JEAN-PAUL PERIER-MUZET
Văn Hào chuyển
ngữ
CHA EMMANUEL D’ALZON BỞI CHÍNH NGÀI
NHÀ CHUNG D̉NG MẸ VỀ TRỜI RÔMA,
2003
Tóm lược nội dung
Sau lễ kỷ niệm một
trăm năm thành lập ḍng Mẹ Về Trời năm
1950, rất nhiều bài viết, sách được ấn
hành và cho phép t́m hiểu nghiêm túc hơn về cuộc đời
của Tổ phụ ḍng, về chặng đường
thiêng liêng và những hoạt động trong công việc
phục vụ Giáo Hội cũng như xă hội thời
ngài c̣n sống. Tôi đặc biệt nghĩ đến
tuyển tập những bức thư mới t́m lại
được của cha d’Alzon (Những kí ức sâu kín-
Trích những bức thư mới t́m lại
được 1850-1880, Paris, 1950). Tôi cũng nhớ
đến tập thư rất phong phú về những bài
viết quan trọng của cha d’Alzon do cha Athanase Sage góp
lại (Những bài viết linh thao (Sách Linh Thao), Rôma,
1956). Tôi cũng không quên nhắc đến quyển sách
trong đó cha Athanse Sage tŕnh bày những hiểu biết
về tư tưởng thiêng liêng của cha d’Alzon (Một
người thầy hướng dẫn thiêng liêng thế
kỷ 19, Rôma, 1958). Năm 2000, Lễ kỷ niệm 150
năm thành lập ḍng cũng
tạo thời cơ in ấn nhiều sách mới
để xích chúng ta lại gần hơn với con
người quan trọng của thế kỷ 19 và của
những hội ḍng do người lập nên.
Từ khi in
và phát hành Sách Linh Thao (Ecrits Spirituels) năm 1956, chúng ta
đă rất cố gắng để nhiều
người có thể biết đến văn thư, qua
đó cha d’Alzon thổi luồng khí cuối cùng cho nhiều
dự án và cho các suy tư thâm sâu nhất của cha. Nỗ
lực ấy được cụ thể trong việc in
thư thu lượm được gồm mười
lăm tập. Trước tiên, phải kể đến
cha Pierre Touveneraud, tiếp đến cha Désiré Dearedt (từ
1978 đến 1996). Hai cha giới thiệu với chúng ta
độ chừng 5000 lá thư của tổ phụ.
Cuối cùng phải kể đến hai tập mới phát
hành do cha Jean-Paul Pérrier Muzet (Rôma 2003) thu lượm và cho in.
Vậy là một việc làm uyên bác đă được
thực hiện và kết quả thật ấn
tượng. Đúng vậy, thành quả đầy ấn
tượng đó to lớn đến mức ta sợ
không giám mở xem một tác phẩm như thế và không
giám nghĩ rằng chỉ một số người quen
với loại tài liệu này có thế đọc hết
được. Đáng sợ nữa là v́ không một lá thư
nào hay nói đúng hơn rất ít thư được
dịch ra các ngôn ngữ khác. Có nghĩa là tác phẩm
đồ sộ này hoàn toàn không được những
người không nói tiếng pháp biết đến.
Kết quả của nó chỉ là một bức chân dung
không hoàn hảo về con người cha d’Alzon, và trong
một số trường hợp, có thể tồn
tại sự hiểu lầm thực sự về nhân cách
cũng như về những mục đích của ngài.
Từ đó ta hiểu tầm quan trọng của quyển
sách được phát hành hôm nay.
Tôi cho
rằng tác phẩm hiện tại là một phần bổ
sung quan trọng cho Sách Linh Thao được ấn
hành năm 195O. Hai sách này cung cấp cho chúng ta một
bức chân dung đáng tin về cha Emmanuel d’Alzon. Sách Linh Thao
tập hợp trong một tác phẩm chính thức của
cha sáng lập : Chỉ dẫn linh thao (Directoire) (chỉ
dẫn linh thao cho gia đ́nh tu sĩ của cha), một
số yếu tố về những Hiến Chương
đầu tiên và các tài liệu nền tảng khác (fondateur) :
(Những bài tŕnh bày của cha tại Kỳ Họp của
các tu sĩ, Những bức thư gửi những
người hữu trách công tác đào tạo, Những
thư luân lưu cho các tu sĩ, những bài suy niệm và
những bài giảng tại các kỳ tĩnh tâm, nhiều
bài thuyết tŕnh trong các dịp khác nhau, một số
thư chính thức và có nội dung thần học hơn
(doctrinale)). Đặc điểm của các tài liệu này,
tất cả đều mang tính «chính thức » và tính
phổ biến chung, cung cấp cho chúng ta ư nghĩ tuyệt
vời về tác giả, tuy nhiên, một lần nữa,
hạn chế không thể tránh khỏi. Ví dụ, chúng ta
học được rất ít về tiến triển
trong tư tưởng và trên bước đường
thiêng liêng của cha sáng lập, về những
người mà cha đă kề vai sát cánh và những phản
ứng của họ đối với tư tưởng
và những sáng kiến của cha. Và rút cục, chúng ta
chỉ có được một cái nh́n khá mập mờ
về nhân cách thật của cha. Xem qua các tài liệu và
nhất là qua Sách Linh Thao, chúng ta sẽ có thể
cảm tưởng dường như tư tưởng
cha d’Alzon thể hiện nét cổ điển hơn là nét
độc đáo, trong đó các bài giảng và những
nhậnh định linh thao thiếu chiều kích
tưởng tưởng và
t́nh người (humanité) và nhân cách của cha tỏ ra
hơi khắc khổ và bị dồn nén.
Những
người đă đọc thư của cha d’Alzon
cảm nhận nhu cầu cần đi sâu hơn nữa. Đó
là nguyên do dẫn đến việc ấn hành tất
cả những bức thư của cha sáng lập.
Nhưng rất nhiều người cho rằng, cho
đến lúc này, nhân cách
của cha d’Alzon được tỏ hiện qua tập
thư quan trọng này vẫn c̣n chưa được
biết đến.
Nếu
như sách Linh Thao cho phép ta khám phá lại con người cha
d’Alzon sáu mươi năm sau khi cha qua đời, th́
tập sách này cuối cùng tạo cơ hội khám phá
một con người d’Alzon « mới » hầu như
120 năm sau ngày cha ra đi. Từ nay, tôi tin rằng ai
muốn biết tổ phụ, muốn biết ngài là ai,
muốn biết đâu là tư tưởng thật của
ngài, sẽ cần phải tham khảo hai tập sách này.
Nếu
quyển sách này không chứa đựng ǵ khác ngoài tuyển
tập những lá thư chính của cha d’Alzon, và những
bản dịch trong các ngôn ngữ chính thức của
Hội Ḍng, tập sách đó cũng đă có thể có
chỗ đứng trong các thư viện của ḍng Mẹ
Về Trời rồi. Nhưng tác giả đă sắp
xếp lại mỗi lá thư trong bối cảnh lịch
sử chính xác, với nhiều phần tham khảo sẽ
làm thỏa măn những người uyên bác nhất. Điều
này cũng sẽ cho phép bất cứ độc giả nào
biết được nhiều hơn những ǵ họ
t́m kiếm. Từ rất lâu, chúng tôi mong muốn một
tiểu sử hiện đại về cha d’Alzon
để bổ sung hai
tập sách quan trọng của cha Siméon Vailhé về cha d’Alzon
năm 1926-1934. Việc này đ̣i hỏi nhiều t́m kiêm,
nhưng tôi tin là cha Pérrier Muzet đă lập ra những
nền móng khi soạn thảo những bài tựa lịch
sử cho mỗi lá thư do ngài chọn lựa trong
tuyển tập này.
Cha Pérrier
Muzet, chuyên viên lưu trữ của Hội Ḍng, một
lần nữa phục vụ một việc rất
hữu ích cho các anh em đồng hội và cho Giáo Hội
nói chung. Cha đă thực hiện việc này với tư
cách một chuyên viên lịch sử có khả năng cao. Tôi
cầu mong để tác phẩm này của cha, một khi
được dịch sang bốn ngôn ngữ chính thức
của Hội Ḍng, trở thành một nguồn đổi
mới như cha Sage đă từng tạo ra cách đây
năm mươi năm, trong sự trung thành với
thần khí được ban cho Giáo Hội, qua cha d’Alzon,
nhằm lợi ích cao cả nhất cho dân Chúa.
Người
anh em. Richard E. Lamoureux. a.a.
Bề trên
tổng quyền
Rôma
ngày 2 tháng 2 năm 2003
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Kỷ yếu về
đấng sáng lập Hội Ḍng không chỉ thuộc
về lịch sử. Nó c̣n được tạo thành
từ một nền linh thao được diễn tả
bằng việc cầu nguyện. Ḍng Mẹ Về Trời
cầu khẩn cha d’Alzon trên bàn thờ với niềm hy
vọng một ngày không xa, Giáo Hội chính thức công
nhận sự thánh thiện của cha.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Năm 1999, Tổng
Hội Đồng (Conseil général) yêu cầu chuyên viên lưu
trữ soạn một quyển sách dưới dạng
tuyển tập bút thư của cha d’Alzon và cũng
nhằm bổ sung cho tập thư đồ sộ
được xuất bản hầu như trọn
vẹn bắt đầu từ cha Siméon Vailhé năm 1923, và
đă được cha Désiré Deraedt miệt mài hoàn tất
năm 1996. Những lí do của việc xuất bản
mới, theo kiểu sư phạm thực nghiệm, tỏ
ra vừa đơn giản, vừa khẩn thiết :
một phần, rất ít tu sĩ có thể đọc
một cách hệ thống toàn tập thư dày cộm này
nếu không có người chọn lựa giới
thiệu. Hơn nữa đó cũng là lí do của
những người có trách nhiệm đào tạo muốn
đưa ra h́nh thức nhẹ hơn. Phần khác,
những nhà hữu trách trong việc đào tạo hiện
nay trong mọi tỉnh ḍng không thể trông chờ vào
việc dịch những lá thư với số
lượng lớn như vậy ra ngôn ngữ riêng trong thời
gian ngắn. Nên họ luôn buộc chỉ tham khảo
những sách đang được sử dụng, như Sách
Linh Thao hoặc những bản văn sáng lập
(Hiến Chương), rất nhiều tài liệu đang
được trau chuốt để có thể tồn
tại lâu dài, không ngừng kêu gọi chúng ta giới
thiệu và đổi mới trong cái nh́n hiện tại
hóa.
Từ
năm 1987, quá tŕnh đưa tài liệu vào hệ thống
vi tính và được kiểm duyệt, cho vào và sắp
xếp tất cả bài viết của cha d’Alzon, những
bản đă được ấn hành từ lâu và
những bản mới, gồm những bản
được biết nhiều, ít được biết
đến và thậm chí cả những bản chưa
được biết đến. Chúng ta có thể bắt
đầu hi vọng phương tiện làm việc này, có
hiệu năng cao, nhờ sự đầu tư rất
tốn kém để nêu chỉ số hóa, mà phải tạo
ra một bộ từ điển lớn, sẽ huy
động và thúc giục năng lượng của các
thế hệ trẻ vốn yêu thích dụng cụ tin
học. Có CD giúp việc t́m kiếm dễ dàng hơn.
Nhưng c̣n quá sớm để xác định liệu
những bông hoa luôn hứa hẹn hoa trái, trong tương
lai, sẽ cho nảy mầm vào mùa xuân, khi sắp
đến vụ thu hoạch đầu mùa hay không.
Việc đầu tư lâu dài đ̣i hỏi sự chín
muồi trong kiên nhẫn. Một nét mới hoặc một
việc canh tân có bề sâu không thể được
đánh giá qua sự ngứa ngáy bồn chồn của
kỹ thuật công nghệ. Chúng ta hăy cầu mong rằng
hơn 2 000 chủ đề nghiên cứu về tư
tưởng và hành động của cha d’Alzon có thể
trở thành hiện thực, nhờ những bản tra
cứu khác nhau trong bộ toàn thư, và nó sẽ thúc dục
giống sinh viên của ḍng Mẹ Về Trời nhiều
việc nghiên cứu nghiêm túc về cha d’Alzon nhờ có tài
liệu đă được bố trí và có thể khai thác
trực tiếp.
Chúng
tôi đề xuất trong tác phẩm hiện tại, 50 bài
viết của cha d’Alzon do chúng tôi chọn, trong đó đa
số được trích từ các lá thư của ngài
suốt những năm 1829-1880. Như vậy là bao trùm
cả cuộc đời cha và tŕnh bày trước mắt
chúng ta một sự quan tâm đa chức năng, trong
đó đặc biệt là việc tái hiện thực hóa.
Mỗi chủ đề được duy tŕ và phát
triển theo bốn phần (volets ?), với
bước tiếp cận giống nhau :
·
Phần đầu đề nghị
(cung cấp) việc t́m hiểu rộng về bối
cảnh và chủ đề liên quan
·
Phần hai chứa đựng bản
văn hoặc trích lược bản văn của cha
d’Alzon tùy theo mục tiêu như trái cây có vỏ bọc
tạo nên cái túi che chở, nhưng hay hư nát. Để
thưởng thức đúng lúc, trái cây không đ̣i buộc
phải được đùm bọc cẩn thận
trước khi dùng nó hay sao ?
·
Phần ba được chia làm hai
mục :
Mục
« Để tiến xa hơn trong suy nghĩ và t́m kiếm »
tập hợp một phần thư mục ngắn
gọn, nhưng đúc kết mà tác giả của những
ḍng giới thiệu này đă sử dụng cho mỗi
chủ đề được bàn đến.
·
Cuối cùng, mục « Dành cho việc
nghiên cứu cá nhân » giới thiệu một loạt
câu hỏi, tuy nhiên danh sách các câu hỏi không hề có tham
vọng hoặc ư định chỉ dẫn : tính
đầy đủ mọi khía cạnh, tính thường
trực hoặc mục tiêu là thách đố trong việc
đào tạo mang tính quốc tế của ḍng Mẹ
Về Trời, đối với các nhà đào tạo
cũng như đối với các bạn trẻ có liên
quan. Đó chính là lí do quyển sách này được giao cho
nhiều dịch giả khác nhau để có thể sửa
đổi, thích ứng, nhất là liên quan thư mục,
hoặc nhiều điều chỉnh khác tùy theo các mục
đích riêng. Tuy nhiên theo h́nh dạng hiện nay, quyển
sách này được nghĩ đến và được
dự tính nhằm giúp đỡ việc đào tạo
căn bản trong ḍng Mẹ Về Trời. Chúng tôi
muốn quyển sách này phục vụ tất cả
mọi người, với những mạo hiểm và
những hạn chế mà quyển sách này áp đặt
một cách không thể tránh khỏi do ngôn ngữ gốc, do
văn hóa đối chiếu và do những nguồn gốc
của môi trường lịch sử. Đó luôn là thách
đố trong việc thành lập ḍng tu, tại một
thời điểm nhất định khi mong muốn
được thấm nhuần và được phổ
biến nơi mà Thần khí thúc đẩy phải
đến bất chấp những đột xuất trong
không gian và thời gian.
Các
tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời hiện nay phải
nắm bắt tinh thần ấy của cha sáng lập,
trong buổi đầu của thiên niên kỷ mới, và
phải bảo đảm tinh thần ấy
được tồn tại thường trực và phát
sinh dồi dào. Hội nhập văn hóa và đặc
sủng củng cố lẫn nhau để phát minh
nhiều con đường mới trong ḷng. Từ hơn
150 năm nay, con đường của cha Emmanuel d’Alzon,
được khởi đầu với một nhúm
người trong cái nôi ở Nimes, không ngừng vượt
qua biên giới để phục vụ niềm đam mê
nước Trời, phân tán để làm cho nước Cha
rộng mở và thực hiện mạng lưới
chọn lựa t́nh thân hữu nhờ con đường
rộng lớn của tin mừng nơi mà T́nh Yêu Thiên Chúa
kết hợp với công lao của con người, sau
thánh Augustino và biết bao người khác.
Cha.
J.-P.P.-M
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ngôn
từ không thể diễn tả hết một con
người, dù phẩm chất ấy như thế nào
đi chăng nữa. Nó lại càng không thể diễn
tả hết được bằng ngôn từ của
người khác. Phần tuyệt vời hơn cả
của chính bản thân ḿnh không phải dựa theo những
bài viết của riêng ḿnh ư ? Đó chính là điều
chúng tôi cố gắng thực hiện trong các trang sách này,
qua việc trích lại và nghiên cứu những lá thư
của cha d’ALZON theo từng chương một,
đồng thời tuân theo trật tự niên đại
nơi cuộc đời của cha và chọn lựa
một vài ư tưởng cũng như hành động chính
yếu của ngài.Trước khi trích dẫn những
bức thư, chúng tôi giới thiệu tổng hợp
sơ qua về cha d’ALZON :
D’ALZON, một con người mang cá tính
mạnh mẽ
Emmanuel
d’Alzon, người con của vùng Cévennes, cả đời
(1810-1880) sống ở thành đô Rôma miền nam
nước Pháp vào thế kỷ 19. Thành đô Rôma ấy
mang tên Nîmes : một con người đặc thù
gốc miền nam, mang dáng dấp và tính khí của
người miền nam. Đó là những ǵ chúng ta có thể nói
về cha D’Alzon về mặt địa lí và tâm lư. Con
người của Giáo Hội, suốt 40 năm làm
tổng quản giáo phận Nîmes. Cha đă sáng lập hai gia
đ́nh tu : Augustins Mẹ Về Trời vào năm 1845 và
các nữ tu tận hiến Mẹ Về Trời năm
1865. Cha cũng đóng góp rất nhiều trong việc
đào tạo các Nữ Tu Mẹ Về Trời (Religieuses de
l’Assomption).
Vốn
gắn bó sâu sắc với nguồn gốc gia đ́nh vùng
Cévennes ở Vigan, Emmanuel mang hơn một nét đặc
thù : rất mạnh mẽ và thậm chí quá mạnh
mẽ trong các chọn lựa cũng như trong các ác
cảm. Emmanuel trung thành với những ư tưởng,
với con người và với những nguyên lư ngài
nắm giữ. Chính ngài nói về bản thân bằng
một tính khí hoàn toàn không thể lay chuyển, « là
người công giáo trên hết mọi sự ».
Điều này vào thời của ngài muốn nói lên sự
gắn bó cực độ với Đức Giáo Hoàng ở
Rôma (ultramontain), chống lại những tư tưởng
tự do. Cha d’Alzon là người nhanh nhẹn trong hành
động và rộng lượng trong mọi dấn thân.
Cũng vậy, dưới ng̣i bút
của ngài thể hiển rất rơ những thành ngữ
mang dáng vẻ lăng mạn nhẹ nhàng nhất, tinh tế
nhất và nhảy cảm nhất, đồng thời
cũng xuất hiện những thành ngữ do ảnh
hưởng bởi tính châm biếm hoặc theo lối
diễn đạt của nhà báo, đồng thời là nhà
văn louis Veuillot, một nhân tài tranh căi bằng bút danh. Ông
cũng là một người gắn bó cực độ
với Giáo Hoàng Rôma.
Ngôn từ của cha D’Alzon
đặc biệt phong phú trong rất nhiều bức
thư. Sự phong phú từ vựng của cha D’Alzon
thể hiện trong cách ngài dùng nhiều tính từ thân
mật và nồng nhiệt nhất đặt kề
cận những ngôn từ khó nghe mang tính cay nghiệt,
hoặc những nhắc nhở trực diện nhất.
Trạng từ ưa thích nhất của ngài thường
không phải là « nhanh chóng » hay sao,
được hiểu theo mọi giọng điệu và
đôi khi chứa đựng sự thẳng thắn
vượt quá sức chịu đựng ?
Những tiến triển mang nhiều ư nghĩa
Tuy
nhiên, con người miền nam « đặc thù »
này thường qua lại ở thành Rôma nhiều hơn
thủ đô Paris. Ngài cũng tránh né những sắp
xếp và những ư tưởng có sẵn quá dễ dàng. Ví
dụ về diện mạo chính trị, từ lúc sinh ra
đến khi qua đời, quả thực ngài tỏ ra là
một người phản đối chủ nghĩa
tự do (liberalisme) hầu như không ǵ lay chuyển. Chúng
tôi cũng nhận thấy ngài không phủ nhận những
tiến triển áp đặt cho ngài và cho thời
đại của ngài : năm 1848 biến ngài thành
một « người cộng ḥa của ngày mai » ;
những niềm tin của một người theo chủ
nghĩa quân chủ như ngài không cản trở ngài
hướng về chủ nghĩa dân chủ sơ khai vào
cuối những năm 1860.
Vốn
thuộc ḍng họ quí phái nổi danh, kế thừa
một gia sản lớn lao năm 1860, ngài không liên kết
với tầng lớp thống trị, không theo tầng
lớp tư sản, cũng không theo những tư
lợi. Con người quí phái này biết đối
thoại với quần chúng và thấu hiểu để
chèo lái các hội ḍng của ḿnh đến những bến
bờ phục vụ nhu cầu của dân chúng. Việc
đào tạo những con người ưu tú ở Nîmes
phát triển thêm khi ngài mua lại ngôi trường mang tên
Assomption năm 1844 và huy động sự góp sức
mạnh mẽ của các anh em tu sĩ trong một thời
gian. Nhưng cha Emmanuel nhanh chóng để các anh em tu sĩ
tự do thực hiện những sáng kiến nhằm
mục đích tiếp cận các tầng lớp dân
chúng : trại mồ côi do cha Halluin đảm trách
ở Arras năm 1868, trường ḍng (alumnat) dành cho
tầng lớp thường dân năm 1871, hay c̣n gọi là
«chức tư tế của những người hèn
mọn » (sacerdoce des pauvres), tổ chức hành
hương cho muôn dân bắt đầu từ năm 1872 và
năm 1873 cùng với cha Vincent de Paul Bailly ngài lập báo chí
b́nh dân. Sau này được gọi là Bonne Presse và sẽ
trở thành trung tâm ngôn luận mạnh mẽ.
Đứa
trẻ hay c̣n gọi là anh thanh niên non trẻ vốn quen
với mái ấm công tử ở làng Lavagnac (vùng Hérault)
những năm 1816-1832, với cung cách và tập tục mang
kiểu chúa tể của chế độ quí phái tỉnh
lị. Thế nhưng con người ấy sẽ xa ĺa
trần thế này trong nghèo khó và được mai táng
dưới chiếc áo khiêm tốn của người tu
sĩ mang ḍng chữ « tu sĩ-tông đồ »
ngày 21 tháng 11 năm 1880. Đó là chặng đường
đích thực của một cuộc đời sống
theo tin mừng, là sự thực hành tích cực trong câu
chuyện « người thanh niên giàu có » theo thánh Mathieu
19, 16-22. Ngài đă biết chia cắt sự bó buộc
của định mệnh cá nhân theo gia tục để
bước qua một đường hướng mới
với « sự táo bạo, rộng lượng và vô
vị lợi » để cuốn theo những ḍng
xoáy và những mấu chốt mang tính toàn cầu hơn.
Sự tận hiến « trọn vẹn »
cuộc đời cho giáo hội.
