau khi
đă thống nhất với nhau. Bằng chứng cụ
thể là sự đáp ứng đầy nhân tính của cha
d’Alzon với thầy Etienne Pernet năm 1856 khi thầy
nhờ ngài giúp đỡ mẹ thầy vừa ghóa bụa,
vừa có tuổi, vừa đau yếu và vừa thiếu
thốn nhiều. Vị đồng sáng lập ḍng Nữ
Tu Sĩ Hèn Mọn Mẹ Về Trời (Petites Sœurs de
l’Assomption) năm 1865 sinh ra trong một gia đ́nh
khiêm tốn và lao động cần cù, rơi vào cảnh
khốn đốn và hoàn cảnh khủng khiếp như
vậy dường như ảnh hưởng đến
bước đi trên con đường ơn gọi tu tŕ
của E. Pernet. Phải làm ǵ trong trường hợp
như thế để thỏa ḷng sự bắt buộc
lương tâm và không trốn tránh những bổn phận
của người con trưởng trong gia đ́nh, và
đồng thời hoàn toàn có thể bảo đảm
sự chọn lựa con đường sống của
riêng ḿnh ? Đó là vấn đề trong thư hồi âm
của cha d’Alzon :
« …Con
quí mến,
Trước hết cha xin lỗi v́ không
thể hồi âm sớm hơn cho con. Lí do là v́ cha phải
đi tắm nước khoáng nóng trị bệnh. Cha không
thể khuyên ǵ con ngoài điều này : con hăy thống
nhất kỹ với em trai
để cùng nhau đóng góp giúp đỡ mẹ. Các con hăy
để mẹ trở lại vùng Franche-Comté. Cha nói
thật với con mẹ con sẽ không thể sống lâu
ngoài xứ sở quê hương. Con không thể hy sinh
ơn gọi của ḿnh, và cha tin chắc Thiên Chúa sẽ
luôn chúc lành cho mái nhà v́ việc chúng ta sẽ làm cho mẹ
con. Với số tiền 150 quan, em trai con có thể làm
việc ǵ đó. Con sẽ sử dụng số tiền
của ḿnh để làm công việc của con bằng cách
sử dụng tiền của chúng ta. C̣n lại, con có
thể tham khảo ư kiến Mẹ bề trên (Mẹ
Marie-Eugénie).
V́ viết
cho con rồi, nên cha sẽ không viết thư cho cha Laurent
nữa. Nhờ con nói vói ngài điều này. Khi cha hy
vọng sẽ đến Paris vào mùa xuân, cha t́m chỗ
trọ cho Đức Giám Mục giáo phận Nimes ở Auteuil.
Ngài đến làm lễ rửa tội cho hoàng đế (baptême
impérial). Cha
mong sẽ có thể t́m được nơi trọ cho ngài
ở đó. Cha nhờ cha Laurent trao đổi với
Mẹ Bề Trên để cho ngài nghỉ qua đâu đó.
Cha tuyệt đối ước ao Đức Cha sẽ
trọ tại nhà chúng ta lần này, ở Auteuil hoặc
ở Clichy. Mong mọi người sẽ sắp xếp
việc ấy tùy theo khả năng có được,
nhưng giá như các con biết được hiệu
quả do việc tiếp đón ấy đem lại ở
Nimes, các con sẽ hiểu tại sao cha ao ước như
vậy lắm.
Người
ta bảo đảm với cha là phương pháp trị
liệu bằng nước khoáng nóng sẽ đem lại
cho cha sức khỏe bền lâu, và cha không hề nghi
ngờ ǵ về điều đó. Tạm biệtt, anh
bạn yêu quí. Tất cả thuộc về con và về anh
em chúng ta.
E. d’Alzon.
Con
hăy hồi âm sớm nhất có thể được
về vấn đề liên quan đến chỗ trọ
cho Đức Cha. Cha Laurent sẽ làm một kiệt tác khi
viết thư ngay cho Đức Cha sau khi đă thống
nhất với Mẹ Bề Trên để biết con
phải đi đến Auteuil không, nếu như ngài
tiếp đón Đức Cha ở Clichy. Nếu Đức Cha
đi đến Auteuil, cha muốn giáo sư Gourju hân
hạnh tiếp diện Ngài. Cha đặt hy vọng vào
t́nh bạn của giáo sư đối với cha và cha
khẩn xin việc này. »
Thư cha d’Alzon
gửi thầy Etienne Pernet, Lamalou ngày 2 tháng 6 năm 1856, nxb
P.T, tập II, trang.91-9
Không
có trang sách nào về thế hệ đầu tiên của
Ḍng Mẹ Về Trời mà lại không xuất hiện
gương mặt của một trong những người
con thiêng liêng của cha d’Alzon. Đó là cha Victorin Galabert
(1830-1885). Ngài gốc vùng Hérault, ở Montbazin, sinh viên ngành y.
Ngài đậu tiến sỹ năm 1854 với luận án
học đường mang tiêu đề Bài thử
nghiệm về lịch sử đậu mùa. Một bài
giảng của cha d’Alzon trong ḍng Mẹ Về Trời
ở Nimes, nơi chàng sinh viên trẻ giảng dạy,
đă khiến anh sinh viên ấy trở lại giống
như thánh Augustino và mở hướng cho anh sinh viên
xuất sắc này t́m lại ḷng nhiệt huyết trong
đời sống đạo bởi gia đ́nh anh sống
đạo lơ là từ lâu. Dù gia đ́nh không đồng
ư, anh vẫn chọn lựa đời sống tu tŕ và
nhận áo ḍng Mẹ Về Trời ngày 8 tháng 12 năm 1854.
Cha d’Alzon cho ngài theo học thần học ở Rôma
(1855-1858). Sau một thời gian giảng dạy ở Nimes,
cha Galabert được cha d’Alzon chọn để gây
dựng gia đ́nh tu sỹ của ḍng ở Đông
Phương sau khi cha d’Alzon tiếp nhận những
chỉ định mập mờ hoặc những khát
vọng của Đức Giáo Hoàng Pio IX ở Rôma.
Trong
đầu của Đức Cha Brunoni, Ḍng Mẹ Về
Trời chỉ có thể cụ thể t́m được
chỗ đứng ở Philippopoli tại Thrace theo
chiến thuật lư tưởng của Giáo Hoàng thiết
lập ở Vatican và được nhiều Hội Ḍng Tu
sử dụng (Résurrectionnites, Capucins, Lazaristes). Nhiều
người ṃn mỏi trông chờ khả năng thành
lập một cộng đoàn Bun-ga-ri thống nhất. Mùa
xuân năm 1863, cha d’Alzon sang Bungari, ở đây đă có cha
Galabert, để khảo sát thực tế và những
dự định. Thực ra, mọi người
đặt hy vọng vào cha sáng lập ḍng để xóa
nợ của phái đoàn làm công tác tông đồ (délégation
apostolique) ! Cha sáng lập ḍng, tức cha d’Alzon, nhanh chóng
nhận ra tuyệt đối không thể lập chủng
viện cho giới giáo sĩ theo nghi thức phụng
vụ tiếng Slave Bun-ga-ri. Cha Galabert, người
đậu hai bằng tiến sỹ (double docteur), ngồi
vào ghế của học sinh, những trẻ em khiêm
tốn, nghèo khó,
được nhận vào trường Saint-André de
Philippopoli, mở của ngày 3 tháng 1 năm 1864. Vị tu
sĩ khiêm tốn và mộ đạo, phú bẩm và kiên
nhẫn học tiếng Bun-ga-ri và phân định tuyển
chọn các ơn gọi đầu tiên trong nước này.
Và từ năm 1865, ngài trở thành cố vấn của
Đức Cha Raphael Popov (1830-1876). Là bạn đồng hành
của Đức Giám Mục trong cuộc sống
thường ngày, vị tu sĩ này đi lại khắp
nơi với ngài trong nước, viết nguệch ngoạc
vào sổ nhật kư trên tàu biển mọi thông tin về nhiều nét
riêng biệt của đất nước Bun-ga-ri nông
nghiệp sống dưới ách đô hộ của
Thổ Nhĩ Kỳ. Chính việc ấy cho phép con
người sống cách một thế kỷ giữ
được kư ức và những h́nh ảnh về quá
khứ. Ngài thúc giục đấng sáng lập gửi
nữ tu sang để phụ giúp : Đó là nguồn
gốc phát sinh ḍng Nữ Tận Hiến Mẹ Về
Trời năm 1865. Khi giao phó trường Saint- André cho cha
Alexandre Chilier, cha Galabert thiết lập cố định
trung tâm truyền giáo của ḍng ở Andrinople (1867). Cha
Alexandre Chilier sau này sẽ sáng lập trường
Saint-Augustin (1884). Là ḥn đá bị chôn vùi trong nền
tảng, là người tiền phong mang tinh thần
đại kết, cha Galabert mang tâm hồn đông
phương của dân mà ngài dạy yêu thương và
phục vụ cho đến khi không c̣n sức hoạt
động nữa. Người con kế thừa của
cha d’Alzon hoàn toàn xứng đáng được gọi là
đấng sáng lập (épithète de fondateur).
«Vậy
là con trở thành linh mục, con của cha. Hôm qua, khi con
nhận phép xức dầu chức linh mục, cha dâng
lễ cầu nguyện cho con. Cha cảm ơn con về
thánh lễ ngày mai con dâng cho cha. Nguyện xin Chúa ban cho con
ḷng nhiệt thành truyền giáo ! Con hiểu rằng t́nh
yêu này là sản nghiệp, là nền tảng, là tinh thần
của ḍng Mẹ Về Trời. Cha không biết sẽ
sử dụng con vào việc ǵ. Có thể cha sẽ yêu
cầu con ở lại Rôma thêm một năm nữa. Và
trong trường hợp này, đến lượt con, con
sẽ phải đảm nhận những trách nhiệm
bề trên, giả sử trong trường hợp cha giao
phó cho con một vài sinh viên. Con cần phải áp dụng
chức vụ ấy cách đều đặn, với tinh
thần cầu nguyện, với sức mạnh, với
ḷng độ lượng, để trở thành
gương mẫu cho các tu sĩ trẻ. Con sẽ phải
thật khiêm hạ, nhẹ nhàng và kiên nhẫn thi hành chức vụ ấy. Con
không nên sơ suất nhiều, phải thêm việc giữ
ǵn vệ sinh trong nhà, và như thế mọi việc
sẽ ổn thôi.
Cha
không muốn con trở về từ Rôma nếu không có trong
tay bằng tiến sỹ giáo luật. Cha rất tiếc là
cha Picard đă không đủ sức để thi các môn
thần học, nhưng ngài phải chăm sóc sức
khỏe. Con nói với cha Barre rằng cha cảm ơn ngài
rất nhiều về kỷ niệm của ngài. Cha
thật ḷng cầu nguyện cho ngài. Ở Montpellier,
nhiều người đảm bảo với cha là cha
Barre đang được chờ đón để thay
thế cha Soulas trong nhiều việc bổ ích. Cha không tin
nổi thông tin này. Cha Soulas là một linh mục tốt. Ngài đă để Hội Ḍng
của ngài bị những ảnh hưởng mà cha Barre có
lẽ không chấp nhận.
Cha ở Lamalou khoảng
một tháng. Cha muốn cho con biết một số tin
tức, nhưng không thể được. Thiên Chúa
muốn Ḍng Mẹ Về Trời ở Nimes đáng
thương của chúng ta bị lung lay. Đă từng nghĩ
Ḍng sẽ có thể phục vụ lợi ích cho Thiên Chúa,
nhưng vậy đó, tất cả dường như
đă chấm dứt. Nhưng mặt khác, nhiều hy
vọng đến với chúng ta từ nhiều nơi
khác. Cha không nhận các trường phổ thông, các
tiểu chủng viện. Nên tin rằng, nếu chúng ta phó
thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, Ngài sẽ biết rút ra
được điều tốt từ điều
xấu.
Khi nào
Đức Thánh Cha trở lại Rôma ? Tạm biệt con.
Cha c̣n trăm ngh́n công việc với cha Picard. Con hăy tin cha
luôn gần bên con bằng trái tim.
E.
d’Alzon.
Mong cha Picard không quên những
khoan hồng đối với chúng ta và những thành viên
Ḍng-Ba. Nếu sức khỏe buộc ngài trở về, con
hăy để ngài ra đi. Chúng ta sẽ phải cần
đến ngài vào năm tới. Con hăy viết thư cho cha
biết tin tức ở Rôma. Báo chí không tải hết thông
tin hoặc thông tin đến rất trễ ».
Thư cha d’Alzon gửi cha Victorin Galabert,
Lamalou, ngày 7 tháng 6 năm 1857, theo nxb. P.T., tập II,
trang.246-247
Việc làm của bề trên hay c̣n
gọi là « tính ưu thế » (supériorité) theo thành ngữ
của cha d’Alzon, chắc chắn là một vấn
đề chủ yếu trong cuộc sống và trong
việc làm sống động nơi cộng đoàn
của Hội Ḍng. Đời sống tu sĩ được
cấu trúc theo cấp bậc làm nền tảng trung tâm
hoặc đỉnh điểm, vận hành cách cục
bộ trong nhiều tế bào mang tính dân chủ (cellules
démocratiques) theo thói quen, nếu ta hiểu điều đó
như tṛ chơi tự do trong một xă hội có tổ
chức và t́nh nguyện của những người
hữu trách, nhưng đồng thời lệ thuộc vào
tấm gương tham khảo chung, đó là Qui tắc
(Luật ḍng). Trước khi đưa vào Hiến Chương
những điểm chính yếu về chức bề trên
(supériorat), cha d’Alzon đă từng trải nghiệm trong hai
phẩm chất của khung cảnh Giáo hội trong giáo
phận Nimes và của một người với tư cách
là đấng sáng lập các Hội ḍng.
Ḍng
Mẹ Về Trời chỉ h́nh thành một cộng
đoàn trong cái nôi của trường học ở Nimes măi
đến năm 1851. Đó cũng là năm đưa ra
quyết định thành lập cộng đoàn ở Paris
tại Fraubourg trên đường Saint-Honoré (1851-1853).
Nhưng không lâu sau đó được chuyển
đến Clichy-la-Garenne (Hauts-de-Seine). Nếu tính kinh
nghiệm làm nông nghiệp (colonie agricole) và mở tập
viện cho các Thầy ở Mireman, Nimes (1853-1857), tiếp
đến là kinh nghiệm về tập viện
độc lập ở Auteuil trong nhà ḍng và lănh thổ
của các Nữ Tu Mẹ Về Trời tại Paris
(1857-1858). Cuối cùng là kinh nghiệm về việc thành
lập một cộng đoàn sinh viên lẻ tẻ ở
Rôma. Rethel xuất hiện vào vị trí thứ năm trong
các h́nh thức cộng đoàn của ḍng Mẹ Về
Trời thuở ban đầu. Mỗi lúc, cha d’Alzon cố
gắng t́m ra người có niềm tin, có khả năng
điều khiển một tập thể trong các hàng
ngũ của « công việc nhỏ bé ».
Việc này liên quan đến hoạt động tông
đồ. Ngài có những người như Henri Brun ở
Mireman, Hippolyte Saugrain ở trường học Nimes,
François-Picard ở Rôma và Charles Laurent ở Paris.
Cũng
thú vị nhận thấy trải qua nhiều thế
hệ, chức vụ bề trên đă thay đổi
nhiều h́nh dạng. Điều này cho thấy trong các văn
bản pháp lí của Ḍng ( Hiến
Chương, Thư Lưu Hành nội bộ, Các Kỳ
Họp). Để đủ sức thuyết phục, chỉ
cần so sánh những văn bản nói đến bề
trên cộng đoàn địa phương, từ thuở
ban sơ cho đến Luật Ḍng ngày nay hoặc trong
quyển sách hiện dùng do Nhà Chung (Curie généralice) giới
thiệu : bề trên địa phương, những
gợi ư thực tiễn để điều hành cộng
đoàn, Rôma, 1990.
Những văn bản đẹp
nhất xuất phát từ cuộc sống và nó chỉ
tạo nguồn linh hứng từ nhiều kinh nghiệm
chín muồi nhờ cọ xát nhiều t́nh huống riêng trong
đó mọi người luôn nhận thấy các vấn
đề nổi cộm. Chúng ta hăy lắng nghe cha d’Alzon tín
thác chức vụ bề trên cho cha Picard năm 1858, một
linh mục c̣n trẻ :
Bạn
thân mến, Lamalou ngày 10 tháng 9 năm 1858
« Như
vậy con chính thức là bề trên ở Rethel. Cha
để con tự do sử dụng cha Pernet hoặc cha Brun.
Tuy nhiên, cha khuyên con nên chọn cha Brun bởi v́ sức
khỏe của ngài sẽ giảm bớt mệt nhọc
cho con. Cha Brun tin sẽ đảm nhận một lớp,
nếu ngài đến đó và sẽ giúp đỡ con
về mặt nội qui. Con hăy chăm sóc đặc
biệt đến sức khỏe của cha Cusse. Nếu
con không được dâng lễ, con hăy cho cha biết. Cha
sẽ tạo điều kiện để con dâng lễ.
Nhớ cho cha tin tức về việc ấy.
Con
hăy từ tốn làm mọi việc. Cha tin tính cách con
người vùng Champagne hơi nặng nề và lạnh
lùng. Tính thành thật đối với cha là hệ
thống tuyệt vời nhất. Con hăy t́m cách để
cha Brun không quá mưu mô. Con hăy thẳng tiến (aller à la
bonne) và
hăy tiến hành công việc cách đơn giản. Đừng
bộc lộ niềm vui hơn người hoặc cho ḿnh
khéo léo hơn người khác. Con nên nhớ rằng chính
sách quản lí (administration) dù kém hiệu quả hơn,
nhưng bảo tồn được t́nh thương,
ngh́n lần thích hơn chính sách quản lí tuyệt vời,
song lại gây sự ghét bỏ.
C̣n
nữa, con hăy nhớ rằng tinh thần ḍng Mẹ Về
Trời là ḷng yêu mến Chúa, yêu mến Đức Mẹ
Đồng Trinh, mẹ Người, và yêu mến Giáo Hội,
hiền thê của Người. Đó là điều con phải
luôn có trước mắt: Chúa chúng ta, Thánh Nữ Đồng
Trinh, Giáo Hội. Nếu con chỉ hành động trong
mục đích ấy, con sẽ sớm được
mọi người cảm nhận và sẽ quí mến con
đúng mức.
Nếu con buồn chán, động
cơ trong sạch sẽ là niềm an ủi tối cao
đối với con. Nếu người ta chỉ
định con làm linh mục giải tội cho các Sơ
ở Sédan, con hăy nhận lời. Con hăy tin tưởng xúc
tiến công việc với Đức Hồng Y. Hăy kết
bạn với cha Hannesse. Nhưng cha tin ngài có một vài mánh
khóe, con cần tránh xa điều đó. Tại ṭa tổng
giám mục, con chỉ cần làm quen với cha Hannesse và
Đức Hồng Y. Con phải lịch sự và tôn trọng
mọi người, nhưng đừng chạy theo ai.
Tạm biệt con. Nguyện xin
Thiên Chúa và Thánh Nữ Đồng Trinh che chở con! Cha chúc lành
cho con trong sâu thẳm tấm ḷng”.
E. d’Alzon
Thư cha E. D’Alzon gửi cha François
Picard, tháng 9 năm 1858, theo những bức thư d’Alzon,
nxb. P.T., tập II, trang.512
Thư
cha d’Alzon và Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, ngay từ lần
gặp gỡ ban đầu ở Chatenay (Isère) vào tháng 10
năm 1838, tại quê hương cha Combalot, h́nh thành nên
niềm khao khát chung để thiết lập cộng
đoàn Nữ Tu Ḍng Mẹ Về Trời ở Nimes với
mục đích chiêm niệm (adoration) và giáo dục. Dự
tính này chỉ có thể khởi động vào thời
Đức Cha Cart. ĐGM Cart khá ghét bỏ sự xuất hiện
thêm các ḍng tu trong lănh thổ giáo phận. Việc này chỉ
thực sự trở thành hiện thực sau khi ĐGM Cart qua
đời ngày 13 tháng 8 năm 1855.
Ngày
24 tháng 10, Sơ Marie-Eugénie de Jésus đến Nimes cùng với
ba nữ tu với mục đích thành lập cộng
đoàn ở đây: Sơ Marie-Walburge, được
cử làm bề trên, Sơ Marie-Elisabeth gốc Nimes và
Marie-Gérard Ernalstein, là Sơ cần vụ. Chỗ ở
đầu tiên không được chuẩn bị
trước: Các Nữ Tu đến nhà bà nam tước
Lisleroy, bà ngoại của Sơ Marie-Elisabeth, trên
đường Lombards số 29, gần nhà thờ
Saint-Charles, trước khi các Sơ đến ngụ
tại một ngôi nhà nhỏ rất khiêm tốn,
đường Roussy vào tháng 11, ngôi nhà này không xa
trường của Ḍng Mẹ Về Trời và gần ḍng
nữ Các-Men. Sau đó, bốn nữ tu được sai
đến: Sơ Marie de la Croix Aubert, Sơ Marie-Aloysia Lawson,
Sơ Marie-Laurence Finn, tập sinh, và Sơ Marie Pélagie
Desperroix, Sơ cần vụ. Ngày 9 tháng 11, cha d’Alzon dâng thánh
lễ đầu tiên tại đây.
Việc
sắp đặt tạm thời này không thể tồn
tại lâu dài. Thư cha d’Alzon những năm (1856-1858) cho
phép chúng ta theo dơi những giai đoạn trong công cuộc
xây dựng và bố trí ḍng tu theo luật ḍng. Ḍng tu này mang
tên Tu Viện Nimes: việc mua đất trên
đường Bouillargues, sơ đồ của kiến
trúc sư Révoil dự tính xây dựng pḥng ở cho các nữ
tu, xây dựng ḍng tu, xây dựng trường nội trú,
vườn giải trí, hàng rào. Công tŕnh này được
cha d’Alzon quan tâm rất nhiều, nhưng cũng không
thiếu những công tŕnh tương tự ở nơi
khác. Trường học ở Nimes cùng theo một kiểu
mẫu và làm nảy sinh nhiều nhánh thiêng liêng
được gắn vào nền tảng của các Nữ
Tu Mẹ Về Trời: Hiệp hội các Nữ Tu tôn
thờ Phép Thánh Thể, Ḍng-Ba nữ Mẹ Về Trời. Bước
đầu của trường nội trú khá khiêm tốn:
12 học sinh vào tháng 10 năm 1858, nhưng công tŕnh giáo
dục sẽ đạt thành quả lớn khi luật pháp
nền Cộng ḥa cuối cùng phải chấm dứt
việc cấm công tác giáo dục đối với các Ḍng
Tu sau bộ luật 1901. Hội Ḍng các Nữ Tu Mẹ
Về Trời tan ră vào tháng 12 năm 1906. Cộng đoàn
địa phương chống cự đến ngày 23
tháng 8 năm 1911 khi lực lượng
cảnh sát đuổi. Nhà tu trở thành trung tâm chăm sóc
sức khỏe cho người có tuổi (Centre Villemin). Nơi
này t́m lại ơn gọi đầu tiên vào năm 1911
với việc thành lập trường trung học d’Alzon,
phát triển rộng Học Viện d’Alzon dưới
sự quản lí của các Nữ Tu Tận Hiến
(Oblates).
“
Các con yêu quí,
Nếu
các con tin rằng cha sẽ để ngày lễ Mẹ
Về Trời trôi qua mà không có lời chúc mừng, các c̣n
hoàn toàn sai lầm đó. Trước hết, cha rất quan
tâm đến thánh lễ này. Tối nay, các tu sĩ đi
tĩnh tâm về và các con sẽ nhận được hàng
đống lời chúc mừng tốt đẹp. V́
vậy, các con hăy cầu nguyện cho đến ngày
22 ( giơ tay lên trời cho
đến ngày 22). Ngày 22, cha sẽ đi Sedan. Cha sẽ
giảng tĩnh tâm ba ngày cho Sơ của các con ở
đây. Nơi đây, v́ lợi ích của các con, cha thánh hóa
mọi thành viên trong gia đ́nh tu các con. Cuối cùng, rất
có thể, thay v́ đi qua Toulouse, cha sẽ phải ghé qua
Nimes để đi đến Lamalou. V́ c̣n nhiều
việc quan trọng ở đó, mong các con vui ḷng cho cha
biết, tốt hơn cha nên ghé qua nơi nào.
Cho
phép cha đề nghị các con trao đổi thông tin cho
nhau về việc cha sẽ nhờ các con. Các con vui ḷng
chuyển lời của cha đến Mẹ chúng ta ( Mẹ Marie-Eugénie de Jésus). Nói là cha chúc Mẹ
kiên nhẫn nhiều để t́m hiểu con người
cha. Các con nói với chị cả đáng kính của chúng ta
rằng cha nghĩ nhiều đến chị và cha thấy
chị đă làm một việc rất tốt khi lập
cộng đoàn bên bờ Vistre. Ở Auteuil, mọi
người luyến tiếc v́ thiếu vắng chị.
Chuyến ghé thăm đă giúp cha đánh giá cao kho tàng mà chúng
ta đă có được. Chuyển lời đến
Sơ Marie-Julienne. Nói với Sơ, cha đă trao đổi
hai lần với người cháu rất đẹp trai
của Sơ về việc Sơ muốn nhờ cháu
chuyển đến cha. Nói với Sơ là cháu hứa
với cha sẽ suy nghĩ về việc ấy. Nhờ
các con chuyển lời tới Sơ Marie de la Croix rằng
Sơ Marie-Cécile muốn Sơ nuôi chim sơn ca ở Nimes.
Nói với Sơ Aréthuse rằng mọi người rất
cần nước để tưới cỏ trên Paris. Chuyển
lời tới Sơ M.-Théodore ở Paris, không ai dùng loại
chocolat mà Sơ làm biếu cha. Nói với Sơ M.-Claver
rằng cha c̣n nghĩ Sơ là người thánh thiện
nhất trong cộng đoàn. C̣n Sơ M.-Angélique, cha thật
sự bối rối, nhưng chúng ta sẽ t́m
được giải pháp ǵ đó từ nay cho đến
khi cha trở lại.
Và
giờ đây, tạm biệt các con. Không phải cha đi
tĩnh tâm lúc này, mà cha đi vào thế giới của cha.
Cha cần thấy việc phải làm để hoán cải
tâm hồn, để thánh hóa, để quở trách
(bản thân), để khích lệ cộng đoàn nhỏ
bé của chúng ta. Tất cả thuộc về các con trong
Chúa chúng ta.”.
Thư gửi cộng đoàn Nữ Tu
Ḍng mẹ về Trời ở Nimes, Clichy ngày 15 tháng 8
năm 1859, theo nxb.D.D., tập III, 1991, trang.131-132.
Chúng
ta thường quen giới thiệu tư tưởng
thiêng liêng của cha d’Alzon hơn là đề cập
đến con người d’Alzon dưới những nét
liên quan đến ông chủ ruộng đất. Và thế
nhưng, đó chính là h́nh ảnh ngài thể hiện về
chính ḿnh trong bức thư
viết cho mẹ ngài, bà tử tước d’Alzon vào tháng 8
năm 1860. Khoảng hai tháng sau, mẹ ngài qua đời.
Ḍng
họ d’Alzon toàn là những chủ tư hữu ruộng
đất ở Vigan cũng như ở Lavagnac: tài sản
ruộng đất trong các tầng lớp giai cấp
thời xưa của xă hội vẫn là biểu trưng
cho sự ẩn chứa tài sản và uy thế, ngay cả
khi bị những giá trị xă hội khác truất phế,
như thương mại, nhà băng và công nghiệp
thường ḥa lẫn với nhau. Chúng ta biết tài
sản của ḍng họ d’Alzon nhờ Bà d’Alzon, sinh ra ở
Faventine. Thực ra bà đă kế thừa gia sản do cha
mẹ nuôi để lại. Bố mẹ nuôi của bà là
con cháu của một ông quân thầu thuế. Vả
lại, khi mẹ ngài qua đời tháng 10 năm 1860,
chỉ ít lâu sau khi em gái của cha ĺa trần vào tháng 7 cùng
năm ấy, hai người nối dơi tông
đường trực tiếp c̣n sống là Emmanuel và em
gái của ngài Marie-Françoise chính thức kế thừa gia
sản: cha d’Alzon từ năm 1835 nhận những số
tiền lớn của gia đ́nh cho nhiều công việc
ở Nimes. Ngài ghi vào sổ rất cẩn thận số
tiền ấy và xem như đó là phần lănh nhận
trước từ của kế thừa sau này. Ngài
để Marie de Puységur kế thừa lănh thổ Lavagnac,
c̣n ngài th́ nhận ngôi nhà do gia đ́nh để lại khi
c̣n ở Vigan và những trang trại kế bên. Lănh thổ
ở Montmau tại xă Saint-Pons de Mauchiens cũng thuộc
về cha d’Alzon. Sau này ngài bán lại cho cháu trai Jean de
Puységur.
Lá
thư của ngài v́ vậy mang nặng những ghi nhận
và toan tính về tài chính trong đó sự lạc quan chung
nơi ngài không bao giờ mang ơn ai, cho
dù suốt cuộc đời ngài chịu khổ v́ vấn
đề tiền bạc. Việc nghiên cứu kiểu tài
chính về chủ đề này nhờ các số liệu
thống kê trong những trao đổi của cha với
Mẹ Marie-Eugénie de Jésus. Dù xuất thân từ tầng
lớp quí phái mới xuất hiện, con người
lịch lăm này dè dặt trong quan điểm riêng đối
với những h́nh dạng kinh tế mới mẻ mà gia
đ́nh Milleret đang đắm ḿnh hoặc đă
đắm ch́m trong đó do giai cấp tư sản
lộng hành. Cả hai người chỉ đề
cập đến vấn đề tiền bạc trong
những quan hệ cần thiết hoặc kiểm tra khi liên quan đến những
dự định hoạt động tông đồ.
Sở thích và chọn lựa cá nhân của các ngài
được nhào nặn theo luật tin mừng chỉ v́
các giá trị đích thực của Nước Trời.
Tuy thế, cha d’Alzon tỏ ra là con người có
đầu óc thực tế về nông nghiệp trong mối
quan hệ với người mẹ sinh thành nhân chuyến
trở về thăm nhà ở miền quê Lavagnac :
«
Mẹ kính yêu,
Con đă đến bến rất
b́nh an. V́ không có việc ǵ quan trọng phải làm lúc này,
sáng mai con sẽ lên đường đi đến Lamalou.
Sáng nay, khi vào nhà nguyện, con trông thấy bó hoa bạch
rất đẹp. Con bèn hỏi có chuyện ǵ thế.
Người ta bảo bó hoa ấy do bác làm vườn
chưng từ hôm qua nhân ngày lễ thánh Augustino.
Mùa
thu hoạch lúa ḿ, hạt yến mạch, lúa mạch
đen, mang lại 9434 quan tṛn. Chi phí khai thác nông nghiệp
đă trích ra 10334 quan, riêng việc đập lúa
(đạp lúa) mất 2234 quan, chưa tính những
thiệt hại (ègues ???) trong năm và những hư hại
về cây cối, cỏ linh lăng v́ không c̣n ai chịu
trách nhiệm bảo quản. Nơi các gia chủ ruộng
đất chính ở Mèze, người ta đă sử dụng
máy móc nên chi phí giảm đi một nửa. Nếu mẹ
muốn ngỏ ư về chuyện này : công việc
đập hạt với …(ègues) phải
mất 2,25 quan cho một hectolit ( hectolit là đơn vị
đo lường). Trong khi đó, sử dụng máy chỉ
mất chưa tới 15 xu cho một hectolit. Con thấy sự
khác nhau qúa chênh lệch. Từ 45 đến 15, hoặc
từ 3 đến 1, nói cách khác chênh lệch một
phần ba.
Poujol
và ông thợ cạo ống khói xúi giục để
người ta đừng mua hạt bị cháy sém (semence de
roussillon)
v́ họ thấy hạt giống thu hoạch ở
đây khá tốt. Họ đă cho con xem hạt giống
mới thu hoạch. Với khả năng hiểu biết
của con, con thấy hạt giống ấy rất
tuyệt và không kết hạt. Chúng ta cần mua giống
lúa ḿ không râu. Con có việc này phải cho mẹ biết.
Năm nay, 44 sèteries de la Conseillère sẽ được
chế biến rượu, nhiều hơn so với 160
sèteries mà ta đă trồng lúa ḿ, lúa mạch đen, hạt
yến mạch. Rượu sẽ bán được 100
quan. Ruộng nho thu hoạch được 120 muids sẽ
bán với giá 12 000 quan. Vụ trồng trọt và vụ
thu hoạch nho sẽ đem về cho mẹ trên 1800 quan,
phải bỏ ra 1200 quan, nhưng c̣n tồn lại 10200
quan. 160 séteries lúa ḿ, lúa mạch đen, v.v. đem lại
lợi thu cho mẹ 9434 quan. Con bàn rơ các chi tiết này
để mẹ được cha đồng ư những
việc sau :
1. mong cha
nhất trí bỏ...ègues? v́ phải chi tiêu vào việc ấy
ít nhất là 2000 quan một cách vô dụng.
2. mong cha
mua một chiếc máy với sản phẩm đem bán
từ trại ngựa giống. Năm đầu tiên,
sẽ có một nguồn kính tế khá lớn ;
những năm khác, kinh tế sẽ rất tuyệt
vời. Ngài Vidal ở Mozère đảm nhiệm việc máy
móc và bảo đảm máy móc luôn.
3. mong cha
cho trồng nho, bởi v́ với luật lệ cho phép và
với những khả năng hiện có, cho nên giá lúa ḿ
rất thấp. Cừu có thể ăn những ǵ mà các
…ègues ? ăn và cũng có thể cung cấp nhiều phân
chuồng rất tốt, song cũng vô ích thôi. Con không
hiểu tại sao lại nói với mẹ về những
suy nghĩ ấy, đúng hơn cha là người phải
suy nghĩ về những vấn đề này. Bởi
vậy, hiển nhiên là con viết những suy nghĩ
ấy cho cả bố lẫn mẹ. Con chưa thể
gặp Rodier. Anh ta để lại cho con mấy chữ
bảo là phải bắt buộc đến Clermont. Ngày mai
con đi. Alexandre sẽ đến Montpellier tối thứ
sáu hoặc sáng thứ bảy.
Tạm biệt mẹ thân yêu. Con
hôn mẹ với nụ hôn dịu dàng và cả cha nữa.
Con trai của mẹ nay đă năm mươi tuổi.
Emmanuel ».
Thư cha d’Alzon gửi bà Jeanne-Clémence
d’Alzon, lavagnac, ngày 29 tháng 8 năm 1860, theo nxb. D.D., tập
III, p. 282-283
Năm
1860 là năm tràn đầy thử thách đối
với cha d’Alzon. Sự chết xảy đến làm tan nát
gia đ́nh : em gái Augustine ra đi nhanh chóng vào tháng
bảy, rồi tháng mười mẹ của cha d’Alzon,
tức bà d’Alzon qua đời cách đau đớn. Hai tang
thương này c̣n được thêm vào một tang
thương nữa là cái chết của cháu gái Martha năm
1845 và em rể của cha tên là Anatole de Puységur cũng ra
đi năm 1851. Hàng ngũ
trong gia đ́nh trở nên thưa thớt. Bà d’Alzon bị mù
ḷa. Khi Augustine qua đời, bà không c̣n con gái thân
thương dẫn dắt nữa khi ở Montpillier. Lúc
ấy, bà sống trong một mái nhà tên là Maison Roche, rue des
Trésoriers de la Bourse. Vào tháng chín, bà không may vấp ngă trên cầu
thang, chắc hẳn bà bị găy xương đùi. V́
vậy bà đau nặng và y học lúc bấy giờ không
thể chữa khỏi, mà chỉ có thể giảm đau
chút ít bằng một vài viên thuốc phiện. Cha Emmanuel
rất đau đớn khi phải trông nom mẹ trong giai
đoạn hấp hối suốt ba tháng trời : ngài
cảm thấy thực sự biệt lập với t́nh
trạng khó đi lại của cha ngài ở Lavangac. Cha ngài
đă tám mươi tuổi và hầu như không c̣n nói
năng được ǵ nữa. Alix de Puységur ở trong
ḍng Các-Men Paris cũng vắng mặt v́ trùng vào giai đoạn nhà ḍng
đóng của. Nỗi đau này của cha d’Alzon càng thêm mạnh mẽ
hơn khi ngài bị cấm không được phép rao
giảng, không được phép giải tội trong giáo phận
Montpellier v́ những ư kiến và sự thái quá trong tính
nhiệt thành đối với Giáo Hội Giáo Hoàng La Mă mà
Đức Cha Thibault (1835-186) trách cứ ngài.
Từ năm 1859, thế
giới công giáo hướng mắt về Rôma và về
những Nhà Nước thuộc giáo hoàng. Kư kết chính
trị, quân sự của Napoléon III với Piémont đă
khiến toàn bán đảo nước Ư rơi vào trận
cuồng phong của Risorgimento. Cavour mong muốn chiến
tranh chống lại ÁO-HUNG-GA-RI bởi đây là sự
loại bỏ mang tính quyết định trên bản
đồ bên kia núi AlPƠ. Trong các nhà nước trung
phần, nhiều rối ren được lên men nhằm
mục đích xúi giục dân chúng không vâng nghe Đức Giáo
Hoàng, Ngài vốn chỉ có thể chống lại một
binh đoàn đều đặn với vài đám quân t́nh
nguyện ít nhiều được rèn luyện. Đó là binh
lính Zouavơ thuộc giáo hoàng. Hơn nữa ở miền
nam, trong vương quốc Deux-Siciles Garibaldi, người
cộng ḥa chờ đợi đến giờ để
liên minh công việc hiệp nhất theo cách của ḿnh. Cha
d’Alzon không phải là người bất động và tay
khoanh tṛn. Theo bút danh của ngài, nhờ lời của ngài,
nhờ hành động của ngài, và nhờ dấn thân cách
trọn vẹn, ngài hoàn toàn đi vào cánh đồng tranh căi
mang tính công chúng. Cháu trai Jean của ngài bị tù ở
Castelfidardo vừa được thả. Sự tranh
đấu của cha d’Alzon được linh hứng
bởi những niềm tin và những khái niệm về
Giáo hội được nhiều người công giáo chia
sẻ, tán thành lúc bấy giờ. Chính trong bối cảnh
rối ren ấy, ngài bàn thảo với Đức Cha Quinn về
việc gửi các tu sĩ sang nước ÚC và ngài chịu
đựng mọi thử thách tang thương liên tục
trong gia đ́nh nhờ đức tin, đến nỗi ngài
viết rằng : « cha nghĩ có thể chịu
đựng chút khổ đau trong gia đ́nh vào chính lúc Giáo
Hội đang đớn đau rất nhiều là một
niềm an ủi lớn đối với cha ».
« Con quí mến,
Cha cảm ơn con về lá thư rất hay con viết
cho cha. Xin con cho cha nói sơ qua với con t́nh h́nh cha lúc này. Cha
khổ đau khi chứng kiến mẹ ḿnh ốm liệt
giường khiến cha mong mẹ chóng khỏi. Từ khi
nói chuyện với mẹ, cha biết mẹ thấu
hiểu cha. Cha ít khi ở bên mẹ, cha cảm thấy cái
chết ít ra đă chiếm lấn một nửa con
người của mẹ. Rất có thể, cha thích ở
một ḿnh hơn, cha đă từng cảm thấy như
vậy khi em gái Augustine qua đời và cha càng cảm
nhận điều đó mạnh hơn nữa mỗi
ngày. Điều đó thật ích kỷ, nhưng cha muốn nói
với con sự thật đang ngự trong ḷng. Cha rất
hạnh phúc với các linh hồn do chính đức tin
chỉ cho cha thấy trong một thế giới tốt
đẹp hơn hoặc đang sẵn sàng đi vào
thế giới ấy. Cha chưa bao giờ thấu
hiểu tốt hơn niềm hạnh phúc trở thành linh
mục và trở thành tu sĩ bằng việc cầu
nguyện cho người nghèo khổ và những linh hồn
quí giá ấy. Và c̣n nữa, cha cũng chưa bao giờ
thấu hiểu tốt hơn niềm vinh dự
được chịu khổ đau trong gia đ́nh lúc
đại gia đ́nh ki tô hữu khổ đau nhiều
lắm. Thật là cái gí đó tốt lành khi t́nh yêu của
Giáo Hội không phải chỉ là một từ rỗng
tuếch. Người mà cha t́m thấy niềm an ủi
tuyệt vời nhất về cái chết của mẹ
ḿnh chính là Giáo Hội. Sau khi viết xong thư cho con và cho
một số người khác,
giá mà con biết được điều cha cảm
nhận khi cha vào trong pḥng để xin lỗi mẹ ḿnh
bởi mọi khổ đau
cha đă gây cho mẹ và lúc cha ôm hôn bàn tay người
mẹ đă chăm sóc cha sâu nặng nhường nào ! Chắc
hẳn có sự đắng cay, nhưng cuối cùng, chúng ta
không giống như những người thiếu niềm
hy vọng.
Lời
cuối cùng của mẹ dành cho cha là : « Con nên biết
đến mọi hy sinh ». Tại sao con không muốn
lời trăn trối ấy không quí giá đối với
cha như bao trăn trối khác ? Sau mẹ, không
người nào an ủi cha tốt hơn con, con của cha,
nhưng trong bối cảnh hiện tại, cha có cần
được an ủi không ? Cha buộc phải
đến vài ngày ở Lavangac để giải quyết
một số việc liên quan đến gia đ́nh. C̣n
nữa, cha phải đi giảng cho hai kỳ tĩnh tâm. Kỳ
tĩnh tâm đầu tiên sẽ bắt đầu
độ ngày 14 tháng 11. Hôm qua, cha Hippolyte đă có hai bài
giảng nói tầm quan trọng của sự hiện
diện của cha ở Nimes. Theo cha, tốt hơn cha nên
cố gắng thực hiện chương tŕnh đề
ra để lên Paris độ ngày 15 tháng Giêng.
Sơ
Marie-Catherine đă viết thư cho cha cách đây vài hôm. Một
lá thư chứa đầy thất vọng. Nhưng
từ ngày mẹ của cha qua đời, Sơ
Marie-Catherine cũng đă viết cho cha và dường
như đă vượt qua khó khăn.
Tạm biệt con gái yêu quí của
cha. Con thấy đó, cha tỏ hết ḷng với con.
E. d’Alzon. »
Thư cha d’Alzon gửi
Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, Nimes ngày 18 tháng 10 năm 1860, theo
nxb. D.D. ; tập.III, trang.325-326
Khi
kư kết thỏa thuận hay hợp đồng đi
truyền giáo với Đức Cha Quinn ngày 19 tháng 10 năm 1860,
cha d’Alzon cho phép bước thử nghiệm đầu tiên
về cuộc sống truyền giáo xa xôi đối
với Ḍng Mẹ Về Trời. Cho đến lúc ấy,
Hội Ḍng chỉ biết đến đời sống
trong học đường hoặc trong các trường
học nội trú, dẫu rằng mục đích truyền
giáo thuộc thành phần những khả năng tông
đồ được ghi rơ trong HIẾN CHƯƠNG
năm 1855. Mặt khác, ta biết rằng cha d’Alzon cũng
đă nghĩ đến việc thử nghiệm trong
việc lập ḍng các Nữ Tu Ḍng Mẹ Về Trời
ở xứ Cap bị thất bại (1850-1852) : cũng
nên biết rằng ngài là một người có địa
vị thuận lợi, ngài biết quyền giám mục
rất tỉ mỉ dựa vào luật định nên nói
chung không hề ưu tiên đối với những h́nh
thức lan rộng của đời sống tu tŕ.
Không
theo chính xác một con đường, việc sáng lập
ḍng Mẹ Về Trời
ở nước ÚC (1860-1875) sẽ không thể
tiếp tục tồn tại : Đức Cha James Quinn,
vị giám mục trẻ người Ai Len giáo phận
Brisbane, không giữ lời cam kết sẽ tạo
điều kiện thuận lợi ngay khi gầy lập
cộng đoàn đàng hoàng. Đức
Cha Quinn chỉ có tham vọng và chỉ quan tâm đối
với việc quản lí hành chính tông đồ bằng
cách sử dụng các tu sĩ khi họ phụ thuộc vào
quyền thế của ngài. V́ vậy, nảy sinh sự
khác biệt giữa ngài và cha René / Eugène Cusse. Cha René / Eugène
Cusse bị công bố là tu sĩ chạy trốn v́ nhập
vào giáo phận Brisbane, sau đó ngài bị loại khỏi
Hội Ḍng vào năm 1862. Sau
đó, ngài qua đời tại Newcastle năm 1866.
Hiểu lầm ngày càng trở nên trầm trọng v́ thông
tin lúc bấy giờ quá chậm trễ và cũng v́ cha
d’Alzon quyết đoán hơi vội vàng.
Tuy
nhiên, chúng ta sẽ sai lầm khi tin rằng việc thử
nghiệm lập ḍng ở ÚC hoàn toàn thất bại :
các cha Brun và Tissot, thầy Polycarpe Hudry đă chứng tỏ
là những tu sĩ biết cộng tác với nhau trong công
việc truyền giáo, cần cù và mạnh mẽ, cho dù nói
đúng hơn, các ngài chỉ nghĩ đến những
công việc tông đồ trực tiếp bên cạnh quần
chúng gốc bản xứ hơn là nghĩ đến
việc trợ giúp thiêng liêng cho các ḍng dơi cháu con thực dân
ai-len. Năm 1875, cha Tissot là người cuối cùng
phải rời ḥn đảo- của lục địa
này, tương xứng với quyết định của
ḍng năm 1873. Ít ra, chúng ta có thể nói rằng Ḍng Mẹ
Về Trời đă không đánh mất sự tôn trọng,
không đánh mất danh giá, và rằng cha d’Alzon đă minh
chứng ḷng trung thành, thành thật với Giám Mục cho dù
thái độ của Ngài không đáp lại điều ǵ
cả. Kể từ năm 1862, cái nh́n của vị sáng
lập ḍng hướng về Đông Phương và sự
dấn thân tông đồ này
vào những mấu chốt hoàn toàn khác khi ở ÚC, sẽ
huy động Hội Ḍng ít ra trong khoảng một nửa
thế kỷ. Chắc hẳn khó khăn thử thách nơi
đây cũng không kém, nhưng cùng với năm tháng, tùy
theo t́nh h́nh và thúc bách, dần dần những h́nh dạng
ḥa nhập và đầu tư được mở ra và
cắm neo cho việc lập ḍng với bước
khởi đầu không hứa hẹn lắm cho việc
định h́nh của tương lai : các chức
vụ truyền giáo, các công việc về học
đường và xă hội, công việc tông đồ
về mặt trí thức. Chúng ta hăy vào trong lịch sử
truyền giáo của Ḍng Mẹ Về Trời bằng
ngưỡng cửa khai mào trong việc mảo hiểm
truyền giáo lập ̣ng ở ÚC CHÂU :
« Nimes ngày 29 tháng 9 năm 1860,
Kính
thưa Đức Cha,
Trước
tiên, xin cho phép con cảm ơn Đức Cha đă hồi âm cho
con. Con đă vô cùng trông mong thư của Đức Cha. Sau khi
được Đức Cha báo trước qua cha Laurent, con
thú nhận rằng Đức Cha không đủ tiền đảm bảo
việc đi lại cho các tu sĩ của chúng con. Hai
đề nghị mở đầu lá thư của
Đức Cha và việc Đức Cha luôn nhắc lại lí do thiếu
tiền là những điểm chủ yếu trong lá thư
của Đức Cha. Vài ḍng Đức Cha ghi trong thư hôm qua, con
thấy dường như Đức Cha chỉ muốn
chuẩn bị cho ư định là Đức Cha không có ǵ
để trả chi phí đi lại cho dù chỉ là một
nhà truyền giáo. Nhưng, khi cha Picard đảm bảo cho
con là do hiểu lầm, ngay cả trước khi chưa
nhận ǵ của Đức Cha, con đă cho phép cha Cusse ra
đi để tỏ sự tuân phục Đức Cha. Đức
Cha thấy đó, con không có ư định xấu nào cả.
Bởi
v́ Đức Cha không có tiền chi tiêu, nên thật hợp lư
chỉ có cha Cusse và cha Brun đến phục vụ Đức
Cha. Và cũng hợp lư rằng nếu Đức Cha chỉ có
thể tiếp nhận một người, Đức Cha hăy
tiếp nhận một người. Con mong người
đó chính là cha Brun. Tuy nhiên, con để Đức Cha tự
do chọn người Đức Cha muốn. Một khi hai tu
sĩ này đến Brisbane và sẽ quan sát t́nh h́nh, môi
trường, công việc, nếu họ cho rằng chúng con
có thể hữu ích cho Đức
Cha, và nếu Đức Cha thấy cần thiết cấp
giấy phép cho chúng con lập Ḍng Augustins Mẹ Về
Trời trong giáo phận này, chúng con sẽ vui mừng
gửi đến Đức Cha nhiều tu sĩ khác. Con
sẽ tiến xa hơn
nữa. V́ những sự kiện nào đó, nếu cha Cusse
và cha Brun không thích hợp lắm trong sứ mệnh và công
việc của Đức Cha, và tuy vậy, Đức Cha vẫn
muốn có sự hiện diện của chúng con, xin Đức
Cha gửi về cho chúng con hai tu sĩ ấy, chúng con
sẽ gửi đến cho Đức Cha những
người thợ tông đồ khác. Thưa Đức Cha,
dường như trong các điều kiện con nêu ra,
Đức cha có thể nhận thấy mọi niềm khát khao của chúng con
được làm thỏa ḷng Đức Cha, và con chứng
tỏ cho Đức Cha là con thành thật trong sự hiểu
lầm giữa Đức Cha và con.
Con là người rất khiêm
nhường kính trọng Đức Cha và chỉ là
người tôi tớ vâng nghe Đức Cha.
E. d’Alzon ».
Thư cha E. d’Alzon gửi Đức Cha
Quinn, Giám Mục của Brisbane, theo Những bức thư
của cha d’Alzon, tập III, nxb.D.D., 1991, trang.313-314
Niên
đại về việc mua mảnh đất trên
đường François Ier ở Paris năm 1860 có thể
hoàn toàn được theo dơi nhờ lá thư giữa cha
d’Alzon và thầy Vincent de Paul Bailly. Mảnh đất
khoảng 1050 mét vuông : nhờ trung gian của ông Adolphe
Baudon, gia chủ số 2 cùng đường này, việc
tiến hành mua đất được kư ngày 12 tháng 12,
sau khi bán đấu giá, nhưng lúc ấy việc bán
đấu giá không biết đến sự tăng giá lên
nữa. Ông chủ tịch Hội Saint Vincent de Paul không
cạnh tranh theo như nhiều người đă tin hay
đă cả tin từ rất lâu, đó là một cái tên có
sẵn đơn thuần, nhưng lại là một người
mua thực sự bằng tài sản của chính ḿnh với
mục đích giúp cha d’Alzon, bởi cha d’Alzon luôn thiếu
tiền. Cha d’Alzon dự tính sẽ có thể bán nhà,
đất ở Clichy hầu có thể ứng
trước một số tiền, đồng thời
không phải mắc thêm nợ nần. Mọi chuyện
sẽ bắt đầu được tiến hành
đều đặn nhằm Hội Ḍng có thể trú
ngụ buổi đầu trong khiêm tốn. Mùa thu năm
1861, xây nhà nguyện nhỏ và cũng có một số gian
pḥng để sinh sống tại mảnh đất này. Ngày
25 tháng 2 năm 1862, thánh lễ đầu tiên do cha Picard
cử hành và vào tháng 5 năm ấy, nơi đây chính
thức có người ở. Năm 1866, công tŕnh
được mở rộng. Một lối đi lại nối
liền năm pḥng nhỏ. Năm 1874, xây dựng ngôi nhà
phía sau mang tên nhà Picard, hay c̣n gọi là nhà tu lớn gồm
bốn tầng, v́ đang phải chờ công tŕnh xây
dựng nhà nguyện lớn Đức- Bà Cứu Độ. Công
tŕnh này được thi công vào những năm 1896-1899.
Nhưng
công tŕnh kiến trúc chỉ là việc bao phủ vật
chất từ chất men tông đồ mạnh
mẽ : năm 1865, cha Pernet dấn thân trong việc thành
lập ḍng Các Nữ Tu Hèn Mọn Mẹ Về Trời (Petites
Sœurs de l’Assomption). Chiến tranh năm 1870 và công xă năm
1871 có vẻ không thiếu giai đoạn tŕ trệ :
những sáng kiến có qui mô lớn như việc sáng
lập Hiệp hội Đức Bà Cứu Độ (Notre-Dame de
Salut) năm 1872, tổ chức hành hương năm
1872-1873, nhiều cuộc Hội Nghị và Báo Chí năm
1873. Đó là những công việc luôn có công lao chắc chắn
của người tu sĩ cầm đầu tràn
đầy năng lực thiêng liêng, đó là cha Picard. Vị tu sĩ thứ hai tràn trề tâm
huyết, đó là cha Vincent de Paul Bailly. Báo động
đầu tiên vào tháng 11 năm 1880, việc hoàn thành và
mở ống khóa nhà nguyện nhỏ nhanh chóng bị
lẵng quên : những năm kế tiếp đánh
dấu cao điểm với một tinh thần sống
động và đa dạng đầy ngạc nhiên. Nhà
đào tạo, tập viện (1874), công tŕnh báo chí,
chuẩn bị những cuộc Hội Nghị về thánh
thể, cái nôi của ḍng Nữ Tu màu gia cam (Sœurs Orantes 1896),
đường François Ier trở nên tâm điểm của
Hội Ḍng. Cha Picard điều khiển nơi đây
rất chặt chẽ, cùng với sự trợ lực
của lớp anh em tu sĩ trẻ được đào
tạo như ngài. Những tháng ngày buồn xảy
đến năm 1900 : Vụ kiện nhóm Mười
hai, quyết định phải phân tán, phải ra đi
(exode). Măi đến năm 1945, đường François Ier
lại trở thành trung tâm đời sống cộng
đoàn. Chúng ta hăy cùng nhau theo những bước khởi
đầu trong khiêm tốn tại « ngôi nhà nhỏ »
quá thân quen này :
« Nimes, thứ
hai, tối ngày 17 tháng 12 năm 1860
Anh bạn thân
mến,
Trước hết, hăy
để cha nói rằng con là một trong những
người đặc biệt nhất mà cha biết
đến. C̣n nữa, cha không chấp nhận sự thú
tội của con. Đúng hơn, cha sẽ cho con một h́nh
ảnh về mọi chi tiết để con vào trong đó
và cha cũng rất quan tâm đến nó. Nhưng con hăy
thỉnh xin h́nh ảnh đó với Mẹ Bề Trên
(Mẹ Marie-Eugénie) mà không cần thiết viết thư và
đọc những điều khó hiểu. Đôi mắt trẻ
trung của con phải hữu ích cho việc ǵ đó.
Để xây dựng, chúng ta cần có
tiền. Một đàng, cha không có nổi một xu, đàng
khác, cha không muốn mượn tiền, ngoại trừ
Tín Dụng ruộng đất. Vậy phải chờ có
thể bán một phần ở Clichy. Tóm lại, cha không
muốn biến việc xây dựng thành kẻ giàu có. Cha
muốn xây dựng công tŕnh của người nghèo,
của người rất nghèo, miễn là sạch sẽ.
Về mặt này, cha đă tham khảo ư kiến ngài Baudon
nhiều lần, và thậm chí, cha không hiểu tại sao
chúng ta không yết kiến thêm nữa.
Lúc
này cha tuyệt đối không thể lên Paris. Khi nào cha Laurent đi Bordeaux, cha sẽ cho con hay. Cha
O’Donnell sẽ đi cùng cha Picard. Nếu họ nói những
điều dại dột, họ sẽ ḥa giải với
nhau. Sẽ không có cộng đoàn trong thời gian ngắn.
Tóm lại, hai cha sẽ có thể trọ tại ngôi nhà
nhỏ bên cạnh của ông Démion, trong trường
hợp nhà của ông de Brou không làm hài ḷng ṭa tổng giám
mục lắm. Vào mùa xuân, chúng ta sẽ có thể bán một
phần ở Clichy. Cần hy vọng con ạ. Và nhờ
phương cách ấy, chúng ta sẽ không vướng
mắc nợ nần. Nếu những nhà đấu
thầu xây dựng ngôi nhà nhỏ bé của chúng ta trong
tương lai muốn mua đất chúng ta ở Clichy
để đổi lấy tiền công, như họ
đă từng làm với nhà ḍng Auteuil, có thể chúng ta
sẽ tiến hành cho xây dựng nhà cửa trước.