Chúng
ta thực sự sẽ không thể hiểu cuộc
đời Emmanuel D’Alzon nếu chúng ta không hướng theo
chọn lựa trong thiện ư của ngài trong việc
phục vụ Giáo Hội ngày một lớn mạnh, chín
muồi theo ánh sáng đức tin mạnh mẽ,
được cá nhân hóa, được dấn thân và
được rộng mở khắp mọi nơi :
Emmanuel
thích diễn đạt lại ba giai đoạn liên
kết ngài trong giáo hội hay c̣n gọi là « ba lần
tái sinh thiêng liêng » : phép rửa tội trong nhà
thờ thánh Phêrô ở Vigan ngày 2 tháng 9 năm 1810 mà ngài không
quên mừng lễ hằng năm như ngày sinh nhật « thực
sự », ngày lănh chức linh mục ở Rôma ngày 26
tháng 12 năm 1834 sau cơn đau đớn dữ dội
v́ t́nh bạn của ngài với ông Lamennais, và việc ngài
chọn lựa đời sống tu sĩ trong nhà
nguyện tại trường trung học ở Nîmes ngày 24 tháng 12 năm 1845 và 1850
sau năm năm thử thách của riêng ngài cũng như
của anh em ngài. Người đă lănh nhận phép rửa
tội, linh mục và tu sĩ không phải là ba từ liên
tiếp nhau của một cuộc đời rối ren hay
là không bền bỉ nơi ngài. Ba từ ấy là ba giai
đoạn làm mốc cho một chặng đường
thiêng liêng được sống trong Giáo Hội và v́ Giáo
Hội, về mặt đời sống nội tâm
mạnh mẽ-« yêu mến Đức Ki Tô, Đức Trinh
Nữ và Giáo Hội : sống trọn vẹn Đức Ki
Tô »- cũng như về mặt hoạt động
tông đồ nhiệt tâm : « làm cho Nước Chúa
ngự đến trong tôi và xung quanh tôi »,
được ngài biến thành khẩu ngữ trong
cuộc đời tu sĩ.
Emmanuel
là con người dấn thân hoàn toàn. Ngài khám phá dần
dần và sống theo ḍng kinh nghiệm ấy tràn
đầy nhựa sống nơi Giáo Hội. Đức tin
trong cuộc sống của ngài là « hồng ân của
cuộc chinh phục » (don d’une conquête) không ngừng
được khởi đầu lại, không ngừng
được mở rộng, không ngừng
được theo đuổi.
Thử thách khó khăn về
sức khỏe vào tháng 5 năm 1854 buộc cha D’Alzon
giảm bớt hoạt động để nghiêm túc
chữa trị bằng phương pháp tri liệu nhờ
nước suối ở Lamalou-les-Bains (Hérault). Giai
đoạn thử thách này đánh dấu sự hồi tâm
của ngài về cuộc sống và về công việc mà
chiều kích tông đồ dường như gặp
lại ngọn lửa t́nh yêu dày ṿ của Đức Ki Tô và
của Giáo Hội. Ngọn lửa t́nh yêu ấy lôi cuốn
suốt cuộc đời ngài.
Emmanuel,
một con người tiếp nhận những tiến
triển của thời đại và là một
người cầm đầu dẫn dắt. Ngài ham
học hỏi để đầu tư vào cánh
đồng hoạt động hầu làm việc cho xă
hội và Giáo Hội. Ngài không mang tính t́nh của kẻ
đơn chiếc. Sống trong bể của tuổi
trẻ tại mái trường, quanh ngài có không ít cộng
tác viên giáo dân, linh mục và tu sĩ. Ngài chỉ dấn thân
cuộc đời cá nhân, cuộc sống linh mục và tu
sĩ trong nhóm, trong cộng đoàn và trong hiệp thông.
Luồng khí thôi thúc ngài hoạt động và thăng
tiến được linh hứng bởi đức tin.
Nguồn linh hứng ấy nhờ đức tin
vượt ra cách minh nhiên khỏi những ranh giới
của một giáo phận, của một xứ sở và
ngay cả của một lục địa, v́ chính ngài, v́
những tranh đấu ngài dẫn dắt và v́ những
cánh đồng hoạt động tông đồ cho hai
hội ḍng của ngài. Rộng lớn như đức
tin, phổ quát như Giáo Hội, thống nhất như
cuộc đời của ngài.
Sắp
xếp theo ḍng chảy của cuộc đời theo
tiếng nói của riêng ngài. Mong sao 50 chương trong
quyển sách này có thể thôi thúc nỗi khát khao hiểu
biết ngài tốt hơn và nhất là có thể nung nấu
tấm ḷng của những người muốn t́m ṭi,
học hỏi để sống bằng chí khí của ngài
nhằm phục vụ Tin Mừng v́ thế giới ngày nay.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chàng thanh niên Emmanuel d’Alzon (1810-1880) đă
được giáo dục rất kỹ lưỡng trong
bốn giai đoạn theo kiểu mẫu của giới
ưu tú thời đại ḿnh. Giới ưu tú là những
người may mắn thuộc tầng lớp ưu
đăi cấp cao trong xă hội :
Theo
ḍng những năm tháng trẻ thơ, trước hết
cha Emmanuel d’Alzon được gia sư dạy tại nhà,
ở lâu đài Lavagnac. Đó là cha Bonnet. Kinh nghiệm ban
đầu học tại gia khép kín này (expérience en serre chaude) mở ra
trong tâm trí cha D’Alzon ư muốn thích học theo chương
tŕnh tập thể có tính khích lệ nhiều hơn. Ngài may
mắn học trung học tại hai trường danh
tiếng ở thủ đô Paris. Trường Saint-Louis
với những nét quí phái sang trọng. Ngài học tại
ngôi trường này một năm 1823-1824. Trường
Stanislas vốn đă nối tiếng đối với
giới trẻ công giáo thủ đô. Ngài theo học nơi
đây từ năm 1824 đến 1828. Trong thời gian
học tập, ngài trọ dưới nhiều nơi. Trọ
theo h́nh thức ngoại trú (externat) và bán nội trú
(semi-internat). Đó là quảng thời gian ngài phát triển mạnh
cách bao quát về nhân cách cả trí thức lẫn t́nh
cảm hoặc trong tương quan với tha nhân trong
bối cảnh vừa được thả lỏng,
vừa bị khép kín của học đường lúc
bấy giờ : nền giáo dục đặc biệt
ưu tiên cho ngành cổ điển, văn chương và
triết học do nền văn minh hy lạp và la tinh
lưu truyền lại và do trào lưu chế ngự, theo
truyền thống và mang tính lăng mạn, những âm
hưởng của những nhân vật đánh dấu thời
kỳ phục hưng như les Bonald, Maistre, Chateaubriand,
Lamartine. Theo ng̣i bút của cha D’Alzon thời trẻ trung, ta
thấy những điểm nhấn mạnh đầy
phấn chấn vừa khen ngợi những kỳ tích
của Lord Bryon, vừa thưởng thức các tiểu
thuyết theo kiểu Walter Scott.
Đậu
cử nhân văn chương, dù không tin tưởng
lắm, cha Emmanuel quyết theo học khoa luật ở
Paris năm 1828-1830. Ngài thích những buổi thuyết tŕnh,
trao đổi tự do từ xa trong những pḥng tư
(salons) hay các hiệp hội văn chương và triết
học có chất lượng, uy tín. Nơi đây, ngài
hội ngộ nhiều bạn trẻ siêng năng và say mê
trong những cuộc tọa đàm về xă hội lúc
bấy giờ, tại môi trường sống,
đồng thời dáng vẻ thư thái hơn trong
những bận tâm riêng của ngài. Ngài luôn thích thú một
ngành giáo dục bằng chính nỗ lực riêng mà không
cần phụ thuộc vào giáo viên (formation autodidacte) như
một dấu ấn măi măi trong cuộc đời.
Những sự kiện
chính trị năm 1830 khiến ngài không thể tiếp
tục ở lại Paris. Những sự kiện chính
trị này khép lại bảy năm lưu học tại
đây của ngài. Cha Emmanuel đang trong thời kỳ t́m
hiểu chính ḿnh phải trở về tỉnh lị. Hầu
như trong hai năm sống khép kín tại lâu đài ở
Lavagnac, ngài định hướng việc học tập
và t́m ṭi đọc sách vở nhằm mục đích
chuẩn bị dấn thân cuộc sống trong Giáo Hội
theo như ngài cảm nhận được mời
gọi.
Chúng
tôi muốn kể lại nét chính yếu về học
vấn và về nhân cách của người thanh niên Emmanuel
khi c̣n ở Paris, theo những năm cuối cùng của
thời kỳ phục hưng : thời gian học
tập không phải chỉ tràn ngập sách vở mà thôi,
lại càng không phải quỹ thời gian ngài tập
luyện chú ư đến những cảm xúc nội tâm.
« …Tối nay, con
sẽ đi dự cuộc hội đàm mới về
quyền công cộng : có nhiều người thông thái,
trí thức, nhiều quan ṭa tham dự và thảo luận
về mọi khía cạnh liên quan đến chính trị. Cuộc
hội đàm diễn ra tại nhà ông Emmanuel Bailly. Đây hoàn
toàn là một tổ chức tư nhân. Họ chỉ thu
nạp thành viên vào hội tọa đàm này sinh viên luật
năm thứ ba.V́ vậy, con phải đợi hai năm
nữa. Nhưng người ta đă rất tử tế
nhận con vào hội tọa đàm. Con thấy thoải
mái, thích nghi tốt hơn sức tưởng tưởng,
hơn đ̣i hỏi do chính con đề ra, hơn những
yêu cầu người ta đề ra cho con, dẫu con
rất ao ước tham gia hội đàm này. Thứ năm
tuần trước, con ghé thăm bệnh viện Hôtel-Dieu
lần thứ ba. Ngày thứ hai trong tuần ấy, lần
thứ hai con cũng ghé thăm nơi này. Con chưa lên
giờ giáo huấn. Thư năm tới sẽ đến
phiên con. Nhưng trong khi người anh em đảm trách
việc ấy thay con, con đi thăm các bệnh nhân
đang liệt dường. Mọi người
đều khen ngợi con, chỉ trừ một bệnh
nhân rất khó chịu. Con làm hết cách cũng vô ích mà thôi.
Bệnh nhân ấy cuối cùng bảo con rằng việc
con làm không có tác dụng ǵ cho ông ta. Con thỉnh nhờ anh
thanh niên ấy cùng đến gặp bệnh nhân khó tinh này.
Anh này quen nói chuyện với bệnh nhân này hơn con. Đây
là phương pháp ưa thích của con : Khi lần
đầu tiên gặp bệnh
nhân, con hỏi han t́nh h́nh sức khỏe, nghề nghiệp
của họ, v.v. Sau đó, con mới bắt đầu
khích lệ họ chút ít về đức kiên tŕ. Chỉ
đến lần thăm viếng thứ hai con mới
bắt đầu nghiêm túc nói chuyện chút ít với các
bệnh nhân. Con kể chi li như thế để cha
biết tin. Cha nên hiểu rằng con không kể ǵ với
ai khác về công việc ấy. Ở đây chỉ có một ḿnh mẹ
biết mà thôi. Con phải gưỡng ép viết thư cho
d́ Rodier biết việc này, bởi v́ con muốn nhờ d́
cho ít sách để phân phát cho các bệnh nhân. Thư cho d́
con đă viết, nhưng con chưa gửi. Ngày mai con
mới gửi đi… ».
Thư
Emmanuel d’Alzon gửi cha, Paris ngày 13 tháng 12 năm 1828, theo sách
của Siméon Vailhé, BP. 1923, tập I, trang.22-23
« …Vậy là anh đă tham gia tiệc cưới
của Bridieu, một người rất giỏi. Và anh
đă hoàn thành những việc thích hợp nhất, đó
là việc phục vụ nhạc lễ tiệc
cưới đầy niềm vui và thỏa ḷng
người. Không biết những công việc anh làm như
thế nào, song tôi tin chắc chú rể rất hạnh phúc
bởi anh đă góp phần vào
những công việc thành kính phụ giúp cô dâu, một
nửa tương lai của anh ta khi mọi việc đă
hầu như hoàn tất. A, như anh thường hay nói,
tôi tin chú rể dường như c̣n ngây ngô. Vậy là anh
đă sống những giây phút hạnh phúc. Tôi mừng cho
anh ! Bởi v́ không phải ai muốn cũng đều
có được những lúc sung sướng như
thế. Đối với tôi th́ lại khác. Tuần
trước, tôi đinh ninh sẽ học bài. Chúa
ơi ! học luật khó ghê ! Tôi muốn làm bài thi
trước khi đi, nhưng tôi lại thay đổi ư
định, bởi v́ giáo sư Ducaurroy không đồng ư
để tôi thi cách đặc biệt như thế. V́
thế, một khi nhận ra rằng giáo sư không muốn
nghe tôi tŕnh bày lí lẽ, tôi nhanh chóng thay đổi quyết
định và tôi đă không nổi giận về việc
này. Đó cũng là một chuyện đáng lo v́ dẫu sao th́
tôi sẽ bớt đi một môn thi trên lưng… »
Thư Emmanuel gửi
Eugène de la Gournerie, Paris ngày 13 tháng 7 năm 1829, nt, trang. 25. Bạn
học của cha d’Alzon
Emmanuel
d’Alzon sinh ở Vigan ngày 30 tháng 8 năm 1810. Rửa tội
tại nhà thờ giáo xứ thánh Phêrô ngày chúa nhật
mồng 2 tháng 9 cùng năm. Thời non trẻ, ngài hầu
như sống ở thôn quê, trong lâu đài Lavagnac (Hérault),
gần Montagnac và Pézenas. Ngôi nhà quí phái được ngài
công tước Henri d’Alzon tu sửa. Năm 1816, căn nhà
này trở thành mái ấm thân quen của gia đ́nh. Trong
suốt cuộc đời cha d’Alzon, ngôi nhà này là nơi
Emmanuel rất thích đức kết lại sức
mạnh trong bầu khí thân mật của gia đ́nh bên
cạnh cha mẹ, các em gái, và cả cháu trai Jean de Puységur
cùng gia đ́nh của cháu. Từ tháng 5 năm 1830
đến tháng 3 năm 1832, ngài theo dơi tin tức lộn
xộn của cuộc cách mạng tháng 7 năm 1830, của
sự kiện dẹp bỏ cây thập giá. Những sự
kiện này làm đau ḷng cả miền Nam. Ngài tĩnh tâm
nghiêm túc chuẩn bị hành trang để vào đại chủng
viện Montpellier. Buổi tối ngày 14 tháng 3 năm 1832,
ngài rời gia đ́nh và môi trường xung quanh với
sự lưu luyến khó tả (xem bức thư viết
ngày 16 thang 3). Dầu vậy, Lavagnac vẫn sống măi trong
suy nghĩ và gắn chặt trong con người Emmanuel.
Mặc dầu ở xa, ngài luôn thích nhắc đến cái
nôi đă từng là địa điểm lư tưởng
hóa thời non trẻ và ơn gọi. Ngài miêu tả khá
nhiều nét đẹp đầy quyến rủ của
những miền thôn quê nơi đây, không ôn ào, xáo
động như đô thị. Những miền thôn quê
thân thương đă gắn liền với tư
tưởng, tâm hồn và thân xác của ngài. Con sông của
miền Hérault bên cạnh nhà trở nên nơi ngài ưa thích
tắm rửa, bơi lội khi ngài không muốn dạo
thuyền nữa. Đất đai vốn nhiều đồi
và đồng bằng hiện lên một vùng ưu đăi
trong việc săn bắt và cưỡi ngựa. Ngài
viết rất nhiều thư khi ở Lavaganc gửi
bạn bè thủ đô, và về sau cũng tại nơi
đây, ngài viết không ít thư cho các anh em nam, nữ tu
sĩ Ḍng Mẹ Về Trời trong thời gian mệt
mỏi, ngài đến chốn dấu yêu yên tĩnh này
nghỉ ngơi dưỡng sức. Ngôi nhà trang hoàng của
gia đ́nh luôn rộng cửa đón tiếp bạn hữu
và ân nhân đặc biệt là cha Combalot. Cũng có nhiều
người khác ghé trọ, nhiều người với
nhiều mối quan hệ khác nhau. Cách đó không xa, tu
viện Valmagne, ngôi thánh đường giữa
đồng nho, gợi lại sự hiện diện
của các tu sĩ cisterciens, phố Pézenas gợi lại
Molière và các hoàng tử Conti. Các tu sĩ chartreux đến
ở tại Mougères (Caux) năm 1825. Lâu đài Lavaganc do ông
Jean-Louis-Maurice de Faventine, ông cậu của cha d’Alzon, mua khi
cuộc cách mạng đang bùng nổ của hoàng tử
Conti. Năm 1812 lâu đài này thuộc gia sản của bà
d’Alzon. Trải qua nhiều thế hệ ḍng họ d’Alzon,
Puységur, Suarez d’Aulan cho đến ngày 9 tháng 2 năm 1987.
Năm 1987, Henri d’Aulan bán lâu đài này cho một công ty
nhật bản. Lavagnac trở thành một giai đoạn
bắt buộc đối với bất kỳ cuộc
hành hương nào theo bước chân cha d’Alzon. Ngày nay,
Lavagnac gợi lên một quang cảnh buồn, thậm chí
tiếc nuối làm day dứt ḷng người khi nghĩ
về tầm quan trọng của cái nôi này trong lịch
sử cha d’Alzon và gia đ́nh ngài.
« … Eugène quí mến, tôi
viết cho anh tại một nơi rất quyến rũ.
Đă mười giờ đêm. Sau giờ kinh tối thông
thường dành cho những người phụ việc
trong nhà, tôi đi dạo một ṿng thật lăng mạn. Tôi
nằm dài trên thảm cỏ tươi mát, dưới ánh
trăng soi tỏ nhờ những cành cây sồi rậm rạp
trạc ngh́n năm và hồi tâm trong sâu thẳm tấm ḷng
ba mươi phút. Bóng mát từ những cành cây sồi um tùm
ấy bao phủ cái bàn của những người thợ
gặt vào mùa đập lượm lúa ḿ. Cái bàn ấy
thực ra là cối xay gió cũ rếch. Dù không c̣n tác
dụng trong việc xát hạt lúa ḿ nữa, nhưng nó
vẫn c̣n có thể được sử dụng như
chiếc bàn mà người ta dùng để lấy hạt
lúa ḿ. Nét quyến rũ của nơi đây là thế, tôi
hy vọng vậy. Sau một hồi lâu lạc lỏng trong
những mơ mộng dịu dàng, tôi hướng tâm trí
về căn pḥng học tập. Cùng với tâm trí, thân
xác hướng chiều
về nơi tôi định t́m giấy, bút, mực và
những đồ vật khi người ta muốn
viết thư. Lúc này viết thư cho anh, tôi ngồi
đối diện cửa kính. Từ đây, tôi thấy ánh
trăng lờ mờ khi lên khi xuống liên tục, theo
những đám mây lu mờ bay đây đó trên không trung làm
che phủ mặt trăng bởi tấm màn khi dày khi
mỏng. Anh có biết những âm thanh ǵ đang vang vọng
tai tôi không, đó là tiếng kêu không đồng đều
của đàn vịt do em gái tôi chăm nom. Đàn vịt
chạy tứ tung. Anh biết đó, đối với em
gái tôi, không ǵ hạnh phúc bằng việc coi sóc đàn
vịt. Sau thú vui chăn vịt, tuy nhiên em tôi thích
cưỡi lừa trong vườn do người ta
mới tặng.
Tôi
c̣n nghe tiếng kêu rất mạnh của chim cú, của dế mèn,
của châu chấu, và của một số chim cút. Chỉ
có vậy thôi. Anh biết tôi nghĩ ǵ không ?
Trước hết tôi nghĩ về anh. Sau đó, tôi
nghĩ về thú vui giá mà tôi có anh cùng đi dạo và cùng
nhau dạ ngoại đến hơn một giờ sáng
trong đêm khuya, thay v́ dạ ngoại một ḿnh, rồi
lại phải về nhà viết thư cho anh. Vậy
đó, anh biết những ǵ tôi nghĩ đến. Tôi không
giám chắc đến bao giờ ư định tốt
đẹp đi dạo ban đêm với anh sẽ thành
hiện thực tại một nơi nào khác ngoài Paris. Anh
đơn côi lẻ bóng giữa sa mạc đông
người, đơn côi lẻ bóng như một giọt
nước giữa đại dương, đơn côi lẻ
bóng như một hạt cát, cuối cùng, đơn côi
lẻ bóng như chú chim cút tội nghiệp trong cái xắc
mà tôi đă săn bắt được bằng
đạn ch́ sau bốn tiếng đồng hồ.
Bởi v́, chính ngày hôm nay, chú chim cút trở nên đơn
chiếc.
Anh
bạn thân mến, nếu là anh, tôi sẽ có quảng
thời gian rất tuyệt để học hành,
để chuẩn bị những dự án luật,
để viết bài cho tạp chí « Liên Lạc» (Le
Correspondant), để chuẩn bị cho nhiều cuộc
hội thảo, tọa đàm. Tôi không nghĩ sẽ sáng tác
thơ như anh theo cảm hứng nên đôi khi buộc
phải chờ đợi. Và không cần phải ngồi
chờ mệnh lệnh của một người thất
thường như nguồn cảm hứng… »
Thư Emmanuel d’Alzon, viết tại
Lavagnac ngày 14 tháng 8 năm 1829, nhà xuất bản. S.V,
tập I, trang 28-30
Thần học
về ơn gọi linh mục không phải phát sinh ở
thế kỷ 19 ! Nơi cha Emmanuel d’Alzon, khái niệm
về linh mục thay đổi rất nhanh theo ḍng
thời gian từ những ư tưởng và điều này
dẫn ngài dấn thân theo con đường làm linh
mục. Ta cảm thấy nơi ngài có sự chuyển
đổi từ những tác động của lập
trường giới tăng lữ và uy tín đặc
biệt của họ trong xă hội được nh́n
nhận lúc bấy giờ, sang thời kỳ họ ít gây
ảnh hưởng và cho dù hoạt của họ mang tính
huyền nhiệm hơn bằng việc tham dự sâu
sắc vào mầu nhiệm nhập thể của Đức Ki
Tô trong tâm hồn. Thần học về chức linh mục
dựa theo thần học về sự bắt
chước Đức Ki Tô.
Việc
chọn lựa làm linh mục đă trở thành con
đường sống trong ḷng E. d’Alzon từ thời niên
thiếu, theo lời kể của ngài. Người ta hay
nghe câu khẩu ngữ ở miền quê về việc
đánh thức ơn gọi : c̣n quá trẻ để
thực hiện dự định, nhưng không quá trẻ để
nghĩ đến nó. Ư tưởng về ơn gọi làm
linh mục đụng chạm với những thao thức
khác : khao khát một địa vị xă hội. Khao khát
ấy gắn liền với ngài từ khi ra đời,
gắn liền với học tập của ngài, gắn
liền với địa vị gia đ́nh của ngài. Tất
cả những yếu tố ấy hầu như cho phép
ngài nghĩ đến điều này. Khi anh thanh niên Emmanuel
thổ lộ nguyện vọng ấy với bố
mẹ, dù không từ chối, nhưng các ngài không
được phấn chấn cho lắm. Bạn bè
của ngài hầu như cũng tỏ ra không tán thành
với ngài. Ư kiến của họ rập khuôn theo
những bản đồ, những lập luận sẵn
có thường xuất hiện trong các tạp chí nằm
trong mục ư kiến bạn đọc, hoặc trong
những chương tŕnh truyền h́nh hiếm hoi dành cho
công chúng đông đảo bàn về chủ đề
đặc biệt này. Các phương tiện thông tin
đại chúng không được lạm dụng
những mầu nhiệm hoặc nguồn suối hồng
ân…
Thế
nhưng cha Emmanuel không nản chí. Ngài vạch ra những
chương tŕnh học tập, và những dự
định cho cuộc đời nhằm đưa ra
giải pháp và hướng những niềm đam mê về
sự chọn lựa nhất định : ngài cẩn
thận lắng nghe lời khuyên khôn ngoan của một
số linh mục mà ngài đặt niềm tin tưởng,
ngơ hầu mạo hiểm thầm kín của ngài, một khi
được thẩm định, được xem xét,
không bị thất lạc trong cát bụi do ảo
tưởng của tuổi trẻ. Sau việc học
tập, vui chơi, việc cầu nguyện, suy niệm và
tham gia đầy đủ các bí tích là những việc
đă trở thành sức mạnh đảm bảo cho cuộc
sống tự do, như là bản tính thứ hai. Tuổi
trẻ và tâm hồn non trẻ, nhưng ngài đă mang dáng
dấp của người lớn trong đức tin. Ở
Lavaganc, ngài đă chăm sóc cho sự chín muồi ơn
gọi suốt hai năm tĩnh tâm, đồng thời,
ngài sống như bao giới trẻ khác cùng lứa như
ngài, cùng môi trường như ngài, sống theo những
sở thích riêng, nhưng ngài cũng rất đ̣i hỏi
với chính ḿnh. Chính trong bối cảnh quân b́nh ấy, ngài
đi đến quyết định âm thầm thưa
tiếng « xin vâng » ban tặng cuộc
đời cho Giáo Hội, một tiếng « xin vâng »
hoàn toàn dứt khoát, một tiếng « xin vâng »
rộng mở với thế giới đang cần
được yêu thương, cần được
phổ biến tin mừng và cần được cứu
độ. Chúng ta hăy dành thời gian lắng nghe tiếng
khám phá của ngài :
« … bạn không muốn nghe
ḿnh giải thích tí nào. Ḿnh làm bạn hoảng sợ trong
chiếc áo linh mục. Thế nhưng, có nên chia sẽ
với bạn tất cả những suy nghĩ của ḿnh
trước khi bàn đến một chủ đề
khiến bạn ngao ngán vô cùng ? Trước hết, ư
định làm linh mục đặc biệt tạo lên
trong ḿnh niềm thích thú măi đến khi ḿnh lên
mười, mười hai. Thế rồi, ḿnh từ
bỏ nuôi dưỡng ư định ấy một thời
gian, và sự nghiệp quân sự cuốn hút ḿnh nhất lúc
này. Thế nhưng, ḿnh lại từ bỏ khi lắng nghe
một số ư kiến của bố mẹ. Nhưng
rồi không lâu sau đó, ḿnh nhất quyết dấn thân
trong việc bảo vệ tôn giáo. Từ đó, ư
định ấy phát triển mạnh trong ḿnh cách ngạc
nhiên. Lúc này đây, ḿnh thú thật điều đó với
bạn. Ḿnh cảm thấy cực kỳ ngán ngấy
những chức năng công cộng. Ḿnh rất muốn
bước vào con đường sự nghiệp, nhưng
điều đó chỉ nảy sinh trong một thời
gian ngắn. Quảng thời gian ngắn ngủi ấy
giúp ḿnh có thêm ánh sáng trên con đường quản lí. Thế
là ḿnh chỉ c̣n thấy một đấu trường duy
nhất xứng hợp với ḿnh là diễn đàn (la
tribune) Và thế là ḿnh nghĩ phải chuẩn bị
học rất nhiều. Đôi khi, cùng một nguyên tắc
khiến ḿnh ghê tởm những địa vị, và
bởi v́ ḿnh tự cho đang sống trong một Nhà
Nước không luật lệ, và v́ vậy, không có
quyền hành hợp pháp. Ḿnh cho rằng chính nơi Thiên Chúa
không sai đến, ḿnh lại cảm thấy cần
hiện diện để đem đến sự tối
cao của Ngài. Vậy nhưng, dưới mắt ḿnh,
sự tối cao ấy lại nằm trong Căn Pḥng
bầu cử và chỉ hiện diện trong Căn Pḥng
bầu cử mà thôi…Ḿnh nhanh chóng nhận thấy rằng
sự tối cao của Thiên Chúa không c̣n tồn tại trong
Ṭa Bourbon và Tuileries nữa. Ḿnh cũng nhận thấy
rằng trong một xă hội bệnh hoạn như
thế, người ta chỉ có thể có sự tác
động khi chia cắt khỏi nó và áp đặt lên nó
mọi uy thế của luật pháp mà xă hội thê thối
ấy không có quyền ban bố. Từ đó, ḿnh hoàn toàn
không c̣n hưng phấn trong việc tham gia chuẩn bị
làm đại biểu nữa. Ḿnh chỉ c̣n thấy chính
quyền pháp như một bộ máy củ kĩ và tan nát. Việc
tu sửa bánh xe trở nên vô ích và thậm chí nguy hiểm
nữa. Nhờ nhiều nhận định khác nữa, và
khi tự lập một phương hướng cho
cuộc sống, ḿnh đi đến quyết định,
nếu lập sự nghiệp, sớm nhất cũng
ở tuổi 35, trong khi đó, ḿnh thấy thích thú, trong
một sự nghiệp xa vời, khả năng dâng
hiến cuộc đời cho Thiên Chúa. Dần dần,
những khao khát gầy dựng sự nghiệp chính
trị tan biến, và ḿnh chỉ c̣n nhận thấy
trước mắt chức linh mục mà ḿnh không c̣n
phải hy sinh ǵ nữa, bởi v́ ḿnh không c̣n vướng
víu ǵ với trần thế nữa. Bạn có biết cái ǵ
làm ḿnh hoang mang lúc ấy không ? Đó chính là v́ ḿnh c̣n
thiếu ḷng phấn chấn mạnh mẽ, là do ḿnh c̣n
thờ ơ lănh đạm trong việc hy sinh và v́ ḿnh c̣n
chưa đủ niềm tin vào khả năng thu
lượm hoa trái. Ư nghĩ về sự dễ dàng có
thể cắt dứt những vương vấn làm ḿnh
hoảng sợ. Nhưng điều làm ḿnh lo sợ hơn
nữa chính là do hoàn toàn thiếu ḷng nhiệt huyết,
thiếu ḷng hưng phấn. Nhưng rút cục, ḿnh đă
có được sự hưng phấn ấy khiến ḿnh
không c̣n phải e sợ mang ghánh nặng trên vai… »
Thư E. d’Alzon gửi Luglien d’Esgrigny,
Paris ngày 24 tháng 1 năm 1830, S.V, tập I, trang.39-40. (Bạn
thân của cha d’Alzon)
T́nh
bạn đă chiếm một vị trí quan trọng trong
cuộc đời cha Emmanuel d’Alzon. Những lá thư minh
chứng điều đó, không chỉ đối với
những giai đoạn ban đầu thời sinh viên, mà
ngay cả trong những pha khác nhau khi ngài trở thành
một con người có nhiều trách nhiệm và nhiều
dấn thân hoạt động kế tiếp trong cuộc
sống: ở chủng viện, trong việc thực hành
những chức vụ của một linh mục tổng
quản, trong nghệ thuật hướng dẫn thiêng
liêng và ngay cả trong việc đứng đầu
để dẫn dắt các hội ḍng tu.
Ta
thường quen với những mối t́nh bạn của
tuổi trẻ hơn. Có nhiều tên tuổi
được biết đến: Bailly, d’Esgrygny,
Dreux-Brézé, Gouraud, de la Gournerie, Du Lac, Veillot, Popiel, Thiébault... Nói
chung, ta không quên ghi vào tiểu sử về cha d’Alzon tính cách
đặc biệt trong mối quan hệ của ngài
với Mẹ Marie-Eugénie de Jésus (1817-1898), một t́nh bạn
đánh dấu cuộc đời, một t́nh bạn
rất ấn tượng nhờ chất lượng,
nhờ sự mạnh mẽ, nhờ sự triển nở
nhiều. Vả lại, phái nữ không phải chỉ là
cách diễn tả nhẹ nhàng trong bút phong nhằm tô
đẹp vẻ văn chương rỗng tuếch. V́ có
liên quan đến nhiều việc sáng lập các cộng
đoàn, cha d’Alzon gây ấn tượng và tạo sự chú
ư dù ngài không muốn như vậy. Về phần ḿnh, ngài
biết dẫn niềm khao khát những mối quan hệ
mạnh mẽ theo chiều hướng xây dựng công
việc tông đồ và ngài cũng biết phó thác ư
hướng ấy dưới hơi thở của t́nh yêu
Thiên Chúa để con người được hơi
thở t́nh yêu ấy linh hứng nhằm có thể ban
tặng phần tuyệt vời nhất nơi con
người. Với cha Emmanuel d’Alzon, t́nh bạn chưa bao
giờ xa cách hoặc lạ lẫm với niềm đam
mê của ngài v́ Nước Trời. Ở độ
tuổi chững chạc hơn, cha d’Alzon dành một t́nh
thương thực sự của một người cha
đối với Marie Correnson mà ngài đặt hy vọng,
tin tưởng để lập ḍng Nữ Tận Hiến
Mẹ Về Trời. Có lẽ, Marie Correnson chỉ có
thể thực sự ư thức được điều
đó nhờ sức mạnh của kư ức sau khi ngài
đă ĺa cơi thế, vào những lúc khó khăn và do những
sự khác biệt với người kế vị
đấng sáng lập ḍng. Dù không được t́m
hiểu nhiều, nhưng những mối quan hệ
của cha với các tu sĩ đầu tiên của Ḍng
đáng có cái nh́n được đổi mới, đôi
khi cái nh́n ấy bị xóa mờ do những mối dây gia
đ́nh hay những mối dây quan hệ khác nhau. Cha d’Alzon
chắc chắn đă thưởng thức t́nh bạn
của cha Charles Laurent, một con người mang tính khí
tiên phong, đầy hài hước và nhanh nhẹn trong hoạt
động. Ngài luôn thích tính trung thực, thẳng thắn
và nhiệt huyết của cha François Picard dù ngài có những
điểm cứng cáp khó chịu. Ngài đă chọn cha
François Picard là người chỉ dẫn thiêng liêng và vào
những ngày cuối đời, ngài đă chọn cha Picard
làm cha tổng quản. Ngài cũng dễ dàng quí mến nét
đẹp của cha Vincent de Paul Bailly. Cha Vincent de Paul Bailly
là người biết tạo hứng thú vào bất cứ
việc ǵ do ngài làm hoặc do ngài viết ra. Cha d’Alzon đă
biết tiên đoán và cảm nhận những phẩm
chất tông đồ quí báu của cha tương lai Pernet
khi Marie-Eugénie de Jésus dẫn ngươi thanh niên trẻ trung
Pernet có vẻ hay do dự và gầy yếu xuống Nimes. Hẳn
cha d’Alzon là người mang tính độc quyền, song ngài
không phải là một tên bạo chúa ghê sợ. Thư riêng
của ngài cho thấy những t́nh cảm đầy
tế nhị. Qua đó những phẩm chất ḷng ngài
tỏ ra không bị ngột ngạt, cũng không làm
người ta ngột ngạt.
“ ... Bạn thân mến, ḿnh
đang bực tức v́ thiếu suy nghĩ nên ḿnh đă
không viết thư cho bạn khi ở trường Juilly. Ḿnh
muốn kể cho bạn biết những chuyện mà
giờ này có lẽ không đúng lúc nữa. Ḿnh đúng là
một kẻ thiếu suy nghĩ (un élourdi?). V́ vậy, chúng
ta đừng nhắc đến điều này nữa nhé.
Bạn khiến ḿnh buồn lắm khi nói với ḿnh
rằng bạn tin Lord Bryon quá kiêu ngạo nên khó có bạn
bè. Bạn biết không, chính ḿnh là một người
rất kiêu ngạo. Kiêu ngạo là nền tảng tính cách
của ḿnh. Thế nhưng ḿnh cảm thấy quí mến
bạn. Bạn có biết yêu là ǵ không, ḿnh muốn nói
về t́nh bạn. Hăy nói với ḿnh chút ít về t́nh bạn
nhé. Đôi khi ḿnh buồn chán, bởi v́ ḿnh cảm thấy
dường như t́nh yêu (t́nh thương) ḿnh dành cho
những người ḿnh gắn bó không cháy bỏng bằng
t́nh thương họ dành cho ḿnh. Ngày hôm nay, ḿnh nhận ra
hoàn toàn nhầm lẫn về việc gắn bó và việc
này vẫn chưa sửa đổi. Ḿnh cần phải yêu
thương và ḿnh cần phải yêu thương ai đó. Ḿnh
không biết sẽ chứng tỏ được
điều đó đến bao giờ, như ḿnh đă
chứng tỏ niềm đam mê t́nh bạn. Niềm đam
mê t́nh bạn ấy là ngọn lửa đang lụi tàn v́
bừng cháy vô dụng. Có lẽ ngọn lửa ấy
đang cần ai đó muốn nó. Ḿnh mong kỳ tĩnh tâm
đă mang lại cho bạn mọi điều thiện
hảo có thể được. Sáng nay và thứ năm
tuần trước, ngày lễ truyền tin, ḿnh
đặc biệt nghĩ đến bạn và Thiébault. Đôi
khi ḿnh hoảng sợ mang trong ḿnh t́nh yêu đối với
bạn bè trước mặt Thiên Chúa. Và ḿnh nhận ra
cần làm cho t́nh yêu ấy trở nên vẹn sạch :
omnia munda mundis.
Như thế, ta có thể phó dâng
bạn bè cho Thiên Chúa, dâng lên Người t́nh yêu của
Người dành cho họ. Và việc ấy mang lại ích
lợi. Bạn thân mến, ngày nào cũng vậy, tối
nay hơn bao giờ hết, ḿnh tin chỉ có hạnh phúc
trong đạo (tôn giáo), và nhất là trong việc thực
hành đạo. Cũng như đúc tin, sự thông minh
lớn lên trong việc hành đạo ! Như
đức ái làm rộng mở con tim ! Nhưng cần
mang thập giá ḿnh, cần biết gánh thập giá, chứ
không kéo lê lết sau lưng. V́ nếu chúng ta không đón
nhận thập giá như một sự trợ giúp, như
một chỗ dựa, vậy thập giá chồng chất
lên chúng ta như trọng lượng mệt nhọc mà ta
không thể trút xuống được. Ḿnh sẽ không nói
thêm ǵ nữa với bạn tối nay. Đă gần một
giờ sáng. Ḿnh đă hy sinh cho bạn mọi Kư ức. Vậy
bạn hăy nói cho ḿnh biết bạn có yêu mến ḿnh như
ḿnh yêu mến bạn không.
Emmanuel.
Thật tuyệt vời
khi đă viết một lá thư đẹp ! »
E. d’Alzon gửi Luglien
de Jouenne d’Esgrigny, cuối tháng 3 năm 1830, trích theo những
bức thư d’Alzon, nhà xuất bản. S.V, tâp I, trang.47-48
Cha
Emmanuel quyết định vào đại chủng viện
Montpellier lúc 22 tuổi. Ngài sẽ học tại nơi này
độ chừng 13 tháng, tương đương
một năm rưỡi nếu tính theo lịch học
đường, từ ngày 15 tháng
3 năm 1832 đến cuối tháng 6 năm 1833. Cha
nhận phép cắt tóc ngày 16 tháng 6 nhân ngày lễ Chúa Ba Ngôi
năm 1832, tiếp đó ngài lănh nhận bốn chức
nhỏ (ordres mineurs) vào ngày lễ Chúa Ba Ngôi năm 1833 ngày
thứ bảy mồng một tháng sáu.
Đại
chủng viện Montpellier thời ấy là nhà ḍng cũ
của Récollets thế kỷ 17. Nhà ḍng này được
Đức Cha Jean-Louis Simon Rollet lấy lại năm 1807. Ngài
là Vị Giám Mục đầu tiên thuộc kư kết
giữa Giáo Hoàng và nhà nước ở Montpellier (évêque
concordataire). Nhà ḍng- chủng viện này nằm trên
đường Castelnau. Ngày nay chỉ c̣n lại nhà
nguyện dùng làm Sở lưu trữ văn thư của
tỉnh. Ngôi nhà này có chừng 120 pḥng, phân bố theo hai dăy
vây quanh lối ra vào. Ngày nhập chủng viện, Emmanuel
chính thức ở pḥng số 937. Ngài thi ba hoặc bốn
môn được giảng dạy trong chủng viện:
tháng sáu năm 1832, thi về các bí tích; tháng hai năm 1833 thi
môn về mầu nhiệm nhập thể và giáo luật;
tháng sáu năm 1833 thi môn bí tích
hôn phối và bí tích thánh thể.
Những
cảm nhận đầu tiên của Emmanuel sau thời
kỳ trăng mật kết thúc tan biến nhanh khi ngài
tiếp xúc với những thực tế khó chịu
của cuộc sống nội trú trong chủng viện:
chế độ học tập hay bị gián đoạn
theo nội qui, lối sống khép kín trong đó việc
đọc sách, thư từ, việc tiếp khách
đều nghiêm ngặt, mối quan hệ bạn bè
của các chủng sinh mới bị đánh giá hơi
cứng nhắc. Dưới ng̣i bút của ngài, có nhiều
điểm ghí chú khắt khe hoặc ngộ nghĩnh:
chủng viện được đánh giá là “Đan viện
trí thức”, việc giảng dạy được
biếm họa bằng những bài tập kiểu “ nhắc
đi nhắc lại như con vẹt” (pur psittacisme),
hương vị cá moruy (cá tuyết) lan tỏa khắp
vùng. Đây là một loài cá không có trong bữa ăn
thường nhật ở Lavagnac! Đặc biệt,
chủng viện hay bị xáo động do những
cuộc tranh luận phản đối ngài Lamennais. Đức
Giám Mục phản đối Lamennais dữ dội. Ngài
cấm đọc báo TƯƠNG LAI (Avenir) v́ có những bài
viết của Lamennais.
Tuy
nhiên, mọi thành ngữ cay đắng, buồn chán,
hoặc ngán ngấy của cha Emmanuel nên hiểu cho đúng:
vốn người miền Nam, ngài măi sẽ là
người miền Nam, vả lại, ngài sẽ biến
chính ngài thành người miền Nam với kinh nghiệm
của thời gian và với việc nh́n lại bản thân
khi cần thiết. Về sau, ngài sẽ rút ra nhiều kinh
nghiệm tốt từ những tháng ngày sống trong
chủng viện: tính chuyên cần, niềm ham thích
đời sống tập thể, ḷng nhiệt thành về
Hiệp Hội thiêng liêng do ngài lập nên, học giỏi
một số môn, thực hiện dự định
trở thành linh mục. Trong số 36 chủng sinh năm
1831-1832, chỉ có 18 người sẽ nhận chức linh
mục. Cha Emmanuel tiếp tục gắn bó với
địa phận Nimes. Ngày 1 tháng 6 năm 1833, 24 chủng
sinh nhận các chức nhỏ (ordres mineurs). Chúng ta hăy
lắng nghe cảm nhận đầu tiên của cha Emmanuel
khi ngài vào chủng viện:
“ ...Bạn thân mến, vậy là ḿnh đă nhập
chủng viện! Ḿnh hài ḷng, hài ḷng lắm và ḿnh tin
người hạnh phúc có thể cảm nhận
điều ǵ đó. Đúng là ḿnh đă trải qua một
nỗi buồn sâu nặng. Đó là lúc ḿnh rời Lavagnac. Ḿnh
lặng lẽ ra đi. Người mẹ tội
nghiệp của ḿnh đă tỏ ra rất can đảm
chấp nhận hy sinh. Mẹ ḿnh đă bảo cứ âm
thầm ra đi, đừng nói ǵ với mẹ. Thực
vậy, ḿnh đă không nói ǵ. Dù làm chủ được
bản thân, song con người ḿnh xao động khôn
lường. Giờ đây, mọi sự đă b́nh tâm
trở lại và ḿnh trở nên vui vẻ, ḿnh vui hơn chính
niềm vui cần có. V́ một ngày rưỡi đă trôi
qua, ḿnh nhận ra điều cần phải có...Ngày mai
hoặc ngày mốt, hoặc sau này, ḿnh mặc áo chủng
sinh, và ḿnh rất muốn bạn nhắc lại câu bạn
từng nói với ḿnh về hậu quả của nó
để làm băng giá tâm hồn.
Ḿnh miêu tả căn pḥng nhé. Trong
lối đi lại rất dài từ Bắc chí Nam. Khi
đến từ hướng Nam, bạn vào phía bên trái.
Cửa chính nằm bên phải bức tường, dọc
theo bức tường có một chiếc vali lớn, hai
chiếc bàn nhỏ và một số ngăn sách dựa vào
búc tường chắn xiên xẻo có nguy cơ đè lên ḿnh
do những quyển sách trên đó. Cửa sổ đối
diện cửa chính. Bạn rẽ: bạn sẽ thấy
một tấm ván, một cái vali lớn, giường
ngủ của ḿnh, nhưng bạn vẫn đang ở
ngoài cửa.
Không
có ǵ quấy nhiễu ḿnh cả. Chỉ có điều ḿnh
thấy việc học quá gián đoạn. Các chủng sinh không
bao giờ có ba tiếng đồng hồ dành riêng một
lúc. Ḿnh cảm thấy lịch học như vậy quá mang
tính học đường. Đời sống thường
ngày không đến nỗi tệ. Theo khả năng
thẩm định nhờ tham gia những cuộc tọa
đàm về thần học, ḿnh thấy các chủng sinh
không giỏi lại hay tranh căi những chuyện lung tung
đến nỗi mất lư trí. Thật phí quá nhiều
thời gian căi nhau những chuyện không đâu, trong khi
lại quên đi những vấn đề thiết
yếu. Ḿnh bắt đầu viết lá thư này tối
hôm qua lúc chuẩn bị đi ngủ. Ḿnh đă không
thể viết xong v́ tiếng chuông báo hiệu phải
tắt đèn. Ḿnh phải thức dậy năm giờ
sáng. Dầu vậy ḿnh vẫn thấy ngủ quá nhiều.
Lúc 9 giờ,trong khi ḿnh phải lên
dường ngủ, c̣n bạn th́ bắt đầu
nhảy múa. Nghĩ cũng buồn cười thật. Cho
đến lúc này, ḿnh không có lí do phải buồn chán v́ ḿnh
thấy thời gian quá ngắn ngủi. Nhưng có lẽ
ḿnh sẽ t́m được những thời giờ thích
hợp. Dường như ḿnh không có một lúc để
nghĩ về quá khứ. Vĩnh biệt bạn dấu yêu,
vĩnh biệt trái tim tôi, như Đức Giám Mục đă
nói với ḿnh hôm kia. Bạn hăy giữ ǵn sức khỏe,
hăy vui lên, và nếu bạn cảm thấy thích đến
thăm chúng ḿnh, nhớ nên đến vào tháng bảy. Trong
kỳ hè, ḿnh có ư định đi nghỉ ở ḍng chartreuse.
Chúng ḿnh sẽ đi đón nhau, sẽ hẹn gặp nhau
ở Du Lac. Chương tŕnh như vậy không đến
nỗi tồi đấy chứ. Cuối cùng, bạn hăy
tin một điều, đó là nếu bao giờ bạn
chán không thích học nhảy nữa, nên biết rằng,
bạn không có cách thư giản
tuyệt hơn ở Chủng Viện đâu.”