Cha
không thể có ư kiến ǵ về việc thay nhà nguyện. Cha
nghĩ giá như ông Jackson nhường ít đất, chúng
ta sẽ có thể xây dựng dọc theo nhà của ông Ouvré.
Có thể, chúng ta sẽ theo xu hướng Giáo hội. Và
giả sử chúng ta có một phần nho nhỏ của
ngài Leroux, chúng ta sẽ có thể xây dựng cho các tu sĩ
ở miền nam. Về lối ra vào, cha sẵn sàng
nhường lại. Ít ra phải có bề mặt giáo dân,
chúng ta sẽ có thể tiến hành để trú ngụ
sớm ở đại lộ Antin, và tại những khu
này, chúng ta sẽ không bị mắt trần trông thấy,
phải không nào ? Việc ấy, cha muốn phó thác vào
Đấng Quan Pḥng, nhất là khi chúng ta chỉ có lối ra
trên đại lộ Antin, và từ lối vào trên
đường François Ier, mọi người sẽ
thấy chúng ta tấp nập ra vào. Nếu khi nhường
lối ra vào nà, khi thêm từ 20 quan đến 30 000 quan,
chúng ta có thể có khu Leroux và dải đất Jackson. Cha
cho rằng như vậy sẽ rất đẹp.
Cha tin đă trả lời
mọi thắc mắc của con. V́ cha quá đau
đầu do cảm cúm trong óc, cha tạm biệt con nhé.
E. d’Alzon ».
Thư
gửi Vincent de Paul Bailly, ngày 17 tháng 12 năm 1860, theo nxb
D.D., tập III, 1991, trang 363-364
Người
con đầu tiên ḍng họ Bailly đi tu ḍng Mẹ Về
Trời là cha Vincent de Paul Bailly. Không phải bàn căi ǵ
nữa, cha Vincent de Paul Bailly là con cưng của
đấng sáng lập ḍng. Cha d’Alzon đă không ngại
viết cho cha Vincent de Paul Bailly : « Cha hơi đói và khát khao
con, dù không nên gắn bó với tạo vật, Thiên Chúa không
cấmcon người yêu thương con cái ḿnh ». Ngay
lần gặp nhau đầu tiên ngày 25 tháng 3 năm 1853, hai
con người này đă chứng tỏ sự gắn bó
lẫn nhau rất sâu sắc : cha d’Alzon bị cuốn
hút bởi sự nhiệt huyết, tính tích cực của
con người trẻ trung vui tính này khi anh được
tuyển dụng trong công việc quản lí Thư Tín. Niềm
hăng say của anh hầu như không ai có thể
vượt qua khiến ngài phải viết thêm gấp
bội. C̣n về người thanh niên trẻ trung tại
trường học Nimes, chỉ trong vài ḍng, anh có thể
dựng nên bức chân dung đa sắc màu, thể hiện
cá tính mạnh mẽ của ngài hiệu trưởng
trường và cũng là người sáng lập. Một
ơn gọi nảy sinh từ cuộc hội ngộ
này : tháng 6 năm 1860, sau vài ngày tĩnh tâm, Vincent de Paul
Bailly quyết định đi tu. Chúng ta không thể
thực sự cho rằng quá tŕnh đào tạo làm tu sĩ
của Vincent de Paul Bailly trong ḍng mẹ Về Trời
đầy đủ, chu đáo : giai đoạn
tập viện ngắn ngủi, học thần học chao
đảo giữa hàng ngàn công việc khác, việc
điều khiển trường học ở Nimes
đầy khó khăn đối với bất cứ ai
(1863-1867). Như vậy để nói rằng con
người này vốn thông minh, sống động và có trí
tưởng tưởng cần mẫn, luôn cảm
thấy thoải mái với hành động hơn học
tập. Năm 1869 là bước ngoặt trong cuộc
đời ngài : bên cạnh cha Picard ở Paris, sẵn
sàng làm chức vị bề trên non trẻ để
sống mạo hiểm giữa quần chúng và những
thực tế của đức tin trong việc tiếp
xúc với các tầng lớp và dư luận. Ngài t́nh
nguyện làm tuyên úy quân đội ở Metz năm 1870,
bị giam ở Mayence năm 1871. Ngài cần không khí
để có thể tạo ra sức sống, hâm nóng hành
động quần chúng. Khi tham gia Hội Nghị và hành
hương, ngài sẽ t́m thấy đường đi và
trau chuốt ng̣i bút của ḿnh. Tạp chí Hành Hương,
một tạp chí khiêm tốn ban đầu chỉ gồm
những bài viết mang tính tôn giáo, nhưng trở thành
một tạp chí minh họa các vấn đề thời
sự (1877). Từ Nimes, cha d’Alzon theo dơi tỉ mỉ khi
đọc những bài viết của Vincent de Paul Bailly và
cha đánh giá các bài đăng trên báo ấy không nghiêm túc
lắm ! Con người bận rộn tứ bề này
thúc mời bề trên cung cấp bài giảng để góp
phần lối cuốn độc giả. Năm 1883, nhà
báo-bẩm sinh không ngừng chứng tỏ phẩm chất
làm báo. Ngài t́m được phần chọn lựa riêng,
những mục trong nhật báo Thập Tự (La Croix)
với bút danh ngài yêu thich nhất, Le Moine. Ngài trở nên
một với độc giả, tiêm chích virút cho họ,
tin tức thời sự và
đức tin đang rơi vào t́nh trạng tranh căi hoặc
bị xôn xao do tranh luận gây lên, những nét chua chát trong
ngôn từ, trong tính từ, trong phiếm họa gay gắt. Là
người làm việc hết ḿnh, ngài có mặt trên
mọi mặt trận và công tŕnh của thời
đại : hành hương, xây dựng, hiệp
hội cầu nguyện. Năm 1900, ngài bị kết án
trong sự thinh lặng và cô quạnh, những dạng
thức khác của vị tử đạo đă
được báo trước năm 1861 :
« Nimes ngày 29 tháng 12 năm 1861
Con
quí mến,
Cha
cám ơn con đă viết những lá thư rất hay
thăm cha, cám ơn con đă có những lời chúc nhân ngày
lễ của cha. Và cha cũng chúc con một năm mới
tốt đẹp. Mong năm nay sẽ mở ra nhiều
may mắn, thành công mới lạ. Chỉ có Chúa biết
thôi. Nhưng cha muốn con chuẩn bị cho những
cuộc tranh đấu, rất có thể đang chờ
đón con, bằng việc thăm viếng thường
xuyên, nhất là thăm viếng mộ các vị tử
đạo. Chúng ta là ǵ khi đối diện với các
vị anh hùng ấy ? Chúng ta chỉ là những
người tầm thường thực sự. Nhưng,
nhờ hồng ân Thiên Chúa, chúng ta có thể trưởng
thành, và không có ǵ khác ngoài việc bồi dưỡng cho
sự triển nở thêm can đảm trong tâm hồn ki tô
giáo bằng những thử thách ấy. Cảnh
tưởng hiện lên trên từng bước của
người tín hữu niềm hạnh phúc được
sống ở Rôma. Cha mong con biết tận dụng
những bài học từ nhiều giáo sư thần
học khác nhau ; nhưng ngoài những giáo sư c̣n
sống, con c̣n có nhiều tiến sĩ mà máu của các ngài
giảng dạy c̣n tốt hơn mọi bài thuyết
giảng, và tài năng hùng biện của các vị hoàn toàn
ở trong hành động. Con sẽ noi gương các ngài
để tranh đấu, và khi so sánh việc con làm với
những ǵ các ngài đă làm, con sẽ cảm thấy bị
thúc bách bởi ḷng khát khao chịu đựng mạnh
mẽ, như các ngài đă cam chịu để chứng
tỏ t́nh yêu đối với Đức Ki Tô. Như vậy,
con sẽ thấy rằng tính chuyên cần trong cuộc
sống, trong học tập, sự chiến thắng
nhược điểm tính
cách và cám dỗ, sự hồi tâm trong đời sống tu
tŕ, tất cả đều không hoàn toàn vô nghĩa khi so
sánh với mọi cam khổ của các vị tử
đạo. Con cần phải trang bị đủ thứ
để sẵn sàng đối diện với mọi
thực tại, không chỉ trong viện tập tu, mà
cả trong viện tử đạo. Không có ǵ quá khó và
đức vâng lời nhằm ǵn giữ con hơn là thúc
bách con.
Con
quí mến, hăy thứ lỗi bởi cha dùng thứ ngôn
từ này, nhưng dường như cha thấy bối
cảnh có vẻ rất
trầm trọng và chân trời tỏ ra sầm
uất. Các nhăn quan của cha có thể hơi phóng
đại, thật không may ! Mây trời chồng
chất ngày một dày đặc. Những dấu hiệu
từ trời như thế giúp ta có thể đọc
được hiện tại và tiên báo về tương
lai.
Cha
thỉnh cầu hai tập sinh nên vâng lời thầy Vincent
de Paul, thầy đang cần tập trung sức lực
để học tập. Hăy cầu xin các vị tử
đạo để có ḷng kiên tŕ khi buồn chán công
việc. Hăy làm việc thật nhiều. Cha nghĩ các con
phải ở trong giai đoạn mà mọi khó khăn ban
đầu khi ở Rôma sẽ qua đi, và trong giai
đoạn mà các con sẽ bắt đầu nếm
mỗi ngày thêm chút hương vị của niền
hạnh phúc khi được gần thánh Phêrô và Đức
Thánh Cha, giai đoạn mà các con sẽ có nhiều t́nh cảm
hơn nữa mà mỗi người phải có, những
người do Thiên Chúa ban ơn có thể cầu nguyện
mỗi ngày trên mộ của Vị Tông Đồ nào đó.
Tạm biệt con yêu quí. Can đảm
lên ! Can đảm lên ! Ai trong các con sẽ là vị
tử đạo đầu tiên?
E. d’Alzon”.
Theo tập III, 1991, nxb.D.D., trang 549-550
Đời
sống tu tŕ trong ḍng Mẹ Về Trời bao gồm hai
mặt: mặt vườn, về điểm này, ḍng
mượn những thói quen và tập tục về
đời sống chung, mượn đời sống
huynh đệ từ đời sống tu kín (monastique);
mặt sân hay mặt đường, về điểm
này, ḍng liên kết với những h́nh dạng hiện
đại về hoạt động tông đồ theo
hướng mở ra ngoài với mọi tầm kích của
xă hội và quần chúng. Cha d’Alzon đă muốn như
vậy trong ḍng Mẹ Về Trời, có nghĩa là thâu
nạp hai khía cạnh ấy, hay c̣n gọi là hỗn
hợp với nhau, theo từ ngữ xưa, và nhất là
theo lối hiện đại trong thành ngữ của nó, mà
không hề bỏ đi những nét truyền thống
thậm chí đă ăn sâu hàng ngh́n năm trong đời
sống tu tŕ.
Hơn
bất cứ ai khác, cha d’Alzon, Vị Tổng Quản, không
thể không biết đến sự căng thẳng hay
sự giằng co do hai yếu tố trên thường
để lại nơi ngài. Ngài tự hỏi về
khả năng sẵn sàng phục vụ để
điều hành Hội Ḍng, đồng thời có thể
bảo đảm hoàn toàn những trọng trách phục
vụ Giáo hội. Chỉ đến năm 1878, ngài mới
từ bỏ chức tổng quản sau 40 năm trung thành
đóng góp nhiều công sức cho Giáo Phận Nimes.
Đời
sống tu tŕ đ̣i hỏi sự hiện diện và
hiệp thông trong ḷng một nhóm người trong đó các
thành viên không hề chọn lựa nhau, trong đó những
mối quan hệ thân cận và những rạn nứt liên
quan đến tính cách khác biệt, tính khí, nguồn gốc
và nhiều yếu tố khác đối lập nhau. Tất
cả những yếu tố ấy chỉ có thể cân
bằng được với cái giá phải vượt
qua chủ nghĩa cá nhân và nhờ cải hóa cuộc
sống theo tinh thần Tin Mừng. Cha d’Alzon, một con
người có tính cách, quyết đoán, ngài thích tính khí
mạnh mẽ, tự nhiên và t́nh nguyện. Ngài thoải mái
hơn với những người có nhân đức nam tính
hơn là với những “ tính khí tâng bốc” (vapeurs) hoặc những cá tính hay thay đổi hoặc
những người mang tính t́nh quá mềm dẻo mà ngài
sẵn sàng gọi là “những kiện bông”. Thế
nhưng, không ai có thể phủ nhận nơi ngài một
tính cách mạnh mẽ về đời sống cộng
đoàn với ḷng trung thực, t́nh yêu thương, và
cởi mở trong giao tiếp. Ngài thích gọi các môn
đệ bằng những cách gọi ngắn gọn
hoặc bằng những biệt hiệu vừa t́nh
cảm, vừa hài hước. V́ vậy, trong ng̣i bút
của ngài ta thấy có nhiều kiểu gọi rất
lạ: đối với cha Galabert, ngài gọi là Galabertinet,
đối với cha Pernet, ngài gọi là Pernichon de mon
coeur, đối với cha Emmanuel Bailly, ngài gọi là Culot,
đối với Sơ Eulalie de Régis, ngài gọi là Soeur
Sainte- Absolue, đối với cha Picard, ngài gọi là Votre
Majesté ou vorte haute raison... Không phải ngài kêu gọi cha
Hippolyte kiếm thêm tiền và đề nghị cha phát minh
một loại rượu (Liqueur) đặt tên là Essence
de l’Assomption hay sao. Như vậy để nói lên
rằng tính hài hước trong mối quan hệ giữa
con người với nhau dưới con mắt cha sáng
lập ḍng chỉ có thể là người họ hàng
đáng thương với đời sống cộng
đoàn, ngoại trừ mọi h́nh dạng của tính
tầm thường, dung tục.
Vốn
luôn đi lại trên đường dài, ngài thích đ̣i
hỏi các môn đệ phải có những nhân đức
chuyên cần trong cuộc sống. Ta cũng thấy cha
d’Alzon quan tâm đến sức khỏe của cha Hippolyte
hoặc cha Pernet. Tám tu sĩ qua đời từ năm 1851
đến năm 1880 đánh động ḷng ngài nhiều
trong t́nh cảm của một người cha thiêng liêng và
của người huynh trưởng trong đời tu.
Chúng ta hăy lắng nghe cha d’Alzon nêu ra một dụ ngôn mang
tính nửa vừa ư, nửa bất đồng:
“ Nimes ngày 12 tháng 7 năm 1862
Thăm các con, các thầy Augustin và
Emmanuel-Joseph. Mong tất cả sống lâu với mũi, tai
và gia thịt của ḿnh.
Các chú
mèo nhỏ bé quí mến của cha,
Có người bạn mách cho cha
biết là đôi khi các con bị lôi cuốn cắm lông
nhau và hay dùng nanh vuốt non
trẻ cào lên làn da mềm mại của các con. Đó là một
gương mặt túc từ học, v́ các con không phải
là những chú mèo theo bản chất, cũng không phải
theo hồng ân, nhưng bề trên các con sẽ buộc
phải nói ra điều không hay v́ trách nhiệm thẩm
định tính t́nh từng người. Đến nỗi
người không giám rời các con quá lâu v́ sợ khi trở
lại, người chỉ c̣n thấy mấu đuôi
nhỏ bé của một trong số các con. Cha sẽ rất
thất vọng biết tin các con nuốt chửng lẫn
nhau, phải chăng v́ mấy người ḍng Tên hay ḍng Đa
Minh. Không phải v́ ai trong số đó cả, các bạn yêu
quí, các bạn không dễ dàng chịu đựng nhau.
Thầy Augustin hơi bướng bỉnh và thầy
Emmanuel-Joseph chỉ có gia bọc xương nên có lẽ ít
khi ăn ngon miệng. V́ vậy, các con hăy hài ḷng về
khẩu phần do người Balan phục vụ.
Tạm biệt các con yêu quí. Hăy can
đảm và sống thánh thiện. Cha cầu chúc các con
sự toàn thiện để sống cho tha nhân mà không
sợ bị dày xéo.
E. d’Alzon”.
Thư
cha d’Alzon gửi các thầy Augsutin Gallois và Emmanuel Bailly, theo
nxb Thư, tập IV, D.D., 1992, trang. 92
Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1863, cha
d’Alzon thực hiện chuyến du ngoại để
nắm bắt thông tin ở Constantinople cùng với
người học tṛ cũ trường Assomption ở
Nimes, Louis Guizard. Vả lại, đó là chuyến du ngoại
mang tầm quan trọng nhất của cha d’Alzon ngoài biên
giới nước Pháp, không tính đến nước
Thụy Sỹ và Rôma. Ngài có ngụ ư đến đây
để t́m hiểu t́nh h́nh cụ thể của
Phương Đông, bởi nơi đây vừa chứa
đựng nhiều bí ẩn cần khám phá, vừa là địa
danh mà Đức Giáo Hoàng Pio IX quan tâm và trong lời ban phúc lành
quen thuộc ngày 3 tháng 6 năm 1862, Ngài đă tỏ ư
định hướng cho hoạt động tông
đồ của Hội Ḍng nhỏ bé Mẹ Về
Trời. Ba giáo sĩ cao cấp của Triều chính Ṭa Thánh
là các Đức Cha Talbot, Howard và Lavigerie. Các ngài phỉnh
phờ cha d’Alzon hướng đến nước
Bun-Ga-Ri, lúc bấy giờ Bun-Ga-Ri là tỉnh lệ thuộc
Thổ Nhĩ Kỳ. Thiệt hại cho Jérusalem, cha d’Alzon
hy vọng lấy lại Cénacle và Ngôi Mộ Đức Trinh
Nữ (Tombeau de la Vierge), cha d’Alzon giao mạo hiểm cho cha
Victorin Galabert lên đường đến Constantinople ngày
20 tháng 12 năm 1862. Cha V. Galabert không có sứ mệnh xác
định rơ ràng. Cha d’Alzon theo dơi, hỏi thăm t́nh h́nh,
rao giảng và ư thức về mọi khó khăn do nảy
sinh nhiều t́nh trạng hỗn độn và làm rắc
rối không ít vấn đề vừa mang tính chính trị,
vừa mang tính tôn giáo: Phương Đông, kể từ ngày kư
kết hiệp ước Paris, trở thành nguồn thu hút
sự quan tâm của toàn lănh thổ Châu Âu. Đế chế Thô
Nhĩ Kỳ, từng là thế lực uy hùng nhưng
lại đang suy thoái, những điểm nổi bật được
phân tán xung quanh lưu vực địa trung hải. Đế
chế Thổ Nhĩ Kỳ trị v́ một tầng
lớp dân chúng, các dân tộc, các tôn giáo, các nghi lễ,
nhiều cạnh tranh tuyên xưng đức tin, những
nguồn sửa đổi có thể thực hiện mà
mỗi thế lực hoặc quyền bính có thể tận
dụng. Tất cả mang tính hỗn hợp, đa sắc
màu hiếm thấy. Hy Lạp là nước đầu tiên
đă trả giá rất đắt cho việc giải phóng chính
trị trong những năm 1820-1830. Các tỉnh Serbi, Valachie
và Moldavie cũng chập chững bước theo. Ai Cập
li khai với vị vua phó Ibrahim Pacha. Toàn dân vùng Ban-căng
nóng ḷng chờ đợi giờ giải phóng chính trị (phụ thuộc
thổ nhĩ kỳ) và tôn giáo (phụ thuộc Phanar). Chính
trong bối cảnh ấy, Đức Giáo Hoàng Pio IX thiết
lập chức giáo trưởng latinh ở Jérusalem (1847) và ngài tôn phong
Đức Cha Joseph Sokolski cầm đầu giáo dân Bungari-
Hiệp nhất (Bulgares-Unis) (1861). Nhưng nước Nga
cũng chăm nom quyền lợi của ḿnh: ṭa tổng
giám mục bị tạm giữ. Sự hiệp nhất dân
Bungari ở Rôma bị xa lánh. Chính thống giáo chưa bao
giờ chịu cảnh đau buồn như vậy trong
quyền lực của ḿnh, nhưng nay phải chịu
sự thúc bách trong nước, bị giằng co về
sự kiện giữa Phanar và chức giáo trưởng
Maxcơva. Rôma gặp khó khăn trong giấc mộng
muốn hiệp nhất la tinh hóa: đó là rắc rối mà
cha d’Alzon gặp phải năm 1863 với tâm tính mang ba
yếu tố: pháp, công giáo và rôma. Ít ra, cha d’Alzon cũng
sẽ lắng nghe lời mời gọi thúc dục của
cha Galabert cần gửi nhân lực nữ để
phụ giúp ngài trong mục vụ. Chính v́ vậy Ḍng Nữ
Tu Tận Hiến Mẹ Về Trời ra đời năm
1865. Chúng ta hăy lắng nghe tiếng vang mạnh mẽ ban
đầu trong một lá thư do cha d’Alzon gửi cha Vincent
de Paul Bailly tháng 3 năm 1863:
“ Constantinople ngày 16 tháng 3 năm 1863
Bạn
thân mến,
Cha
Galabert đă đi, tối nay vua Thổ Nhĩ Kỳ đă
cưới vợ mới. Cha sẽ phải đi xem
lễ hội đốt nến. Cha chưa xem lễ
hội ấy. Người ta đang t́m một
người có tính thành thật trong số dân Bungari.
Nhưng măi đến lúc này vẫn chưa t́m
được. Liệu có t́m được không? Xem ra
đó là một vấn đề c̣n khó hơn cách
đặt ra vấn đề. Constantinople c̣n dơ bẩn
hơn các thị trấn. Phụ nữ thổ nhĩ
kỳ đổ xô ra đường tấp nập đi
xem triển lăm, nhưng người ta bảo là không có ǵ
đáng kể. Nhưng cuộc triển lăm ở
Constantinople thu hút lượng người đi xem đông
hơn cuộc cách mạng nữa. Nó thu hút người
đông đúc như thể mười hai cuộc cách mạng.
Hôm nay cha muốn đi xem cuộc triển lăm ấy.
Người ta chỉ cho phụ nữ vào thôi. Vậy
mà...thầy Emmanuel ....Về cuộc cách mạng,
người ta thông báo về
một cuộc cách mạng ở Nga, c̣n đẹp
hơn nhiều so với cuộc cách mạng của
người Hy Lạp, đẹp hơn cuộc cách
mạng của nước Ư, đẹp hơn cuộc cách
mạng năm 48, năm 1830, năm 93. Các gia đ́nh quí tộc nga sẽ bị
nướng, tất cả
trẻ con sẽ bị ăn, toàn thể phụ
nữ sẽ bị mất chồng v́ họ sẽ bị
chém đầu. Herzen là một người dung ḥa, một
kẻ lạc hậu, một kẻ phản động bên
cạnh những điều con sẽ thấy. Thổ
Nhĩ Kỳ rất sợ Nga, v́ quá sợ cách mạng bùng
nổ, bởi cuộc cách mạng sẽ mang lại
nhiều hy vọng rất
đen tối; cuối cùng, tất cả những
điều đó không lạc quan chút nào.
Hoàng
đế của dân pháp có vị sứ quán nổi
tiếng nơi đây. Chưa từng có người nào
biết dựng hài kịch như vậy. Người ta
đồn rằng ông ta sẽ bị lính cận vệ thay
thế, Baraguay d’Hilliers.
Con
hăy cầu nguyện Chúa để cha biết làm việc.
Hiển nhiên, ở đây, cần
một chủng viện thuộc giáo trưởng
(séminaire patriarcal), một trung tâm
hoạt động tông đồ và nghiên cứu khoa
học. Cha nghĩ đó là một trong những mục
đích của Hội Ḍng chúng ta. Con biết cái ǵ làm cho
khiếp sợ không? Đó là v́ đất đai quá đắt
đỏ. Cách Constantinople chừng 4 cây số, một hécta
giá là 12 ngh́n quan và c̣n cao hơn thế nữa. C̣n về người
dân bungari, họ là bọn vô lại kinh khủng nhất mà
người ta có thể h́nh dung được. Đức Cha
Brunoni, sau nhiều nỗ lực t́m hiểu, ngài tin đă
t́m được một người trung thực. Ngài
đă để vợ lại nơi đó và đă gả
con gái cho ai cha không rơ nữa. Thật tồi tệ hơn
bùn lầy, đúng là phân rác. Cuối cùng, cũng cần
phải yêu thương bởi họ là tha nhân của chúng
ta.
Cha
có đến Rôma ngày 17 hoặc ngày 23? Cha vẫn chưa
biết. Cha đến Rôma trễ. Cha c̣n muốn ở
lại lâu tại nơi này. Cha thích ở nước Pháp. Ôi,
cha toàn muốn những thứ không thể được
cùng một lúc! Có một chi tiết khác. Ba tuần nay cha yêu
cầu một việc đáng để ư nhất mà
người Hy lạp đă làm về mặt tôn giáo. Người
Hy Lạp đă không viết lách ǵ từ hai mươi
năm nay. Để có thể có chút ǵ đáng lưu ư, cần
phải trở lại trong tám mươi năm
trước. Đă 10 giờ ở Constantinople, 9 giờ
rưỡi ở Rôma. . Cha chúc lành cho con. Chào tạm
biệt con. Con đi ngủ đi và cha cũng vậy.
E. d’Alzon
Nếu Bernard c̣n ở
đó với con, nhờ con nói với Bernard ngh́n chuyện
thay cha”.
Thư cha d’Alzon, nxb.D.D., tập IV, 1992, trang.223-224
Năm 1865 là năm sáng lập ḍng Nữ Tu
Tận Hiến Mẹ Về Trời. Những nữ tu
trợ tá này được cha d’Alzon thiết lập
với ư muốn gửi sang Phương Đông theo lời kêu
gọi thúc bách của cha Galabert. Đấng sáng lập đă
nghĩ đến việc này từ năm 1863, nhưng v́
nhiều hoàn cảnh nên dự tính ban đầu của ngài
bị cản trở ngoài mong đợi. Từ tháng 1
năm 1863, ngài viết: “ cha sẽ sẵn sàng lập
một Hội Ḍng nhỏ bé v́ nước Bungari”, măi cho
đến tháng 4 năm 1865, chúng ta thấy ngài thú nhận
trong bút danh điều này: “ cha hơi chán nản về
các Bà Ḍng Mẹ Về Trời (Dames de l’Assomption), (tức
các Nữ Tu Ḍng Mẹ Về Trời (Religieuses de
l’Assomption). Các Bà đă lập hai trường mới và
tiếp đó lại bảo cha không có dự án ǵ cả”,
có biết bao mặc cả, biết bao dự án, thử
nghiệm! Và thế nhưng, theo cái nh́n lịch sử theo
ḍng những sự kiện, tŕnh bày sự ra đời
của Ḍng Nữ Tu Tận Hiến Mẹ Về Trời
như một kết quả đơn thuần do sự
từ chối của các Nữ Tu Ḍng Mẹ Về Trời
ở Auteuil là không chính xác. Tháng 12 năm 1864, Mẹ
Marie-Eugénie de Jésus nhanh chân đến tận Nimes bàn về
việc thành lập một nhóm Nữ Tu Tận Hiến
để làm phạm trù trung gian, giữa những tu sĩ
đă tuyên thệ (professes de choeur) và các soeurs cần vụ
(converses). Rơ ràng lời khuyên của Mẹ Marie-Eugénie sau
đó đă đ̣i hỏi phải khác với một sáng
lập xa xôi chưa chắc chắn lắm: chọn nơi
nào? Chọn Andrinople, nơi các tu sĩ Mẹ Về
Trời chưa hiện diện, và nơi đây th́ sự
giúp đỡ của các tu sĩ Résurrectionnistes có vẻ
chỉ là một điều bất đắc dĩ mà
thôi? Nhằm mục đích truyền giáo rơ ràng nào, trong khi
mới thiết lập ḍng ở Malaga bên Tây Ban Nha và
tại Poitiers c̣n phải cung cấp nhân lực nữa
không? Cuối cùng, phải trông
dựa vào ai đây? Nàng “Pauline” nổi tiếng ở
Lavagnac, hay c̣n gọi là cô Sagnier do cha d’Alzon tín nhiệm và
chỉ định như viên đá góc tường rút
cục đă từ bỏ. Trước những tŕ hoăn
dễ hiểu như vậy, nhu cầu cấp bách của
cha d’Alzon vượt bước. Tháng 2 năm 1865, cha thuê
một căn nhà ở Nimes, nhưng lại không có
người! Cuối cùng cha Hippolyte
Saugrin, cha giáo tập ở Vigan, cứu văn t́nh h́nh vào
tháng 4 năm 1865 khi ngài t́m thấy trong vùng Cévennes cái ao
ơn gọi từ những con người mang bản tính
tự nhiên, khỏe mạnh. Cha d’Alzon không ngần ngại
đánh giá họ bằng nhiều lời khen ngợi:
họ là những “bulbarettes”, những “bulgarotes”, những
“Bulgarines”. Họ là những thiếu nữ miền núi
cứng cáp, năng động, thông minh, tràn đầy
đức tin và ḷng độ lượng. Ngài lo cho
họ một ngôi nhà thuê ở vùng thị trấn Vigan,
đó là Rochebelle. Ngài làm phép nhà ngày 23 tháng 5 năm 1865 và
cử hành thánh lễ đầu tiên ngày hôm sau, trong khi
đó, cũng vào tối hôm ấy, Đức Cha Plantier làm phép
một bức tượng Đức Mẹ, gọi là Đức
Bà Bungari. Bức tượng này chiếm một không gian
đáng kể trong nhà tu nhỏ bé. Mẹ Marie- Eugénie
đồng ư cho người đến làm bề trên
tạm thời cho lớp ban đầu. Đó là Sơ
Marie-Madeleine de Peter. Chúng ta hăy cùng cha d’Alzon đi thăm
nơi này nhé:
“ Thăm các con yêu quí, thăm Sơ Marie-Eulalie, Sơ
Marie des Anges và Marie Correnson, Vigan ngày 22 tháng 4 năm 1865
Các
con quí mến,
Con
người đă đề nghị khởi đầu
công tŕnh gầy dựng ḍng Nữ Tu Tận Hiến ở
Nimes và Thiên Chúa có vẻ muốn công tŕnh này lan tràn
đến Vigan. Nhà cửa gần như đă
được thuê. Việc này có thể sẽ hoàn tất
ngày thứ hai hoặc thứ ba. Nhà nằm bên một
nơi trái với mong muốn của chúng ta. Đó là một
ngôi nhà do dân anh thuê từ lâu, khi người anh đến
Vigan. Nhà nằm trên cao, tại ngọn đồi quyến
rủ, nơi đây có góc nh́n tuyệt vời. Có
nước dùng. Có hoa quả. Có rau. Có đồng cỏ. Có
nhiều cây dâu tằm. Giá khoảng 12000 đến 15000
quan. Có khả năng chỉ 12000.