Emmanuel, từ chủng viện
Montpellier ngày 16 tháng 3 năm 1832, nhà xuất bản. S.V,
tập I, trang.289-292
Thư
gửi Luglien de Jouenne d’Esgriny (1806-1888)
Ngày
20 tháng 11 năm 1833, cha Emmanuel đi trên tàu Henri IV giữa
Marseille và Civatavecchia. Gia đ́nh nhờ cha Gabriel đi cùng để giúp đỡ
ngài khi cần thiết. Cha Gabriel là cha xứ thánh Ursule
ở Pézénas lúc bấy giờ. Ngài là một linh mục có
học thức, nhân cách, nhiệt t́nh hăng hái. Ngài rất
mến mộ Lamennais. Chuyến đi này c̣n có anh chủng
sinh Eleuthère Reboul. Thế là trọn bộ ba. Những
đoạn đường từ Gênes và Pise tạo thêm
niềm vui thú trong chuyến đi : ngày 26 tháng 11 cha
Emmanuel viết thư cho em gái Augustine. Đây là lá thư
đầu tay của ngài ở Rôma. Ngài đă kiên nhẫn
chờ đợi trong bùn lầy v́ việc kiểm tra
hộ chiếu và ngài đă «chờ rất lâu » ở
trạm hải quan. Ngày đầu tiên của ngài khởi
đầu như thế trong Thành Đô Vĩnh Cữu (tháng 11
năm 1833- tháng 5 năm 1835). Ngài sẽ trở lại thành
đô này tám lần (tháng 5 và tháng 6 năm 1855, tháng 5 và tháng 6
năm 1861, tháng 5 và tháng 6 năm 1862, tháng 4 và tháng 5 năm
1863, từ tháng 11 năm 1869 đến tháng 7 năm 1870, hai
lần năm 1877 (tháng 1 và tháng 2, tháng 4 và tháng 6), tháng 2 và
tháng 4 năm 1878. Năm 1833, ngài nhanh chóng t́m được
chỗ trọ tại nhà ḍng của các tu sĩ Minimes. Nhà
ḍng này gắn liền với nhà thờ Sant’ Andrea delle
Fratte, gần Quảng Trường Espagne. Sau khi đă
đăng kư học thần học tại trường
Rôma (Collège romain), theo lời khuyên của cha Ventura, cựu
tổng quyền của ḍng Théatins ( ? ), cha d’Alzon thích ở
nhà học một ḿnh trong pḥng hơn, như thời ngài c̣n
ở Lavagnac. Ngài hay đi lại với nhiều
người uy tín trong giáo hội như Đức Hồng Y
Micara linh mục ḍng Đa Minh, cha ḍng Đa Minh Olivieri, cha ḍng Cát Men
Mazzetti. Tất cả đều là những thần học
gia yêu thích tư tưởng của Lamennais. Trước
khi đến gặp những nhân vật này, ngài
đọc và tóm tắt trước những ư tưởng
triết học, thần học, chính trị tôn giáo hóc búa
trong sách. Ngài cũng lập quan hệ với trưởng
khoa trường anh ngữ. Người này là tổng giám
mục và Hồng Y tương lai Wiseman. Người anh em
họ của Wiseman, cha Charles Mac- Carthy dạy tiếng anh
cho cha Emmanuel d’Alzon, trước khi ngài đi theo con
đường ngoại giao.
Ṿng
tṛn những mối quan hệ của cha Emmanuel trải theo
những người Pháp và những người
nước ngoài đang sống ở Rôma. Ông d’Auriol làm
việc ngân hàng, Paul Delaroche con rể của họa sĩ
nổi tiếng Horace Vernet sau này nối nghiệp ông ở
Villa Medicis, ông Fournas, họa sĩ Xavier Sigalon, ông Rubichon nhà
kinh tế gốc Grenoble, họa sĩ người
đức Peter von Cornelius, cha sở tương lai Dreux-Brézého,
anh em Bernis. Nhưng cha Emmanuel cũng biết hạn chế
trong quan hệ, v́ ngài nhận ra rằng để có
thể học hành, không nên đi lại quá nhiều. Ngài
đặc biệt nắm bắt thông tin trực tiếp
vụ kết án ông Lamennais,
trong ḷng Giáo Hội ở Rôma
năm 1834 : Ngài đau khổ v́ bầu khí tan
thương về chính trị, tôn giáo trong đó nền
ngoại giao của Giáo Hoàng dù không tằn tiện, nhưng
đôi khi v́ cái mặt nạ của tư tưởng
thần học. Bởi vậy, ngài tự đưa ra cho
bản thân ngài một lẽ sống : « luôn luôn
hành động v́ Rôma, không bao giờ hành động
phản lại Rôma, nhưng đôi lúc hành động không
Rôma ». Chúng ta hăy cùng với ngài, với đôi mắt
của ngài, với tư cách là những người hành
hương, những người ngưỡng mộ
đầy hưng phấn cùng nhau khám phá những nét
đẹp của thành đô Rôma :
« … Sáng nay ngày 26
tháng 11 năm 1833, anh trở lại nhà thờ thánh Phêrô. Anh
vẫn không thích mặt tiền, nhưng anh đă rất
thoải mái ngắm nghía với vẻ khâm phục tất
cả nội thất của nhà thờ. Bên trong thánh
đường thật tuyệt vời. Càng bước
vào trong ḷng, không gian cung ḷng thánh đường càng
trải dài, mở rộng ra. Không thể diễn tả
hết nét đẹp diệu kỳ của mọi thứ
trong ngôi nhà này. Các bức tượng, những bức
tranh, những ngôi mộ của các vị Giáo Hoàng. Tất
cả đều đáng ngưỡng mộ. Một khi
đă vào trong cung thánh đường này, ḿnh sẽ
ngất ngây v́ vẻ đẹp trang hoàng như thế. Buổi
tối cùng ngày, tụi anh lại trở lại ghé thăm
lần nữa. Càng xem, càng yêu thích vô cùng. Nhưng nói
thật với em, anh không thích mặt tiền chút nào, anh
cũng không thích tấm màn che trước ṭa giải
tội thánh Phêrô…Rôma là một thành đô làm say đắm
ḷng người. Đảm bảo với em, anh không khoác loác
tí nào. Suốt ngày anh chỉ biết chạy theo ngắm
nghía, thưởng thức nét đẹp nơi đây. Đúng
là một việc diệu kỳ. Những công tŕnh lớn
hầu như cũng mang những nét kiều diễm chung
như những ngôi nhà. Tụi anh đi qua một vài
đường phố khá b́nh
dị : bỗng chốc, mọi người dừng
lại trông ngắm thác nước Trevi rất đẹp
chảy dài ra con sông nhỏ. Em có thể tin như thế,
bởi v́ anh chỉ chiêm ngắm khi đă trông thấy. Ông
Gabriel cho rằng anh mang ḍng máu cá. Anh cứ để
mặc ông ta nói…Anh sẽ kể tiếp cho em nghe về
thánh đường Sainte-Marie Majeure. Sáng nay, anh đă …
Trích
thư gửi Augustine d’Alzon, ngày 26 tháng 11 năm 1833, nhà
xuất bản. S.V., tập I, trang 450-451
Anh bắt đầu đi lại
dễ dàng thăm nhiều nơi ở Rôma. Rất
tuyệt vời. Nói cho cùng, anh nghĩ phải mất
hơn một năm mới tham quan hết thành đô Rôma.
Sainte-Marie Majeure, Saint Jean de Latran, Saint Paul ở ngoài bức
tường thành (hors les murs ?),
le Colisée và vô số
công tŕnh mà anh chỉ mới thoáng qua. Nếu muốn
thướng thức đầy đủ cách chi li, anh
phải quan sát lần nữa. Qua đó, em có thể
tưởng tưởng tất cả những ǵ
đẹp nhất nơi đây. Tụi anh thường
đi mua sắm ngày thứ năm, bởi v́ phải
chạy tứ tung suốt ngày. Tụi anh tham quan từ từ
những công tŕnh gần nhất…
Trích thư gửi
Augustine d’Alzon, ngày 14 tháng 12 năm 1833, o.c, trang. 461
Tối nay, ngày 24 tháng 2 năm 1834,
ḿnh đă đến Colisée ngắm trăng lên. Ḿnh ngồi
trên những bậc tầng cấp h́nh thập giá nhằm
bảo vệ Colisée…
Trích thư gửi
d’Esgriny, o.c., trang 511
Tối nay (ngày 31 tháng 3 năm 1834),
ḿnh đă đi thăm cây đèn nổi tiếng
(girandole ?). Ở Paris, có thể ḿnh đă xem pháo hoa
đẹp chưa từng có, nếu nói chi li như
thế, nhưng chùm đèn này, ḿnh chưa bao giờ trông thấy.
Hôm qua, ḿnh đă thấy ṿm chót vót chói lọi của nhà
thờ thánh Phêrô. Bạn chưa bao giờ thấy cái ǵ có
thể sánh ví được với nó…
Trích thư
gửi d’Esgriny, o.c., trang.539
Hôm qua (ngày 4 tháng 6 năm 1834), con
đă tận hưởng một trong những vở
kịch tuyệt vời nhất mà con chưa bao giờ xem…
Chúng con đi xem cây Sồi miền Tasse trên đồi cao
chót vót Janicule. (Janicule là một trong bảy đồi
ở Rôma nằm bên cánh tả sông Tibre nước Ư).
Mặt trời đang lặn dần sau lưng chúng con và
chiếu những tia sáng vàng óng lên trên cái ṿm bát úp chót vót nhà
thờ thánh Phêrô. Cái ṿm bát úp chót vót này xuất hiện cách
hoàn toàn tách biệt khỏi phần c̣n lại của thành
phố. Thành phố Rôma đối diện chúng con và
vẫn c̣n chói lọi với những ánh sáng sau cùng của
ban ngày. Xa hơn nữa, những ngọn núi Sabine và Albano
bắt đầu bị hơi nước bao phủ.
Thật quyến rũ. Sau khi đă chứng kiến
những cảnh tượng ấn tượng như
thế, chúng con mới có thể hiểu thành đô Rôma.
Thành đô này rất tráng lệ bởi những ṭa nhà
xuống cấp và những công tŕnh mới. Có thể
nhận ra những ǵ tồn đọng lại của cung
điện hoàng đế Néron để phân biệt
với những ṿm bát úp của Vatican…Con mong cha thứ
lỗi v́ lẽ ra con phải kể thêm những chi
tiết về các ṿm bát úp ấy, về những
vườn cam, về những ḍng suối, về những
lâu đài, về ḍng sông cổ kính Tibre luôn có những
cơn sóng màu vàng, về những cây thông tượng
trưng ánh mặt trời rất tuyệt đẹp
ở chân trời. Mong cha trồng một ít thông nơi
mảnh đất bỏ hoang…
Trích thư gửi cha Henri d’Alzon, o.c., trang.580
Con chỉ chú ư đến mọi
người khi nh́n qua cửa sổ. Con thấy phố
Tivoli, nơi trước đây nhà thơ Horace đă
từng sống, phố Monte-Porzio, nơi có nhà chính trị
thời xưa sinh sống, phố Tusculum của Cicéron,
phố Albano, cái nôi của đế chế rôma, những
dấu tích đọng lại của một số
đền đài. Gần sát chỗ con, con thấy nhà
thờ Sainte-Croix de Jérusalem, tại nhà thờ này
người ta bảo tồn phần lớn nhất
của cây thánh giá. Chính cây thập giá này đă khiến cho
những trào lưu tư tưởng triết học vô
thần mất dần tác động. Đó là l’épicurisme d’Horace,
le stoicisme de Caton, le platonisme de Cicéron. Cây thập giá này
cũng làm giảm đi sự đàn áp của đế
chế rôma, đồng thời đặt ra những
luật mới và một vị thần mới… »
Trích thư gửi cha Henri d’Alzon, o.c., trang 758
Nhờ
t́m hiểu thông tin, chúng ta biết nhiều giai đoạn
khác nhau trên con đường tiến đến chức
linh mục của cha Emmanuel d’Alzon, từ Montpellier
đến Rôma. Những lá thư của ngài vừa cho chúng
ta biết việc ngài chuẩn bị để
hướng về chức linh mục, vừa nói lên sự
quí trọng thiên chức này nơi ngài, vừa diễn
tả ḷng nhiệt thành và niềm vui của ngài khi
được mời gọi lănh nhận chức linh
mục. Trong con người của ngài chứa sự ḥa
lẫn nhiều cảm xúc, t́nh cảm và sự tin
tưởng v́ lí tưởng sống của ngài
được thúc đẩy mănh liệt theo nhiều
sự kiện. Trước ngày lănh nhận các chức thánh
(ordres majeurs), thứ 6 ngày 12 tháng 12 năm 1834, ngài phải
kư vào biên bản đồng ư với bức thông
điệp Singulari Nos của Đức Giáo Hoàng về
việc kết án những tư tưởng của
Lamennais. Ngài phản ứng rất mau lẹ : «Đức
Hồng Y Odescalchi đă trấn an con là Đức Giáo Hoàng
rất hài ḷng về thái độ vâng nghe mau lẹ của
con. Thật hơi buồn khi lấy ḷng của Đức Giáo
Hoàng theo cách ấy ».
Lịch lănh nhận
những chức lớn của
cha d’Alzon (tiền phó tế ngày 14 tháng 12, chức phó
tế ngày 20 tháng 12, chức linh mục ngày 26 tháng 12 cùng
năm 1834) có thể gây ngạc nhiên đối với
chủng sinh ngày nay bởi chủng sinh thời nay phải
tuân theo những khoảng thời gian nhất
định ! Việc thi hành kỳ thực tập khi
làm phó tế, hoặc năm làm phó tế có thể thay
đổi tùy theo từng lục địa. Tuy nhiên
việc này đ̣i hỏi phải có hiệu quả
trước khi lănh nhận chức linh mục. Việc ôn
lại kinh nghiệm hoạt động tông đồ trong
nhóm cũng thuộc một phần quan trọng trong quá
tŕnh dẫn nhập vào việc truyền chức thánh,
nhưng ta không t́m thấy ǵ về điều này trong
chặng đường của cha d’Alzon. Ta phải
thừa nhận rằng những chức năng của ngài
trước đây quá đủ để bù lại
điểm khiếm khuyết này của ngài !
Điểm
trọng yếu hơn là đích điểm mà cha Emmanuel
d’Alzon khi ngài hướng đến chức linh mục
trong bôi cảnh phải t́m con đường sống trong
Giáo hội. Chúng ta cảm thấy ngài không t́m cách để
vào trong một lối sống có sẵn, cũng không
phải để gầy dựng cơ nghiệp. Ngài
chưa biết sẽ làm việc ǵ để phục
vụ Giáo Hội khi ngài giải thích rơ ràng với mẹ
của ngài những ư định riêng giữa vô vàn thắc
mắc : « Con tin rằng bàn tay Thiên Chúa sẽ
thực thi công việc, c̣n con người chỉ góp công…Con
phó thác mọi sự cho Đấng Quan Pḥng…Trên hết mọi
sự, con tin chắc không phải khi thi hành ư muốn
của riêng con là con thi hành ư muốn của Thiên Chúa.
Nếu chỉ làm những việc con muốn, vậy c̣n
biết bao việc con chưa chu toàn ».
Những tư
cảm nhận sâu thẳm nơi con người của
ngài : tính sẵn sàng và tinh thần phục vụ.
Những tố chất ấy sẽ cho phép ngài dần
dần khám phá đâu là con đường và việc ngài có
thể làm trong Giáo Hội địa phương. Trong
những ngày mừng lễ sinh nhật, ngài thích nhấn mạnh
ngày ngài thưa tiếng « xin vâng với Giáo Hội ».
Ngày ấy sẽ hiện diện măi măi trong cuộc
đời ngài.
«Thánh
lễ đầu tay của con đến hôm nay đă sang
ngày thứ tám. Sở dĩ con chưa viết thư cho
mẹ là v́ con luôn chờ thư mẹ mỗi ngày. Con có
thể viết ǵ cho mẹ về tất cả những
cảm nhận của con trong tám ngày qua nhỉ ? Vâng
mẹ ạ, cần dâng thánh lễ th́ mới hiểu
được thánh lễ là ǵ. Con vẫn chưa thể
hiểu được ǵ. Từ tám ngày nay, Chúa nhân lành
đối xử với con như với một
đứa trẻ được nuông chiều. Con hạnh
phúc mẹ ạ. Con hạnh phúc hơn sức tưởng
tưởng. Con hạnh phúc hơn niềm hạnh phúc
của con người trên thế gian. Tuy nhiên, đúng là con
người ở hạ giới này chỉ giám nghĩ
tới một mức độ hạnh phúc, c̣n con, con
sẽ không có quyền đ̣i hỏi Đấng Quan Pḥng ǵ
nữa trong phần c̣n lại của cuộc đời
con. Con đă nhận phần thưởng trước
rồi. Mấy ngày nay, con dâng lễ tại bàn thờ thánh
Phêrô, nơi ngôi mộ của thánh Phêrô và thánh Phao lồ.
Hiện tại, con dâng lễ một ḿnh với một giáo
sĩ. Con không cần phải vội vàng. Mẹ sẽ không
tin nổi điều tuyệt vời trong tất cả
những việc con đang làm. Thế nhưng, chỉ măi
đến hôm nay, con mới đủ vững tin
để vững vàng đọc những lời ban phép
ḿnh thánh Chúa (lời truyền phép). Dù thuộc làu làu
những lời ấy, con vẫn thấy ḿnh như c̣n
đang ở trong mây. Con không biết ḿnh đang ở
đâu nữa. Con mong sẽ không làm mẹ quá đau
buồn khi kể cho mẹ nghe tất cả những
điều đó. Song con muốn nói chuyện khác với
mẹ. Trong lá thư cuối cùng mẹ gửi cho con,
mẹ tâm sự những e ngại của mẹ về con.
Mẹ nói mẹ không an tâm lắm đối với linh
mục tự do. Mẹ hiểu như thế nào khi nói
về linh mục tự do ? Con không hiểu rơ lắm
về điều này. Có phải linh mục tự do khi
được Giám Mục cho phép không làm cha xứ, không làm
cha phó ? Trong trường hợp này, cha M. Vernière sẽ
nói cho mẹ hay rằng những linh mục giỏi
nhất mà ngài đă đào tạo đều không ưa
thích làm cha xứ, không thích giữ chức cha phó.
Cha
M. Vernière muốn con trở thành nhà truyền giáo. Khi ghé qua
Saint-Eusèbe, con đă tham khảo ư kiến của một
số cha ḍng tên, họ nghĩ con nên đi rao giảng th́
tốt hơn. Đức Hồng Y Micara, khi con hỏi ư
kiến của ngài, cho rằng con không nên hành động
cách cập rập của người Pháp, mà nên tiếp
tục học hành, bởi v́ ngài tin con sẽ là một giáo
sư giỏi cho Chủng Viện. Không ai hướng con
theo làm cha xứ hoặc cha phó. Tuy nhiên, con có ư định
làm linh mục phó trong một năm với mục đích
tích lũy kinh nghiệm mục vụ. Con nghĩ,
điều cản trở mẹ thấy rơ địa
vị của người linh mục chính là v́ hệ
thống Giáo Hội phân làm hai phần, một phần
thuộc về giáo sĩ ḍng, một phần thuộc
về giáo sĩ triều : giáo sĩ triều trong Giáo
Hội giống những thành phần thẩm phán trong Nhà
Nước. C̣n giáo sĩ ḍng giống như binh đoàn
của giáo hội (armée ecclésiastique). Vậy nhưng, ở
Pháp, binh đoàn này không c̣n nữa. Số ít ỏi c̣n
lại hầu như chẳng có nghĩa ǵ. Vậy
những người nhận ra ơn gọi làm linh
mục, nhưng đúng ra là ơn gọi linh mục tranh
đấu (militaire), ở trong một địa vị
đặc biệt, nếu con có thể nói như
vậy… »
Trích thư gửi bà d’Alzon, Rôma ngày 3
tháng 1 năm 1835, theo nhà xuất bản. S.V., tập I,
trang.767-768
Chắc
hẳn những năm 1835-1842 là thời kỳ chúng ta có ít
thông tin nhất về cuộc sống cụ thể và
cuộc sống thường ngày của cha d’Alzon v́ không có
đủ tài liệu. Năng lực và tính nhiệt
huyết tràn trề, vị linh mục trẻ trung dấn
thân trong nhiều lĩnh vực tông đồ do nhu cầu
đ̣i hỏi ở Nimes : giáo lư, bảo trở
hướng dẫn giới trẻ, thuyết giảng,
chỉ đạo trường học, hướng
dẫn thiêng liêng, chỉ đạo những công tác xă
hội và những công việc phiếm họa đă có
hoặc được sáng lập, sáng lập các cộng
đoàn tu, tố chức những đêm gặp gỡ mang
tính trí thức, tổ chức những cuộc tọa
đàm về học vấn. Sẽ rất khó lập ra
một danh sách thống kê các hoạt động vô vàn
của ngài : một danh sách ngắn ngọn ta
thường dễ nhớ không nên hiểu tính cấp bậc
nào đó trong những trọng trách của ngài. Chính v́
vậy mới xuất hiện những cách người ta
gọi ngài, một số người ngưỡng mộ
ngài, một số chỉ trích ngài. Thế hệ sau này
đă không thể tóm gọn được để nói
về ngài : cha sở d’Alzon ư? Một linh mục
nhiệt thành, đảm đang tháo vát là điều không
thể phủ nhận, nhưng ngài cũng ham quá nhiều
việc và không đi đến cùng. Vị Giám Mục
Chaffoy già nua năm 1835 nói với mọi người
muốn lắng nghe ngài rằng ngài không biết làm ǵ
với vị linh mục mới hơi khó chịu. Vị
Giám Mục kế ngôi ĐGM Chaffoy là ĐGM Cart sẽ
đưa ra những nhận xét rất mang dấu ấn
của giám mục khi ngài cố giảm bớt ḷng
nhiệt thành đến mức điên cuồng của
vị tổng quản : « Ngài (cha d’Alzon) sẽ
thúc giục tôi, c̣n tôi, tôi ḱm hăm lại ».
Tuy
nhiên, chúng ta sẽ sai lầm nếu chỉ giữ lại
con người cha d’Alzon vời h́nh ảnh nông cạn
của một linh mục « mang chủ nghĩa
hoạt động (activiste)» trong suốt những
năm tháng mà công tác tông đồ thông thường đúng
là theo kiểu chung chung hơn là theo một hoạt
động chuyên sâu. Ngày 14 tháng 11 năm 1835, cha d’Alzon
đến Nimes. Ngài nghĩ đến một cuộc
sống khiêm tốn để không c̣n cuộc sống sung
túc của gia đ́nh, cha d’Alzon chỉ có một mục
đích trong đầu, phục vụ Giáo Phận Nimes. Giáo
Phận Nimes đang cần phải xây dựng lại sau
cơn băo tố của cách mạng và chỉ c̣n lại
những thiệt hại vật chất. Vả lại,
năng lực làm mục vụ của ngài nhanh chóng
được nh́n nhận : ngài được
chọn làm kinh sỹ (chanoine) và chức vị cha tổng
quản đáng kính thời ĐGM Chaffoy (1835), ngài chính thức
trở thành một trong những vị tổng quản
chính của ĐGM Cart (1839). Thời gian biểu của ngài lúc
bấy giờ được vạch ra trong những
việc phục vụ nặng nề với chức
năng quản lí hành chính (administration) và tạo sinh khí cho
(animation) giáo phận. Ngài tận dụng những
điểm mạnh (atouts) không được khinh
thường : các quan hệ và tài sản riêng có
được nhờ môi trường của ngài, tính
độc lập đối với giới tăng lữ
giáo phận Nimes khi ngài hướng theo những chọn
lựa chỉ tuân theo Giáo triều Rôma và Đức Giáo Hoàng
(choix ultramontains), tư thế tự nhiên của một
thủ lĩnh nhờ dáng vóc vốn có, học hành, bản
tính làm xếp, nhất là những sáng kiến khiến
nhiều truyền thống bất di bất dịch bị
xao động.
Chúng ta hăy để bản ngă
đầy chất lửa nói qua bức thư ngài viết
cho một người bạn vào tháng 8 năm 1836 :
«Từ khi đến ở
nơi đây, tôi không rảnh rỗi chút nào ».
«…Tôi chỉ muốn nói để
anh hay, tôi vẫn măimăi như trước kia, không thay
đổi ǵ, có nghĩa là tôi đôi khi càu nhàu, nhưng
vẫn luôn thi hành công việc của ḿnh. Người ta có
thể mong ước theo học ở một
trường đại học Đức và là một Vị
Tổng Quản uy thế ở Nimes, làm việc với
giới trẻ, và có chừng trăm bà đạo
đức (Dames de la Miséricorde), nhưng anh sẽ c̣n đ̣i
hỏi tôi thêm nữa và thúc tôi nghĩ đến một
khát vọng : à, thưa ngài ! đừng
quá nghiêm khắc thế. Con
người đề nghị, c̣n Thiên Chúa mới là
Đấng thực hiện (l’homme propose et Dieu dispose). Chỉ có thế
thôi. Đôi khi tôi muốn xin đi truyền giáo theo nguyện
vọng riêng, v́ nói thật với anh, sở thích của tôi
thiên về hành động. Nhưng dường như
người ta đă khám phá trong tôi khả năng làm
người quản lí hành chính, có nghĩa là cứ tám ngày
một lần, công việc của tôi là phải đưa
ra ư kiến về những trường hợp cần xem
xét trước hội đồng giám mục. Tôi vinh
dự thuộc thành phần của hội đồng này. Nào,
anh đừng che miệng cười nhạo quá về suy
nghĩ của một người 25 tuổi non nớt
thiếu kinh nghiệm đang ngồi oai phong giữa
năm hoặc sáu ông già vừa lắng nghe, vừa trả
lời, vừa chất vấn, vừa bác bỏ ư kiến,
và cuối cùng cứ làm mọi việc như thể
biết hết mọi vấn đề như bao
người khác. Có cái ǵ đó khiến tôi nghĩ thật
ngỗ nghĩnh sao tôi làm Tổng Quản sớm
đến thế, nhưng anh muốn làm ǵ nào ? Nếu
tôi nói với anh, theo sở thích riêng, công việc tốt
hơn đối với tôi là giảng dạy và rao
giảng, anh sẽ rêu rao với tôi đức vâng lời. Và
dù tôi có bực bội về những bài giảng của
anh, tôi vẫn muốn một số bài giảng khác so
với những bài anh đă giảng ở Saint-Cyr. Tóm
lại, anh biết khá rơ con người tôi để
hiểu rằng tôi có thể sống bất cứ nơi
nào. Người ta đă tiếp đón tôi rất tốt
ở Nimes. Tôi sẽ có lỗi nhiều nếu không tỏ
ḷng biết ơn sâu sắc đối với những
người con tốt lành của Nimes. Tôi không nhớ
đă viết thư kể cho anh rằng hầu như ngày
nào trong mùa Chay năm ngoái tôi cũng đều giảng cho
giáo dân. Anh sẽ không thể tưởng tưởng
hết việc ấy đă làm tôi mệt đến
mức nào. Những người làm nghề gánh vác, cu-li
(portefaix) cởi mũ chào tôi, những người
đạo đức đau ḷng khi tôi bị ho. Người
ta tặng tôi biết bao là kẹo. Ngay cả những
người bán hoa quả, trước đây họ
chỉ cho tôi thưởng thức những quả cam
dở, bây giờ họ cảm thấy bị đánh
động bởi những bài giảng của tôi nên vui
vẻ chọn thay cho tôi những quả ngon nhất. Họ
c̣n gửi đến tận nhà tặng tôi rất nhiều
cam tuyệt ngon. Anh hiểu đó, tôi biết cách xoay xở
trong mọi việc. Đảm bảo với anh, dĩ nhiên
tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi dự
định đi đó đây với niềm hy vọng
ở nơi nào Chúa muốn : linh mục có nghĩa là già
nua và Đức Giê Su Ki Tô bảo thánh Phêrô khi về già,
người ta sẽ dẫn thánh Phêrô đến nơi
chính ngài không muốn tới. Anh biết đó, tôi cũng có
thể thuyết giảng cho chính ḿnh. Hy vọng những
bài giảng của tôi cùng tài hùng biện trong các bài
giảng của anh cuối cùng sẽ khiến tôi ăn
năn trở lại. Tôi muốn anh giảng cho tôi nghe,
không có nghĩa là tôi không thích anh viết cho tôi. Tôi sẽ
không liên lạc thư với anh trong tháng bảy và tháng tám.
Tôi sẽ nhắc lại cho anh những ǵ anh đă hứa
với tôi… »
Trích thư gửi Adolphe de
Fournas, Nimes ngày 10 tháng 5 năm 1836.
Bản gốc trong Tài liệu
giữ trữ giáo phận Montpeliier.
Cha
d’Alzon, chịu chức linh mục ở Rôma ngày 26 tháng 12
năm 1834. Ngài trở về phục vụ giáo phận
Nimes. Ngày 8 tháng 11 năm 1835, ĐGM de Chaffoy chỉ định
ngài làm kinh sỹ và tổng
quản đáng kính của giáo phận Nimes. Ngày mồng 4
tháng 3 năm 1839, cha d’Alzon được nội các của
vua Louis Philippe chấp nhận ngài làm tổng quản chính
thức và ngày 14 tháng 3, ĐGM Cart giáo phận Nimes từ tháng 11
năm 1837 giao nhiệm vụ tổng quản cho ngài. Cha
Emmanuel d’Alzon sẽ chu toàn nhiệm vụ này cho đến
ngày 30 tháng 9 năm 1878. Với chức vị tổng
quản, ngài được mời gọi đi nhiều
nơi thăm giáo phận Gard bởi ngài tháp tùng nhiều
Vị Giám Mục kế tiếp nhau trong những chuyến
viếng thăm công tác mục vụ. Đó là các ĐGM François Cart
(1838-1855), Henri Plantier (1855-1875) và François Besson. Rất
tiếc chúng ta không có nhiều thông tin về những
chuyến viếng thăm này. Trong bối cảnh này cha
d’Alzon viết thư gửi ĐGM Sibour. Ngài là Vị Giám
Mục trẻ của giáo phận Digne lúc ấy. Sau này, ngài
được bổ nhiệm làm tổng giám mục Paris năm
1848 cho đến năm 1857. Đức Cha Marie-Dominique-Auguste
Sibour không c̣n là một người lạ đối
với cha d’Alzon. Ngài gốc ở Saint-Paul-Trois-Chateaux
(Drome). Như người anh em cùng họ Léon-François
(1807-1864), linh mục miền Sibour chịu chức linh
mục ở Rôma năm 1818, sau một thời gian phục
vụ ở Paris, ngài đảm nhiệm chức tổng
quản ở Nimes (1822-1839). Cha Sibour có thiện cảm
rất nhanh với cha d’Alzon, một người
đầy sức trẻ, cùng đảm trách những công
việc rao giảng, đảm trách giới trẻ, trọng
trách về người tin lành để họ trở
lại giáo hội công giáo giống như ngài. Tháng 9 năm
1839, cha Sibour được bổ nhiệm làm giám mục
giáo phận Digne. Ngài nhanh chóng tổ chức lại giáo
phận. Ngài đứng ra khuyến khích thiết lập
các cuộc họp (conciles) ở trong vùng. Cũng như cha
d’Alzon, cha Sibour luôn mong mỏi đi thăm tất cả
các giáo xứ của giáo phận ở miền núi. Nơi
đây có một điểm chung với giáo phận GARD.
Sự
việc về người tin lành ngày càng phổ biến.
Họ ngày càng lớn mạnh và lan tỏa trong các vùng
Cévennes từ ngày cải cách (Réforme). Đối với công giáo,
tin lành đă trở thành tôn giáo theo qui ước (religion
concordataire) năm 1801. Sự việc người theo
đạo tin lành đặc biệt khiến người
công giáo thời ấy muốn t́m cách thuyết phục
họ trở lại công giáo. Cuộc đời cha d’Alzon
minh chứng quá rơ điều ấy : những lần
rao giảng gây tranh căi, những bài viết bảo vệ
đức tin công giáo, những công tác học
đường và xă hội nhằm giảm bớt tầm
ảnh hưởng của tin lành, những tổ chức
ở nông thôn cho các em mồ côi, các hiệp hội mang tên
Saint François de Sales, đề cao ḷng mộ đạo công
giáo với mục đích gạt bỏ những phái
cải cách ( chầu thánh thể, tôn sùng Đức Mẹ,
kiệu rước). Tất cả mọi phương
tiện như viết lách, tiếng nói, tôn thờ, hành
động công cộng có vẻ được đề
cao lúc bấy giờ nhằm cản trở « mối
hiểm nguy tin lành ». Nếu tin cha d’Alzon, ta thấy
rằng những người cải cách không có lỗi trong
sự đối lập tuyên xưng đức tin :
tháng 11 năm 1857, ngài có viết rằng người ta
hứa tặng cho mỗi người công giáo một con
lợn nếu họ theo tin lành…
Kính gửi Đức Cha Sibour, giám
mục giáo phận Digne,
Nimes ngày 24 tháng 3 năm 1840
«Trở
về sau những chuyến viếng thăm ở các
miền Cévennes, con đă nhận thông cáo về chuyến
thăm mục vụ của Đức Cha và đă rất hài
ḷng đọc thông cáo ấy. Cảm ơn Đức Cha đă
báo trước cho chúng con. Trong tâm t́nh cảm ơn ấy,
khi phân phát thư mục vụ, con khiêm tốn thỉnh xin
Đức Cha xem con như một linh mục trong số các linh
mục của Đức Cha. Con hiểu khi làm giám mục,
Đức Cha không c̣n thời gian cho bạn bè nữa, nhưng
bạn bè lại gặp gỡ ngài trong bút danh. Khi không có
thể hưởng sự thân mật nữa, họ
thầm đoán và thấu hiểu t́nh thân ấy khi ngài
xuất hiện giữa đàn chiên giảng dạy và chia
sẽ lời Chúa.
Kính
thưa Đức Cha, con mong thời tiết sẽ đỡ
lạnh và đỡ mưa trong thời gian Đức Cha
đến viếng thăm so với những ngày qua mà chúng
con đă phải chịu đựng. Đức Cha giáo
phận Nimes khá tốt bụng, thỉnh thoảng ngài cho
con mượn xe. Nhưng thú thật con mệt mỏi v́
đường sá kinh khủng quá, kèm theo những trận
mưa rào ồ ạt trên vai khiến những người
khỏe mạnh hơn ngài cũng phải vất
vưởng. C̣n ngài chỉ đau bụng nhẹ và đă
khỏi lâu rồi.
Chuyến
viếng thăm của Đức Cha giáo phận Nimes đă
mang lại nhiều kết quả tốt đẹp
về mọi mặt. Chúng con đă nhận thấy
đạo tin lành trở nên lộn xộn một cách không
ngờ do các trào lưu giáo lư giám lí (méthodisme) gây ra nên thiếu chỗ dựa và chỉ
cuốn theo ḷng thù ghét lâu nay đối với Giáo Hội.
Vậy nhưng, trong nhiều làng quê, ḷng thù ghét ấy
đang ngày càng bị xóa nḥa cách minh nhiên đằng sau t́nh
cảm quí mến và kính phục Đức Cha giáo phận Nimes.
Rất nhiều người tin lành, thậm chí các vị
mục sư cũng đều gửi con cái đến
để được ngài ban phúc lành. Chính họ làm
dấu thánh giá trước mặt Đúc Cha. Họ rất
vụng về khi làm dấu thánh giá nên không quá khó để
nhận ra họ. Đó là những việc nhỏ nhen, song mang
ư nghĩa rất lớn. Sự quí trọng dành cho Đức
Cha khi đem sánh với sự vô dụng của các mục
sư c̣n lớn lao hơn thế nữa. Thật khó có
thể ưu tiên cho họ điều ǵ khác ngoài sự tôn
trọng đối với tinh thần của họ.
Người ta kể cho con biết về gia đ́nh
của một người trong số ấy. Gia đ́nh
ấy gồm bốn người, nhưng theo ba
hướng khác nhau. Tất cả đều đang
sống. Họ đều đồng ư để
người khác giảng dạy một học thuyết
hoàn toàn khác tín điều của họ. Dù đó không
phải là học thuyết của họ, ít ra đó
cũng là học thuyết của người vợ,
hoặc của người con... ».
Bản gốc : văn bản
bằng tay, trong tài liệu giữ trữ của tổng
giám mục Paris, cha Adrien Pépin sao chép lai, ACR, AQ 7.
Đôi
khi ta hay thắc mắc mưốn biết đâu là
những tác động khiến cha d’Alzon chọn lựa
đời sống tu sĩ ?
Ta
biết có ba việc sáng lập ḍng tu đă đóng một
vai tṛ rất quan trọng đến con đường
dấn thân này của ngài. Việc sáng lập ḍng Các Nữ
Tu Mẹ Về Trời năm 1839 mà ngài giữ mối quan
hệ ngày càng mạnh qua trung gian của mẹ Marie-Eugénie
de Jésus, việc sáng lập ḍng Cát Minh ở Nimes do ngài « thỉnh
xin » giám mục giáo phận khi ngài cho phép gửi
một số nữ tu ḍng Các Men ở Avignon đến
Nimes (1843) và việc sáng lập trường Assomption mua
lại của cha Alexandre Vermot năm 1843 và ngài hợp tác
việc này với cha Goubier, nhờ có sự cộng tác này
của cha Goubier, ngài sẽ lập Ḍng-Ba.
Ta
rất muốn biết thêm về những động
cơ trong chính con người cha d’Alzon đă thúc
đẩy ngài, không những thuyết phục
được những phản đối của ĐGM,
Đức Cha Cart khi ngài do dự v́ không muốn « mất »
vị tổng quản, và nhất là ngài sợ rằng
việc ấy sẽ gieo ư tưởng muốn trở thành
tu sĩ nơi cha d’Alzon. Ta đối diện với
vấn đề này như đứng trước lối
vào (porche) của ngôi nhà thờ chính ṭa, lối vào trong
thế giới thiêng liêng sẽ mở cho ta cách hiểu
biết cuộc đời thống nhất của một
người. Dưới mắt chúng ta chỉ c̣n lại
ṭa nhà vật chất được dựng xây. Ṭa nhà
ấy đă chứa đựng một cuộc đời
nguyên vẹn, nhưng lại không thể chỉ cho ta
những bước đường huyền bí mà hồng
ân đă ghi lại trong linh hồn
một con người để sinh ra một thân
thể mới này.
Thế nhưng, chúng ta không
phải hoàn toàn thiếu dấu chỉ. Khi đọc
kỹ càng chi li từng ḍng một trong thư của cha
d’Alzon, ta không thiếu dấu chỉ, không thiếu
những tiết lộ, thậm chí kể cả những
mơ tưởng được tỏ hiện
dưới ng̣i bút của ngài. T ất
cả mạc khải cho ta thấy nỗi khát khao cuộc
sống « tu sỹ » trong giáo hội của cha
d’Alzon, giúp ta khám phá mong mỏi của ngài được
nh́n thấy những lối sống tu tŕ ra đời
vừa đánh dấu nét mới, vừa trung thành theo
truyền thống, hoặc làm nảy sinh tiếng mời
gọi thiết lập ḍng tu nhằm có thể bảo
đảm trọn vẹn tính năng động của
đời sống chung liên đới đến niềm
đam mê làm việc tông đồ v́ Nước Trời.
Cha
d’Alzon không đánh giá thấp những giá trị của
cuộc sống linh mục, nhưng ngài tin những giá
trị của đời sống tu tŕ sẽ năng
động hơn, sẽ tự do hơn, trong khi đó
những tính năng ấy nơi cuộc đời linh
mục triều theo kư ước giữa thể chế
cộng ḥa và Giáo Hội Rôma hoặc văn pḥng giám mục
không thể đem lại. Trên hết mọi sự, ngài quí
chuộng những thái độ thẳng thắn, tự
do, và giản dị. Đối với ngài, những yếu
tố ấy h́nh thành nên trung tâm điểm của
đời sống thiêng liêng vững bền nơi
người tu sĩ và tố chất của đời
sống chung có thể triển nở thêm trong vũ khí
hoạt động tông đồ. Từ Turin, nơi ngài
đặt chân đến vào tháng 6 năm 1844 để
thăm em rể, công tước Anatole de Puységur, ngài
viết thư cho Mẹ Marie-Eugénie de Jésus điều ngài
cảm nhận từ lâu đang dần dần trở thành
một thực tế : « Ư tưởng cha nuôi
dưỡng trước đây lâu nay chỉ c̣n lại
trong kư ức nữa mà thôi, song ư tưởng ấy nay
lại xuất hiện trong con người cha mạnh
mẽ hơn bao giờ hết. Đó chính là ư tưởng
dấn thân thành lập một cộng đoàn tu sĩ ».
Thư viết ngày 24 tháng 6 năm 1844, nhă xuất bản.
S.V., tập II, trang.162. Xem thêm, o.c. trang 183, 185, 227, 259.
«... Giờ đây cha bàn đến
một vấn đề khác. Có thể con đă không c̣n
để ư đến vấn đề này nữa từ
ngày con tuyên khấn nếu con
cho là đúng đắn. Nhưng con cũng có thể
để tâm đến vấn đề ấy ngay
lập tức nếu con cảm thấy việc đó
tốt. Vấn đề ấy chỉ liên quan đến
cha mà thôi. Thời gian gần đây, con rất quan tâm
đến những công việc cá nhân theo trật tự mà
Đấng Quan Pḥng có thể muốn cha bước theo.
Khi
cha nhận chức thánh cách đây mười năm, cha
không biết ǵ về việc này, cha cũng không c̣n nhận
thấy rơ ràng trong tương
lai. Ngày nay, dường như ngôi sao ấy lại mọc
lên và cha tin đang khám phá ra điều ǵ đó khiến cha
phải bước theo. Đôi khi những day dứt giận
dữ xuất hiện trong ḷng. Cha sẵn sàng trước
mọi thứ. Mặt khác, một số bối cảnh
bên ngoài cho cha thấy mọi thứ, để tạo
điều kiện dễ dàng cho cha có những
phương tiện thực hiện các dự định
mà cha tin đó là những dự định của Thiên
Chúa. Nên để Thiên Chúa hành động con ạ. Phần
cha, dù phải trả bằng giá nào, dường như cha
cảm thấy đă sẵn sàng trước mọi
thứ… »
Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de
Jésus ngày 20 tháng 12 năm 1844, nhà xuất bản. S.V., tập
II, trang.213
«…Con cho cha biết tất cả
những người có ơn gọi đi tu mà cha thấy
thích hợp tu Ḍng theo như con mơ ước. Nhưng,
vấn đề là liệu cha có những ǵ thích hợp
không ? Một mặt, cách làm việc, cách hành
động chứng tỏ cho cha thấy rằng cha không
thể làm hài ḷng tất cả mọi người. Mặt
khác, cha nhận thấy rất rơ rằng, trong trật
tự của sự thánh thiện, không liên quan ǵ giữa
cha và những những đấng sáng lập trước
kia. Trước khi lănh trách nhiệm đào tạo những
người khác, chính họ đă tự giáo dục họ
trong gian nan ! Này con, con phải dè chừng rằng công
việc của cha có vẻ
tiến triển tốt đẹp hơn công việc
những người khác, có thể v́ tính vô tận của
nó khiến con có cách nh́n chưa sâu xa so với những công
việc mang hệ thống ngắn gọn hơn… »
Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus
ngày 23 tháng 1 năm 1845, o.c, trang.221
«…Con yêu quí, thực vậy, rất có
thể cha là một người vô tâm. Bằng chứng là
đây. Trong thời gian đi công tác, cha đă viết
thư bảo quản gia trả lại căn hộ cho gia
chủ vào ngày lễ thánh Mi-Ca-En ngày 27 tháng 9. Trong thành
phố, người ta đă biết tin này. V́ thế,
biết bao con mắt phải rơi lệ như ḍng sông
tuôn chảy đến mức khiến cha ngạc nhiên, hay
ít ra đến mức có thể h́nh thành nên một thác
nước. Con có nghĩ là cha đă để mọi
người tin cha thực sự sẽ rời Nimes và tàn
nhẫn rời bỏ những giọt nước mắt
ấy măi măi hay sao ? Mặc dầu vậy, cha tin ḿnh
vẫn c̣n chút lương tâm, c̣n chút lương tâm hơn
nhiều người khác. Nhưng cha không muốn minh
bạch điều đó. Nếu con không nhận ra chút
lương tâm ấy nơi cha, cha không có ǵ phải bàn
đến nữa. Cảm ơn con về những nhắc
nhở ấy… »
Thư gửi Mẹ
Marie-Eugénie de Jésus ngày 10 tháng 4 năm 1845, o.c.,
trang.245-246
Cha
E. d’Alzon thuộc tầng lớp ưu tú cổ của xă
hội nhờ gốc rễ gia đ́nh. Được gọi
là tầng lớp ưu tú cổ của xă hội do chính
trị lật đổ sau cuộc cách mạng pháp nhờ
sức mạnh tiền tệ và công nghiệp của
giới tư sản. Một trong những đồng
hương của ngài là một điển h́nh. Đó là
François Guizot, một người tin lành theo ngủ nghĩa
tự do (libéral). Tất cả hoặc hầu như
tất cả mọi người đối lập hai
gương mặt của thế kỷ 19 về mặt
tư duy. Tuy nhiên, sẽ không chính xác trong kư ức về
đấng sáng lập ḍng Mẹ Về Trời khi ta
xếp ngài trong hàng ngũ của những người
bảo thủ xă hội, dưới cái dớp của
sự chống đối chũ nghĩa tự do chính
trị nơi ngài : vào ngày ra đời của Đế
chế đệ nhị, cha d’Alzon tỏ ra nhảy cảm
với những tiếng gọi và những chờ
đợi của các tầng lớp quần chúng trong xu
hướng vừa mang tính dân chủ vừa mang tính kinh
tế của họ. Ozaman là một trong những
gương mặt uy tín của công giáo vừa theo chủ
nghĩa tự do, vừa theo chủ nghĩa xă hội.