Người
giúp chúng ta có được may mắn này đang t́m
hiểu tại sao người ta đă làm cho chúng ta một
việc tốt và tiện lợi đến thế. Người
ấy c̣n sợ một số âm mưu nào đó nên đang
ḍ xét xem. Ngôi nhà có bốn tầng. Tầng trệt có:
một pḥng ngoài, gian bếp rộng độc lập,
pḥng ăn rộng, hầm để đồ giữ
trữ và nhà để xe. Ở
tầng một, trên sân thượng, có hai pḥng rất
đẹp, một bên là pḥng đợi có thể dùng
để tiếp khách tṛ chuyện, một pḥng lớn có
thể dùng làm nhà nguyện, với một gian nhỏ có
thể làm pḥng để đồ lễ, và có một gian
nhỏ cho bề trên hoặc cho tuyên úy làm việc. Trên
lầu hai, nhiều pḥng rất rộng. Ta có thể
biến thànhững căn phong ngủ tập thể. Trên
tầng ba, có pḥng và góc thượng.
Chúng
ta có thể vào ở ngay. Chúng ta chỉ trả tiền
bắt đầu từ ngày 1 tháng 7, và người ta
sẽ khấu trừ đối với sáu tháng đầu
tiên theo giá của lá cây được bán và rơm rả. Chúng ta sẽ
được quyền sở hữu rượu, rau và hoa
quả. Cha Hippolyte cho rằng từ nay cho đến hai
tháng tới, ít ra sẽ có chừng hai mươi em
(nữ). Trong trường hợp này, nhà sẽ trở nên
quá chật chội, nhưng chúng ta sẽ có khả năng
chuyển một vài người xuống Nimes.
Các con hăy ghi kỹ là chúng
ta có hai giáo viên. Họ sẽ bán ghế trường
học, sẽ thu lượm nợ nần và họ sẽ
mang đến cho chúng ta vài trăm quan, c̣n động
sản và bộ nồi niêu xoong chảo của họ
nữa. Các cha nghĩ rằng công tŕnh này, chúng ta không
mất đến một xu, trừ việc xây dựng nhà
nguyện. Nhưng việc đó không đáng kể. Hơn
nữa, cha trông mong rất nhiều vào ḷng hảo tâm
của một số bà ở Vigan.
Các
con có muốn đến thăm ngôi nhà nhỏ của chúng
ta không? Cha sẽ ở đây suốt tuần sau. Đi từ
6 giờ sáng, bằng đường thư tín hoặc
bằng xe ngựa, các con sẽ có mặt ở đây vào
khoảng 1 hoặc 2 giờ. Vậy là khoảng 7 hoặc 8
tiếng bằng xe ngựa. Sau khi đă tận mắt xem,
các con sẽ trở về. Ba người ngồi trên xe
ngựa bốn bánh vui quá c̣n ǵ! Và các con nhớ đến
chúc lành cho những công tŕnh thiết lập nơi đây.
C̣n
về việc cần làm, đây là suy nghĩ của cha: lao
động, sám hối, kinh nguyện. Lao động
để sống, sám hối để từ bỏ
tội lỗi nơi những kẻ lạc đạo và
để họ ăn năn trở lại, kinh nguyện để
tôn thờ Phép Thánh Thể. Từ đó, các thiếu nữ
miền núi đến tĩnh tâm để xem xét họ có
ơn gọi đi tu làm Sơ cần vụ hay ơn
gọi đi sang Bungari truyền giáo. Sứ mệnh do cha
Raphael hoặc cha Jean-Baptiste vừa mới ngỏ với
cha d’Alzon thu hút mọi người trở lại, dưới
mười lăm người, làm cho những người
sám hối sống lại với niềm tin, đem lại
một ơn gọi cho chúng ta, bảy hoặc tám ơn
gọi nữ. Đó là chưa tính đến những ơn
gọi nữ ở Vigan và tại các miền lân cận. Nếu
chúng ta thành công, chúng ta sẽ thuê một trại nuôi tằm
thật lớn, và chúng ta sẽ đặt vào đó 200
dường, với một bếp ḷ kinh tế để
tránh cho các nữ công nhân phải kéo sợi, như
người ta đă từng làm ở Saint-Ambroix. Trong khi
chờ đợi, cha Hippolyte sẽ giảng cho các thợ
kéo sợi mỗi tuần ba lần trong tháng Đức Mẹ,
ở bệnh viện. Các con thấy rất rơ các con
cần đến Vigan ngay để coi sóc mọi công
việc ấy, để đưa ra ư kiến của các
con, để cầu ơn lành
cho mọi việc...”.
Thư
gửi Sơ Eulalie de Régis, tập V, nxb.D.D, 1992, trang 288-289
Những
thông tin gián tiếp về cuộc sống của cha d’Alzon
trong việc tiếp xúc với giới trẻ đều
rất hiếm, trong khi suốt cuộc đời của
ngài luôn đắm ḿnh trong thế giới trẻ. Năm
1835, ngay khi đến Nimes với tư cách là linh mục
trẻ, ngài nhảy ngay vào việc đỡ đầu và
công tác giáo dục dân chúng. Mặt khác, không phải chính ngài
muốn sống trong ḷng trường học ngay từ
năm 1845, để tiếp xúc trực tiếp với thế
giới trẻ hay sao ? Khi cha d’Alzon tạm thời di
chuyển lên vùng cao ở Nimes, ở Mont-Duplan, lại không
phải để tiếp tục tắm ḿnh trong việc
bảo trợ, đỡ đầu Argaud, mà đối
với ngài, việc đó có mục đích đảm
bảo công việc khi trở lại hay sao ? Khía
cạnh này về cuộc đời cha d’Alzon đă không
tạo hứng ǵ trong tiểu sử của ngài. Tuy
vậy, nó xứng đáng được để ư tới :
việc đầu tư thiết lập lại
trường học ở Nimes, trường học
nội trú Vermot, tạo linh hứng cho ngài nhờ kinh
nghiệm sư phạm và mục vụ xuất phát từ
điểm nhắm trong hoạt động tông đồ
có bề sâu. Trong mỗi thời đại, tuổi
trẻ là ngọn giáo của tương lai, dù là tế bào gia
đ́nh, xă hội hay Giáo Hội. Người công giáo
thế kỷ 19 đă ư thức tầm quan trọng của
ngành giáo dục, và nhất là học đường:
sự ảnh hưởng trong việc đào tạo
tổng thể nơi con người thuộc về
những năm đầu tiên của cuộc đời.
Nhà nước một ḿnh không thể gánh vác phần trách
nhiệm này, trong khi đó việc này đa số thuộc
về trách nhiệm của gia đ́nh và phải hội
tụ đầy đủ sức mạnh của một
nước qua nhiều thành phần xă hội và yếu
tố thiêng liêng. Khi tạo dựng các Hội Ḍng tu, cha
d’Alzon đă sáng lập lâu, có thể là quá lâu, môi
trường học đường ở Nimes cung cấp
nguồn ơn gọi dồi dào tràn đầy hy vọng,
thể hiện cho ngài thấy trước mắt. Sự
phát triển của ḍng Nữ Tu Tận Hiến tại vùng
Cévennes, kinh nghiệm của một số môn đệ
nhờ gốc gác và những sở thích giống nhau
hướng họ đến với các tầng lớp
nghèo hơn nữa. Điều này đă dẫn cha d’Alzon và Ḍng
Mẹ Về Trời ngay trước năm 1870, nếu
không nói là quan tâm đến những việc khác, th́ ít ra là
quan tâm đến những chân trời rộng mở
hơn, và nhiều phương cách khác, đó là những
miền quê, là hàng ngh́n dân chúng và hàng loạt dân chúng. Ngay khi
chấm dứt những năm đánh dấu Đế
Chế Đệ Nhị, cha d’Alzon lao vào nhiều mong
đợi khác do xă hội tiến triển đang
hướng về chủ nghĩa dân chủ và công b́nh. Ngài
không phủ nhận những chọn lựa của ḿnh,
đúng ra ngài đang t́m cách thích ứng để các
chọn lựa hợp với t́nh thế đă luân
chuyển. Dù cha d’Alzon luôn tiếp cận và luôn gần
gũi với môi trường xă hội thuộc tầng
lớp cao sang do mối dây gia đ́nh của ngài, ngài
vẫn không bao giờ từ bỏ những phẩm
chất hay những giá trị vượt lên trên
địa vị xă hội : giản dị, độ
lượng, tiếp xúc bằng trái tim, tinh thần trẻ
thơ theo Tin Mừng, như đối với những
người trong họ hàng Berrias, ngài tặng một con búp
bê khi ngài trúng xổ số :
« Vigan ngày 10
tháng 8 năm 1865
Các em họ mến,
Các em c̣n nhớ anh đă trúng
xổ số một nàng búp bê cách đây lâu lắm không ?
Thật là một điều ḱ lạ bởi vị
tổng quản già trúng xổ số những nàng búp
bê ! Anh không có thời gian để trau chuốt chúng,
để cho chúng ăn, để dạy chúng đọc
sách, và nhất là anh không nên mang chúng đi theo trên ḿnh.
Người ta sẽ nghĩ ǵ ở Nimes, nếu họ
thấy anh mang búp bê đi dạo trên đường
Feuchères ? V́ vậy, anh muốn nhờ các em một
việc, nhưng đó là một việc hệ trọng,
anh hy vọng các em sẽ không từ chối. Các em có
muốn chăm sóc những nàng búp bê, những người
mẹ ấy không ? Anh mong người mẹ của các
em ở nhà không xem sự hiện diện của nó như
thể chúng chiếm chỗ trong gia đ́nh. C̣n nữa, anh
phải nói với các em : nàng búp bê yêu quí của anh có
chút đồ mặc trên người. Các em sẽ thấy,
cô nàng được trang điểm khá kỹ càng. Riêng
đồ của cô ta cũng làm anh lo hơi vàng mắt. Khi
dặt đồ lần đầu ở Barrias, mọi
đồ đạc ấy sẽ nhẹ nhàng hơn.
Một lần nữa, tạm biệt các em. Các em hăy tin là
anh quí mến các em như bố mẹ các em vậy. Hộp
búp bê và đồ đạc sẽ đến tay các em ngày
Lễ Đức Mẹ Lên Trời, cùng lúc với là thư này.
Nếu người ta không gửi cho các em, các em hăy đ̣i
cho được. E. d’Alzon ».
Thư cha d’Alzon, tập V, nxb. D.D., Rôma,
1992, trang.385-386
Cha d’Alzon viết những ḍng
này vào năm 1866 và được đăng trên báo Thế
Giới (Le Monde) thời ấy. Bài viết xứng đáng
được đọc theo nhiều phương
diện, v́ chính nó, v́ năo trạng mà nó phản ánh lên, và v́
sự tiến triển trong tâm trí mà tác giả không quên nói
đến. Con người của Giáo Hội thời
đại ngài, cha d’Alzon minh chứng sự tôn trọng
rất lớn và thể hiện suy nghĩ của Giáo hội
về việc đọc Sách Thánh, theo giảng dạy
truyền thống của các Giáo Hoàng và Công Đồng. Năm
1837, cha d’Alzon đă thận trọng Ngài Hiệu
Trưởng Gazette du Languedoc về việc tái xuất
bản Kinh Thánh khi không có phép từ phía quyền bính tôn giáo.
Như bất cứ giáo sĩ nào ở thế kỷ 19, cha
d’Alzon rất thường đọc Thánh Kinh bằng
tiếng la tinh trong bản dịch chính thức, đó là
bản dịch Vulgate. Đây là bản dịch duy nhất
được phép lưu hành sử dụng trong Giáo
Hội theo truyền thống
Tây Phương kể từ công đồng Trente. Ở
Montplellier, năm 1832, cha Emmanuel xin cha ḿnh gửi quyển
Tin Mừng bằng tiếng hy lạp cho ngài. Điều này
chứng tỏ những đ̣i hỏi trong việc đào
tạo trí thức ở chủng viện hoặc của
chủng sinh. Nhưng tất nhiên bản dịch Vulgate
mới là sách thường được ngài trích dẫn
theo trí nhớ hoặc theo lối văn chương, theo
cách của những Giáo Phụ xưa (Anciens), đó là chưa tính
những liên tưởng không rơ ràng trong các bài linh thao. Khi
t́m ra những trích dẫn kinh thánh trong các bài viết
của cha d’Alzon, một ngày nào đó sẽ chứng
thực cho chúng ta rằng Kinh Thánh luôn là nguồn linh
hứng đầu tiên và không có nguồn nào khác vượt
qua, trước mọi ảnh hưởng khác hay
trước sự tràn ngập của văn chương,
thần học, giáo phụ học hoặc thiêng liêng
học ! Tuy nhiên, cha d’Alzon không phải không biết
đến nhiều bản dịch bằng tiếng pháp, ít
nhiều cũng tốt và đă được xếp vào
hàng ngũ văn chương : bản dịch của Maistre
de Sacy (1672-1696), bản dịch của Genoude (1820-1824),
bản dịch của cha J-B Glaire (1834) đều không
lạ lẫm với ngài. Đó là những bản dịch thánh
kinh được cha d’Alzon trích khá nhiều. Nhưng ta
biết ngày nay, việc chỉ trích những bản
dịch ấy không được chú tâm nhiều. Về
tiếng do thái và việc sử dụng ngôn ngữ này tùy
theo hoàn cảnh trong chủng viện, chúng ta không có dấu
hiệu nào rơ ràng, đủ sức thuyết phục.
Thế nhưng, chúng ta biết rằng Đức Cha Plantier,
nguyên là cựu giáo sư ở Lyon và ngài có khả năng
diễn đạt bằng tiếng do thái khi ngài giới
thiệu ḿnh với công dân do thái ở Nimes. Vả lại,
cũng chính Đức cha trả lời những lời
dẫn về cuộc đời nổi tiếng của
Jésus de Renan (1863) trong một giáo lệnh thanh cao lúc bấy
giờ. Chúng ta đừng biến cha d’Alzon thành một
người mà cha chưa bao giờ muốn, một nhà chú
thích Kinh Thánh theo sở thích hay theo niềm đam mê,
nhưng chúng ta hăy nh́n đúng con người của cha. Đó
là một người say mê đọc sách thánh. Về khoa
học, bộ môn này đang c̣n mơ hồ, nhất là trong
truyền thống công giáo, việc chú giải theo ư nghĩa
văn học không cho phép lối đi nào khác ngoài lối
thoát thiêng liêng, bài giảng, được kiểm tra và cài
chốt kỹ càng về mặt giáo điều từ
thời kỳ Cải Cách.
« Nimes
thứ 6 tuần thánh ngày 30 tháng 3 năm 1866
Bạn
thân mến,
Sáng
nay khi cử hành phụng vụ giờ kinh thứ sáu
tuần thánh, ḿnh đă ca tụng kinh nguyện cầu cho
những người lạc lối và cho người do
thái. Đối với người do thái, ḿnh đă xin Thiên Chúa
cất khỏi trái tim của những con người
bất nghĩa ấy tấm màn bao trùm họ. C̣n
đối với những kẻ lạc lối (lạc
đạo), ḿnh đă thỉnh cầu Thiên Chúa giải phóng
họ thoát khỏi mọi sai lạc. …Giáo Hội cầu
nguyện với con người và cầu nguyện cho con
người, nhưng Giáo Hội công bố những ai
bất nghĩa, những kẻ bị mù quáng, bị
đắm ch́m trong sai lạc, bị quỉ qoái gian xảo
lừa gạt, biết bao linh mục hợp tác với nhau
dịch sách về sự thật tuyệt hảo
nhất ! Hoặc Giáo Hội biết ḿnh cầu xin ǵ
trong kinh nguyện, hoặc Giáo Hội không ư thức
được. Nếu Giáo Hội không biết điều
ḿnh cầu xin, mọi người hăy hô to lên. Nếu Giáo
Hội biết điều Giáo Hội xin, nếu cũng
những lời nguyện, cũng cùng những kết án,
ngày nay đă là ngày chết của Chúa Giê Su Ki Tô, được
nhắc đi nhắc lại khắp nơi trên thế
giới. Đâu là niềm hy vọng t́m thấy ư nghĩa
đích thực của Kinh Thánh với trợ giúp của
kinh nguyện ?
Người ta đă cho rằng
việc dịch Thánh Kinh chỉ là công việc hoàn toàn mang
tính triết học. Vậy tại sao một tờ báo có
thể bảo đảm rằng, trong buổi họp
đầu tiên, một trong số các mục sư đáng
kính đă đề nghị cầu nguyện cho các linh
hồn v́ thành công trong việc làm ? Nếu chỉ v́
ngữ văn mà thôi, vậy cần ǵ những lời
cầu nguyện như vậy ? Cầu nguyện cho Hàn
Lâm Viện Khoa Học luân lí cũng cần thiết
nhường ấy. Nếu trong đó chứa cái ǵ khác
việc sinh ra ngữ văn, ḿnh hiểu tầm quan trọng
của kinh nguyện, nhưng ḿnh nhớ rằng những
lời cầu nguyện do người tin lành Anh nêu lên
với một mục đích chung, được hấp
thụ cái hồn từ những ư nguyện trong lành bên
cạnh những người công giáo đồng
hương của họ. Những nguyện cầu ấy
của họ vừa bị
phụng vụ thánh Kinh công bố, với sự
chuẩn y của Đức Thánh Cha, là phản nghịch
đức tin và lạnh lùng về mặt đạo.
Một hôm, người tin lành trách
O’Connell, tại một đám tang, quá xa cách họ khi
mục sư muốn cầu
nguyện. « Cha O’Connell trả lời, Giáo Hội công giáo cầu
nguyện cho tất cả mọi người, nhưng
không cầu nguyện với ai ». Ḿnh mong chờ Giáo Hội công giáo
nhất trí công bố cho phép dịch Thánh Kinh với bất
cứ người nào.
Bạn
thân mến, … ».
Thư gửi Melchior Du Lac, theo nxb. D.D.,
tập VI, Rôma 1993, trang.49-50
Dưới sự hướng
dẫn của cha Hippolyte Saugrain, tháng 7 năm 1864, tập
viện ḍng Mẹ Về Trời được
đặt ở Vigan, sau một số h́nh thức tập
viện ít nhiều mang tính đại trà (improvisé) trong nhiều
cộng đoàn khác nhau của Ḍng : Nimes, Clichy, Auteuil. Nhờ
thừa hưởng tài sản gia đ́nh, cha d’Alzon có
tiện lợi tốt để chuyển tập viện
về tại ngôi nhà khiêm ở vùng Cévennes. Cha d’Alzon sinh ra
trong mái nhà này năm 1810. Đây chính là cái nôi của Ḍng. Như
vậy ngài thực hiện một h́nh thức ra
đời mới mẻ cho anh em tu sĩ trẻ trong
một môi trường riêng không bị các việc tông
đồ khác do nhu cầu xung quanh thúc bách quấy
nhiễu. Theo nghĩa nào đó, năm 1864 đánh dấu
cuộc hồi hương của cha d’Alzon với
nguồn gốc Cénevennes về mặt gia đ́nh cũng
như về lănh thổ. Suốt mùa hè năm 1831,
người thanh niên Emmanuel
đă đi hết ranh giới Cénevennes, vượt
sườn đồi Dourbie và vượt qua le Causse du Laczac
để đến thăm người họ hàng già nua,
đó là ngài Công Tước de Bonald ngụ trong nơi
ẩn tu Monna, gần Millau (Aveyron). Trên đường
đi, phía trên Saint-Jean-du-Bruel, cha d’Alzon đă không thể
không trông ngắm cảnh đổ nát của lầu
đài cổ thời trung đại miền Algues với nhiều
cảm xúc, theo truyền thống, tổ tiên của
Roquefeuil sinh ra tại nơi đây.
Từ
năm 1864, không phải những kỷ niệm về quá
khứ hướng bước chân cha d’Alzon trở lại
Vigan, mà v́ những chọn lựa cho tương lai với
việc đào tạo các thế hệ trẻ của Ḍng
nên ngài xếp đặt họ trong ngôi nhà cũ kỹ
của gia đ́nh, la Condamine. Môi trường xung quanh,
đồng ruộng không thiếu cảnh quyến rủ. Những
ngôi làng biệt lập xung quanh tạo cho các tu sĩ
nhiều việc truyền bá Tin Mừng sẵn có và có
nhiều ơn gọi ở Rochebelle cho Ḍng Nữ Tu Tận
Hiến : Rogues, Avèze, l’Espérou, Alzon, Mandagout le Cigal,
Saint-André de Majencoules, biết bao cái tên đi vào trong bản
đồ ḍng mẹ về trời lúc ấy. Nước
ở vùng Cauvalat chữa bệnh và hồi phục sức
khỏe cho nhiều người. Các trang trại trong
lĩnh vực nông nghiệp, l’Elze, la Valette hay Bagatelle
đem lại một số tiền trước khi
được chuyển nhượng cho người khác. Trang
trại này đến trang trại khác lần lượt
cung cấp nhu cầu tài chính.
Tập viện ở Vigan sẽ
nhường chỗ cho một trường học nội
trú (Alumnat) tạm thời của ḍng năm 1874 với tên
Saint-Clément, người được kính nhớ theo
lịch và để tưởng nhớ biết ơn Bà
Tử Tước d’Alzon. Năm 1881, để giữ
lấy nơi này, cha Picard bán la Condamine cho bà bá tước
d’Ursel, lúc ấy chưa phải là Mẹ Isabelle. Chúng ta hăy
ở lại với cha d’Alzon một lúc trong vùng
đồng quê an tĩnh này, theo sự thay đổi
của thời tiết :
« Vigan
ngày 16 tháng 5 năm 1867,
Con
gái yêu quí,
Cám
ơn con đă cho cha biết mọi chi tiết. Nơi
đây, trời cũng đă đổ giông, nhưng là
cơn giông mưa đá, v́ vậy mọi thứ bị
hư nát. Không ai biết phải kiếm lá dâu ở
đâu để nuôi tằm
nữa. Đồng cỏ bị phá tan, vườn
tược bị vét sạch cứ như thể đàn
ngựa mới băng qua. Chúng ta đừng nhắc
đến những đồng nho và hoa quả. Tất
cả đều biến mất rồi, không c̣n hơn
nắm bàn tay của cha nữa. V́ vậy, cha phải lao
động chân tay như
thầy tu kín (Moines). Cha nhặt được ba bó cành cây
dâu tằm. Các cha trong ḍng cũng lao động cậtj
lực như vậy. Có ai thấu hiểu được
cơn giông mưa đá sẽ làm cho chúng ta nhận ra tính
hữu ích của việc lao động chân tay ? Thế
nhưng, xương sống của cha sau bốn
mươi lăm phút làm việc đă cần nghỉ
ngơi.
Các Nữ Tu Tận Hiến
bằng an. Cha rất hài ḷng. Nhưng với thiệt
hại vật chất này, các Sơ sẽ sống bằng
ǵ đây ? Các Sơ sẽ phải làm việc hơn
nữa. Đôi khi, chúng ta t́m được nguồn ủi an. Con
ḅ sữa giống breton) mang
màu sắc như trang phục của các Nữ Tu Tận
Hiến, tức màu trắng đen, đă sinh con bê màu
Augustin, tức màu đen. Đối với cha, khi nh́n chú bê
non này trong tập viện, ít
ra chỉ nh́n qua màu sắc, cha
cũng cảm thấy nguôi ḷng.
Chồng của con không yếu
đau. Chiều nay, anh ấy cảm thấy đau
đầu, nhưng khi cha đă lượm xong những bó
cành cây dâu tằm, nhân đi lấy sữa, anh ấy
đến trách cha quan tâm mấy khúc củi nhỏ bé
hơn việc đi thăm các bà Raynaud khi họ ṛi khỏi
nhà cha.
Khi đang nhặt cành cây cuối
cùng, cha chợt nghĩ Đấng Quan Pḥng sẽ đến
khích lệ cha trong công việc đồng áng.
Nếu gặp Angélina, nhờ con
hỏi cô ấy đă nhận được thư cha
viết ngày thứ hai chưa và đúng ra cô ấy phải
nhận được rồi, khi con trở về Nimes
từ Caissargues. Cha khuyến khích cô ấy cần mạnh
mẽ hơn nữa và không nên lùi nửa bước,
một khi đă tiến một bước. Tạm
biệt con gái. Ngh́n lần thuộc về con trong Chúa chúng
ta ».
Thư gửi Cécile Germer-Durand, theo Các
bức thư d’Alzon, nxb., tập VI (1992),
trang.252-253
Trọn
cuộc đời cha d’Alzon luôn ḥa lẫn với các vấn
đề chính trị. Con của nhà đàm phán gắn bó
với những ư tưởng hợp pháp của phái
hữu bảo hoàng (droite royaliste), cha tỏ ra là một
người theo dơi và chỉ trích các sự kiện làm chao
đảo nền quân chủ năm 1830. Ngài thâu tập
nhiều loại báo, tạp chí đưa thông tin trong
nước hoặc trong vùng, La Gazette, Le Moniteur, La Quotidienne,
L’Ami de la Religion, Le Correspondant ou l’Avenir là những tờ báo
được sàng lọc bởi niềm tin hàng
đầu không thể lay chuyển, những quyền
của Thiên Chúa và của Giáo Hội chiếm ưu thế
hơn đối với mọi vấn đề khác
về con người, về đảng, về chế
độ hay về dư luận. Dưới chế
độ quân chủ tháng bảy, bắt nguồn từ
tự do, cha d’Alzon đối lập giới Trung Tả
(Centre gauche), vào thời cách mạng 1848, ngài không do dự
theo những ư tưởng đăng trên mục của một
tờ báo tạm bỡ, Tự do cho mọi người
(Liberté pour tous), nếu
chế độ mới của cộng ḥa tôn trọng và
bảo vệ Giáo Hội. Đây là thái độ khiến ngài
phải tinh tế với môi trường gia đ́nh. Đế
chế Napoleon theo thái độ của Napoléon III, kể
từ năm 1852, chỉ tỏ ra khép kín và thậm chí c̣n
chê bai từ năm 1859 : quyền phong chức giám
mục của nhà vua trong giáo hội gallican (régalisme gallican), chủ nghĩa
lợi nhuận, ăn hối lộ nội bộ tăng
cường tính tranh đấu đối lập trong khi
chính sách ngoại giao của Đế chế Đệ Nhị làm
lời cho chủ nghĩa quốc gia Piémont. Chủ nghĩa
tuân phục Giáo Hội Rôma dưới quyền Giáo Hoàng
của cha d’Alzon giúp cha đồng nhất hóa những
quyền của Giáo Hội với lợi ích của giáo hoàng, và dẫn cha d’Alzon vào trong
đấu trường chính trị : đại
biểu bầu cử trong vùng Hérault (1861), chiến dịch
khiếu nại, rao giảng về những điểm
nóng thời sự, ủng hộ những cuộc bầu
cử có uy tín. Tuy nhiên, cho rằng cha d’Alzon tự làm
hại thanh danh trong tṛ chơi chính trị v́ những lí do
đơn giản láu cá là không đúng. Ngài đ̣i hỏi
quyền ngôn luận và hành động cho giới tăng
lữ ngoài ranh giới trong nhà thờ giáo hội, khi mà
nhiều mấu chốt vấn đề dường
như vượt xa lĩnh vực tư nhân của
nhiều người nhằm có thể đụng
đến lĩnh vực của niềm tin và giá trị
để thiết lập những dự án cho đời
sống tập thể, xă hội và giáo hội. Chắc
chắn, những chọn lựa của ngài cũng có
thể mang lại cho chúng ta ngày nay cảm giác thiếu tính
định kiến và có thể bàn căi. Một phần v́
nguồn gốc gia đ́nh và quan hệ của ngài. Đó là thân
phận thường trực của bất cứ ai khi
rơi vào hoàn cảnh như vậy, cho dù những ư
tưởng hay những động lực của ngài
tỏ ra cao cả.
Là con người của
thời đại ḿnh, cha d’Alzon đă không do dự
vượt qua các rào cản của thái độ và dư
luận quần chúng. Cha không phủ nhận xu hưởng
« mở » khó tránh khỏi theo hướng dân chủ
và công lư xă hội. Nhưng theo cách nghĩ bảo thủ
của ngài, đó cũng là lối suy nghĩ mang tính
bảo thủ về những nguyên tắc bảo vệ
danh dự, thành thật và trung thực mà đời
sống chính trị thời đại ngài không hề quen
biết, ngay cả khi đời sống chính trị
bị đồi bại đến khó coi :
«Về thất bại
của Emmanuel d’Alzon.
Sự khuấy động xảy ra
trong mấy ngày xung quanh ḥm phiếu bầu cử b́nh yên buổi ban đầu. Người
thắng cử khiêm tốn tập làm quen với chiến
thắng. Kẻ thất bại hoàn toàn xứng đáng
với đảng phải của họ.
Với phẩm chất
của người không trúng củ, cha cảm thấy
buộc lương tâm phải phản đối những
kẻ quá vội vàng, tỏ ra đờ đẫn trong
thanh thản. Cha muốn thúc bách nhiều bạn bè hiểu
rằng, chính v́ Đế chế là ḥa b́nh, sự ngủ mê
không phải v́ vậy mà được xem là bổn
phận thanh cao nhất trong các bổn phận, và rằng
ngay cả khi đối diện với những diễn
biến mới nhất, ngủ trong quên lăng có thể là
một trọng tội.
Cha thường muốn la hét
như người tin lành. Lần này, họ đứng
ngoài ŕa, và theo quan điểm của họ, họ đă
hành động khéo léo. Họ vui mừng thấy
người công giáo có khả năng làm những kiệt
tác ǵ, khi bóng ma của công cuộc cải cách không hiện
lên trước mắt họ. A ! họ
sẽ sai lầm khi khoanh tay, nếu họ chỉ
đứng nh́n chúng ta làm việc. … ! Chúng ta không thể
kết tội họ, và có thể họ sắp trở
thành chủ của chúng ta !
Bức thư cuối cùng cha
viết cho ngài Demians đă làm mất ḷng dân chúng,
người ta nói như vậy. Cha vẫn cảm thấy
thoải mái dù không được ḷng dân. Và cha tận
dụng quyền có được từ t́nh h́nh ấy
để nói rơ cách nhận xét, đánh giá những sự
kiện buồn thương mà chúng ta vừa chứng
kiến cảnh tượng.
Cha tránh thắc mắc của
nhiều người, cha chỉ chú trọng đến
những hành vi quần chúng diễn ra trong ngày.
Cha có thể tỏ ra buồn
rầu, có thể thức tỉnh, nhưng tuổi cha không
c̣n là lứa tuổi của ảo tưởng. Người
ta có thể đau khổ khi nh́n thấy một số
gương mặt không được sáng sủa như
họ mơ ước, nhưng tóm lại, người
nh́n và việc ấy cũng chóng qua.
Một
đại tướng, người con của Nimes, hoang
tưởng trở nên thành viên tổng hội đồng,
dù đại tướng được chính phủ
giới thiệu, có ǵ đơn giản hơn thế
không ?
Ai có thể thấy
đại tướng là con người xấu ? Mong
ngài hăy hứa hẹn điều ǵ, ai có quyền nổi
giận, nếu không phải là những người
chưa có quyền ấy ? Tốt hơn không nên nổi
dận, có thời người ta rất giận hờn, và
con người ở Nimes sẽ không thể là Người
Pháp, cũng không thể là những người bầu
cử, nếu như họ không xem trọng điều
ấy. Như người ta bảo đảm, dù
đại tướng đă nói với cha rằng các linh mục nên ở
lại trong nhà Chúa vào thời kỳ bầu cử th́
sẽ tốt hơn. Đó là điều khẳng định
cha muốn nêu lên. Ngài đại tướng biết rơ ba
cuộc viếng thăm cha cách đây hai năm, nhằm xin
cha bầu cho ngài, ngài cũng hiểu rơ rằng ngài nói
điều đó với đấm đông dân chúng trong những mái nhà tối tăm
này và …, nhưng chúng ta đùng đề cao quá.
Cha không hiểu lắm bối
cảnh hiện tại, người công giáo, người
công giáo thực sự, đă bầu cho đại
tướng. Không phải vào thời điểm
thường nhật mà ngài đại tướng đă có
thể nhận được phiếu bầu của
họ, nhưng có cần nhắc lại thực tế
mới xảy ra ? Người ta tự xưng là
người công giáo, người ta thấy Đức Giám
Mục, đối tượng chú ư của mọi
người, người ta có dịp phản đối
cách long trọng, người ta lại không phản
đối và người ta chỉ đích danh ứng viên
chính thức. Cha khẳng định đó là một
dấu chỉ của thời đại.
Cha chỉ muốn xin lỗi
v́ đă giám viết rằng những người, khi hành
động như thế, có một đức tin mănh
liệt, là những người khiêm tốn về mặt
danh dự. Nếu cho rằng đánh giá ấy
được áp dụng quá nhiều, cha chỉ giữ
lấy cho ḿnh cha mà thôi.
Thực vậy, người
ta cho rằng một số linh mục đă nêu gương
về việc ấy. Cha tin là không sao cả. Nhưng
nếu thật sự ḷng khiêm tốn của họ ngang
hàng với ḷng khiêm tốn của bổn đạo,
phải kết luận ǵ đây ? Chính các linh mục là
những người đầu tiên la ó họ : chúng tôi
không có vua nào khác ngoài César ! Để trấn an lương
tâm, họ đă dựng cảnh tưởng với
mười tám ngh́n công nhân như Hérode, theo lời của
Giuse, một người lao công tu sửa đền
thờ. Nhờ Thiên Chúa, theo Hilaire, chúng ta rơi vào thời
mà hoàng đế Constance, người theo quan điểm
của Arius, xây dựng các nhà thờ với mục đích
bảo vệ Giáo Hội tốt hơn. Chúng ta hăy
để vấn đề này một bên đă…Phải
chăng chỉ c̣n thất vọng nữa mà thôi và việc
từ bỏ phải chăng đối với
người công giáo là một sự cần thiết vô
phương cứu chữa ? C̣n lâu cha mới nghĩ
như vậy. Người công giáo có thể vực dậy
từ thất bại do họ đă tự làm khổ ḿnh,
dù người ta nói ǵ, với ba điều kiện :
điều kiện đầu tiên là trở lại với
những nguyên tắc thực sự công giáo. Điều
kiện thứ hai là giải pháp biết tận dụng
cách táo bạo và không ẩn ư mọi vũ khí mà xă hội
hiện đại trao trong tay. Điều kiện thứ ba là
phải có tổ chức mạnh mẽ và đôi khi
phải hợp pháp…. ».
Thư gửi người công giáo Nimes, tập VI, nxb.
D.D., trang.319-325
Là người rất
ngưỡng mộ Louis Veuillot và say mê đọc báo Vũ
Trụ (L’Univers), cha d’Alzon không thể không biết
nguồn gốc của sự kiện Lộ Đức, v́
sự kiện này mà nhà báo nổi tiếng đă đề
cập đến và nói rất nhiều trước Henri Lasserre.
Và thế nhưng, thư cha d’Alzon chỉ đánh dấu
vết tích báo chí về Lộ Đức bắt đầu
từ năm 1868, năm mà ngài tận dụng việc
chữa bệnh bằng nước khoáng nóng ở Bagnères
de Bignorre, ngài sẽ một ḿnh đi hành hương t́m
hiểu địa điểm vào ngày 15 tháng 8 năm 1868 vào
tuổi 58. Ngay lập tức, cha d’Alzon nắm bắt thông
điệp tin mừng do cô chăn cừu nhỏ bé
miền Bartrès truyền lại, và trở thành người
nổi tiếng đă thấy Đức Mẹ hiện ra, và
lúc bấy giờ, phải trốn ở Nevers v́ nhiều
thúc bách ṭ ṃ của đám đông.
Cha d’Alzon gặp cha Peyramale, cha
cảm thông với vị cha sở mà về cuối
đời (1877) bị đen tối do những lẫn
lộn trong phạm vi xét xử với các Cha Garraison, cha
Sempé, được giao canh giữ khu vực và là những
người khởi xướng các cuộc hành
hương cho bổn đạo giáo xứ với mục
đích quyên góp tiền giúp công tŕnh xây dựng các nơi
thờ cúng tại háng đá Đức Mẹ hiện ra.
Lời mời gọi đơn giản mang tính tin mừng với Bernadetta : cầu
nguyện, tin vào Chúa, sám hối, làm hài ḷng cha d’Alzon, một
người rât thích đọc chuyện về Mẹ Maria
qua một số đoạn hoặc chú thích về Mẹ
trong Thánh Kinh. Cha đă phó thác vào sự bảo trợ
của Đức Mẹ Đồng Trinh việc sáng lập ḍng
tu. Những huyền nhiệm của cuộc đời và
đức tin của Mẹ Maria có vẻ phản ánh
trọn vẹn tinh thần tin mừng đối với
cha d’Alzon, dầu khẩu ngữ của ngài vẫn mang tính
ki tô mà không mất đi tính Maria học (sa devise reste
christologique sans inflation mariologique) : « Nếu các con thêm t́nh yêu Chúa
chúng ta, t́nh yêu Đức Trinh Nữ Mẹ Người và t́nh
yêu Giáo Hội, hiền thê của Người vào t́nh yêu
Thiên Chúa, các con sẽ nhận biết cách tóm gọn
nhất đặc tính của ḍng Mẹ Về Trời
dưới thành ngữ của nó ». Ở Massabielle,
cha d’Alzon giao phó các con trai, con gái cho Mẹ Thiên Chúa, khiêm
nhường và tin tưởng trong cách thể hiện
của cha với một thiếu nữ nghèo nàn, chỉ
mới biết chữ.
Mầu nhiệm liên kết cha
d’Alzon với Mẹ Maria hơn cả là mầu nhiệm
về sự triển nở thiêng liêng : không phải
chính nhờ mầu nhiệm nhập thể mà Mẹ đă
sinh Đấng cứu độ loài người hay sao, cha
d’Alzon không ngừng cầu xin Chúa hồng ân sinh ra nhiều
linh hồn độ lượng và có ḷng nhiệt thành tông
đồ để phục vụ Thiên Quốc. Cha d’Alzon
thôi thúc sức mạnh Lộ Đức, sức mạnh từ
trời tuôn trải để đổi mới trên
trần gian những mầu nhiệm đức tin và làm cho
việc thờ phượng nơi quần chúng và việc
thể hiện ki tô giáo trở nên phổ biến. Ngài nóng
ḷng đi hành hương với sự khát khao cháy bỏng
mong sao các mầu nhiệm thiêng liêng chiếm lấy con
người cha khi cha cảm thấy nhu cầu cấp
thiết phải phổ biến lại ki tô giáo cho các
tầng lớp dân chúng, trong đó giới ưu tú đang
ngày càng mất hướng. Chỉ có sức mạnh thúc
đẩy của đức tin mới không e ngại
khẳng định bản ngă trước quần chúng và
mới có thể xây dựng lại mảnh vải của
một dân tộc bền vững : Lộ Đức,
nơi cầu nguyện để cùng nhau lại tiến
bước.
« Bagnères de Bigorre ngày 1 tháng 8
năm 1868
Con quí
mến,
Chỉ
một lời thôi. Cha đi Lộ Đức về. Ở
đây, cha đă cầu nguyện rất lâu cho con. Cha đă
cầu xin ơn thánh thiện thật, ơn khiêm
nhường, tinh thần đức tin, ḷng nhiệt thành. Cha
cũng đă cầu nguyện cho các con của con. Và cha
thỏa ḷng khi ẩn ḿnh sau hàng song cửa bảo vệ
hang đá cấm qua lại, trong gần bốn tiếng
đồng hồ. Con thấy đó, cha có thời gian
cầu nguyện cho bạn bè. Cha gửi con tấm h́nh
Bernadetta. Hôm nay sœur Marie-Bernard ở Neverd. Cha gửi kèm theo
trong đó một cây nhỏ ngay nơi Đức Mẹ
hiện ra. Nếu có thể, cha sẽ tạo điều
kiện ưu tiên cho việc tôn sùng Đức Mẹ Lộ
Đức. Khi đến Salette, cha vẫn cứng tin hoặc
ít ra cứng đầu và khô khan, cha không biết tại
sao, nhưng Lộ Đức lại đem đến cho cha
một thứ hương vị b́nh an, tin tưởng và
hy vọng nào đó mà cha không nhận ra và cha sẽ sớm
ăn năn trở lại với Chúa. Trong thánh lễ
cử hành trong nhà nguyện nơi háng đá, cha đă ghi tên
con đầu tiên sau tên của ḍng nam Mẹ Về
Trời.
Tạm
biệt con. Ngh́n lần thuộc về con trong Chúa chúng ta.
E.
d’Alzon
Bagnères
mang lại cho cha nhiều điều tốt đẹp,
nhưng cũng làm cha hơi đau dạ dày. Thỉnh
thoảng cha muốn nôn ».
Thư cha d’Alzon gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, theo nxb. D.D.,
tập VII (1994), trang.134
Giữa
những sự việc gây ṭ ṃ và khó hiểu tô màu cuộc
đời cha d’Alzon, có một chuyện đáng
được nêu ra : sự việc này nằm trong
khung cảnh tập viện ở Vigan vào cuối năm
1868 và năm tháng đầu tiên của thời gian tiếp
theo. Người được mang danh « Gio-an anh
đầu bếp » hay « Gio-an nhà triệu phú »
thực ra là một người trẻ mới theo
đạo, được rửa tội ở Vigan, mang
tên Gio-an Domingo. Gốc gác của anh không ai biết rơ. Có
lẽ là gốc Mỹ. Anh rửa chén bát và giặt dũ
trong tập viện, đồng thời quan tâm tích cực
vào nhiếu sinh hoạt công giáo ở giáo xứ và những
sinh hoạt do cha Hippolyte Saugrain đề xướng,
nhất là việc tôn thờ ban đêm. Anh kế thừa
một gia sản rất lớn từ người chú
ở Mỹ. Tài sản kế thừa này không ngừng
tăng dần theo ḍng thời gian. Anh hứa tặng
một phần đáng kể cho ḍng Mẹ Về Trời. Sự
việc khiến cha d’Alzon tốn nhiều giấy mực
với các cha Hippolyte Saugrain, François Picard, Victorin Galabert và các
thầy họ Bailly. Thực vậy, ḍng Mẹ Về
Trời thiếu tiền trầm trọng trong khi dự án
lại nhiều ! Ghi nhận những phản ứng
từ nhiều người về vấn đề này là
một việc thú vị : cha d’Alzon, luôn luôn túng tiền
nên không ngừng mơ ước có bạc triệu từ
Châu Mỹ, đề ra dự án này đến dự án
khác. Cha Hippolyte với sự tinh tế của người
Normand không để bị lôi cuốn lợi dụng
trước khi có thể cân nhắc số tiền c̣n
lại trong sự chờ đợi ảo ấy. Cha Picard
nghĩ nên quy tụ tất cả những ai quan tâm ở
Paris nhằm cùng nhau bàn tính một công việc thực
tiễn : các khoản nợ của Nimes và Paris, việc
rao bán Clichy không có người mua, việc đầu tư
cho nhà mồ côi của cha Halluin, những kêu gọi dồn
dập của cha Galabert cho sứ mệnh ở
Phương Đông, việc gầy dựng cộng đoàn
ḍng Nữ Tu Tận Hiến ở Nimes cuối cũng
sẽ có thể t́m thấy giải pháp. Cha Emmanuel Bailly,
hiệu trưởng trường trung học ở Nimes,
vừa đảm trách quản lí chung về kinh tế trong
ḍng cũng trả một phần. Giấc mơ hoàn
tất trong ảo vọng : anh Gio-an biến mất vào
một ngày đẹp trời giữa trung tuần tháng
năm khởi Vigan mà không hề đẻ lại dấu
vết. Sự việc này rất bổ ích : t́nh h́nh tài
chính của Ḍng không được chỉnh đốn
từ năm 1857. Các dự án tông đồ do người
này, người khác được tung ra cách bất
ngờ, thiếu trù tính trước, chắc hẳn là phó
thác vào sự quan pḥng của Thiên Chúa, cũng không thể
dứt khoát t́m được nguồn kinh tế mới bảo
đảm kế hoạch. Nhận định của
người này về người khác đều đi
đến tột đỉnh, nhận định của
cha d’Alzon về cha Saugrain cũng vây : « b́nh an sẽ
trở lại trong ḷng ngài khi nào có tiền để giao
dịch chứng khoán » hoặc, báo hiệu năm
1867, cha Vincent de Paul Bailly, được thử thách
rất nhiều qua một năm làm hiệu trưởng
trường học, nói về cha d’Alzon : « Cha sử
dụng nhanh nhân lực ở trường học ».
Tiền bạc khiến kẻ đui mù nhảy mừng, nó
là cái bẫy hay một yếu tố mạc khải ? Lời
cuối cùng xứng đáng với con người cha d’Alzon :
« tốt hơn, nên sống
theo tinh thần nghèo khó ».
« Le Mans ngày 23
tháng 1 năm 1869
Này con, con là người
nhỏ mọn bất nhă khi một mực nhất
quyết làm cha buồn chán. Thật hoàn toàn khó hiểu và cha
phải nói thật ḷng với con để vứt bỏ
những điều ấy trong ḷng.
Cha bị cảm cúm nhẹ, và
thay v́ đi dạo, cha ở nhà viết thư cho con.
Viết thư cho con tạo cảm giác dễ chịu
hơn trong cha, thế
nhưng, trừ khi cha làm con không vui. Có phải suy nghĩ
cuối cùng này tạo trong con niềm vui thích lạ
thường ? Con nghĩ như thế nào ?
Cha Hippolyte viết
thư cho cha biết Sœur Marie-de la Croix hơi chao
đảo. Có khả năng cha sẽ t́m được
vài ba ơn gọi tại đây cho ḍng Nữ Tu Tận
Hiến. Vào ngày lễ Đức Mẹ thăm viếng thánh
Elisaberth, có một Sơ trợ tá hết ḷng nhiệt
huyết cho công việc truyền giáo. Vậy nhưng,
Sơ giới thiệu cho cha một người mà
người ta không nhận vào ḍng, bởi v́ cô ấy không
hợp pháp và v́ le Mans quá gần nước của cô ta.
Trước khi giới thiệu cô với một nhà xa
hơn, cô đă tặng và đă viết thư cho cha hôm qua
ở Angers, nơi cô ta trú ngụ. Cô là một người
học thức đàng hoàng, hiện tại cô đang
sống với cha ḿnh. Ông ấy là bác sỹ. Nhưng cô ta
thấy sống ở đây nguy hiểm. C̣n có một
người khác nữa. Và một người khác nữa.
Cha hy vọng chúng ta sẽ không dừng lại ở đó.
Cha nghĩ người ta
sẽ biếu cha ǵ đó nhân dịp tĩnh tâm. Con có muốn cha
gửi con chút đồ cho máy khâu ? Nghe nói mấy
chiếc máy khâu tạo việc làm cho bốn người. Cha
có thể bỏ vào việc này từ 300 đến 400 quan. Con
hăy cho cha biết ư kiến nhé. Nếu chúng ta có hai
người làm việc và hai người thợ khéo tay th́
tuyệt với quá. Cuối cùng, cha sẽ t́m kiếm
mọi thông tin có thể được. C̣n các cô gái do bà
Chaponay giới thiệu, con có nghĩ cha nên gặp họ
trước ở Lyon, bởi v́ cha sẽ gặp họ
trong tháng tới ? Cha rất hạnh phúc với các
Sơ Đức Bà thăm viếng ở Mans. Và cha nghĩ
rằng Sơ Marie-Colombe sẽ t́m được cho cha
một số ơn gọi, ngoài những ơn gọi cha
mới nói với con.
C̣n
về anh Gio-an, người làm bếp ở Vigan, không
phải là một triệu, không phải là chín triệu
nữa, nhưng là mười lăm triệu mà ân nhân có
lẽ để lại cho anh ta. Nếu anh ta cho các Nữ
Tu Tận Hiến chút ǵ đó, anh ấy sẽ thật
sự là một người can đảm, đúng
không ? Con sẽ nhận hai bó hoa nhỏ như là
phần thưởng cho hoạt động tông đồ.
Cha gửi đến các con Marie-Colombe, một người
có ḷng nhiệt thành, say mê sứ mệnh truyền giáo
đến khó tin. Con ạ, cha hết ḷng chúc lành cho con. E
d’Alzon ».
Thư gửi Mẹ Emmanuel-Marrie
Conrrenson, theo nxb. D.D, tập VII (1993), trang.229-230
Ngày
mồng 1 tháng 11 năm 1869, cha d’Alzon một lần nữa
lên đường đi Rôma, dẫn Đức Giám Mục
với phẩm chất thần học gia tham dự công
đồng Vaticanô I cho đến ngày 18 tháng 7 năm 1870. Cha
d’Alzon trọ với Đức Cha của ngài, Đức Cha
Plantier, trong chủng viện pháp ở Rôma, đường
Santa Chiara. Cha vui mừng gặp lại cha Galabert ở
đây. Cha Galabert cũng
đến Rôma với tư cách là thần học gia
của Giám Mục, Đức Cha Popov. Cha chờ đợi
rất nhiều từ công đồng đặc biệt
này : ngày 13 tháng 2 năm 1869, cha đă viết thư cho
cha Vincent de Paul Bailly « cha tán thành việc công bố
sự vô ngộ của Đức Giáo Hoàng, việc bỏ
quyền chỉ định giám mục của nhà
Nước…, việc giảm một số ngoại lệ,
giữ những lời khấn tạm (vœux simples)… được cho phép nhằm ưu tiên cho những
lời khấn trọn (vœux solennels). Cha tóm lược
như vậy những vấn đề dự tính sẽ
được bàn đến ».
Những hy vọng này sẽ dần dần được
khẳng định, nhưng với cái giá phải tranh
luận rất lâu, bởi tính chất của nó đem
lại tiếng vang xác thực. V́ thư cha d’Alzon không
giảm đi : vả lại thư cha mang lại cho
chúng ta những trang rất quí về ḷng yêu mến Giáo
Hội, về thực tế truyền giáo, một t́nh yêu
cháy bỏng theo chừng mực của đức tin đối
với Giáo Hội Rôma cách vô điều kiện. Cha d’Alzon
không tham gia trong các cuộc họp công đồng, nhưng
cha tự xem ḿnh như một người lăng xăng
(tập VIII, trang.133), cha tiếp xúc ngày một nhiều và
tăng cường nhiều cam kết phục vụ
phần đông những người nhất trí việc
công bố sự vô ngộ của Giáo Hoàng. Kỳ họp
công đồng tạo cảm giác khác trong cha theo phạm
trù hoàn vũ của Giáo Hội công giáo và sự lớn
mạnh của nhiều miền mới được
truyền giáo : Rôma trở thành trung tâm điểm
của nhiều nước, nhiều dân tộc và nhiều
ngôn ngữ trong sự hiệp thông với ṭa thánh Phêrô. Một
sự lật đổ xảy ra trước mắt cha,
giữa các nước có tầng lớp ki tô giáo lâu
đời bị vướng vào nhiều cuộc căi
lộn về vấn đề lịch sử và các
nước ki tô giáo non trẻ hơn đang lớn
mạnh nhờ năng nổ trong việc truyền giáo. Qua
đó, cha d’Alzon học được một kinh nghiệm
tích cực trong chiến thuật của Giáo Hội :
tương lai thuộc về những Giáo Hội non
trẻ, thuộc về các Hội Ḍng Tu mới, thuộc
về việc định nghĩa lại các giao
ước của Giáo Hội đối với dân chúng,
của chủ nghĩa dân chủ, của xă hội hiện
đại, nhưng không có sự ưu tiên cho các nguyên
tắc trần tục của cách mạng và chủ
nghĩa giải phóng. Lấn chiếm thời gian ngoài
thời gian hiện tại là triệu chứng của
thứ tư tưởng mang tham vọng xây dựng
tương lai trong sự phát minh của truyền
thống. Thời gian hiện tại bị chập
mạch, thời gian quá khứ được tấy
rửa và được lí tưởng hóa. C̣n tương
lai thường lẩn tránh những thúc bách : năm
1870-1871 sẽ là những năm « khủng khiếp »
với sự sụp đổ của Rôma, chiến tranh
Pháp- Đức và Công Xă. Thế nhưng, những nh́n nhận
của cha d’Alzon khi cha viết cho Mẹ Marie-Correnson không
thiếu ḷng nhiệt huyết, cũng không thiếu sức
mạnh tiến về phía trước :
« Rôma
ngày 14 tháng 12 năm 1869
Vậy
là cha con ta đă tạm biệt nhau được sáu
tuần ṛng ră, con yêu quí của cha. Sự chia cách này sẽ
c̣n kéo dài đến bao giờ ? Chỉ Thiên Chúa mới
biết con ạ. Người ta cho rằng đến
Phục Sinh sẽ kết thúc. Cha không thể hy vọng
dự tính đó. Đúng hơn đến Phục Sinh cha
sẽ được nghỉ ngơi, nhưng sau đó
sẽ phải tiếp tục trở lại.
Cha
trở lại vấn đề con đă bàn với cha
về các Sơ cần vụ. Một trong những lí do
khiến cha tách họ ra là v́ nếu phải bắt
đầu lại, có lẽ cha sẽ tách họ khỏi
Ḍng Mẹ Về Trời. Con đừng ảo
tưởng, thời đại các Sơ cần vụ qua
đi. Cha rất tin rằng để có thể làm cho dân
trở lại với Chúa, ngày nay trên hết mọi sự,
cần phải bỏ những dạng thức quí phái. Chúng
ta tiến đến nền dân chủ với những
đ̣i hỏi khung khiếp, và theo quan điểm này, con
sẽ không thể tưởng tưởng nổi tất
cả những ǵ cha quan sát nơi đây. Chắc hẳn
quảng trường lớn không thuộc về các Giám
Mục Hung-Ga-Ri. Các ngài là những chúa tể hùng mạnh
cuối cùng của Châu Âu. Quảng trường lớn
ấy thuộc về các Giám Mục truyền giáo. Các ngài
quốc bộ đến tham dự công đồng,
bởi v́ các ngài không có xe. Quảng trường ấy
lại càng không thuộc về các nhà thông thái, tức
những người giúp lập nên các sắc lệnh và
điều luật. Người ta cảm thấy rằng
họ cũng làm việc cho nhiều người khác, và
những người mà công đồng ủng hộ chính
là các bạn hữu của Thiên Chúa, những người
nhỏ bé và nghèo hèn. Con hăy tin cha, sức mạnh của
tương lai chính là nơi họ. Chính nhờ sự nghèo
khó và sự hạ ḿnh xuống mà thế gian này sẽ
được cứu độ, nếu như thế gian
có thể thực hiện việc đó.