Thời kỳ của chế độ Quân Chủ tháng
Bảy, Ozaman đă mở ra một trào lưu mang tính sáng
lập với mệnh lệnh nổi tiếng « Passons
aux Barbares ». Những sự kiện liên tục
của cuộc cách mạng năm 1848 đă nhanh chóng tàn quét
cái thời êm đềm nơi giao ước của
tự do và tin mừng. Sự tàn quét vùi dập cái thời êm đêm
ấy dưới những tàn dư tràn trề máu do
những rào chắn (barricades). Tính độc tài của
Bonaparte tiếp tục làm mất dần đi những
mầm mống hy vọng dưới bao mập mờ
của « Parti de l’Ordre », nhưng được
giải thoát năm 1848. Trong thời kỳ khai mào
đầy khó khăn của xă hội mới đang
gặp khủng hỏng để có thể
được giải phóng, cha d’Alzon hẳn đă không
phải là một gương mặt hành động hay nhân
chứng đầy ưu ái. Vốn là người tỉnh
lị, ngài e dè với những nhóm người Paris
khuấy động đứng đầu về dư
luận. Những bài báo thí nghiệm ban đầu của
ngài cho tờ báo V́ tự do cho tất cả mọi
người vào năm 1848 không thành công. Ở Nimes
cũng xuất hiện những t́nh h́nh khiến lo ngại
không kém, những t́nh h́nh kỳ quặc của « cái xă
hội không nhận ra chính ḿnh » này nữa. Cha d’Alzon
tranh đấu trong trường học của ngài với
tất cả tính khí của một con người
trưởng giả và ngài gây ảnh hưởng lên dân
chúng ở Nimes trong tiếp xúc với họ. Bởi ngài
cảm thấy cần thiết đến với họ,
giảng dạy truyến bá cho họ. Về phần ngài,
ta không thiếu những tấm gương cụ thể
về sự gắn bó của ngài với dân chúng rất có
thể mang tính chất của người cha nếu ta
hiểu theo những xu hướng và những mối quan tâm riêng. Con
người của Giáo Hội, cha d’Alzon tận dụng
những khả năng tác động lên dân chúng và cũng
tận dụng những phương tiện có
được, nhưng ngài biết những việc đó
có giới hạn cho phép do t́nh trạng, địa vị
(statut) và những lạc quan trong cuộc sống. Dù không
ưa thích, ngài vẫn đồng ư làm đại biểu bầu
cử năm 1861 nhằm tham gia vào chính sách đối
lập Rôma của chính phủ, nhưng ngài không ảo
tưởng đến kết quả trong cuộc bầu
cử này. Đối với ngài, việc trở thành
đại biểu tranh cử là một vấn đề
danh dự hơn là một vấn đề tham vọng,
thích thú. Bằng chứng là năm 1840, cha d’Alzon tŕnh bày trong
tổ chức hội thảo Saint Vincent de Paul. Tổ
chức hội thảo Saint Vincent de Paul do chính ngài gầy
dựng ở Nimes. Nimes là thành phố thứ hai ở Pháp
sau thủ đô Paris có tổ chức này nhờ công của
cha d’Alzon. Việc này có thể cho phép chúng ta nắm bắt
những rắc rối của những vùng xung quanh về
cái chúng ta gọi là mối quan tâm đến vấn
đề xă hội nơi cha d’Alzon. Chúng ta xem bài viết
dưới đây dưới bút danh của ông Jules Monnier,
thư kư trong cuộc hội
thảo này :
«…Cuộc
hội thảo của chúng tôi đến thời gian này
đang rất êm xuôi. Nhưng chúng tôi vẫn cần
phải cực kỳ cẩn trọng và kín đáo : mỗi
khi gặp phải những người tin lành, chúng tôi
phải tránh đụng độ với họ. Đó là lí do
khiến những kế hoạch ban phát tinh thần của
chúng tôi bị chậm trễ : dạy giáo lư
cho…taffetassiers ?, cho những người làm nghề
bốc vác, đọc lời Chúa trong các trại tù. Thiên
Chúa chuẩn bị đường lối cho chúng ta,
đức ái biết khéo léo pḥng trước những
chướng ngại vật. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng
không quá chậm trễ khởi hành những công việc
ấy. Cha d’Alzon, vị tổng quản giáo phận Nimes,
sau khi đă dâng lễ cho chúng tôi, truyền đạt với chúng tôi một số giáo
huấn. Tôi nghĩ ngài chủ tịch có thể muốn
biết nội dung tóm lược của bài giáo huấn
này :
Chúng
tôi nhớ lại những t́nh cảm khiêm hạ nơi
tấm gương của thánh bảo trợ đầy
diễm phúc. Những t́nh cảm khiêm hạ ấy phải
thúc đẩy chúng tôi trong những công việc đang
được tiến hành. Khi gạt bỏ mọi tính
kiêu căng trong con người, tính khiêm hạ giúp chúng tôi
hành động chỉ v́ Thiên Chúa mà thôi. Và nhờ tính khiêm
hạ, chúng tôi có niềm tin tưởng, không phải trong
con người nghèo hèn, yếu đuối của chúng tôi,
mà tin tưởng trong công việc do Thầy Chí Thánh đă
thổi sinh khí cho chúng tôi. Không bao giờ thất vọng
về công việc nhân danh
Thầy Chí Thánh đồng nghĩa với tấm ḷng
thành kính của chúng tôi đối với Thiên Chúa toàn
năng. Đức ái luôn luôn không bao giờ thất vọng.
Hầu như tất cả mọi sáng lập của saint
Vincent de Paul lúc đầu chẳng là ǵ. Những sáng
lập ấy lúc khởi đầu chẳng có ǵ
nương tựa.
Việc lập ra hội các Bà
Đạo Đức (Dames de Miséricorde) phát xuất từ việc qui
tụ 24 bà sùng đạo : ngày nay, hội này có mặt
khắp nơi trên toàn lănh thổ Âu Châu. Từ một ngôi
nhà thuê ở cổng Saint-Victor ban đầu chứa 12
trẻ em bị bỏ rơi t́m thấy : thế
nhưng ngôi nhà ấy nhanh chóng trở thành bệnh viện,
Bicêtre, Saint-Lazare, trên toàn nước Pháp. Chị Legras
lần đầu tiên tổ chức gặp gỡ một
vài Nữ Tu bác ái với số người rất khiêm
tốn : vậy nhưng hôm nay, con số ấy đă
vượt qua ngàn người…Công việc của chúng ta
cũng sẽ tiến triển như vậy nếu chúng ta
luôn luôn biết từ bỏ, biết phó thác mọi sự
trong Chúa. Chỉ năm chiễc bánh trong bàn tay Chúa cũng
đủ nuôi năm ngàn người. Cũng vậy,
với số vốn chỉ có một quan, hai lăm xu ban
đầu, số vốn ấy sẽ tăng lên cách khôn
lường miễn là tinh thần bác ái, tinh thần
của thánh Vincent de Paul ở trong chúng ta.
Thiên Chúa không bao giờ bỏ
rơi những công việc tốt lành. Nó luôn mang tính ki tô
giáo, mang tính mộ đạo. Những công việc ấy
được Chúa chúc lành khi nó mang tính khiêm nhường và
nhiệt tâm phục vụ Thiên Chúa. Khác với những công
việc mang tính yêu thích của con người, trong đó
tất cả chỉ thuộc về con người, trong
đó không có ǵ được thực hiện v́ Thiên Chúa.
Trái lại, những công việc tốt lành nói trên hoàn toàn
hướng về Thiên Chúa, hạ thấp trước
Thiên Chúa, Đấng ban sức mạnh diệu kỳ. V́
thế, đức ái có được những quyền
tuyệt vời ! Đức ái phục tùng Thiên Chúa, nếu
chúng tôi có thể nói như vậy. Đức ái buộc Thiên
Chúa ban ơn cho người làm phúc nhân danh Người
như Người đă ban cho những người khác.
Đức ái bắt buộc ḷng nhân từ và khiến ḷng nhân
từ hành động. Thế là bầu trời mở rộng
với những kẻ tội lỗi có ḷng bác ái, với
tiếng van nài của những người nghèo khổ mà
Người đă từng trợ giúp.
Ngài
Luxembourg khi sắp qua đời hứa sẽ đổi
mọi thắng lợi của ḿnh để lấy
một chén nước nhân danh Đức Giê Su Ki Tô, ông bảo
thật : tất cả mọi vinh quang, mọi của
cải, mọi sự cao sang trên thế gian là ǵ để
được sánh với hạnh phúc vĩnh cữu mà linh
hồn bác ái có được ? Chúng ta hăy trao gửi
tất cả cho Thiên Chúa, hăy làm phúc bố thí trong tinh
thần cầu nguyện, luôn luôn v́ Chúa. Tinh thần cầu
nguyện sẽ chúc lành cho chúng ta, sẽ thánh hóa những
cuộc viếng thăm người nghèo của chúng ta. Các
thiên thần bản mệnh sẽ dẫn dắt chúng ta,
sẽ ban cho chúng ta những lời an ủi để yên
ủi những người nghèo khổ, sẽ ban cho chúng
ta những lời dịu dàng và nhiệt thành để
vực dậy linh hồn tan nát, làm cho linh hồn ấy
mạnh mẽ trong hồng phúc. Chúng ta sẽ tôn vinh Thiên
Chúa, chúng ta sẽ giảm bớt nỗi thống khổ của
một số anh em, chúng ta sẽ thánh hóa chính con
người chúng ta : đó là vương miện chói
sáng nhất. Chúng ta hăy tỏ ra xứng đáng có
được vương miện ấy, hăy ước
muốn nó, hăy t́m cách có được nó.
Cha d’Alzon kết thúc buổi trao
đổi bằng những lời khích lệ mới dành
cho toàn thể mọi người có mặt trong buổi
tọa đàm. Ngài t́m cách làm cho mọi người nhận
ra sứ mệnh của các giáo dân thời đại chúng
ta... »
Thư của ông Jules Monnier gửi ngài
chủ tịch các cuộc Hội Thảo ở Paris ngày 5
tháng – năm 1840.
Bản gốc viết bằng
tay : tài liệu giữ trữ của Hội, số 7,
đường Pré-aux-Clercs, Paris.
Trong những bức chân dung
tự họa khác nhau do chính cha d’Alzon để lại,
chúng ta chỉ có thể ngạc nhiên về một vài nét
thường xuất hiện trong tính cách và con người
cha. Là một người mang tính trung thực hết
mực đến mức khó chịu đối với người
khác (rude franchise), trong ngài chứa đựng sự
đ̣i buộc sống trong ngay thẳng, cho nên đôi khi
ngài đưa ra những nhận định quá vội vàng
và khắt khe, ngay cả khi liên quan đến bản thân
ḿnh. Cha d’Alzon cũng không tránh khỏi những lời nói
cay đắng mang tính bạo lực (invective), càu nhàu
(gronderie), những nhắc nhở đôi khi chứa
đựng sự châm chọc hoặc chế diễu. Tuy
nhiên sau đó, ngài biết xin lỗi khi cảm thấy
người anh em bị tổn thương. Những
giải pháp hoặc những đánh giá nhận định
của ngài có thể theo phạm
trù quen thuộc hoặc mau lẹ (expéditifs) : ngài không
ưa chờ lâu, không ưa nhắc lại nhiều
lần. Tính kiên nhẫn không phải là điểm mạnh
nơi ngài. Những khuyên bảo tự ngài đưa ra
hoặc do người khác nhờ ngài chứa đậm
ḷng t́nh nguyện, năng lực, thậm chí vượt quá
sức : tóm lại, ta thấy nơi ngài một
người mang nam tính hơn nữ tính.
Thế nhưng, cha d’Alzon cũng
chứng tỏ cho chung ta thấy ngài là một người
thích những mối quan hệ trong việc hướng
dẫn thiêng liêng đầy thận trọng và sự
tế nhị tuyệt vời về mặt tâm lư cũng
như tinh thần đến nỗi ngạc nhiên. Đối
với những người thân cận, ngài đối
xử tự nhiên với uy thế mạnh mẽ hoặc
khó lay chuyển nhờ tên họ của ngài, nhờ
nguồn cội gia đ́nh, nhờ bản tính, nhờ
văn hóa, và nhất là nhờ dạng thức làm chủ
bản thân nơi ngài đă được rèn luyện
rất nhiều theo tinh thần tin mừng. Điều đó
không hề cản trở ngài nói năng hoặc
điều khiển công việc cách nhanh chóng. Đó là
trạng từ thường xuất hiện dưới
bút danh của ngài. Những người cùng thời với
ngài có lẽ đă nghe hơn một lần qua môi miệng
của ngài. Chúng ta đừng nghĩ ngài luôn nói những
lời dịu ngọt. Cũng có lúc ngài dùng những thành
ngữ phổ biến có vẻ khó nghe. Cha d’Alzon không dùng
thứ ngôn ngữ khô cứng (langue de bois). Đôi khi cha dùng
những thành ngữ mang tính h́nh tuợng. Những thành
ngữ như thế dù không mang tính cứng nhắc quân
sự, nhưng đánh dấu một h́nh dạng và sức
mạnh phổ biến : mặt mày khó coi thế,
lạy Chúa ; tôi mắng cho anh ta một trận ; tôi
đang cáu giận ; tôi muốn tống cổ nó đi
cho khuất mắt, ư cha là nếu Sơ nào không chịu
để dẫn dắt nhanh chóng hơn một tí, con nên
tống cổ nó đi cho rảnh mắi. (Quelle tête, bon
Dieu ; je viens de donner un bon savon ; je bats froids ; j’ai
envie de l’envoyer promener ; mon avis est que si telle sœur n’accepte pas
d’être menée un peu rondement, il faut vous en débarrasser). Một hôm,
ngài so sánh cha Cusse với quả táo thối làm rầu
cả giỏ táo ! Những cách dùng như thế
hoặc chút vụn vặt trong văn phong mang vẻ sỗ
sàng không hề giảm bớt những phẩm chất
của tấm ḷng và sự tế nhị xuất hiện
tràn ngập trong những lá thư với những
người ngài hướng dẫn, với bạn bè
của cha d’Alzon. Trong những lúc vui vẻ và khó nhọc
của cuộc sống, cha d’Alzon biết chứng tỏ là
một người bạn trung thành, biết t́m những
lời đánh động tâm hồn, biết đưa ra
những lời khuyên thích hợp, biết tạo lực
đẩy để vươn lên. Bởi sự tế
nhị là nét giống ṇi lưu truyền trong bản tính
cũng như trong văn hóa. Sự kết hợp tinh
tế và chắt lọc của tính giản dị và tính
gần gũi thật sự giúp ngài biết giữ cân
đối và khoảng cách cần thiết. Là một người
có óc quan sát (observateur), là một người cầm
đầu, dẫn dắt : v́ là linh mục, ngài khích
lệ ư thức nêu cao tự do và trách nhiệm bởi
đó là những giá trị làm cho các linh hồn
trưởng thành dưới nhăn quan của Thiên Chúa.
«…Thưa bà, tôi vừa chăm chú
hết sức đọc thư của bà. Bà đă ưu ái
viết thư cho tôi. Sau khi đă cầu xin ánh sáng Chúa Thánh
Thần, cha trả lời vấn đề con nêu ra.
Lập trường của con ghê quá, nhưng phải duy
tŕ măi cho đến khi nào Đấng Quan Pḥng ban cho con
những phương tiện giải quyết. Cha đồng
ư thỉnh cầu của con thỉnh thoảng muốn
viết thư cho cha. Cha thấy cần đưa ra cho con
những nguyên tắc hành động như sau :
1. Cha tin có
ít linh mục thích cha Combalot như cha, dù cha không đề
cập ǵ đến những nhược điểm
của ngài.
2. Những
dự định con muốn làm sẽ có khả năng làm
hại người cha đáng thương ấy, tiếp
đến gây tác hại cho cộng đoàn.
3. Cuối
cùng, cha vừa gặp cha giải tội riêng, ngài tin cha hoàn
toàn có thể chín chắn trong lương tâm để trao
đổi thư từ theo yêu cầu của con. Chính ngài
là bề trên cộng đoàn và ngài rất giàu kinh
nghiệm : về mặt này, ngài hoàn toàn khác biệt
với cha Combalot. Con cho phép cha đưa ra một vài
điều kiện trong quan hệ giữa con và cha :
1. Phải
có tự do lớn lao nhất để ngưng mối quan
hệ, khi con và cha đều cho là thích hợp. Cha không bao
giờ nhận hướng dẫn ai cả, nếu không
đưa ra điều kiện này.
2. Chừng
nào quan hệ giữa hai người c̣n tồn tại,
chúng ta phải tôn trọng sự thành thật nhất.
Tức là khi con không muốn trao đổi với cha
vấn đề ǵ đó, con nói cho cha biết rằng con
không thích đề cập đến điểm ấy.
Cha chỉ cần thế thôi. Cha xin con đừng bao
giờ đề nghị ǵ thêm nữa.
3. Con
đừng bao giờ sợ làm tổn thương cha,
cũng vậy, con cần tin rằng cha sẽ chỉ khi
nào trao đổi, nói chuyện với con trước
sự hiện diện của Đức Ki Tô trên thập giá.
Cha có thể hay mắc sai lầm, nhưng nếu con
đọc thư cha dưới chân Chúa, con sẽ cảm
nhận sâu sắc ư cha muốn trao đổi với con.
4. Khi con
đă hiểu những điều cần thiết, con
cần đề pḥng thận
trọng để không một ai có thể đọc
những lá thư của cha.
Nếu
những điều kiện trên phù hợp với con, cha
sẵn sàng trao đổi với con nhiều hơn so
với trước đây, cách đây một năm khi con
viết thư cho cha lần đầu tiên. Sự thay
đổi này trong quan hệ với con do một số
định kiến nơi cha đă biến mất nhờ
lá thư của con. Thú thật, cha hơi sốc v́ tính
giản dị vô cùng của con khi ở Châtenay. Cha nhận
thấy con không tự do và con hành động trái với
nhận định của ḿnh. Lúc ấy, cha cũng hơi
ngạc nhiên bởi một người trẻ như con
viết thư cho cha về việc chọn lựa cha
tổng quản. Cha sung sướng bởi lá thư ấy
chỉ là một hành vi vâng lời. Sự nghi ngại trước đây
thật hoàn hảo… ».
Thư gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus,
ngày 10 tháng 12 năm 1840, nhà xuất bản. S.V., tậpII,
trang.57-59
Ta
có lí dùng những lời của chính cha d’Alzon khi đánh giá
rằng vấn đề học đường đă luôn
là « công việc gắn bó với cuộc đời
ngài ». Ngài say sưa quan tâm đến vấn đề
học đường với người công giáo thời
đại ḿnh. Bằng sự tin tưởng, kinh
nghiệm, cha d’Alzon sớm phân định những mấu
chốt liên quan đến con người, đến Giáo
Hội và đến ư nghĩa thiêng liêng của sự
tự do được giảng dạy : đào
tạo trí luận, đào tạo người ki tô hữu
được sáng suốt, thao thức ơn gọi. Ngài
tranh đấu cùng những nhân vật có uy thế
Montalembert và Lacordaire v́ không chịu chỉ có nhà nước
tuyệt đối hóa trong ngành giáo dục do cách mạng
pháp và Đế chế Napoléon đề ra. Các trường
trung học thuộc nhà vua, thuộc nhà nước tràn ngập
triết học mang chủ nghĩa trung lập tự do
(libérale ?) không thể làm thỏa ḷng những nguyện
vọng của các gia đ́nh công giáo vốn đặt tin
tưởng vào Giáo Hội và trường học của
Giáo Hội nhằm phát triển một mạng lưới
học đường riêng. Ba thời điểm đánh
dấu cuộc đấu tranh lâu dài dành tự do giáo
dục này ở Pháp là : năm 1833, bộ luật Guizot
đối với việc giảng dạy bậc tiểu
học, năm 1850, bộ luật Falloux đối với
việc giảng dạy bậc trung học (secondaire).
Năm 1875, bộ luật Laboulaye đối với
việc giảng dạy bậc cao đẳng, đại
học (supérieur), trước khi Nền Cộng Ḥa thứ
ba sữa đổi. Cha d’Alzon triển khai tư
tưởng cũng như việc thực hành sư
phạm : ngài đầu tư thời giờ, tiền
của, danh tiếng, các Hội Ḍng. Các tu sĩ Augustins ḍng
Mẹ Về Trời không phải sinh ra trong ḷng trường
học ở Nimes năm 1845 hay sao ? Trong Hiến
Chương (Institutions), ngài đề nghị các con
của ḿnh việc giảng dạy dưới mọi
dạng thức, như là sự quan tâm hàng đầu,
sâu rộng và ưu tiên nhất. Trong lĩnh vực giáo
dục, cha d’Alzon biết đổi mới : để
có những phương pháp dễ tiếp cận hơn,
khích lệ hơn, giàu sức sống thiêng liêng hơn,
bền lâu hơn đối với giới trẻ bởi
giới trẻ tạo nên môi trường và khung cảnh
tự nhiên cho ngành giáo dục hoạt động trong
suốt cuộc sống của ngài. Trong cái nôi học
đường này, sự hợp tác giữa giáo dân và tu
sĩ được nối kết. Ta có những
gương mặt giáo dân như Germer-Durand và de Monnier là
những điển h́nh sống động. Mạo
hiểm này bắt đầu tiến hành ngoài ư nghĩ
của ngài vào tháng bảy năm 1843 khi
cha Goubier cùng với cha d’Alzon mua ngôi trường Vermot do
họ không đủ khả năng hoạt động
nữa. Năm 1848, từ Nimes, cùng với Montalambert, cha
d’Alzon tung ra kế hoạch hành hoạt động của Ban
đấu tranh v́ tự do giảng dạy. Ngài
đến tận Paris thỉnh nghị các bộ ngành
để có quyền giảng dạy thực sự.
Từ đó, ngài lập ra tạp chí giảng dạy ki
tô hữu. Ngài đến ở trong trường chính
thức vào tháng 9 năm 1845. Ngài đặt viên đá
đầu tiên xây dựng nhà nguyện vào tháng 5 năm 1849.
Tại nhà nguyện này, dịp lễ Noen năm 1850, cùng
với bốn người anh em tu sĩ khác, ngài tuyên
khấn công khai (vœux publics). Năm 1859, cũng tại nhà
nguyện này, ngài tiếp đón và khích lệ những
người sáng lập trường văn chương
(les Félibres) nhằm bảo tồn ngôn ngữ miền
Provence (la langue d’oc) (miền nam nước Pháp). Tài sản
của ngài chắc hẳn được chôn giấu trong
mồ mả, nhưng cuộc sống của ngài cũng
t́m thấy nơi đây sự hiệp nhất và
đường hướng lănh đạo.
« …Bạn thân mến,
Dù được chữa trị
hết sức tại nhà Đức Cha de Stanislas, ḿnh vẫn
c̣n hơi đau. V́ vậy ḿnh phải đi ngủ sớm
và thức dậy trễ. Với chế độ ấy,
cộng thêm việc chạy bộ trong ngày nữa, ḿnh không
c̣n nhiều thời gian để cho bạn tin tức.
Thế nhưng, ḿnh muốn chứng minh cho bạn rằng
ḿnh biết chăm lo công việc. Đây là bài huấn giáo
về tôn giáo ḿnh soạn thảo ngày 26 tháng 12 và đă
được chỉnh sửa. Đa số học sinh … Ḿnh
nghĩ sẽ giảng cùng một thể. (J’ai cru ne devoir
faire qu’une section). Numa Baragnon đă không làm bài. Một học sinh
không chịu kư. Ḿnh không nhận ra chữ của cậu
ấy…Ở đây, ḿnh bị giữ lại lâu hơn
một chút so với dự tính v́ không đủ chỗ,
khi ḿnh muốn đi. Tối thứ bảy ḿnh mới có
thể có mặt tại Paris. Có thể bạn sẽ
nhận được thư ḿnh trước khi ḿnh
đến đó. Ḿnh không trông mong có những thông tin quan
trọng về căn nhà nói chung, nhưng hy vọng ḿnh
sẽ có một vài chi tiết liên quan đến cách
tiến triển của mọi việc. Phần ḿnh, ḿnh
không thể nó ǵ với bạn, ngoài việc ḿnh đă t́m
được giáo viên giỏi ở Toulouse. Nếu bạn
cần liên lạc với giáo viên ấy, bạn cứ liên
lạc với cha Pradel, ngài quản trị việc lần
chuỗi mân côi tại nhà thờ chính ṭa Toulouse. Tuy nhiên, theo
ḿnh, nếu có thể, tốt
hơn là nên chờ ḿnh lên Paris đă. Ḿnh cũng xin bạn
bảo các giáo viên và các giám thị nên tránh những giải
pháp đánh đập học sinh. Bạn không
lường nổi ḿnh buồn đến mức nào khi
chứng kiến cảnh phụ huynh phàn nàn về những
phương cách trừng phạt học sinh như thế.
Ḿnh sẽ viết thư trong thời hạn sớm
nhất cho Ḍng Ba. Hôm nay, ḿnh hoàn toàn không đủ thời
giờ. Ḿnh chỉ có thể xin bạn sát cánh cùng những
người của chúng ta. Xin bạn chuyển đến
họ t́nh cảm sống động của ḿnh.
Bạn thân mến, bạn biết
từ lâu, ḿnh dành cho bạn một phần rất
đặc biệt.
Bạn nhớ
đưa tin cho cha Goubier. Khi có thông tin ǵ ở Paris, ḿnh
sẽ viết báo cho cha Goubier ngay. Bạn đă có thể
trao đổi với ngài Nicot chưa?”
Thư
gửi Eugène Germer-Durand, Bordeaux ngày 12 tháng 1 năm 1848, theo
nxb.S.V., tập III, trang.314-315. Bạn thân của cha d’Alzon
Nếu
nói đến sự rèn luyện của một
người tu sĩ để chỉ đặc tính
việc thực hành của cha d’Alzon, chúng ta phải
nhất thiết nghĩ ngay đến việc rao giảng
đều đặn của ngài. Người ta chẳng
phải đă đặt biệt danh cho ngài là “ người
rao giảng cuồng say” (prédicomane). Chính ngài một hôm
đă thú thật điều này: “rao giảng đă luôn
luôn khiến tôi phải nỗ lực hơn viết lách”.
Nhưng ngài không bao giờ từ chối rao giảng
hoặc viết lách. Thậm chí, ta có thể nói rằng
trước khi nổi danh trong giáo phận Nimes, cha d’Alzon
đă là một người có tiếng nói nơi đây:
tiếng nói của ngài đă vang vọng trong mọi nhà
thờ, mọi nhà nguyện dưới mọi h́nh
thức: giảng lễ chúa nhật hoặc giảng
lễ theo ư xin (circonstance), giảng mùa chay và mùa vọng,
tháng Đức Mẹ, phụng vụ giờ kinh, khích lệ
hành hương, giảng tĩnh tâm, dạy về
đạo cho trẻ em và học sinh phổ thông, giảng
dạy Ḍng-Ba hoặc một hiệp hội nào đó... Việc
ǵ ngài cũng làm.
Cha
xứ ở Ars thấy bài giảng quá ngắn nếu không
quá 45 phút! Có lẽ giáo dân thời bấy giờ không tràn
ngập làn sóng các phương tiện thông tin như ngày nay
nên có khả năng lắng nghe tốt hơn chúng ta. Chúng
ta ngày nay không nghe nổi một bài giảng dài hơn
bảy hoặc tám phút theo qui định. Vả lại,
chỉ cần sang Châu Phi để chứng kiến
những sự khác biệt phổ biến về mặt
này vẫn đang c̣n đúng quy tắc ngày nay. Chắc chúng
ta tiếc nuối không có bằng chứng ghi lại
việc giảng dạy của cha d’Alzon. Kư thuật ghi âm
không có trong thế kỷ 19. Điện thoại là h́nh thức
liên lạc từ xa đầu tiên do Alexandre Graham Bell phát
minh giữa những năm 1876. Kỷ thuật ghi âm
của tổ tiên chúng ta chỉ xuất hiện ở
thế kỷ 20. Thế nhưng, bài rao giảng của cha
d’Alzon vẫn vang vọng măi đến chúng ta: bài rao
giảng sống động, phổ biến, tuyệt
vời, phong phú và giàu ư nghĩa. Thật kỳ lạ,
nguồn tốt nhất để lại âm hưởng
ấy về cha d’Alzon lại là kinh sỹ Galeran. Ngài là
cựu học sinh trường Assomption ở Nimes. Ngài
để lại cho chúng ta một minh chứng về tài
hùng biện trong tập kư họa về những bài
giảng dạy của Đấng sáng lập Ḍng. Chức
vụ rao giảng đáp ứng yêu cầu thiêng liêng
của chức linh mục: giới thiệu đức tin,
bảo vệ đức tin khi cần và khi rơi vào t́nh
h́nh tranh căi, tăng thêm và làm sáng tỏ vấn đề
thời sự dưới ánh sáng Thánh Kinh, luôn thi hành theo
lời thánh Phao lồ: “ thật khốn khổ cho tôi,
nếu tôi không loan báo Tin Mừng”.
Chúng ta hăy minh chứng
điều trên với bài lưu niệm của cha Galaran
vào khoảng những năm 1846-1849: “ Tối thứ
bảy, sau kinh cầu các thánh, trong ngôi nhà nguyện cổ
xưa ở đường Servie, cha ( d’Alzon) bắt
đầu giảng dạy như thế này:
Thưa anh chị em, anh chị em
đă bao giờ thấy cha Matton, cha sở Saint Baudille qua
đời lặng lẽ không ai biết ? Cha Motton thân h́nh
rất xấu xí: mũi, hay hơn nữa, bộ mặt
tṛn trĩnh, nhỏ xíu
đầy đặn, màu cà chua, hai con mắt đen
bé tí ḿnh h́nh xoắn ốc. Đầu đội chiếc
mũ calotte bẵng gia che kín một nửa mái tóc trắng
không trau chuốt lắm bao trùm tất cả. Đó là bức
chân dung chính xác. Quí anh chị em nghĩ như thế nào? Nói
thật với anh chị em, tôi đă nhiều lần
thấy vị linh mục này cầu nguyện, đặc
biệt khi ngài dâng lời tạ ơn. Tôi qú gần ngài
hết mức cho phép và ngoáy cổ nh́n xiên để chiêm
ngưỡng vẻ đẹp thân h́nh và vẻ thánh
thiện của ngài. Tôi đă chứng kiến một
sự biến h́nh thật sự. Lúc ấy, tôi nhớ
đến một vài gương mặt không chê đến
đâu được về mặt nghệ thuật,
về sự tinh tế trong từng nét vẽ. Những
gương mặt ấy không tạo ấn tượng ǵ
trong tôi. Tôi không thấy đẹp đẽ chút nào.
Tại sao thế? Nét đẹp có từ đâu vậy? Nét
đẹp nhằm để làm ǵ? Chúng ta hăy có những
khái niệm chính xác bền lâu. Kinh Thánh có một từ
đem lại câu trả lời cho chúng ta về những
câu hỏi này: Con người bên trong của chúng ta ngày càng
đổ mới. Is qui intus est renovatur de die in diem 2 Co. IV,
16. (Notre homme intérieur se renouvelle de jour en jour). Nét đẹp
đích thực là sự phản chiếu của linh
hồn. Linh hồn càng hoàn thiện, sự phản ảnh
bên ngoài càng đẹp. Khi sống lại, thân xác chúng ta
sẽ biến đổi do sự biến h́nh trực
tiếp của linh hồn…
Từ đó, cha (d’Alzon) triển
khai sâu rộng bài giảng. Đó
là một trong những bài giảng đặc sắc
nhất và hay nhất mà tôi đă được nghe ».
Theo cha Henri-Dieudonné Galaran, Croquis về
cha d’Alzon, Paris, nxb. Bonne Presse, 1924, trang.16-17
Việc
đào tạo các tu sĩ tiên khởi của Ḍng Mẹ
Về Trời diễn ra trong nôi của trường
học ở Nimes. Chúng ta biết tên những đồng
môn của cha d’Alzon bắt đầu giai đoạn
đào tạo trong nhà tập dịp Noen năm 1845 dù không
được giám mục Cart giáo phận Nimes cho phép.
Những người tiên khởi đó chính là : René-Eugnène
Cusse, gốc ở Nimes (1822-1866). Chặng đường
của ngài rất quanh co. Cha Eugène Henri (1815-1874), gốc
ở Nimes, linh mục giáo phận. Về sau ngài trở
lại giáo phận đảm trách giáo xứ Remoulins. Cha
Charles Laurent (1821-1895), quê quán ở Uzès, vào tập viện
khi đă là linh mục. Năm 1852, ngài trở lại Ḍng cho
đến chết. Cha François Surrel (1806-1857), linh mục giáo
phận Nimes. Ngài là điển h́nh cho số những ơn
gọi tạm bợ này. Qua đời khi c̣n là cha xứ
Saint-Ambroix. Sau cùng, một vị đă có chức vị
khác. Đó là cha Paul-Elphège Tissot. Người gốc Lyon
(1801-1895). Ngài sẽ chỉ dấn thân vào ḍng năm 1852.
Ta
hoàn toàn có quyền thắc mắc về chương tŕnh
đào tạo tu sĩ nói riêng trong giai đoạn ở
tập viện lúc bấy giờ. Nhưng chúng ta chỉ có
được những bức thư của cha sáng
lập ḍng, và tùy theo t́nh h́nh, chúng ta có một số quan
hệ do những ứng viên theo đuổi ơn gọi
tu sĩ để lại. Cha giáo tập của vị sáng
lập ḍng không ai khác ngoài Chúa Thánh Thần. Thế nhưng,
ngài biết chia sẽ với các anh em cùng chí hướng lí
tưởng sống, đức tin, và nhiều hoạt
động tông đồ khác. Đúng vậy, những ứng
viên đầu tiên bị hạn chế rất nhiều
trong các chức vụ khác nhau ở trường học.
Bởi vậy, họ không có thời gian thư giăn chút nào
để hoàn thiện việc đào tạo, ngoài thời
gian rèn luyện dành riêng cho tu sĩ. Cha d’Alzon đào sâu
những khả năng giảng dạy của họ. Ngài
t́m cách tạo mối quan hệ riêng với từng
người trong sự tin tưởng, sự rộng
mở, và đôi khi ngài thôi thúc khi cần thiết. Chúng ta
không thiếu bằng chừng về việc này. Ngài
cũng thích khích lệ tính nhiệt tâm của anh em khi
dẫn họ đi hành hương ở Rochefort-du-Gard
hoặc bằng cách mời anh em đi tĩnh tâm vài ngày
ở Chartreuse de Valbonne.
Bắt
đầu từ năm 1850, ngài cùng các anh em lập
những chương đầu tiên về Hiến
Chương của Ḍng Mẹ Về Trời (Constitutions).
Sự cộng tác trong công việc này hầu như
được thực hiện từng câu chữ v́ ngài
không muốn áp đặt ǵ bởi ngài đă từng
trải. Nhờ vậy, chúng ta có bản hiến
chương viết xong năm 1855, nhờ bản sao
của thầy Galabert (về sau là linh mục) cất
giữ. Con đường thử nghiệm về
đời sống chung hoặc kinh nghiệm đồng
hành với nhau là bước khởi đầu đào
tạo nên ḍng Mẹ Về Trời. Con đường
thử nghiệm ấy trải qua ngay giữa ngọn
lửa của bao bận rộn nơi học
đường. Dù có những
hạn chế và đă phải nếm mùi thất bại,
song không phải nhờ « việc đào tạo vừa
học vừa làm việc » này mà chúng ta có
được sự bền chắc của những
trụ cột đầu tiên, trong đó có cha E. Pernet hay
sao ?
«Bạn quí mến, ḿnh có thể
bảo đảm là bạn thật sai lầm xem bạn
như một người lạ giữa chúng tôi. Các
chủ nhà quí mến bạn.
Các tu sĩ xem bạn như
người anh em. C̣n ḿnh, đảm bảo với
bạn, ḿnh đón nhận bạn như người con
ḿnh yêu hết ḷng. Bạn hăy nhận thấy sự khiêm
tốn thái quá nơi bạn đang cản trở bạn
nhận ra t́nh cảm quí mến mọi người dành cho
bạn. Ḿnh tin những t́nh cảm ấy sẽ phát
triển hơn nữa. Bởi Thiên Chúa là căn nguyên, là
mối dây và là cứu cánh cho sự liên kết của chúng
ta, ḿnh xác tín như vậy, Ngài sẽ chỉ làm tăng
điều tốt đẹp giữa t́nh cảm và sự
tử tế nơi chúng ta. V́ vậy, con yêu dấu, cha không
trách cứ ǵ con, nếu có th́ đó chỉ là những trách
móc nhẹ nhàng nhất của ḷng người bởi v́ con
có vẻ không quí mến chúng tôi như chúng tôi quí mến con.
Nhưng không sao, con sẽ quí mến chúng tôi, khi chúng ta
hiểu nhau nhiều hơn, và khi sự rụt rè đang cản
trở con triển nở sẽ tan biến đi. Con
biết lời của thánh Gio-an : T́nh yêu hoàn hảo
không c̣n sợ hăi. (Charitas perfecta foras mittit timorem (l’amour
parfait chasse la crainte). Con hăy nhanh dành cho chúng tôi t́nh yêu hoàn
hảo. Cha đảm bảo chúng tôi sẽ dành lại cho
con t́nh yêu ấy. Cũng như con, cha buồn v́ không
thể trở lại Nimes như ư muốn. Sức khỏe
của cha c̣n lâu mới hồi phục. Cha mới lại
ốm nặng. Cha buộc phải đề pḥng. Cuối
cùng, cần hy vọng, Thiên Chúa sẽ liên kết chúng ta.
Trong khi chờ đợi, mọi chuyện mang ư nghĩa
thử thách và rèn luyện với chúng ta. Thật không
may ! Tất cả chúng ta phải trở nên thánh,
những người noi gương Thiên Chúa khắp
mọi nơi như những người con yêu
dấu : Imitatores Dei ut filii carissimi. Vậy, sự
vắng mặt, sự đoàn tụ, sự chia cắt,
sự trở về sẽ là phương tiện
để chúng ta nên thánh. Ngay khi nhận thư cha, xin con vui
ḷng gửi thư cho cha theo địa chỉ ở Vigan. Cha
nhờ Cardenne trả lời những phàn nàn của con khi
cần thiết. Cha luôn ở bên con trong Chúa bằng con tim
nhiệt huyết đầy yêu thương nhất ».
Thư ngày 11 tháng 9 năm 1849, Lavagnac,
theo nxb. S.V., tập III, trang.486-487
Một
trong những người đầu tiên gia nhập Ḍng-Ba
Mẹ Về Trời thuộc thành phần giáo dân là
Jean-François Cardenne. Jean-François Cardenne được biết
đến nhiều hơn trong Ḍng Mẹ Về Trời
bằng tên Victor khi trở thành tu sĩ. Không ǵ lạ
lẫm với bất cứ ai về cuộc đời
sinh viên bận bịu của ngài ở Paris đă khiến
cho ngài phải xa lánh một thời gian những công
việc liên quan đến việc thi hành và sự quan tâm
đến đời sống tu sĩ. Tuy nhiên, Jean-François
Cardenne biết đến Ḍng Mẹ Về Trời nhờ
tiếp xúc với cha xứ Saint-Etienne du Mont, gần
Panthéon. Đó là cha Joseph Perdrau (1820- ?). Cha Joseph Perdrau từ
năm 1836 có người em rể làm nghề bác sỹ tên
là Henri Gouraud (1807-1874) bởi v́ Henri Gouraud lấy em gái
của cha Joseph tên là Fanny. Từ đó, cha Joseph giới
thiệu J-F Cardenne tiếp xúc với ḍng Mẹ Về
Trời ở Auteuil. Nơi đây, Cardenne làm quen với
Mẹ Marie-Eugénie de Jésus. Mẹ Marie-Eugénie de Jésus nhanh chóng
nhận định nơi người thanh niên trẻ trung
này là một ứng viên tuyệt vời cho trường
học của cha d’Alzon.
Cha
d’Alzon gặp J-F Cardenne ở Paris vào tháng 8 năm 1845. Sau
đó ngài viết thư cho ông Eugène Germer-Durand về J-F
Cardenne như sau : « Một phần thời
giờ sáng nay, ḿnh đă gặp gỡ và nói chuyện
với một thanh niên c̣n trẻ. Ḿnh hoàn toàn đánh giá cao
anh ta và quyết định dứt khoát nhận anh ta. Anh
ấy là một người rất nhiện huyết. Anh
ta từng muốn dạy luật, nhưng sau khi
đậu thạc sĩ (thèse) khá thành công, anh ta lại
từ bỏ ư định ấy. Anh tuân theo một lối
sống đều đặn theo lời khuyên của ḿnh ».
Từ
đó, cuộc sống của Cardenne liên kết sâu sắc
với cuộc đời của những số phận
trong ngôi trường ở Nimes. Tháng 9 năm 1845, Cardenne
chính thức trở thành giáo viên sử của trường
này. Tại đây, Cardenne được đánh giá rất
cao : « Giáo sư Cardenne là một người hiếm
có, tất cả những ǵ tôi nhận thấy nơi giáo
sư đem lại cho tôi biết bao tấm gương.
Giáo sư luôn thăng tiến từng ngày trong sự thánh
thiện ». Cha d’Alzon đă nhiều lần viết
như thế về giáo sư Cardenne. Thuộc thành viên
Ḍng-Ba, Victor Cardenne được nhận làm thầy tu
của Ḍng vào tháng 7 năm 1846 trong niềm vui của
mọi người. Cha d’Alzon chỉ lo ngại vấn
đề sức khỏe của giáo sư Cardenne bởi v́
gió mạnh ở miền Nam không chữa khỏi bệnh
lao của giáo sư. Ngày 24 tháng 12 năm 1850, thầy Victor
dấn thân theo Ḍng Mẹ Về Trời bằng việc
tuyên khấn những lời khấn hứa công khai hàng
năm. Cuộc đời trần thế của thầy rất
ngắn ngủi. Tháng 12 năm 1851, thầy qua đời
ở Fontainebleau trong ṿng tay của mẹ.
Chúng
ta sẽ không bao giờ biết những nét về thể
h́nh của thầy Cardenne trong thời gian ban
đầu : không có tấm h́nh nào, không có h́nh vẽ nào
trong cuốn kư ức dày 300 trang do Jules Monnier viết về
thầy. Chúng ta chỉ cần đưa ra bức chân dung
đạo đức đầy sức thuyết
phục : «Ăn năn trở lại như thánh
Augustino, rất thông minh nhờ thiên bẩm, thầy Cardenne
có chút tương đồng với tính nhiệt huyết
của cha giáo trưởng chúng ta (patriarche) v́ sự
ăn năn trở lại của những người
tội lỗi. Thầy sử dụng hết nguồn
nhiệt thành và lí trí. Thầy là người đầu tiên
mở cánh cửa của Ḍng Mẹ Về Trời nơi
hạ giới để đến với Ḍng Mẹ
Về Trời nơi thượng giới ».
«…Mọi người trong nhà
đang hơi chao đảo v́ bệnh tật của
một người lạ- một người kéo xe ba gác.
Anh ta đă ngất xỉu trong chiếc cối xay gió
của bố ḿnh cách nhà ḿnh khoảng 10 phút. Người
trong nhà cho rằng anh ta mắc bệnh dịch tả
truyền nhiễm nên không muốn ḿnh đến đó xem sao. Mọi
người c̣n đưa ra lí do là trong nhà c̣n hai linh mục
có thể đến giải tội cho anh ta. Những quan
sát về nét quyến rũ thân mật và đánh
động ḷng người của văn thơ latinh là
những từ tạo trong ḿnh nỗi khiếp sợ, không
phải v́ chúng ta, mà là v́ học sinh. Cardenne thường nói
như vậy. Hôm khác, ḿnh dẫn Cardenne đến Valmagne.
Thầy ta nghĩ mái ṿm quá thấp. Phải sau mười
lăm phút ḿnh mới có thể thuyết phục
được thầy ta măi ṿm không thấp. Một hôm khác
nữa, mới say mê đọc những bài giảng
của cha ḍng tên Bourdaloue, thầy Cardenne đinh ninh nói
vời ḿnh rằng Bourdaloue quá dở. Ḿnh công nhận
rằng Bourdaloue yếu kém ấy lại có vẻ khá
giỏi đối với ḿnh. Cần có cái nh́n xa hơn.
Không nên quá lưu ư đến những sai sót trong cách
diễn đạt của ngài. Ngài không thể diễn
đạt hay hơn thế nữa. Thời gian đă trôi
đi khá lâu, chúng ta vẫn không có tin tức của Monnier.
Ḿnh không biết ông Tissot đă viết thư cho ai. Ḿnh
chỉ biết chắc ông ấy không viết cho Cardenne,
cũng không viết cho ḿnh. Lá thư cuối cùng của ông
ấy là đảm bảo ; v́ ḿnh e rằng ông ấy
phải tiếp vợ nên mới mất liên lạc như
vậy.
Bạn
thân mến, bạn biết đấy, trong kinh nguyện
của ḿnh, từ Ḍng Mẹ Về Trời chứa
đựng tất cả những ǵ ḿnh yêu quí trong Ḍng này.
Nhưng bạn có thể tin rằng, nếu ḿnh có sự
quí mến cách đặc biệt đối với một
số người trong Ḍng, bạn không phải
người ḿnh bỏ quên.
Vĩnh
biệt và tạm biệt. Lúc
9 giờ sáng ngày mồng 11 hoặc tối ngày 10, ḿnh sẽ
có mặt ở Nimes, c̣n bạn ? ».
Thư gửi Louis-Eugène Germer-Durand,
lavagnac ngày 5 tháng 10 năm 1849, theo nxb.,
tập III, trang.501.
Những
nguồn gốc lịch sử về sự ra đời
của Ḍng nam Mẹ Về Trời chính là đêm Noen năm
1845 trong thời đại quân chủ tháng 7 và lúc bấy giờ
cũng là thời kỳ cha d’Alzon đấu tranh dành tự
do giảng dạy trong học đường. Đêm Noen 1845
là ngày gộp lại cách hoàn hảo việc sáng lập theo
ba chiều kích : trường học, Hội Ḍng va
Ḍng-Ba. Vả lại, đó là ngày được giữ
lại không chỉ bởi những người thích tính
chính xác về mặt niên đại, cho dầu việc
đó không phải là ưu tiên hàng đầu, mà nó
được lưu giữ rơ ràng trong văn bản sáng
lập ḍng (texte fondateur) và trong những bản tham khảo
sau này do chính Hội Ḍng đưa ra để tŕnh bày,
giới thiệu nguồn gốc của Ḍng :
điểm xuất phát của một cuộc đời
tu sĩ có tổ chức dưới dạng thức
tập viện do cha d’Alzon để lại cho chúng ta
biết trong bức thư ngài gửi Mẹ Marie-Eugénie de
Jésus, viết vào sáng ngày 26 tháng 12 năm 1845. Trong nhiều
lần đến Rôma để xin Rôma chính thức công
nhận sự ra đời của Ḍng Mẹ Về
Trời, cũng như trong văn bản xin chứng
nhận của các giám mục rất cần có để
kèm theo, đấng sáng lập Ḍng Mẹ Về Trời luôn
giữ ngày đêm Noen 1845 này. Sau cùng, nếu có người
quan sát ṭ ṃ nào đó cần hỏi văn bản Annuario
Pontificio chính thức, chỉ có thể nhận thấy
ngày này là hoàn hảo nhất. Vậy « niên đại có
vẻ khó nghe » ấy trong nghi lễ nhớ của Ḍng
Mẹ Về Trời là do đâu, lấy năm 1850 thay v́
năm 1845 cho những cuộc hội ngộ quan trọng
như lịch sử trăm năm (1950) và lịch sử
một trăm năm mươi năm (2000) ? Câu
trả lời vừa đơn giản, vừa nói lên tính
đơn giản : di dịch năm năm cần
thiết ấy cho đến khi Đức Cha Cart chấp
thuận sáng kiến này của cha tổng quản (tức
cha d’Alzon) của ngài. Đức Cha để cha d’Alzon
thực hiện sáng kiến mà không hề cho phép. Chúng ta
hăy cùng nhau ngưỡng mộ sự kiên nhẫn nơi
đức tin của một người đă từng
bị cho là thiếu kiên nhẫn, không bền bỉ và qua
nhanh vội. Những người thích con số tṛn sẵn
sàng bỏ qua các kháng cự nơi những con số
cứng nhắc và kết quả cuối cùng khó nhớ. Cho
nên sự chọn lựa con số tṛn cho phép dễ dàng liên
tưởng đến thắng lợi đạt
được hơn. Năm
1945, thế giới vừa thoát khỏi bi kịch của
năm năm đại chiến. Cũng thế, con
người cần quên đi quăng thời gian đầy
thử thách ấy nhằm xây dựng những tháng ngày
tốt đẹp nhất. Năm 1850 cũng như năm
1950 đều mang vẻ hào quang khác với năm 1845 và
1945 khi ḍng Mẹ Về Trời chỉ mới
được công nhận phần nửa (essuyer un
demi-refus), mặt khác, trong ṿng một thế kỷ, Hội
Ḍng có không ít những người mất tích và tù nhân. Chúng
ta hăy vui hưởng thắng lợi cùng cha d’Alzon, song
đừng quên những năm tháng đấu tranh của
ngài.