Nếu
có chuyện ǵ làm cha buồn thảm, có thể sẽ là v́
thấy công tŕnh của các Nữ Tu Tận Hiến bị
lệch hướng. Và nếu cha có thể t́mra một
trong những lí do giúp các Sơ Tận Hiến, đó chính là
tinh thần khiêm nhường và có đủ khả năng
hơn để có được một phần của
thế gian mà Chúa chúng ta yêu thương cách riêng, mà
trước hết rất khẩn thiết quan tâm. Cha
nghĩ như vậy. Việc con có thể thực hiện
lúc này mang lại khó khăn lớn hơn nhiều trong
chọn lựa. Con hăy vượt qua thử thách ấy,
nhất là bằng tinh thần của sự thánh thiện
rất cao trọng mà người ta sẽ cảm nhận
được nơi các con trong ḍng, bởi tinh thần
ấy sẽ ở nơi người mẹ.
Hôm kia, cha ăn tối tại nhà
Veuillot với các giám mục truyền giáo. Cha không thể
tả hết cho con về các ngài, cha thấy họ cao
trọng hơn tất cả, bởi v́ họ nghèo khó,
bởi v́ họ nhiệt huyết và v́ không có ǵ để
cho đi, họ ban tặng chính con người họ. Con
yêu quí, con hăy tin cha, con hăy hoàn toàn tán thành quan điểm
về sự ban tặng trọn hảo nhất của
con ; con hăy yêu mến Chúa, mà cả cuộc đời
đă quá nhỏ bé, nếu không nói là không ǵ cả.
Đối
với cha, khi thấy nhiều khốn khổ trong trong công
đồng, cha tin rằng Thiên Chúa chúc phúc cho những
người nghèo và Người gơ cửa nơi những
kẻ yêu thích tất cả những ǵ không hướng
theo sự hư nát.
Con
hăy cho cha biết t́nh h́nh sức khỏe của con. Con
sẽ không hiểu được con quan trọng như
thế nào trong cuộc sống thường ngày của cha,
nhưng cha không muốn viết ǵ về điều này cho
con biết. Nếu con có thể đọc được
đâu đó, con sẽ nói : « Ông cha
d’Alzon tội nghiệp, dù muốn hay không, ḿnh phải hài
ḷng về ông ấy ».
Con
hăy cho cha biết t́nh h́nh các con trong ḍng, hăy nói với họ
là họ luôn hiện diện trong cha, và họ phải
chuẩn bị cho nhiều công việc quan trọng. Nếu
có được hai nghàn người, các Sơ sẽ nhanh
chóng ổn định. Đối với cha, điều
chủ yếu không phải là con số đông đúc,
nhưng nhờ sự thánh thiện, các Sơ làm việc
mỗi người như một trăm người. Đây
là danh sách những đồ cha nhờ Joséphine Fabre gửi
cho cha qua ông Barnouin. Một lần nữa, tạm biệt
con. Cha không xem lai thư. Thực ra, cha sẽ gửi
một danh sách trễ hơn một chút. Cha chúc lành cho con,
lời chúc lành của ông cha già. Cha vừa làm bẩn
giấy, mong con thứ lỗi.
E.
d’Alzon”.
Thư gửi Mẹ
Emmanuel –Marie Correnson, trong tập VIII, nxb.D.D. (1994), trang.70-71
Nếu
nói về năm tháng chứa nhiều cảm xúc và sự
kiện đau thương trên đường đời
cha d’Alzon, thực sự đó là năm 1870-1871. Theo niên
sử chính trị và tôn giáo của nước Pháp lúc
bấy giờ, năm ấy được xem là năm « khủng
khiếp ». Vừa rời khỏi thành Rôma, trong
niềm sung sướng về công bố tín điều vô
ngộ của Giáo Hoàng (tháng 7 năm 1870), cha d’Alzon phải
đối diện ngay với hàng loạt thảm họa
quân sự của Đế Chế ở Nimes, đối
diện với quân binh đức (tháng 8 năm 1870) và
những âm vang trực tiếp về chính trị : công
bố thể chế Cộng Ḥa, việc thành lập chính
phủ lâm thời, việc xâm lấn quân sự ngoài nước
không nhượng bộ…Không kể đến ṭa của
thủ đô, chiến tranh Công Xă và những đe dọa
của chế độ chính trị đang rơi vào t́nh
trạng tồi tệ, cuối cùng, hệ quả nhanh chóng
xảy ra là thành Rôma sụp đổ và thời đại
các Nhà Nước giáo hoàng chấm dứt. Như mọi
công dân và mọi người công giáo thời ấy, cha
d’Alzon vừa mang trong năo trạng những t́nh cảm
đối với tổ quốc và Giáo hội. Thực
sự, đó là một thế giới suy tàn. Cha d’Alzon c̣n
chuẩn bị tư thế đối diện ở Nimes
do nhiều chuyển đổi và sự kiện thôi thúc,
nhưng tương lai vẫn
ở trong tối tăm không chút hứa hẹn.
Và
thế nhưng, khi đọc chứng từ về
cuộc đời, chúng ta bị đánh động bởi
sự b́nh tâm trong cảm tưởng của cha, một con
người mang tính hành động, không bao giờ xa
rời cánh đồng thực tiễn. Trong lửa
chiến tranh, cha không ngần ngại khích lệ sáng
kiến của anh em tu sĩ, những người làm
việc tuyên úy t́nh nguyện trong quân sự. Cái nh́n của
cha về các sự kiện có thể khiến chúng ta
cảm thấy tính luân lí hoặc răn bảo. Nhưng
điểm yếu của cái nh́n về những sự
kiện này không hề làm
nhụt ǵ, trái lại, tính năng động trong hoạt
động tông đồ của cha bắt nguồn trong
các nhân đức v́ Chúa : tinh thần đức tin
đi t́m ư nghĩa cho những sự kiện mà không làm
bản thân bạc nhược, bị đánh bại
hoặc bị bại liệt do phía đối lập bi
thảm, tinh thần hy vọng vượt xa giây phút
hiện tại tan thuơng v́ đă có thể vạch ra cánh
đồng hoạt động có khả năng thực
hiện được, sau cùng, tinh thần bác ái
đầy sáng tạo sẽ trở thành hiện thực
với một số sáng kiến đă được bàn
tính với nhau : lấy lại Tạp chí giảng
dạy ki tô giáo, đấu tranh cho tự do dạy
học bậc cao và tự do sáng lập trường
Đại học công giáo, thực hiện một dạng
đặc biệt của các trường học trong tinh
thần hoạt động tông đồ với việc
thành lập trường ḍng (Alumnats). C̣n về các tu sĩ
tại Paris, kinh nghiệm tiếp cận chiến tranh
đă đuổi họ ra đường :
người ta không tính đến họ nữa kể
từ năm 1871, nhiều sáng kiến của họ cho các
hoạt động tông đồ công khai trong nhiều
lĩnh vực khác nhau : hành hương, hội họp,
báo chí. Cùng một tinh thần chinh phục, thúc đẩy họ
ḥa nhập vào xă hội nhằm tái hóa ki tô giáo. Chúng ta hăy
lắng nghe người thợ cả trong việc phân chia
giữa bao xáo động :
«Ṭa
giám mục Nimes, ngày 15 tháng 9 năm 1870
Con yêu quí
Con sẽ thấy cha Emmanuel Bailly
cố ư dừng chân ở Poitiers để nói chuyện
với các con về các Sơ ở Sedan. Ở Saint-Dizier, các
con đă có người Phổ ghé thăm. Cha hy vọng
ở Reims, người ta sẽ tôn trọng cộng
đoàn các con, nhưng cha hiểu những bận tâm
của các con. Ở Nice, các con có ngài tỉnh trưởng
Pierre Baragnon, có lẽ mẹ của ông ấy đă nói cho
các con biết khi bà đang là thỉnh sinh trong ḍng các con. Cha
không muốn các con viết thư cho ông tỉnh
trưởng, như cha Cabrières đă muốn làm việc
này. Quan hệ với ngài thị trưởng, một
người lắm mưu mẹo như ông ta, sẽ
khiến chúng ta rơi vào hoàn cảnh bối rối.
Tại đây, cha nghĩ t́nh h́nh
tốt đẹp theo khả năng có thể. Nimes là vùng
cuối cùng khiến chúng ta sẽ bị rối ren, bởi
chúng ta đă có tổ chức đàng hoàng. Chúng ta sẽ ra
sao sau nhục nhă ê chề
này ? Theo cha, cần phải áp dụng trong nước
Pháp điều cha áp dụng cho chính ḿnh, mỗi khi cha
gặp buồn chán. Việc ấy có ích ǵ ? Đó là ư
được hiểu trong tự do về lời thánh Phao
Lồ : Thiên Chúa làm mọi sự đều sinh lợi
ích cho những ai yêu mến Người. Người công
giáo và nhân dân pháp rút ra được bài học ǵ từ
thảm họa vẫn đang c̣n đó ? Cha chỉ t́m
thấy câu trả lời này : sự phục hồi
lại tinh thần ki tô giáo
theo ư nghĩa mà con và cha đă hiểu được khi
đem lại cho Ḍng Mẹ Về Trời dấu
ấn riêng, và nếu chúng ta
đă để cho thác nước cuốn trôi trong chốc
lát, chúng ta buộc phải luôn vươn lên bằng sự
bền bỉ đầy năng lực cho đến
hơi thở cuối cùng.
Theo
nguyện vọng của cha, nếu Thiên Chúa chúc lành cho ḍng
Mẹ Về Trời, có nghĩa là chúng ta tiến
đến một trong những giây phút long trọng
nhất của giai đoạn phát triển ban đầu.
Đó chính là niềm tin sâu sắc nhất trong ḷng. Việc
nhiều người con trong ḍng của cha đă chịu
đựng không ít thử thách và môt số con cái trong ḍng
của con đă có thể chứng kiến thảm họa
Sedan đối với cha là một hồng ân bao la. Hôm qua
một kỹ sư trẻ nói với cha : « chúng con vừa tham
dự cuộc tranh đấu v́ hai mươi năm
lười biếng, ăn chơi và trụy lạc
để đổi lấy hai mươi năm học
tập và lao công ». Cha cảm nhận sâu sắc
điều ấy. Nên dành ḷng ham mê làm việc và rao
giảng điều này cho con
cháu, cho mọi người. Bằng cái giá ấy, cha tin
rằng nước Pháp có thể chỗi dậy và ǵn
giữ sứ mệnh trong Giáo Hội Thiên Chúa bằng tính
khắc khổ, sự hy sinh, miệt mài đấu tranh
chống lại tư tưởng xấu. Rút cục chúng
ta thấy tư tưởng như vậy dẫn
đưa về đâu ? Cha tin sẽ có hai xă hội
được h́nh thành và chúng ta làm việc để xây
dựng xă hội ki tô giáo.
Cha mong sớm gặp con và cha con sẽ nói chuyện. Cha
muốn biết khi nào hai cha con sẽ có thể gặp nhau.
Cha chưa hề rời khỏi Nimes, mặc dù có rất
nhiều dự tính. Thế nhưng, cha buộc phải
vắng nhà vài ngày. Cha không muốn vụng về v́
thiếu vắng con và v́ không thể thực hiện
ước mong của con mọi lúc khi con sẽ ghé qua
đây thăm cha. Cha không hiểu v́ sao, giữa bao khổ
đau tràn ngập chúng ta, cha hy vọng rất nhiều
về bao việc chúng ta phải làm, và cây nhỏ bé của
ḍng Mẹ Về Trời phải phát triển và phát sinh nhiều hoa trái tốt
nhất, dầu ở giữa
giông tố khủng khiếp. Tạm biệt con. Ngh́n
lần thuộc về con trong Chúa chúng ta ».
Thư
gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, theo thư của cha d’Alzon,
tập VIII, nxb. D.D., trang. 503-504
Trong
suốt « năm khủng khiếp » 1871, điểm
dừng chân yêu thích trong cuộc đời cha d’Alzon, đó
là ngày lưu nghỉ đầu tiên rất được
biết đến tại ngôi nhà mang tên Đức Bà Châteaux
ở miền Savoie (tháng 8 năm 1871). Trong thời gian
lưu nghỉ nơi đây, cha sẽ mở trường
học nội trú đầu tiên (alumnat) như cái nôi
của phương pháp sư phạm có nét giống với
các trường đào tạo cho hoạt động tông
đồ. Ngôi trường đầu tiên này của ḍng
sẽ đi vào lịch sử ḍng Mẹ Về Trời
trong chừng một trăm năm.
Ngôi nhà nằm chót vót trên núi
cao, được xây dựng thời trung đại và
đă từng có sự hiện diện của các tu sĩ
ḍng Đa Minh. Cha Désaire làm môi giới để biến nơi
này trở thành môi trường đào tạo của ḍng
Mẹ Về Trời, sau những năm tháng ẩn tu
của linh mục phụ tá Martinet. Cha d’Alzon thích nơi này
và nhất quyết dựng một ngôi trường
kiểu mẫu với tên gọi được h́nh thành
từ một từ mới : trường học nhà
ḍng (Alumnat), một môi trường học pha lẫn tính
chiêm niệm trên vùng núi cao, vừa mang tính lịch sử,
vừa mang tính thiêng liêng, đồng thời cũng là
nơi để giúp giới trẻ học hỏi
đời sống tu tŕ trong Giáo hội và đào sâu, tích
lũy kiến thức, học lao động chân tay và công
tác tông đồ.
Các
thể thức có thể sẽ được biến
đổi tùy theo thời kỳ, nhưng ta có thể
nhận thấy những thành phần chung cho nền
tảng thành lập các trường học của
ḍng : không khí miền quê, xa các trung tâm dễ lôi cuốn
làm biến chất thành thị, giới trẻ xuất thân
từ gia đ́nh rất b́nh dị được dẫn
vào nhiều công việc khác nhau ban đầu, một
cuộc sống theo kiểu gia đ́nh nhưng bị tách
khỏi môi trường gia đ́nh chính cống nhằm
tạo dấu ấn liên tục trong việc tiếp xúc
với các tu sĩ, với mục đích nhào nặn họ
quen dần với các vị tiền bối trên con
đường dâng hiến, một mạng lưới
tổ chức ân nhân, dưới sự bảo trợ
của Đức Bà Ơn Gọi ( Notre-Dame des Vocations), tham gia
tiền dâng cúng vào việc mảo hiểm nuôi dưỡng
mầm mống ơn gọi linh mục và tu sĩ. Sau khi
học xong, các bạn trẻ hoàn toàn tự do chọn
lựa con đường cụ thể để dấn
thân trong Giáo hội. Đức Bà Châteaux h́nh thành nên khuôn mẫu
độc đáo với một trực giác vượt
hẳn con người cha d’Alzon : từ lâu, các tu sĩ
thao thức ngài để tiếp cận các tầng
lớp thường dân hơn là các tầng lớp trong
học đường để t́m kiếm ơn
gọi : một số thử nghiệm tương
tự, có nét giống với các trường học
của ḍng chiêm niệm thời Trung Đại, trong đó
thử nghiệm của cha Foresta, cha ḍng tên, đă ra
đời. Tuy nhiên, thể thức ḍng Mẹ Về
Trời về trường học tạo ra vài nét
mới : đó là tiếp nhận lối hoạt
đông tông đồ mới trong cấp bách rộng mở
để tiếp cận các tầng lớp thường
dân từ sau năm 1870. Cha Pernet và cha Halluin trong số các
cha khác, là những người đă chỉ cho thấy
một con đường đầy hứa hẹn :
tái tạo ki tô giáo cho dân chúng bằng cách tạo ra cho
giới trẻ con đường đi thích ứng
với những dạng dấn thân và phục vụ trong
Giáo Hội.
«Đức
Bà Châteaux ngày 23 tháng 8 năm 1871
Con
yêu quí,
Cha
muốn viết lá thư đầu tay cho con tại ngôi nhà
mang tên Đức Bà Châteaux. Con hăy tưởng tưởng
rằng bên cạnh cái g̣ nhấp nhô, chú gà trống chỉ
là hang chuột ủi. Cha trông thấy bốn thung lũng
thật tuyệt vời : tại hướng nam, có hàng
cây thông rất dài, cách ngôi nhà Đức Bà Châtêaux độ
bảy hoặc tám cây số ; phía sau, có đỉnh núi
mang h́nh nón. Phía sau đỉnh đồi này, tối nay,
mặt trăng cho mọi người nơi đây có
cảm giác là kẻ ăm trộm. Phía bên phải, thung
lũng Villars và Alberville tuyệt đẹp. Đáy của nó
được vạch ra bởi Doron. Về phía bên
phải một chút, thung lũng Araiches là phần cuối
của những dăy núi luôn luôn có tuyết đóng băng, hôm
qua, cha đi dạo với cô gái chăm nom 170 con ḅ cái
tơ nơi đây. Hướng về bên phải hơn
nữa, lúc này vẫn c̣n thấy Beaufort, nhiều cây thông và
đỉnh núi đầy tuyết cũng như các h́nh
dạng núi không thể sánh ví được. Cuối cùng,
hướng về phía Bắc, ta thấy thung lũng
Hauteluce. Mọi thứ đều đáng ngưỡng
mộ và tuyệt diệu.
Nếu
mua các ngôi nhà bằng gỗ nơi đây, chúng ta tuyệt
đối phải đến tận nơi. Sáng nay, cha
đă dâng lễ cầu nguyện cho Đức Thánh Cha, nhân ngày
Ngài kế vị tông ṭa thánh Phêrô. Ngày mai, cha sẽ khai
mạc tuần chín ngày cầu nguyện cho con. Sau đó, cha
Pierre sẽ kết thúc việc này. Cây cối nơi đây
nhiều vô kể ! Cây thông, các đồng cỏ,
rừng cây mênh mông ! Không khí ! Sữa ! Sảng
khoái ! Cha nghĩ sẽ sớm bắt đầu
nhận giới trẻ tại đây. Năm nay sẽ
nhận khoảng mười hai người, rồi sau này
sẽ nhận thêm. Cứ dân dần như thế, nếu
cần, chúng ta sẽ xây thêm nhà. Con hăy cầu nguyện
tốt để Thiên Chúa chúc lành cho thiện ư này của
chúng ta và để xin Thiên Chúa tăng thêm thiện ư cho chúng
ta.
Tạm biệt con. Cho cha có
lời chào tới bạn đồng hành của con và
tới các Nữ Tu Tận Hiến. Cha luôn nghĩ
đến con và luôn là một người cha của con
trong Chúa chúng ta.
E. d’Alzon
Cha viết thư trong khi
tay c̣n đau lắm».
Thư cha d’Alzon gửi Cô Louise Chabert, theo nxb.D. D., tập
IX, 1994, trang.165
Năm
1872, cháu trai cha d’Alzon lập gia đ́nh với cô Clotilde de
Quinsonas. Lễ cưới được cử hành
tại Paris ngày mồng 1 tháng 8 và do cha Picard chúc lành v́ cha
d’Alzon lúc ấy rất bận không thể đảm trách
việc này. Là chú và cũng là linh mục, cha d’Alzon rất
vui về sự kiện này của cháu trai. Cha đă không
vất vả t́m kiếm mọi nơi để cháu trai có
một hướng chọn lựa tiện lợi hơn,
cho dù cha đă từng viết cho một tu sĩ nói
rằng : «cha chúc mừng con không lập gia đ́nh,
cha đă dại dột dính líu vào chuyện này, tại
đây, trong cảnh khổ cực này, cha rất hối
hận ». Có thể nói rằng trong lĩnh vực
này, cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, cha d’Alzon
chỉ mong t́m hạnh phúc cho những người do cha
hướng dẫn và cũng có khi cha đưa ra những
yêu cầu mà chính cha cũng không luôn nêu gương ! Cha
d’Alzon đă giới thiệu rất nhiều đối
tượng cho em gái Augustine, nhưng Augustine không chấp
nhận ai cả! Từ ngày em gái của
cha qua đời, Bà bá tước Marie de Puységur, năm 1869,
cha d’Alzon vội vă t́m cho cháu trai một người bạn
để kết thân, trong khi cháu chưa cảm thấy
gấp gáp chút nào. Chính v́ vậy, Vị Tống Quản giáo
phận Nimes có lẽ đă ngơ ư với một người
họ hàng của Mẹ Marie-Eugénie de Jésus. Cô ấy tên là
Valentine Milleret d’Omiécourt, cháu gái riêng của bà Esgrigny. Đây là
gia đ́nh rất thân với cha d’Alzon.
Thế
nhưng, số phận lại quyết định cách
khác. Một người khác dưới sự hướng
dẫn của cha d’Alzon, đó là bà Antonin de Chaponay. Bà
giới thiệu với cha d’Alzon gia đ́nh Quinsonas. Sau
nhiều cuộc mặc cả và thương lượng
xứng với những câu chuyện trong các tuyểu
thuyết bậc nhất của Balzac. Sự việc này
đạt đến kết cục tốt vào năm 1872.
Thời đại chúng ta ngày nay rất lạ với năo
trạng hoặc tập tục này của cha ông. Một
tập tục có người đứng ra bảo tŕ và t́m
người kết hôn cho người khác, ít ra trong
phần hành tinh của Châu lục. Chuyện t́nh cảm
thường tránh khỏi những mánh khóe hoặc những
mạng lưới của gia đ́nh cũng như của
bè bạn. Chuyện t́nh cảm sâu kín không hẳn bị
vướng víu trước của cải hoặc phẩm
chất bản thân. Mỗi thời mỗi phong tục khác
nhau. Tóm lại, chắc hẳn việc kết hôn giữa
Jean và Clotilde kết gắn một con đường
hạnh phúc mà cha d’Alzon cảm nhận theo cách riêng của
ḿnh trong lá thư gửi bà Chapony vào tháng 4 năm 1877 : «Vậy
là cặp t́nh nhân hạnh phúc như ngày đầu gặp
nhau và có thể c̣n hơn thế nữa. Chúng
được như vậy là nhờ có bà. C̣n tôi, tôi
rất biết ơn bà ».
Đúng là Clotilde trở
thành người được cha d’Alzon nhận c̣n hơn
là người cháu nuôi. Clotilde tiếp tục truyền
thống hiếu khách rộng răi của ḍng họ d’Alzon và
Puységur ở Lavagnac. Minh chứng về những đề
xuất hôn nhân, lá thư này không được biết
đến trong quảng thời gian hơn một trăm
năm và có thể được cha d’Alzon viết vào tháng
4 năm 1869 :
« Thưa bà, những đề
xuất của bà rất đẹp, có thể nói là quá
đẹp nữa. Tôi sẽ trả lời bà với tư
cách một người đặt niềm tin tưởng
nơi bà và tôi sẽ nói với bà về mọi bất
tiện từ phía cháu trai tôi.
Trước hết, tôi không
thể biết chắc chắn tài sản của cháu trai
khi cháu chưa giải quyết xong với em gái, nữ tu
ḍng Cát-Minh. Tôi đang thương thảo về việc
này. Thế nhưng, tôi nghĩ cháu sẽ có khoảng 60
đến 70.000 ngàn quan từ công trái, c̣n nhiều hơn
tổng số tiền từ đất đai. Chút gia
sản do mẹ cháu để lại rất có khả
năng sẽ thuộc về em gái.
Jean mới bị té ngă. Mắt cháu
đă không được khâu tốt. Khi cử
động, mắt cháu không đươc dễ chịu
lắm. Khi mới mười tám tháng tuổi, cháu đă
bị viêm mắt. Cơn nóng miền nam vẫn c̣n làm cháu
mệt mỏi. Ngoài chuyện ấy ra, sức khỏe
của cháu rất tốt. Cháu không phải là một người
siêng năng kinh lễ. Cháu mừng lễ phục sinh
thật nghiêm túc. Từ ngày mẹ cháu qua đời, chính
bản thân cháu lo việc kinh nguyện cho những
người phụ việc trong gia đ́nh tại nhà
nguyện của lâu đài. Càng ngày, cháu càng ăn sâu trong ư
tưởng ki tô giáo và công giáo. Tại gia đ́nh, cháu làm
việc nghiêm chỉnh từ hai năm nay.
Cháu rất có hiếu với
mẹ. Cháu ước muốn một ngườ vợ
giống mẹ và có thể kế tiếp những công
việc của mẹ. Cháu sẽ cần đến một
người vợ thông minh. Tính t́nh của cháu rất tuyệt.
Về vấn đề này, bà không cần tham khảo ư
kiến của bà con họ hàng cháu. Mọi người
đều không ưa cháu. Tôi muốn nói đến
những người như bà Malbosc mà có lẽ bà đă
biết ở Alais.
Hằng ngày, có nhiều đề
xuất làm chúng tôi phải bật khóc. Tôi giám nói rằng
trong tất cả mọi đề xuất, đề
xuất do bà có thiện ư chuyển cho tôi làm tôi thỏa ḷng nhất bởi
v́ chính bản thân bà đứng ra bảo lănh.
Kính thưa bà, xin bà vui ḷng cho tôi
biết những do dự của bà, v́ tôi muốn biết
chắc chắn những điều ấy bằng một
con đường khác và tôi thích được chính bà cho
biết hơn. Tôi đă nghe nói tên của người
bảo lănh cho đương sự. Lúc này, tôi không nhớ
ra. Bà biết đấy, chúng ta hăy cùng nhau tiến
bước nhé, tôi đồng hành cùng với bà. Mong bà vui
ḷng cho tôi biết t́nh h́nh sức khỏe của
người trẻ ấy. Cháu Jean sẽ không hề
biết ǵ về tôi. Tôi đă nhượng bộ hết
cho mẹ cháu mà tôi xin để phần có lợi cho bà
ấy. Thưa bà, xin bà nhận ḷng thành kính sâu thẳm và
sự nhiệt tâm đầy ḷng kính trọng của tôi.
E.
d’Alzon
Tái
bút : Cháu Jean có một vài tiện lợi nhưng chưa
nhắc đến. Cháu sẽ có độ một trăm
nǵn quan.
Tôi
đi Vigan. Xin bà vui ḷng hồi âm cho tôi theo địa
chỉ này. Tôi đưa ra mọi kế hoạch khác trong
bốn mươi ngày. Tất cả những ǵ bà muốn
đề xuất luôn được hân hoan chào đón.
Người ta hứa là tôi sẽ có thể gặp Pierre vào
cuối tháng bảy. Bà làm ơn nói với Pierre là Pierre
trả lời tôi quá trễ.
Tôi
không có tiệc vui ǵ trong thời gian cháu tôi có tang gia ».
Thư mới của cha d’Alzon gửi
bà Chaponay, ngày 26 tháng 4 năm 1869, theo A. D. Rhône
Tháng
9 năm 1868, cha d’Alzon nhận vào Hội Ḍng một linh
mục của Pas de Calais, cha
Henri Halluin. Cha Halluin là người sáng lập một trung
tâm dành cho trẻ em mồ côi mà cha đang t́m người
bảo đảm để duy tŕ lâu dài sau thời ḿnh.
Chính cha Picard là người giới thiệu cha Halluin cho cha
d’Alzon trong bức thư rất chi tiết ngày 13 tháng 8
năm 1868. Nhà tập tạm thời ở Vigan
được khai mở ngày 16 tháng 9 năm 1868 với
mục đích đảm nhận trung tâm mồ côi, do cha
Edouard Hermant tạm quyền đảm nhiệm. Ngay
giữa tháng 11 năm 1868, có việc cấp bách phải
làm : trại mồ côi Arras buộc cha sáng lập Halluin,
lúc này đang là tập sinh, và cha d’Alzon phải nhanh chóng
lập một cộng đoàn
tại đây, gồm có cha Pierre-Baptiste Morel, thầy
Vital Martin và thầy Joseph Mobon cùng với cha sáng lập
vừa trở thành tu sĩ của ḍng : « chúng ta
vừa nhận đảm trách một trung tâm mồ côi
gồm có 300 em trai ở Arras…Việc này là nhờ công lao
của một vị thánh, đó là cha Halluin. Ngài đă
sống bảy năm nhờ ăn thừa món xúp của
quân lính để lập nên công tŕnh này. Cha hy vọng
rằng chúng ta sẽ có được nhiều
người theo ơn gọi làm thầy cần vụ trong
số các em nơi đây ». Đây đó, nếu gặp
khó khăn tạm thời để đảm bảo
một bộ khung đầy đủ và đảm
bảo chất lượng bên cạnh trẻ em mồ côi
mới tập tễnh học hỏi, làm quen đời tu,
Ḍng Mẹ Về Trời biết đầu tư nhân
lực của nhà ḍng vào công tác xă hội tuyệt vời
này, trong khung cảnh Tỉnh Ḍng Paris kể từ năm
1923. Đây là công tác xă hội
từ hơn một thế kỷ nay. Chỉ cần nêu tên
các cha Jean-François Pautrat, Félix Ranc, François-Xavier Legrand, Wandrille
Rocchiccioli, Eustache Pruvost, Vincent de Paul Grimonpont hay c̣n có
thầy Jean-Baptiste Sénéchal. Năm 1978, không phải không
đớn đau khi ḍng Mẹ Về Trời rút khỏi
mảnh đất hoạt động và khỏi cái
được thua trong công tác tông đồ này. Công
việc này chuyển sang D.D.A.S và rời thành phố Arras
để chuyển đến miền quê Rumeaucourt. Một số tu sĩ trong đó
có cha Alois Steegen làm việc nơi đây nhưng chỉ
trong giới hạn khả năng cho phép. Sự hiện
diện của họ được đánh giá cao về
mặt thiêng liêng. Việc đảm nhiệm trung tâm
mồ côi ở Arras mang tính báo hiệu trong lương tâm
của ḍng Mẹ Về Trời, bên lề những năm
1860-1870, với ḷng khao khát và thiện ư hoạt động
tông đồ phong phú hơn. Từ những năm 1930,
mỗi Tỉnh ḍng ở Pháp đảm nhiệm một
công tác mang tính xă hội và quần chúng : Arras, Douvaine,
Toulouse Grande-Allée. Thật thú vị đọc bài viết
này của cha d’Alzon trong giai đoạn cha khám phá một
thực trạng xă hội mà những chọn lựa và
nguồn gốc xuất thân của cha không chuẩn bị
cho việc ấy chút nào. Những ḍng chữ này của cha
d’Alzon chỉ cho thấy có hơn một nét đặc thù,
những miêu tả đầy bi thảm trong các tiểu
thuyết theo chủ nghĩa tự nhiên của Zola :
«Paris
ngày 10 tháng 8 năm 1872
Các
con yêu quí,
Người
Mẹ nhỏ bé tốt lành của các con viết thư cho
cha biết rằng những kỷ niệm cha gửi
tặng đă làm hài ḷng các con. Cha muốn tăng thêm
niềm vui noi các con khi viết thư cho chính các con, hơn
nữa cha có chuyện kể cho các con từ đó chúng ta có
thể rút ra bài học rất thực tiễn. Cha đă
đi thăm ngôi nhà của cha Halluin ở Arras. Cha không
kể thêm cho các con nữa, cho dù cha có thể nói nhiều
điều về sáu nữ tu sĩ hiện diện
tại đó và họ làm việc như hai mươi
bốn người vậy. Cha cũng không bàn về các nam
tu sĩ, v́ rằng nếu họ có thể bị các con lên
án, họ c̣n phải chịu điều đó hơn
nữa đối với cha, với tất cả mọi
gian truân, mệt nhọc, và khổ đau họ phải cam
chịu. Nhưng này đây. Ngày hôm sau khi cha đến
đây, cha Halluin dẫn các cha đến Brebis. Brebis là
một khóm nhà thợ mỏ. Danh từ khóm nhà thợ
mỏ bắt nguồn từ chữ corona. Coron là dân
thợ mỏ do chính quyền tổ chức. Tất cả
nhà cửa đều giống nhau. Bốn gia đ́nh dùng
chung một cái giếng, nơi nghỉ ngơi dành cho tám
hoặc sáu người trong những góc nhỏ, có
vườn tược dành cho mỗi gia đ́nh. Ở khu
trung tâm là nhà quản lí do thầy Boulet phụ trách. Có
mười một trẻ em mồ côi. Sáp tới con số
này sẽ tăng lên năm mươi. Các em mồ côi này và
tất cả trẻ em trong vùng được phân làm hai.
Một lớp vào vùng mỏ lúc 5 giờ sáng và ra về
nghỉ lúc 3 giờ chiều ; lớp khác vào lúc 3
giờ chiều và cha không biết mấy giờ các em được nghỉ ngơi
nưă. Các em mặc quần áo vải, đi chân
đất, đầu đội cái băng bằng da
thuộc để treo đèn khi làm việc. Trai cũng
như gái cùng nhau xuống hầm mỏ. May thay,
người ta phân chia các em hầu như khắp nơi.
Trong hầm mỏ, các em thường phải làm việc
côi cút, phải kéo xe, phải vâng lời các công nhân dù họ
không đối xử tử tế với các em. Các em
kiếm được 15, 20, 30, 45 xu mỗi ngày. Ôi
đời sống kham khổ quá ! Có nhiều hầm
mỏ lắm. Ban đêm, các em đi làm trong tuyết và giá
lạnh ; mùa hè th́ đi làm dưới mưa (ở
đây trời luôn đổ mưa). Đi làm về, các em
ướt rũ rượi như tắm ḿnh trong bể.
Cuộc sống của các em là thế đó. Cha đă
thấy các em ở bàn ăn : nhiều em không có dép
đi. Cha thấy trong số các em, có con của một
người mới bị chém cổ và cha Halluin đă nhanh
tay nhận về nuôi. Cha suy nghĩ nhiều và nhận
thấy rằng đời sống tu tŕ của cha
đỡ khổ hơn nhiều và cả đời
sống của các con, các con ạ. Khi đi hoặc khi
trở về trên đường sắt ở Brebis, cha
trông thấy những em nhỏ này chạy băng qua cánh
đồng. Một số lúc 3 giờ phải xuống làm
việc cả đêm trong hầm mỏ ; số khác
đang trên đường trở về, áo quần
ướt đẫm tả tơi. À ! Sao Chúa Tốt
lành cho chúng ta được may mắn thế ! Đôi khi,
các em chết trong hầm mỏ. Cách đây không lâu, có chín em
mất mạng cùng một lúc cách bất ngờ. Tạm
biệt các con. Cha không đọc lại, người ta
quấy nhiễu cha ».
Trích theo Những
bức thư, tập IX, nxbD. D., 1994, trang.413 gửi Các
Nữ Tu Tận Hiến Ḍng Mẹ Về Trời ở
Nimes.
Những
năm 1870 ch́m ngập một bầu khí thiếu niềm
tin và tràn đầy lo sợ trước viễn cảnh
tương lai không sáng sủa ǵ. Nền linh thao công giáo lúc
bấy giờ phổ biến một tâm tưởng
về « ngày tận thế », dựa theo những
tham khảo trong Kinh Thánh và thần học. Việc này làm
vang vọng với cường độ mạnh những
chủ đề về sự đền tội, về
việc cần thiết sám hối ăn năn tập thể,
từ tội nguyên tổ cũng như tội trong
lịch sử xuất hiện nhiều gương mặt
tái diễn như Cuộc Cải Cách, Chủ nghĩa
thời kỳ ánh sáng và những sự biến đổi của
chúng, cuộc Cách mạng, và từ một thế hệ
tận căn không thể miễn trừ bằng những
nghi lễ ăn năn công khai. Nhằm giải đáp
những « bất hạnh của thời đại »,
từ các bài diễn văn về thời tận thế,
xuất hiện h́nh ảnh một Thiên Chúa trả thù đă
trừng phạt thủ đô Paris, Babylone mới. Nền
vũ trụ học tôn giáo này t́m thấy những dấu
chỉ của niềm hy vọng trong sự sinh sôi nảy
nở những dấu chỉ kỳ lạ trong các câu
chuyện về việc hiện ra, về thông điệp
của các ngôn sứ, những điều bí mật đang
chờ ngày lộ diện và đang thu hút đông
đảo dân chúng, vốn ṃn mỏi trông mong
được chữa lành, được ơn trở
lại, nhờ sự phát triển của ngành
đường sắt, về nhiều nơi thờ phượng,
mới hoặc được tu bổ lại. Giống
như một h́nh thức của những người theo
thuyết ngh́n năm lan tỏa, khi dựa vào những
lời rao giảng về Trinh Nữ Salette (Vierge de la
Salette) năm 1846. Trinh Nữ khóc lóc, làm tràn ngập vào cánh
đồng tu sĩ nhiều phỏng đoán, nhiều lư
giải tạo đà để lật đổ trật
tự chính trị và trật tự xă hội sinh ra từ
thảm họa. Trong ḷng cuộc đấu tranh to lớn
được nối kết giữa sức mạnh
thần thánh và sức mạnh của con rồng, hiện
ra gương mặt của con người quan pḥng, Henri
V, đối với những người theo chủ
nghĩa chính thống, bởi v́ sự trừng phạt
của Thiên Chúa cũng mang giá trị cứu độ mà
Mẹ Maria là gương mẫu trung gian tuyệt hảo. Cha
d’Alzon không lạ với lối tái sinh thiêng liêng, với
nền văn hóa theo kiểu ngôn sứ, với những
chân trời của ngày cánh chung này. Chúng ta chỉ ra
được nhiều dấu vết trong bức thư
cha viết cách riêng năm 1873. Vị ngôn sứ giả
tạo được gọi là Chardon và được cha
d’Alzon đặt cho biệt danh « tên phù thủy »
trước khi được gọi cách nghiêm túc hơn
năm 1880 với tên Don Bosco. Những lần hiện ra do
cha kể lại ngày càng tăng năm 1873 : với Kruth
ở nước Đức, với Batignolles tại Paris,
với Marie-Julie Jahenny trong giáo phận Nantes. Địa
điểm hành hương rao giảng của cha d’Alzon,
ngoài địa danh thân quen ở Rochefort, dường
như là tại một ngôi làng nhỏ ở miền Espérou,
nơi đây có nhiều phép lạ chữa lành bệnh
tật, nhiều người ăn năn trở lại và
cũng có nhiều ngươi quyết định từ
bỏ. Chúng ta hăy ghi lấy lời đánh giá nhẹ nhàng
hoặc đầy khôn ngoan trong phần kết : « cha
nhận thấy mọi lời ngôn sứ trong nhữg
năm qua được chu toàn, nhưng những lời
ngôn sứ về những năm trong tương lai không bao
giờ được thực hiện », phải
chăng đây là dấu dăn nhịp của niềm hy
vọng được tập trung trở lại ?
«Vigan ngày 7 tháng 7 năm 1873
Bạn thân mến, tôi chỉ có
thể diễn tả niềm vui mà bức thư của
bạn đă mang đến cho tôi đề ngày mồng 3
về những cuộc hành hương, về sự
rụng rời của tổng giáo phận, về việc
lập tạp chí chuyên về các cuộc hành hương,
về việc chọn lựa các giám mục và về
việc lập các trường đại học. Chúng tôi
sẽ cung cấp cho bạn những người
đặt mua và sẽ gửi cho bạn nhiều câu
chuyện. Tôi sẽ viết thư cho cha Joinain, ngài là cha
tuyên úy tại bệnh viện, là người điều
khiển công tŕnh Đức Bà Salette ở Nimes, để ngài
tổ chức cuộc hành hương cho giáo dân giáo
phận Nimes. Bạn có thể viết cho ngài giùm tôi.
Ngày thứ hai, hai ngàn năm
trăm người hành hương lên đường
đến Lộ Đức. Có lẽ người ta đă
từ chối. Các thập tự giá đă sinh ra một
hiệu quả đặc biệt ở Espérou. Giáo dân tin
lành đến đây khá đông. Vậy nhưng, khi từ
chối cây thập tự giá, người ta có lẽ
biết nhận ra ai là người công giáo và ai không
phải là người công giáo. Năm tới, dự
đoán giáo dân tin lành sẽ vắng rất nhiều. Đôi khi,
có những người, không chậm trễ hơn quá
khứ, đă phó dâng con cái cho Thánh Nữ Đồng Trinh, và
hứa sẽ đem chúng đến Espérou ba năm
liền. Cha tin Espérou là nơi được thiên
định để người lạc đạo có
được ân sủng quay trở về với Chúa. Tôi
sẽ đi nghỉ ngơi hầu như đi tĩnh tâm
trong ba tháng. Tôi thực sự mỏi mệt rồi,
đặc biệt tôi cần nghỉ ngơi. Mong bạn
nói với cha Picard rằng số tiền 300 quan của ngài
tôi đă nhận được. Chúng tôi đă có
được hai người rất giỏi : Gustave
Goubier và giáo sư M. Golfin. Xin bạn chỉ truyền
lại điều này cho cha Picard mà thôi. Chúng tôi trao áo cho
giáo sư Golfin ngày 14 tháng 8, c̣n Gustave sẽ chờ một
thời gian nữa. Chúng tôi cũng trao áo cho Bachelier
(thầy Edouard) và cho Romanet (thầy Michel). Hai người
ở Lâu đài sắp đến đây. Cha Hippolyte c̣n
giữ hai người cho đến tháng 10.
Bạn quí mến, tạm biệt
bạn trong t́nh thân ái.
E. d’Alzon
Bạn cũng vậy, xin bạn
kiếm ơn gọi cho chúng tôi. Ngày mai, bạn sẽ có
chuyện kể về chuyến hành hương Đức Bà
ở Espérou ».
Trích theo những Bức thư,
tập X, nxb. D. D., 1994, trang. 68-69
Việc
kế ngôi giám mục Henri Plantier, qua đời ở Nimes
ngày 29 tháng 5 năm 1875, mở ra cho cha d’Alzon một giai
đoạn cực khó khăn. Cha cảm thấy khó
chịu khi không được chọn làm Tổng Quản
chính thức, như thời kế vị đức giám mục
Cart năm 1855. Ngài chịu đựng một hiện
tượng hao ṃn, tương đương với
sự vứt bỏ, của những thành phần bị
ảnh hưởng bởi giới tăng lữ
địa phương trong đó có vị giám mục
tương lai Gilly.
Trong
khung cảnh thỏa ước lúc bấy giờ, việc
chọn cử giám mục khiến phát sinh nhiều cuộc
bàn thảo giữa các thành phần như đoàn sứ
thần ṭa thánh, đoàn giám mục, ṭa đại sứ và
bộ trưởng về việc thờ cúng. Mỗi thành
phần đại diện này
đến lượt ḿnh đều quay về với băi
bồi địa phương : các phạm vi của triều
chính Toàn Thánh và của ṭa đại sứ Rôma, các bạn
hữu, tham khảo qua ư kiến giám mục và tăng
lữ, tỉnh trưởng, đại biểu… Những
tiếng đồn, những mặc cả, và những
định lượng mà Chúa Thánh Thần chắc hẳn
phải phân bố cách khôn khéo trong ngoại giao, đều
sinh ra từ công việc thăm ḍ ư kiến và việc
điều tra luôn gây sự chia rẽ này ! Cha d’Alzon
không phải là người cuối cùng lên tiếng, cho dù,
cùng với năm tháng, tiếng tăm về chủ
nghĩa tuân phục một ḿnh giáo triều Rôma cách vô khoan
nhượng có lợi cho cha ở Rôma, nhưng có hại
cho cha ở Paris. Ta biết rằng đối với chính
ḿnh, cha d’Alzon, có thể trở thành giám mục từ
năm 1848, nhưng cha đă tự nguyện từ chối
chức vụ này trong Giáo hội khi cha đă âm thầm
tuyên hứa đức khiêm hạ trong chức linh mục
ngay năm 1844 tại Nhà nguyện ở Turin. Nhưng
mối quan hệ của cha với các đại diện
sứ thần ṭa thánh liên tục ở Paris, Fornari, Garibaldi,
Sacconi và Chigi, đă biến cha trở thành một ứng
viên được phép thăm ḍ, t́m hiểu tin tức
về vấn đề kế vị, những khiếm
khuyết và những việc chuyển đổi giám
mục. Ư kiến của ngài có thể không luôn
được chính phủ để ư đến
nhiều, nhưng lại thường được
sứ thần ṭa thánh quan tâm. Một khi tên được
dữ lại, ứng viên được nhiệm mệnh
ở Rôma trước khi được đăng lên Báo
Chính thức. Sau đó là lễ tôn phong, thụ chức
chính thức…
Năm 1855, cha d’Alzon rất
ngạc nhiên được đón tiếp ở Nimes
Đức Cha Plantier, một giám mục nổi danh gallican. Sau
cử chỉ đày bực tức, Đức Cha Plantier đă
chấp thuận hợp tác với một người
tỏ ra thực sự chỉ đứng về phía giáo
triều Rôma. Năm 1875, ngài tỏ sự ân cần với
những thành kiến có vẻ hơi nịnh hót, sự
chọn lựa của Giám Mục Besson, được xét
đoán là khôn ngoan nhưng cũng đầy tham
vọng. Nhưng đặc biệt lần này, cha d’Alzon
cảm thấy bị nghi vấn trong chức vụ
tổng quản do ngài đảm nhiệm từ năm
1839 : vị linh mục trẻ này tạo nguồn
đổi mới ; lớp tăng lữ có tuổi chia
rẽ, sẵn sàng đặt lại vấn đề xem
xét lại những giải pháp làm việc cần cù trong
cách quản lí trước đây (tính không thể băi
miễn trong một số chức vị,…). Cha d’Alzon
đưa ra quyết định : sau một thời
hạn cần thiết để tiếp tục trọng
trách này, cha sẽ nộp đơn xin từ chức. Năm
1878, cha được đồng ư không đảm trách
chức tổng quản nữa.
«Ṭa Giám Mục Nimes, Nimes ngày 22
tháng 6 năm 1875
Cô
ạ,
Những
ngày này tôi muốn viết thư cho cô và tôi cám ơn cô
đă làm việc này trước cho tôi. Thật không may,
đáng buồn khi con người quá nhanh chóng bị
quên ! Đó là vị giám mục già nua của tôi nay không c̣n
ai nghĩ đến nữa. C̣n về Đức Cha mới,
tôi đă nhờ các vị đại biểu chính trị
tŕnh lên bốn chọn lựa rất tuyệt, nhưng
tất cả đều bị ngài từ chối. Tôi không
sợ ngài Belville lắm. Để không nhường cha Gervais,
người ta đă biện lí do là ông ấy xuất
xứ ở Bordeaux, và v́ người ta mới nhận cha
Fonteneau tại đó. C̣n Đức cha Besson, tôi không thích cho
lắm, nhưng cô hăy tưởng tưởng một
Kỳ Họp tự cho là theo chủ nghĩa chính thống
và chỉ tuân phục theo giáo triều Rôma phải hỏi
ngài M. d’Hulst ? Đúng vậy, các cha phụ tá muốn có cha
d’Hulst và t́m mọi cách để có được ngài.
Đối
với tôi, tôi công bố không muốn xin ai nữa, tôi muốn
rút lui, như tôi từng nghĩ đến cách đây 20
năm. Nếu giám mục giáo hội gallican được
phái đến cho chúng ta, sứ thần ṭa thánh có lẽ
muốn như vậy. Đưa những người
đạo đức tầm thường và bất tài lên
chức giám mục, nếu không phải đạo
đức th́ ít ra là đầy mánh khóe, sẽ là vinh quang
của vị giám mục gallican. Fava (Đức Cha Fava) là
một người tầm thường quá mức
đến nỗi ai cũng có thể trở thành. Người
ta nói với tôi về cha Germain de Bayeux, cha Limayrac de Montauban.
A, tôi thú nhận với cô, thật đáng buồn v́
rất ít người có khả năng ! Cách đây ba
ngày, tôi kể trước một tu sĩ Récollet rằng
khi viết thư gửi sứ thần ṭa thánh, tôi đă
thỉnh xin trước muốn có hoặc một
người thật khôn ngoan (thông minh) để chế
ngự người tin lành và cách mạng, hoặc một
người thật thánh thiện để làm cho giới
tăng lữ trở lại. A, vị tu sĩ ấy
đáp lời, tôi thích người khôn ngoan hơn, v́ cái
nghề làm cho các linh mục trở lại là một
nghề của những người làm nghề mọn
kiếm ăn.
Nhưng,
đặc biệt là chúng tôi sắp có giám mục. Giáo
phận tan ră. Hội đồng giữa các linh mục
phụ tá (Chapitre) chọc tức các cha sở ở thành
phố. Các vị này liền viết thư tŕnh Rôma
phản đối những người trong hội
đồng, các cha sở giáo phận do họ thay
đổi không chịu chuyển đến trụ sở
mới. Chúng ta đang rơi vào thời kỳ tháp Baben.
Tôi mừng là anh cô đă ổn
định hơn. Người ta sai tôi đến Bigorre
để lấy lại bĩnh tĩnh đầu óc. Đây
sẽ không phải là môi trường tuyệt vời cho
anh cô sao ? Tôi muốn đi trong thời gian này, nhưng
cơn mưa và giá lạnh làm thay đổi ư định
ấy.
Cô
ạ, mong cô nhận lấy ḷng thành kính trong sự gắn
bó đầy kính trọng nhất của tôi.
E. d’Alzon ».
Thư gửi Cô Elise Veuillot, trích theo
tập. IX, nxb D. D., 1995, trang. 135-136
Năm
1876 đánh dấu một viên đá trắng trong lịch
sử của những mối quan hệ giữa các gia
đ́nh ḍng Mẹ Về Trời lúc bấy giờ. Để
không rơi vào việc nhầm lẫn niên đại luôn
giảm bớt, cần nói chính xác là chúng ta ở thế
kỷ 19 trong sự thiếu vắng giáo luật về
chủ đề này và người ta có xu hướng
cầu viện các Hội Ḍng Rôma để phản
đối việc lấn át từ phía giám mục hoặc
từ phái các giáo sĩ địa phương, khi đ̣i đặc
ân miễn quân dịch cho giới tu sĩ hoặc muốn
đặc tính phân tán v́ lí do quốc tế hóa. Các Hội
Ḍng nữ có bề trên tổng quyền được sáng
lập ở thế kỷ 19 cũng thường dựa
theo cách sinh sống của các Ḍng tu nơi mà phái nam
tương xứng tốt hơn với sự linh thao
của Học viện nữ, nên có thể hỗ trợ,
nâng đỡ, hoặc hơn thế nữa, nếu
muốn, có thể có ích cho đời sống cộng
đoàn. Cần phải biết nh́n nhận tính phức
tạp của hoàn cảnh đặc biệt nào đó,
giữa quyền và bổn phận cần được
tôn trọng của bề trên tổng quuyền, của bề
trên địa phương, của bề trên giáo hội,
của linh mục giải tội hoặc của
người hướng dẫng thiêng liêng, nhất là khi
nói đến 5 hướng có thể đối lập
nhau ! Lịch sử không thiếu những t́nh huống
kỳ quặc ít nhiều cực kỳ buồn
cười hoặc lố bịch… Có sách hoặc chuyên luận
bàn về những chủ đề này làm nổi bật
các quan điểm đối lập…
Năm
1876, điều được đặt ra là phải
giải quyết vấn đề liên quan đến
bốn gia đ́nh ḍng Mẹ Về Trời : các Tiểu
Nữ Tu ḍng Mẹ Về Trời (Petites Sœurs), sáng lập
năm 1865, được yêu cầu chọn người
thích nhất trong số ba người. Cha Pernet hiển
nhiên được các Sơ giữ chọn và
được các cha ḍng Mẹ Về Trời nhất trí,
dù rằng việc này có lẽ đă tạo chút lo lắng
cho các Sơ. Đối với các Nữ Tu Tận Hiến, cái
vẻ hiệp nhất tự nhiên bên ngoài giữa hai
Hội Ḍng cùng một cha sáng lập, tức cha d’Alzon,
vả lại sự hiệp nhất ấy có sự tác
động do sự kết hợp giữa các linh mục
Hội truyền giáo (Lazaristes) và các Nữ Tỳ Bác Ái. Song
điều này không phải vô t́nh, nhất là trong nhu cầu
cấp thiết cho việc truyền giáo tại các lănh
thổ xa xăm. Thế nhưng không phải vô hại khi
nêu ra rằng Maria Correnson năm 1873 v́ muốn có một
trường học ngoại trú ở Nimes, đă không thèm
thông qua ư kiến cha d’Alzon, trong khi cha d’Alzon buộc làm trung
gian giữa các Nữ Tu Tận Hiến và các Nữ Tu ḍng
Mẹ Về Trời về lĩnh vực rất có
thể tạo ra sự tranh chấp này. Và Maria Correnson
tự ư vội vàng xin phép giám mục để
được sự nhất trí dễ dàng. Mặt khác,
năm 1876, trên giấy tờ kư kết sự thống
nhất chỉ đạo và quản lí mà Maria Correnson kư vào,
Sơ không quên ghi thêm « trong thời hạn sáu năm ».
Với các Nữ Tu ḍng Mẹ Về Trời, sự
việc thống nhất có vẻ như « một sự
kiện được nhất trí với nhau » giữa
cha d’Alzon và Marie-Eugénie de Jésus. Sự việc này mang một
âm điệu đầy bất ngờ trước
những đ̣i hỏi của cha Picard và những cuộc
thảo luận của các « Nữ Tu ở Auteuil »
(habitantes d’Autueil) : chưa giải quyết
được ǵ, mọi chuyện được bàn tính
sau.
«Ṭa
giám mục Nimes, Nimes ngày 18 tháng 9 năm 1876
Con yêu quí,
Cuối
cùng cha cũng vừa đọc các biên bản do các con
lập ra tại Kỳ Họp Chung. Giá như cha mở xem
các biên bản ấy sớm hơn, vấn đề
thảo luận được nêu lên trong biên bản do cha
Picard soạn và chép theo đề nghị của các con
đă trở nên vô ích. Với điều mà biên bản
giữ trong hồ sơ của các con, cha thấy không
thể đề xuất cho các con công việc mà
người Cha tốt lành (cha Picard) đă mang về từ
Paris. Vậy, chúng ta hăy giữ lấy mối quan hệ
tốt trong t́nh bạn. Trong ba năm tới, chúng ta sẽ
có Kỳ Họp chung. Từ nay cho đến thời gian
ấy, cha Picard có thể sẽ có thời gian để
hiểu các con hơn, để chuẩn bị việc ǵ
đó nghiêm túc hơn bản khởi thảo do cha kư và
vả lại việc kư vào bản khởi thảo này
tuyệt đối chưa có nghĩa ǵ.
Con hăy nhớ là cha không hề
nổi dận. Con biết rằng trong 25 năm và hơn
thế nữa, cha đă không tán đồng sự thống
nhất này lắm. Chính các con đă ước muốn
như vậy. Nhưng trong thời hạn mà biên bản
định rơ, hiển nhiên là Kỳ Họp của các con
đă không làm được ǵ hữu ích. Nếu không
đ̣i hỏi hơn nữa, sẽ không có cuộc thảo
luận nào, và cha chỉ kư vào phần các con đă thông báo
cho cha M. d’Hulst, v́ con biết rơ rằng việc
được bầu lại hoàn toàn khác.
Cha
xin con đừng nghĩ cha có những cảm tưởng
quá ghê trong lời nói, bởi v́ những điều
được đề cập đến của các con
trong Kỳ Họp đều được các con nhất
trí tán thành, ngoại trừ điều mà người
đại diện các con có thể đă tŕnh bày ở Rôma
và với các giám mục. Liệu chúng ta sẽ có thể
chấp nhận lập trường này của các vị
đại sứ ? Cha không nghĩ vậy, nếu
mọi việc phải ở lại trong mục tiêu
của nó. Làm trung gian trong công việc của các con theo
mặt thiêng liêng có thể là một việc phục vụ
các con, và các cha sẽ hạnh phúc làm việc này miễn là
không đón nhận chính thức một lập
trường quá thấp kém, trong khi vấn đề
đang trên bước đường bàn thảo của
Hội Ḍng Nữ Tu các con. Về điểm này, cha rất
hài ḷng chưa mở hồ sơ của các con trong Kỳ
Họp. Cha Picard đă bảo đảm với cha là
hồ sơ ấy chứa bản ghi lại công việc
của ngài. Những sửa đổi do cha Picard
đề nghị nhấn mạnh theo một hướng
trái ngược với cuộc thảo luận của các
con, có lẽ ngài đă phản đối hơi quá. C̣n
lại, cha Picard xin cha đừng ép ngài nhận
tước hiệu người đại diện. Sau khi
đọc biên bản, cha tuyệt đối không thể
thúc ép. Hiển nhiên, có sự hiểu lầm. Nói khác đi,
để chuyên luận sự việc thống nhất
như một sự việc, cha tự hỏi các con
mời cha chủ tŕ Kỳ Họp của các con th́ có ích ǵ.
Tạm biệt con yêu quí. Cha đang run sợ v́ làm con
đau khổ, khi cha muốn thiết lập rơ ràng t́nh h́nh
của các con và t́nh h́nh của ḍng các cha. Chúng ta hăy
đứng vững trong t́nh bạn tốt đẹp. Về
lĩnh vực này và không có
cuộc thảo luận nào, chúng ta sẽ luôn luôn nhất
trí với nhau.
Con
yêu quí, cha luôn thuộc về con trong Chúa chúng ta
E. d’Alzon ».
Trích
theo Những Bức thư, tập XI, nxb D. D., 1995, trang. 469-470, gửi Mẹ
Marie-Eugénie de Jésus
Mạo hiểm mở các
trường học do nhà ḍng đảm trách (Alumnats),
khởi đầu với ngôi nhà mang tên Đức Bà Châteaux
năm 1871 và ḍng Mẹ Về Trời trợ giúp
đắc lực cách đáng ngưỡng mộ và phát
triển ngay từ năm 1874. Cha Polyeucte Guissard là
người viết tài liệu hồi kư, phác họa
lại sự tạo lập rất nhiều trường
học của ḍng ở nước Pháp cũng như
ở các nước lân cận hoặc xa xôi, những
nơi mà ḍng Mẹ Về Trời chọn lập ḍng, trong
ba phần tư thế kỷ kể từ thời thành
lập.
Thư cha d’Alzon trong những
năm 1871-1880 cho chúng ta biết một vài địa danh và
một số gương mặt của trường ḍng
mà cha chứng kiến tận mắt : ở Lâu đài
(les Châteaux) hai lần (tháng 8 năm 1871, tháng 8 năm 1875),
ở Nimes ngay trong ḷng trường trung học của ḍng
(tháng 4 năm 1874), ở Nice (tháng 12 năm 1874, tháng 1 năm
1875, tháng 4 năm 1877). Măi đến tháng 8 năm 1876, cha
d’Alzon mới t́m hiểu kỹ hơn vùng Clairmarais, nơi
có trường của ḍng lập từ ngày 6 tháng 11 năm
1874 và cha đă từng ghé thăm vội vàng hồi tháng 4
năm 1876. Những ngày lưu lại khác nhau, mang tính
cập rập ấy lại là dịp để cha trao
đổi, và để lại nhiều ấn
tượng tốt trong tâm trí cha, khi cha tiếp xúc với giới
trẻ và họ đă nhanh chóng làm cha kinh ngạc
đến nỗi thán phục và gây nhiều cảm
động trong con người cha.
Dưới
h́nh dạng tập thể hay cá nhân, một số bạn
trẻ đưa ra sáng kiến viết thư, trong đó
dưới những cách cư xử đôi khi có vẻ thỏa
thuận với nhau, thậm chí tỏ ra vụng về, tuy
nhiên lại nổi lên những giọt mồ hôi chứa
ḷng rộng lượng tông đồ mà cha tổ phụ
biết đưa ra và khích lệ bằng cách ướt
đẫm như vậy. Trong khi rất nhiều
người xuất tu làm lung lay hàng ngũ tu sĩ và
tập sinh khiến cha phải đón lấy không ít trách
cứ cay đắng không đào tạo đầy
đủ đời sống thiêng liêng trong ḍng Mẹ
Về Trời, cha d’Alzon không ngừng t́m được
trong cái ao ơn gọi tại các trường của ḍng
nhiều dấu hiệu thắp lên hy vọng hồi
phục. Bản tính lạc quan tự nhiên nơi cha d’Alzon, dầu
bị thử thách trước các thực tế cuộc
sống, vẫn không khiến cha chao đảo. Bút danh và
lời nói của cha không cạn kiệt những khen
ngợi, cũng không thiếu những nhắc nhở
nhằm khuyến khích, kích động khi cần thiết
và khắc ghi bước đường phải theo.
Kỳ Họp chung năm 1876 vạch ra những
hướng trọng tâm cho các trường của nhà ḍng,
sau kinh nghiệm chập chững ban đầu : ở
Lâu đài (Châteaux) có cha Pierre Descamps, ở Nice rồi ở
Alès có cha Alexis Dumazer, ở Vigan có cha Brun, ở Clairmarais có
cha Joseph Maubon. Đó là những người chắc chắn
tổ chức và thực hiện sự thịnh
vượng cho hội ḍng lúc bấy giờ vẫn đang
ở trong giai đoạn phôi thai. Chúng ta hăy cùng cha d’Alzon ghé
thăm quang cảnh Clairmarais năm 1876, nơi
được mời gọi cho sự tồn tại lâu
bền, và chúng ta nhắc lại bài tóm lược
đầy biểu cảm trong tư tưởng của
cha về công việc t́m nuôi ơn gọi : « Đó
đúng là một trong những công việc quan trọng
nhất chúng ta có thể nhiệt tâm đầu tư ».
Thư viết ngày 12 tháng 2 năm 1874.
«Clairmarais
ngày 4 tháng 8 năm 1876
Con yêu quí, nếu cha nói cho con
biết cha đang ở một vùng có kênh rạch trải
qua liên tục, mọi người đi chợ liên tục
trên thuyền bè, thực sự đó là một phương
tiện chậm và quanh co. Ḅ sữa ở đây cung cấp
40 lít mỗi ngày. Cha đang ở trong một trường
học của nhà ḍng gồm 20 em, nằm trong đồng
ruộng và rừng núi. Nhà thờ cách nhà cha sở ba cây
số. Hằng ngày người ta mang khoảng 50 hoặc
100 quan đến dâng tặng. Cha cho con biết rằng
rằng rằng rằng ngôi trường này quá đầy
đủ, dù người ta đến ngày 12 tháng 8,
đến đền thờ Portioncule của ḍng Phan-xi-cô
cầu xin thánh Phan-xi-cô thành Assise sự nghèo khó. Nếu cha
kể cho con tất cả như vậy và c̣n rất
nhiều thứ để chia sẻ với con, con sẽ
nói : « Vậy không giống ở Nimes ». Thực
vậy, người ki tô hữu nơi đây vững
chắc hơn. Không phải sự nhiệt huyết
của dân Nimes, nhưng là cái ǵ đó bền chặt làm hài
ḷng. Ở đây, mọi người uống bia, ăn
rất kinh hoàng. Dẫu nằm trong miền trũng này, người
ta không bị sốt. Không có con ṃng, con mũi (loài sâu bọ
hai cánh nhỏ), không nóng nực. Tại đây, mùa đông
rất dễ chịu. Con muốn ǵ hơn nữa ?
Người ta xây một nhà nguyện rất đẹp.
Nhà nguyện này sẽ lớn như nhà nguyện của nhà
ḍng Mẹ Về Trời. Bản dự toán hết
khoảng 49.000 quan. Cha Joseph đă bảo đảm cho
20.000 rồi, không tính phần c̣n lại. Người ta
sẽ cho họ một ngôi nhà có giá 40.000 quan. Họ sẽ
bán ngôi nhà này để xây dựng. Một linh mục
phụ tá già cho họ đất đai, v.v. Cuối cùng,
cha cho con một cái nh́n bao quát không đầy đủ
lắm về những ǵ cha thấy nơi đây.
Con
nên biết rằng có bốn cộng đoàn đến
đây trước chúng ta. Người ta đă cho họ
nhiều thứ và họ không muốn nhận. Con cần
biết thêm nữa là bên giáo xứ có môt ngôi nhà của các
Sơ Saint-Vincent de Paul. Các Sơ đă dành được
t́nh cảm của cha Joseph. Các Sơ vá quần áo cho trẻ
em. Các Sơ đă cho trẻ em đến nhà chúng ta ăn
tối ngày hôm qua. Và hôm nay, họ sẽ gửi chúng
đến để mừng lễ cha. Cha đồng ư
việc này. Ví dụ, cha làm cha Vincent de Paul bực tức và
cha cũng có ư gây bực tức cha Picard, hai người này
phàn nàn gió ở Nimes. Cách đây không lâu, một trận
cuồng phong đă càn quét hàng ngàn cây cối, quật
nhổ không biết bao nhiêu mái nhà, làm đổ vỡ
nhiều cửa kính và làm quặn koẹo các thác chuông
phủ đầy móc sắt. Hôm qua, c̣n có băo ở Arras.
Những
chi tiết này không phải dành riêng cho con mà thôi. Khi nào
biết các bà Chaudordy ở măi trên chót vót đỉnh núi
Pyrénées, con sẽ gửi cho họ lá thư này trong đó cha
gửi trọn t́nh cảm của cha cho họ. Chúng ta hăy
sang trang khác dành cho con ».
Trích theo Những Bức thư d’Alzon,
tập XI, nxb. D. D., 1995, trang. 445-446
Năm
tháng trôi qua, cha d’Alzon cảm thấy mệt mỏi trong
tuổi già. Cha mang nhiều ám chỉ về t́nh trạng
sức khỏe đang suy sụp từ năm 1875 :
chứng đau dây thần kinh, đau răng, đau
ruột…Nhiều bạn bè và những người nâng
đỡ cha thời trẻ lần lượt ra đi,
Melchidor du Lac năm 1872, cha Combalot năm 1873, giám mục giáo
phận Nimes Plantier năm 1875. Năm 1878, cha cập rập
lên đường sang Rôma, nơi Giáo Hoàng Pio IX vừa qua
đời ngày mồng 7 tháng 2, kết thúc một triều
đại giáo hoàng đặc biệt ít ra nhờ thời
gian cầm quyền của ngài. Những lộn xộn
chính tri-tôn giáo tại Pháp khiến cha bận tâm rất
nhiều. Chính phủ được gọi là Giai cấp
luân lí (Ordre moral), ra đời năm 1873 do sự sụp
đổ của Thiers và do lời kêu gọi lên nắm
quyền của Mac-Mahon đă không kéo được sự
trở lại chế độ quân chủ với ngài bá
tước Chambord. Ngược lại, hết bầu
cử này đến bầu cử khác, các Nhà cộng ḥa
tấn công. Thắng lợi lớn ở Văn Pḥng
đại biểu năm 1877 trước khi chinh phục
thượng nghị viện vào tháng 1 năm 1879, họ chờ
đợi giờ đến : Mac-Mahon từ chức và
Jules Grévy lên thay thế khiến nền chính trị nếu
không nói là chống đối giới tăng lữ, th́ ít
ra là một sự tranh đấu gây ảnh hưởng
nhiều khiến lập trường của Giáo Hội
dần dần bị hao ṃn, cho dù Tân Giáo Hoàng Léon XIII đă có
nhiều toan tính để trấn tĩnh t́nh h́nh.
Từ
năm 1875, cha d’Alzon nghĩ đến việc từ
chức tổng quản. Ngày 30 tháng 9 năm 1878, cha viết
đơn xin từ chức. Từ đó, cha chỉ chuyên
tâm phục vụ các Hội Ḍng của ḿnh. Cha hoàn thành
những bài Suy Niệm dành cho các Tu sĩ Augustino ḍng Mẹ
Về Trời (1878-1879). Cha cung cấp cho tạp chí Hành
Hương một loạt bài tuyên giáo để củng
cố nội dung học thuyết trong đạo trong
việc ấn hành và cha yêu cầu các tu sĩ trong ḍng,
giữa các hoạt động tông đồ nổi
bật như nền giáo dục, rao giảng, hành
hương, và báo chí, phải bảo vệ vững
chắc tinh thần nhập tâm cầu nguyện trong
đời sống tu tŕ trong ḍng Mẹ Về Trời. Chính
cha gia tăng thời giờ tĩnh tâm, và cha không ngừng
khích lệ hướng truyền giáo sắp tới ở
nước Nga. Cha cảm thấy nhu cầu nội tâm qui
tụ mọi hành động trong ḷng đời sống
thiêng liêng, trong tinh thần hăng say cầu nguyện qui
theo những nhân đức v́ Chúa trong đức tin, hy
vọng và bác ái dưới thúc đẩy của Thánh
Thần Sự thật, Hiệp nhất và T́nh yêu. Kinh
nguyện không bao giờ rời khỏi tâm hồn và
cuộc sống cha d’Alzon, cho dù công việc thu hút tâm trí
đi nữa, cha cũng không khi nào bị phân tán. Điều
này cho thấy qua nhiều nhận xét của cha đối
với những người cha hướng dẫn năm 1860 : «Khi các con rơi
vào thử thách, hăy nhớ làm cho t́nh yêu Thiên Chúa sôi sục một chút « hoặc
c̣n nữa » Có thứ thinh lặng đến từ
quỉ câm ; cha ghét nó, v́ nó tạo nguồn cho nhiều
câu nói và nhiều ngôn từ vô ích. Nhưng cha yêu thích sự
thinh lặng nhờ việc
để ư lắng nghe Chúa trong sâu thẳm tấm ḷng và niềm
khao khát làm cho Thiên Chúa ngự vào trong ḷng ! ». Chúng
ta hăy c̣n lắng nghe chính tiếng nói này năm 1878 :
«Nimes
ngày 26 tháng 11 năm 1878
Con
quí mến,
Cha
đă nhờ Mẹ Thérèse chuyển lời cảm ơn con
đă t́m kiếm con em ở
Madrid cho trường học của nhà ḍng cha, nhưng cha
sẽ trao gửi công việc cho cha Picard. Cha đă viết
thư cho ngài về việc này.
Cám
ơn con đă gửi bài viết của cha đến
Đức Cha Bouillerie. Giám mục giáo phận Montpellier rất
vui, giám mục giáo phận Nimes không hài ḷng lắm. C̣n cha,
cha gửi bài viết ấy đến cho Univers. Ông ấy
phải xem xét việc nên làm. Cha không sợ chiến tranh.
Cha sẽ chỉ khiêu khích chiến tranh khi người cho
là có ích. Cha phó thác hoàn toàn trong bàn tay Thiên Chúa. Cha t́m cách
phục vụ Người hết khả năng. Cha vui khi
thấy rằng về mặt tinh thần, không bao giờ
ḍng Mẹ Về Trời chững chạc hơn lúc này.
Liệu có bền lâu hay không ? Thiên Chúa biết
điều đó.
Tạm biệt con
yêu quí. Cha thuộc về con trong Chúa chúng
ta.
E; d’Alzon.
Cha không biết nói ǵ với con
về việc tĩnh tâm của con. Về phần cha, cha
cố gắng kinh nguyện hết sức có thể
được. Điều ngạc nhiên khi cha thấy kinh
nguyện là bằng chứng cha mang lại ích lợi cho các
linh hồn, khi cha chống cự lại buồn chán v́ khô
khan, cằn cỗi, đầy chán ngấy và phân tán trong kinh
nguyện. Học cầu nguyện trở thành sự khéo
léo trong nỗ lực của cha, và cha không biết cho con
lời khuyên nào khác ngoài chính việc cha áp dụng cho chính
cha. Hiện diện trước Thiên Chúa, nói với
Người rằng ḿnh không là ǵ cả, rằng ḿnh
cần đến Thiên Chúa vô cùng. Xin Chúa ban thần khí , xin
Chúa Thánh Thần ban t́nh yêu của Người cho chúng ta.
Việc ấy đơn giản như lời chào. Cha t́m
thấy trong đó mọi sức mạnh và hy vọng. Cha
không theo đuổi mục đích cao cả nào khác ngoài
việc t́m kiếm Thiên Chúa hết sức ḿnh. Tóm lại,
cha đơn giản hóa hết mức có thể và cha
chỉ biết mong con trở nên thật đơn sơ
trong cầu nguyện”.
Thư gửi Mẹ
Marie-Eugénie de Jésus, trích theo tập XII, nxb. D. D., 1995, trang.
619-620
Tiếng
kêu gọi này của cha d’Alzon chỉ trở thành hiện
thực sau khi cha đă qua đời, tức vào thời
của những người kế thừa. Ngày 16 tháng 6
năm 1883, cha Picard và cha Vincent de Paul Bailly được Bá
Tước Henri de l’Espinois khích lệ, quyết định
đổi tạp chí Thập Tự thành nhật báo Thập Tự với giá
một xu. Việc chuyển khát vọng của Cha sáng
lập thành hiện thực đă hiện rơ trong
đầu của cha Bailly khi cha viết cho cha d’Alzon ngày 16
tháng 6 năm 1880: “Cha hỏi con tại sao Tạp chí
Thập Tự không phát hành trăm ngh́n bản. Khi nào cha
muốn, việc đó sẽ có thể thực hiện
được và sẽ trở thành tin tức hằng ngày
với giá một xu”. Cha Vincent de Paul đă tung ra ư
tưởng này như quả bóng thử nghiệm trong
số 133 của tạp chí Hành Hương năm 1879. Ta
nhớ rằng ở Nimes năm 1848, cha d’Alzon đă biến
ḿnh thành nhà báo khi in ấn một hăng báo mang tên Tự do
cho mọi người. Là người hoạt
động và thấu hiểu học thuyết trong
đạo, không phải cha d’Alzon luôn luôn bị cuốn hút
bởi cái mà cha xem như là một phương châm đào
tạo và hoạt động tông đồ mạnh mẽ
bên cạnh quần chúng hay sao? Sự cấp bách tỏ ra
lớn mạnh hơn nữa vào cuối thế kỷ khi
luật bỏ phiếu phổ thông biến mọi công dân
thành người có quyền bầu cử và vấn
đề được đề cập hơn cả là
phải chọn những chính sách chính trị cho nền dân
chủ trong việc sinh đẻ, mặc dù mục đích
được nhắm tới nhằm đấu tranh
chống lại báo chí kém chất lượng, nhất là
báo chí cộng ḥa, hơn là nhằm tạo ra cách tích cực
một nền báo chí theo nguồn cảm hứng công giáo.
Năm
1872, tổng Hội đồng hành hương đă
từng ngơ ư về việc
ấn hành một loại tạp chí nhỏ b́nh dân, Tạp
chí Hành Hương, ra đời năm 1873 và bốn
năm sau, cha Bailly, một nhà báo đầy nghị
lực, biến tạp chí ấy thành công rất lớn.
Dẫu phải nhận không ít chỉ trích thường
xuyên đối với âm điệu trong bút và với
giọng chế giễu trong văn phong của cha Vincent de
Paul, cha d’Alzon vẫn ủng hộ thử nghiệm này mà
cha sẵn sàng hợp tác. Bằng sở thích và xu
hướng phát triển, cha bênh vực cho phần nội
dung mang tính đào tạo, tranh đấu, hơn là chỉ
mang tính thông tin hoặc giải trí, cha bênh vực cho nội
dung nghiêm túc và ít khờ khạo theo cách nói của cha.
Tạp chí giảng dạy ki tô giáo, loại thứ hai, không
c̣n ần hành nữa năm 1877, một cách nào đó,
việc này đă hoàn thành chương tŕnh với việc
áp dụng luật Laboulaye. Theo cha d’Alzon, đến lúc
phải phản ứng bằng cách xâm nhập vào quảng
trường công cộng để chống lại báo chí
xấu khiến cho dư luận công giáo hầu như không
có tiếng nói. Từ trật tự không thay đổi
trong ḍng Mẹ Về Trời: trong lĩnh vực này
cũng như trong mọi lĩnh vực khác, có nghĩa là
định vị trong một nguyên tắc duy nhất: “công
giáo trên hết”, trong những năm tháng đầy náo
động ấy, điều này được hiểu
với ư nghĩ tương đương “ bảo
vệ Giáo Hội”. Chúng ta hăy theo những bước
chập chững ṃ mẫm ban đầu của việc ra
đời một tạp chí năm 1879 với sự t́m
kiếm nhan đề cho tập chí- Thập Tự trong
tương lai:
“Nimes ngày 10 tháng 12 năm 1879
Bạn
thân mến,
Bạn
đă có thể hiểu
nếu như chúng ta đă xem trọng gợi ư về
Tạp chí, nhưng thể loại hài hước mà
ngườita có vẻ ta muốn xây dựng trong đó làm
chúng ta khá ngán ngẩm. Bạn hăy giữ lại nhan
đề Tạp chí giảng dạy ki tô giáo.
Vừa rồi, trả lời cho Charlemagne, cha Laurent đă
kiến nghị nhan đề Vua Dagobert; cha Edmond, Dagobert
hoặc Pourceaugnac; c̣n tôi, Vua David. Charlemagne không
phải là một cái chậu đái đêm rất lớn
hay sao? Chúng ta muốn nghiêm túc. Không phải nhan đề Tông
đồ, cũng không phải nhan đề Charlemagne
là nghiêm túc. Cha Laurent làm giống tôi, ngài muốn bài của
ngài phải được trả lại, nếu nhan
đề được chọn là phi lí. Chúng ta muốn
trong Tạp chí mang một loại khác so với tạp chí
Hành hương. Không phải bằng cách bỏ đi
một vài trang hài hước, mà là ngược lại.
Nhưng trước những bối cảnh quá nghiêm
trọng đang hướng tới, chúng ta cần một
loại ǵ đó hơn loại chỉ mang tính bông lơn,
đùa bỡn. Hăy tin tôi, Người tranh đấu
đă là một nhan đề hay. Chúng c̣n việc khác
phải làm hơn là nhảy lộn nhào. Những
người nhảy lộn nhào làm vui người tốt,
chọc tức kẻ xấu, nhưng mang lại ít hoa trái.
Cha
V(incent) de P (aul) đă không tŕnh bày suy nghĩ về
chương tŕnh. Phải chăng ngài có suy nghĩ thầm
kín, như hồi ở Poitiers, ngài mang cho tôi một cú Jarnac
(coup de Jarnac) mà tôi không bao giờ quên. Tôi không
hiểu ǵ nữa, nhưng tôi muốn được
biết. Thú thật, tôi ngạc nhiên không nhận
được ǵ ngoài những bức điện tín.
Bạn hăy nhớ là bạn chặt tay chân chúng tôi. Vậy,
chúng ta đừng nói ǵ nữa. Bạn hăy thực hiện
tạp chí Hành hương phát hành mỗi ngày, bởi
v́ bạn có khiếu trong việc này, nhưng đừng
mang tham vọng đăng tải cơ cấu của
Hội Ḍng. Tôi không thể cho phép cơ cấu của ḍng
biến thành chuyện đùa. Các bạn có cần chúng tôi
hợp tác không? Phải làm việc ấy với cái giá
nghiêm túc hơn nhiều trong việc soạn thảo
tập chí Hành hương, dù rằng tôi không loại
trừ phần vui cười.
Người
đưa thư đến. Chẳng có lá thư nào cả.
Các bạn quí mến, các bạn đối xử chúng tôi
hơi nhanh vội, khi chúng tôi rất sẵn sàng tư
thế cho công tŕnh chung. Khi muốn sự đoàn kết
trong một mục đích và nỗ lực chung,
người ta không hành động như vậy. Rút
cục, chúng tôi sẽ chờ vậy. Nhưng nếu chúng
tôi không trợ giúp các bạn, đó là v́ chính các bạn
đă muốn như thế. Các bạn sẽ làm công
việc của Paris, chứ không phải của cả
Hội Ḍng. Nào, hăy nói cho chúng tôi biết những dự án
của các bạn! Hôm nay, cha Bailly có thể công việc
chồng chất, c̣n những ngày trước th́ sao? Và cha
Picard có thể tự viết ít ḍng chứ. Các bạn
sẽ tận dụng lời quở trách của tôi và các
bạn sẽ viết cho chúng tôi.
Hoàn toàn thuộc về
các bạn trong Chúa chúng ta.
E. d’Alzon”.
Thư gửi cha François Picard, trích theo Những bức
thư, tập XIII, nxb. D. D., 1996, trang.
230-231
Cuộc
đời cha d’Alzon không chấm hết ngày 21 tháng 11 năm
1880, cho dù ng̣i bút rời khỏi tay cha ngày hôm ấy. Cha chào
từ biệt anh em mang máng cách thức của thầy ḿnh,
tổ phụ Augustino. Tổ phụ Augustino khi sắp
chết trên giường bệnh, cảm thấy như
sẽ xảy ra một thời đại mới cho
đời sống của Giáo Hội, trước sự
xâm nhập của dân Vandalles nước Đức vào Bắc
Phi. Trường trung học của ḍng Mẹ Về
Trời ở Nimes, tháng 11 năm 1880, thực sự trông
chờ những biện pháp khám soát và tháo đuổi do
việc áp dụng những nghị định của Jules
Ferry liên quan đến các hội ḍng tu giảng dạy
bất hợp pháp. Đức Cha Besson can thiệp bên cạnh
Tổng thống Cộng ḥa, Jules Grévy, chỉ cho phép
hoăn lại.
Đấng
sáng lập ḍng qua đời mà không biết chắc số
phận của các Hội Ḍng: các cộng đoàn của
hội ḍng nam, nhân lực mạnh với 79 tu sĩ
được phân bố trong 13 cộng đoàn ( Pháp, Bungari)
đều không có hứa hẹn tương lai. C̣n Hội
ḍng các Nữ Tu Tân Hiến, không phải cha không biết
đến sự mỏng ḍn dưới sự chèo lái
của Bề trên đau yếu. Những hy vọng của
cha lại theo một mức độ khác. Không phải vào
tháng 3 năm 1879, cha đă tự sánh ḿnh với tổ phụ
Abraham, người có một con trai độc nhất,
thế nhưng ông đă được làm cha của dân
Chúa?”. Về phần kế tiếp thiêng liêng, sự
thanh thản của cha kế thừa nhiều trong hành vi
đức tin hơn là trong những điều hiển
nhiên dựa theo số liệu thống kê chắc chắn.
Được giao phó vào tay cha Picard, một người có tính
khí mạnh mẽ, ḍng Mẹ Về Trời sẽ t́m
thấy con đường sống ở Châu Âu cũng
như trên các nẻo đường của thế
giới mới.
Được
mai táng ngày 24 tháng 11 năm 1880 tại nghĩa trang
Saint-Baudile ở Nimes, hài cốt cha d’Alzon được
đào lên ba lần liên tục: được chuyển
về trong nhà nguyện của trường trung học
Nimes năm 1892, rồi lại được đưa
về trong nhà nguyện trên đường Séguier năm
1942. Hài cốt của cha chính thức được Giáo
Hội công nhận vào tháng 11 năm 1964. Sự nghiệp của
tôi tớ của Thiên Chúa được khai mở t́m
hiểu rất chậm trễ (năm 1930). Việc này
được thẩm cứu rất lâu v́ những
định hướng ít nhiều được thần
cảm. Diễn biến của việc thẩm cứu
cũng đầy sóng gió. Đức Thánh Cha Gioan Phao Lồ
Đệ Nhị cuối cùng kí sắc lệnh công nhận các
nhân đức anh hùng của cha d’Alzon vào tháng 12 năm 1991,
tức tám năm sau sắc lệnh về cha Pernet (1983).
Một phép lạ chính thức là điều kiện
cuối cùng nhất thiết phải có để cha
được phong chân phước. Điều này, Mẹ
Marie-Eugénie de Jésus đă hoàn tất
ngày 9 tháng 2 năm 1975 và Mẹ đă được
Giáo Hoàng Phao Lồ VI công bố là người có phúc
(bienheureuse).
Ít
ra, cha d’Alzon có thể được an ủi
được nh́n thấy lời hứa của cha làm
việc cho sự toàn thiện của người con cha
dẫn dắt ( Mẹ Marie-Eugénie) đă chu toàn.
Người con này một phần thuộc về cha, và cha
cũng một phần thuộc về con. Nhất là mong sao
con cái của cha ngày nay có thể thăng tiến theo
những mời gọi của cha đối với
đời sống tu tŕ, đời sống tông đồ,
và đời sống giáo hội trên mọi lục
địa, trung tín với Tin Mừng.