« …Con quí mến,
Dù chỉ có một phút, cha muốn
nói đôi lời với con. Bỗng dưng, Đức Cha cho
phép Hippolyte, Cardenne, Pernet, Brun và cha tuyên khấn trong thời
hạn một năm ngay đêm nay. Chúc tụng Thiên
Chúa ! Cha rất tiếc không thể báo trước cho
con kịp thời. Con có thể hiệp thông cầu
nguyện với anh em và cha. Cha đă lo liệu
được 10.000 quan cho chị Gaude, phần c̣n lại,
cha sẽ lo sau. Cha sẽ nhờ chị Stafford viết
thư bằng tiếng Anh. M.
de Chartrouse chỉ muốn nhận cô Dubois vào tháng tư
hoặc tháng năm. Vĩnh biệt, con gái của cha. Khi
không vướng mắc rối rắm nữa, cha sẽ
viết thư cho con. Mong Chúa Giê Su Hài Đồng là tất
cả đối với con ! Cha sẽ phó dâng con cho Ngài
khi cha phó dâng chính ḿnh cha cho Ngài ».
Thư trước
lễ Noen 1850 gửi Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, Nimes, nxb. S.V.,
tập III, trang.640
« …Trong đêm Noen, anh em và cha đă
khấn lại và lần tuyên khấn này là vĩnh viễn.
Sáng nay, mọi người đều nhận áo cánh choàng bởi v́ họ
đă không đến đúng giờ. Lễ nhận áo ḍng
đă để lại ấn tượng hạnh phúc
nhất cả thầy lẫn tṛ. Thiên Chúa muốn ấn
tượng ấy tồn tại lâu và phát sinh hoa trái ! Cha
hy vọng vậy, v́ nghi lễ đă diễn ra rất
đơn giản, rất nghiêm trang và rất tự nhiên. Đồng
thời, những người tận hiến cuộc
sống cho Chúa hôm nay tuôn tràn niềm vui khiến những
người chứng kiến không thể hoài nghi ǵ về
những khả năng sẵn săng phó thác và về niềm tin
nơi hạnh phúc khi bắt chước họ.
Tạm biệt,
con gái của cha. Cha hy vọng sẽ viết thư cho con
trước thềm năm mới. Tuy nhiên, cha muốn chúc
con và tất cả các con cái của con trước khi năm mới
đến sức khỏe dồi dào. Nguyện xin Thiên Chúa
cho họ trở nên những nữ tu thực sự,
trần đày nhiệt tâm để đạt đến
sự toàn thiện của riêng họ và v́ sự toàn thiện,
v́ ơn cứu rỗi của các linh hồn. Mọi sự
thuộc về con trong Chúa chúng ta ».
Thư
số 110, Nimes ngày 26 tháng 11 năm 1851, gửi Mẹ
Marie-Eugénie de Jésus, theo nxb. P.T.,
tập I, trang.123
Ư định lập cộng
đoàn ḍng Mẹ Về Trời ở thủ đô có
trước từ lâu so với việc thành lập (1851). Cha
d’Alzon không thiếu hiểu biết cũng không thiếu
điều kiện để thực hiện ư
định đó. Ngài c̣n nhận ra đâu là những
mấu chốt để rộng mở và phát triển gia
đ́nh tu sĩ của ḿnh. Vả lại, theo hướng
ấy, Mẹ Marie-Eugénie de Jésus thúc giục ngài bởi
Mẹ Marie-Eugénie rất hạnh phúc việc lập ḍng
Mẹ Về Trời tại Paris. Đức Cha Affre cũng
đă tỏ ư nguyện mong cha d’Alzon điều hành tại
trường Stanislas. Nhưng cha tổng quản giáo
phận Nimes (tức cha d’Alzon) đă không chấp nhận v́
ngài thích đáp lại các nhu cầu đang triển nở
trong giáo phận Nimes. Việc thay Tổng Giám Mục Affre
theo xu hướng gallicane này bằng Đức Cha Sibour
năm 1848. Đức Cha Sibour là một người quen
biết cha d’Alzon. Điều này tạo điều kiện
dễ dàng một phần trong việc quyết định
lập cộng đoàn ở Paris. Laurent, Tissot, Cardenne là
bộ ba tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời đầu tiên
của cộng đoàn mới thành lập tại Paris. Cộng
đoàn mang xu hướng giảng dạy và bước vào
việc giảng dạy năm học 1851. Việc chọn
lựa khu định cư diễn ra không thuận lợi
do nguồn lực và do thiếu học sinh. Năm 1853,
trường học nội trú này (pensionnat) chuyển
đến miền Tây- Bắc thủ đô Paris, ở
Clichy-la-Garenne. Lúc bấy giờ, đó là một khu ít
được biết đến, nhưng khu phố
ấy lại c̣n là nơi đánh dấu kỷ niệm
về cha Vincent de Paul từng ghé qua vào thế kỷ 17. Từ
năm 1853 đến năm 1860, cha d’Alzon tỏ ra là « chiếc
đồng hồ treo tường của cộng đoàn »
(l’horloger de la communauté). Dưới sự chỉ
đạo của bề trên và đồng thời là
hiệu trưởng trường nội trú này, cha Charles
Laurent, cha d’Alzon đối diện nhiều băo tố
nội bộ : vừa mới đặt chân
đến, chương tŕnh mới đưa ra, ngay khi
ngài rời trường, mọi chuyện bị rối
bời, theo lời của chính cha d’Alzon. Chính cha d’Alzon
cũng trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế
tại trường học ở Nimes trong những năm
1856-1857. Dầu vậy, ngài vẫn thích để tập
viện trong ḷng ngôi trường yên b́nh này hơn việc
thiết lập một nơi đào tạo nhỏ bé mang
tính độc lập trong ḍng tu ở Auteuil,
đường Eymes. Cha Picard, một linh mục non trẻ
đă từng làm bề trên nơi đây sau những vũ
khí rôma đầu tiên (premières armes romaines).
Năm
1860, may mắn t́m được một giải pháp
mới : thầy Vincent de Paul Bailly, lúc bấy giờ là
tập sinh, phải đi thăm bố sắp qua
đời. Thầy phát hiện trong phố François Ier
một mảnh đất dang dở để xây dựng
nhà cửa (déchiqueture de tairrain à bâtir). Mảnh đất này
được đề xuất bán cho cha d’Alzon vào tháng 11
năm 1860. Đức Hồng Y Morlot tán thành việc chọn
lựa mảnh đất này của Hội Ḍng vào tháng 12
năm đó. Năm 1861 tạm thời xây một ngôi nhà
nhỏ rất khiêm tốn (bicoque). Ngày 23 tháng 2
năm 1862 làm phép nhà nguyện. Các cha ḍng dâng thánh lần
đầu tiên. Đó chính là những bước khởi
đầu rất khiêm tốn của nhà nguyện Đức
Bà Cứu Chuộc (Notre-Dame de Salut) và được kêu
gọi trong nhiều việc. Việc rao giảng, việc
giải tội, việc hướng dẫn thiêng liêng
sẽ biến cha Pernet đầy khiêm tốn thành
đấng sáng lập mới của ḍng Mẹ Về
Trời năm 1865. Cha Picard và Vincent de Paul Bailly sẽ
nắm bắt những mấu chốt khác sau năm 1870
trong bối cảnh phát triển dồn dập những
việc phổ biến nơi quần chúng xung quanh ba
trục chính : hành hương, báo chí, hội họp.
« ...(Thầy)
M. Hippolyte viết thư cho cha hôm qua để cho cha
biết ngôi nhà. Theo những ǵ M. Hippolyte nói trong thư, ngôi
nhà ấy có vẻ thích hợp. Nhưng v́ đó là một
quyết định sau cùng và hệ trọng, cha phải
suy nghĩ ít nhất một đêm. Cha đă kêu gọi anh
em cầu nguyện và cha mới dâng thánh lễ. Cha đă qui
tụ ban cố vấn gồm bảy người. Sau
lần bỏ phiếu cuối cùng, mọi người
đều thống nhất đi trước trong việc
này. Chúng ta sẽ đi trước nhân danh Chúa, thánh Nữ
Đồng Trinh. Vấn đề là chỉ cần nghiên
cứu chi tiết về những chuyện ấy. Việc
đó, con biết cha tin tưởng vào ư kiến của
con.
Đây là điểm cần
lưu ư. Cha muốn thuê ngôi nhà ấy theo tên của cha
Charles Laurent, linh mục giáo phận Nimes, cử nhân văn
chương. Trong khi chờ ngài đến, con có thể kư
giấy tờ thay ngài được không ? Việc
đó sẽ là một bảo đảm cho chủ nhà. Con
có thể giúp cha việc ấy không ? C̣n cha, tên của
cha không nên xuất hiện trên giấy tờ v́ lí do gia
đ́nh. Cha e gia đ́nh sẽ la mắng cha. (Gia đ́nh cha
d’Alzon rất lo lắng cho cha d’Alzon do ngài đang mắc
nợ đối với trường ở Nimes. Cha
muốn ngôi nhà ấy mang tên gọi saint Charles và mở
cửa ngày 4 tháng 11. Cha thấy sẽ có những bất
tiện trong giai đoạn đầu nếu lấy cùng tên như các con
tại Paris. Ư kiến lấy tên saint Charles vừa mới
xuất hiện trong tâm trí cha khi cha đang truyền phép
thánh thể. Theo con có cần thiết báo trước cho cha M. Caire
de Saint Philippe du Roule ? Cha nghĩ dù sao chúng ta cũng
thuộc giáo xứ của ngài. Con có muốn nói ǵ về
việc này với cha Sibour không ? Cha có nên viết thư
ngay cho ṭa tổng giám mục không ? Cha nghĩ bảy
giáo viên là đủ. Con muốn biết danh tánh của các
giáo viên không ? Đó là Laurent, hiệu trưởng ;
Cardenne, quản lư hành chính ; Légier, giám sát ; Tissot, giáo
viên lớp 6 (sixième) ; Blanchet, giáo viên lớp bảy (septième). C̣n
phải t́m kiếm giáo viên lớp tám và lớp chín. Việc
ấy không khó đâu. Con có nghĩ nên mở lớp học
trước ngày mồng 4 tháng 11 ? Cha nghĩ nêu khai
trường vào dịp đó sẽ khiến gặp
nhiều khó khăn. Cha rất muốn giữ Laurent và
Cardenne cho đến ngày mồng 1 tháng 10. Một tháng
cũng đủ để thu xếp, nhất là nếu
con có ḷng nhờ tu sửa một ít trong nhà.
Cha
không thích các lớp học hướng ra đường.
Ư của cha là nên mở các lớp trên lầu một th́
tốt hơn. Hippolyte cho cha biết về một gian pḥng
hướng ra đường. Ta có thể sửa gian pḥng
đó làm pḥng gặp gỡ trao đổi chuyện riêng ?
Có lẽ nên sắp xếp căn pḥng ấy nhanh hơn
một chút nữa. Mọi việc nên đơn giản.
Tóm lại, cha không thấy tại sạo lại có sự
khác biệt này. Theo cha, những đồ lắp
dường có thể mua sau cũng được.
Nhưng con là người có nhiều kinh nghiệm hơn
về việc này. Người ta đang mong thư cha. Tóm
lại, con hăy thuê và sửa đổi căn nhà ấy theo
hiêủ biết của con về những ǵ cha nói trong thư.
Cha chỉ nói với con về việc của ḍng. Con tha
thứ điều đó cho cha, phải không nào ?
Cha gửi kèm theo cho con tờ
giấy nói rơ những điều kiện, con xem có thích
hợp với con không. Họ sẽ đổi giá nhà,
v.v ».
Thư gửi Mẹ
Marie-Eugénie de Jésus, Nimes ngày 4 tháng 7 năm 1851, nxb. P.T.,
tập I., trang.53-54
Nimes,
mang biệt danh thành đô Rôma của nước Pháp, đă
không hạn chế chân trời truyền giáo của
đấng sáng lập ḍng Mẹ Về Trời, cũng
như những bận tâm vun đắp trí thức của
ngài. Bức thư rất đáng để ư tới
viết năm 1851 cho một nữ tu đang có sứ
mệnh truyền giáo ở Anh Quốc đă nói lên những
mục tiêu rất rơ của cha d’Alzon theo hai xu
hướng : vốn được đào tạo
một phần ở Rôma, cha d’Alzon đă không quên khí thế
ra khơi mà xu hướng một Giáo Hội hoàn vũ phó
thác cho ngài về mặt ư tưởng cũng như về
mặt thực hành. Cho dù ngài đă sống sự kiện
bi đát của Lamennais trong ḷng Rôma, cho dù ngài đă khổ
đau v́ trong thủ đô địa lư của thế giới
công giáo lại có những người răn dạy
đạo đức và những qui tắc dẫn
đến sự toàn thiện, nhưng thái độ
của họ lại rất khó đi đôi với
những ǵ họ rao giảng, giảng dạy, ngài
vẫn không đánh mất cái nh́n mang tính hoàn vũ trong Giáo
Hội.
Mục
tiêu đầu tiên của ngài nhằm tung ra ở Nimes
những nền tảng tạo dựng Đại Học
tự do, v́ không đủ số người công giáo.
Đức cha Baines gợi cho ngài ư tưởng này. Đức cha
Baines là vị tổng quản ở Anh Quốc. Ư
tưởng này đă sống lại nơi cha d’Alzon trong
khi hội đồng tỉnh ḍng đang diễn ra ở
Avignon năm 1849. Ngài biết ở trường Các-Men
ở Paris bị tra xét. Nhưng ngài muốn tránh khỏi
mọi h́nh thức kiểm soát hoặc nắm giữ
(main-mise) theo kiểu gallican bởi như thế sẽ
không thể tránh khỏi
sự cai quản theo chủ nghĩa Césars nhằm ngăn
chặn sự ảnh hưởng của làn sóng ultramontain.
Thực vậy, cha d’Alzon không phải không biết
đến những mục tiêu do quyền thế của
đế chế nối kết để bắt buộc
Rôma chấp thuận đưa ra thông cáo tạm thời
theo giáo luật (bulle de provision canonique) đối với
các khoa thần học thuộc Nhà Nước. Những
mục tiêu này cũng nhằm ưu đăi những
truyền thống gallicanes hầu có tính tự quyền
trong chức giám mục (autonomie épiscopale) và có pháp luật
theo tập quán (droit coutumier). V́ vậy, khi dự án lập
trường Đại học được tiến hành, cha
d’Alzon mong nhận thánh Augustino làm bảo trợ. Ngài
tuyển giáo sư dạy tín lư. Đó là cha Bensa. Ngài gửi anh
em tu sĩ trong ḍng học thần học tại các khoa
thần học của Rôma với mục đích giúp anh em
quen dần cách suy nghĩ, sự quí mến và đức tin
của những người sống chỉ v́ Giáo Hội
công giáo và Giáo Hoàng (ultramontaines). V́ vậy, năm 1855, các
thầy F. Picard, V. Galabert, R. Jourdan và M.-J. Lévy
được gửi đi học.
Mục tiêu thứ hai của cha
d’Alzon chắc chắn do kinh nghiệm truyền giáo của
các nữ tu Ḍng Mẹ Về Trời đốt lên trong
ḷng : từ năm 1849, các nữ tu Ḍng Mẹ Về
Trời đă đến tận những thái cực
(antipodes) xa xăm, ở miền nam Phi Châu, ở xứ Cap,
và năm 1850 ở Anh Quốc, tại Rich-mond. Hai lần ra
đi này của cái nôi tu sĩ ở Pháp là một kinh
nghiệm truyền giáo rất gian khổ, nhưng đó
lại là chân trời mang tính toàn cầu tuyệt vời
nhất dưới con mắt của cha d’Alzon,
người vốn muốn để Hội Ḍng của
ḿnh trong ṿng quay toàn cầu của quyền bính Rôma, chứ
không phải dưới cái ách của quyền bính giám
mục ! Ḍng Mẹ Về Trời v́ c̣n quá hạn chế nên phải
trông chờ ngày giờ thích hợp, nhưng
đường hướng đă được
định sẵn :
«Sở
dĩ cha hồi âm chậm trễ cho con là v́ lâu nay cha
đau yếu luôn. Và v́ không muốn chỉ viết cho con
vài ḍng so với lá thư rất dài và rất hay của con,
nên cha muốn chờ hồi phục sức khỏe
tốt hơn tí đă để nói chuyện hoàn toàn
thoải mái với con. Trước hết, cho cha cảm
ơn con đă có sự quan tâm đến ngôi nhà của anh
em và cha ở Paris. Hiện tại chỉ có một vài
người thôi, nhưng cha không lo lắng lắm, bởi
v́ ở Nimes, cha và mọi người cũng đă
khởi hành một cách tuyệt đối tương
tự. C̣n liên quan đến quan điểm của dân Anh,
nếu con muốn nói lên một quan điểm theo
người Anh, con cứ mạnh dạn nói ra theo suy
nghĩ của con. Mỗi dân có cách suy nghĩ riêng
đế theo đó mà tŕnh bày sự việc. Cha rất
hiểu những khác biệt và những mức độ
khác nhau đầy tinh tế đó. Như vậy, con có toàn
quyền đưa ra ư kiến và không có bàn tay nào khác mà cha
có thể tín thác những việc ấy hơn con
để con gửi cho cha những dự định
ở Anh Quốc (sujets d’Angleterre), nếu Chúa muốn…
Càng
suy nghĩ, cha càng tin chắc mỗi dân tộc cần có
những người thợ rao giảng tin mừng của
nước ḿnh. Cách đây vài hôm, cha nói chuyện với
bề trên (prieur) Ḍng Chartre. Ngài là một con người tuyệt
vời. Ngài cũng mang những suy nghĩ tuyệt
đối giống cha đối với các tu sĩ trong
Ḍng của ngài. Vậy, nếu con muốn phục vụ
(giúp đỡ) các nam tu sĩ Ḍng Mẹ Về Trời, con
phải chọn lựa và gửi sang cho chúng tôi. Trong khi c̣n
chờ lập tập viện tại Anh Quốc, việc
này sẽ không lâu lắm. Thế nhưng, cha thú thật
với con rằng, theo cha, các con nên ước ao có sự
giúp đỡ và chỗ giựa của các tu sĩ cùng
được đào tạo theo một tinh thần
sống như các con. Họ sẽ giúp các con thăng
tiến trong tinh thần của qui tắc sống trong Ḍng
các con, bởi v́ có thể họ hiểu biết hơn các
con, và cũng có thể họ sẽ đón nhận từ
các nữ tu một sự tác động tốt. Sẽ luôn
luôn cần vạch ra những hạn chế nhằm tránh
một số bất tiện, một số lấn
chiếm và lạm dụng. Nhưng cha nghĩ việc
đó sẽ phải được bàn trước. Cha
cũng phải nói thật với con đó là một trong
những vấn đề khiến cha bận tâm nhất
trong những mối quan hệ tương lai của chúng
ta.
Những khó khăn dù rất
nhỏ, nhưng lại là nguyên nhân cho hàng ngàn căi cọ
giữa các Cha của các con. Điều đó không làm cha
ngạc nhiên chút nào. Đó chính là khía cạnh đáng buồn
của bản tính con người. Sự nặng nề
luôn tạo cho ta cảm giác buồn hơn nữa. Tóm
laị, điều đó cho thấy rằng không phải những
người dạy đạo đức và tạo ra
những qui tắc cho sự toàn thiện, nhưng chính
nền đạo đức và những qui tắc ấy
từ trên cao ban xuống, bởi v́ con người rất
khó sống với thái độ tương xứng
với những ǵ họ giảng dạy. Thật đáng
buồn. Thiên Chúa cho phép điều đó nhằm chỉ
dạy cho chúng ta nên biết cậy dựa vào Người
mà thôi.
Cha
thấy con rất hạnh phúc khi có thể làm
được việc ǵ đó cho những người tin
lành tội nghiệp nơi các con. Ở đây, không có
phương tiện làm như vậy, nhưng Thiên Chúa
dường như cũng nhân từ đoái trông
đến họ. Những người giàu có sợ hăi và
sẵn sàng trở lại với những ư tưởng
quyền thế. Dân chúng chạy theo…Nhưng có lẽ đó
là một phương tiện, hẳn là khủng khiếp
lắm, để có thể đưa họ thoát khỏi
tầm ảnh hưởng từ các mục sư và khỏi
óc giáo phái. Sau này, các thánh sẽ có thể hành động
thoải mái hơn đối với các tầng lớp
đáng buồn này. Ôi ! giá mà Thiên Chúa
vui ḷng sớm gửi đến cho chúng ta những
người hoạt động tông đồ !...
Con
hăy cầu nguyện nhiều cho Ḍng Mẹ Về Trời
ở Nimes. Cha khao khát lập một ngôi trường Cao
đẳng. Thậm chí việc này sẽ sớm
được tiến hành. Ban đầu sẽ chỉ có
bốn giáo viên, và nếu cần thiết sẽ tăng
thêm. Như đă cho con biết, cha bắt đầu
dạy một môn thần học trong nhà. Qua việc
giảng dạy này, cha muốn tạo nên phần trọng
tâm của trường Đại Học công giáo, nhưng luôn
là trường Đại Học công giáo Rôma. Chúng ta cần hy
vọng sẽ dần dần đạt được
mục đích. Trong số học sinh, rất nhiều em
tỏ ra có ơn gọi truyền giáo ở những xứ
sở xa, và có lẽ đó là một trong những nguyên nhân
khiến Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta nhất... ».
Thư gửi Sœur Thérèse-Emmanuel O’Neill,
Nimes ngày 13 tháng 9 năm 1851, theo nxb.P.T., tậpI, trang.80-83.
Ta
sẽ không hiểu nổi sự hội nhập của cha
d’Alzon trong bối cảnh giáo hội thời đại
ngài nếu không nhấn mạnh đến tinh thần
dấn thân bảo vệ tín điều và lập
trường của Giáo quyền Rôma. Đây được xem
là mt trào lưu gây ra sự chia rẽ trong Giáo Hội. Cho dù
chủ nghĩa tuân theo Giáo Quyền Rôma hiệp nhất
trong sự kết hợp với Đức Giáo Hoàng cách đa
nghĩa với ba biểu tượng màu trắng (bánh
thánh, y phục Giáo Hoàng, Đức Trinh Nữ), việc này
vẫn không ít sự khác biệt, phong phú giữa những
người theo chủ nghĩa độc tôn Giáo Quyền
Rôma mang tính kịch liệt chẳng hạn cha d’Alzon và
những người theo chủ nghĩa Giáo Quyền Rôma
mang tính trung hoà. Các nhà sử học phân biệt sự
nổi lên của trào lưu này bắt đầu từ ĐGH
PIO VII tiêu biểu cho giáo hoàng
tử đạo cho đến ĐGH PIO IX tiêu biểu cho
vị giáo hoàng sống như một tù nhân (sống khép kín
trong Vatican). Họ nhận ra cái nơ (mấu chốt) trong
t́nh trạng hỗn độn về vấn đề
rôma. Vấn đề ấy đang dần dần biến
các Nhà Nước giáo hoàng thành lớp gia buồn rầu v́
sự thống nhất nước Ư. Họ miêu tả cái
đỉnh điểm của mấu chốt vấn
đề ấy trong công đồng Vaticano I. Đỉnh
điểm đó là việc công bố sự vô ngộ và
quyền tối cao của Đức Giáo Hoàng. Chính điều
này đă đánh một đ̣n nặng vào chủ nghĩa
gallican (Giáo Pháp : gallicanisme). Quyết định này
cũng làm nổi bật những sắc màu và những cánh
đồng ngôn ngữ, diễn đạt khác nhau :
tranh căi trong học đường, phụng vụ giờ
kinh, các môn học trong chủng viện, những h́nh
thức tôn sùng, và những khía cạnh được
đề cập đến trong đời sống thiêng
liêng. Cuối cùng, các nhà sử học cũng t́m ra
được những mấu chốt thật
sự : đỉnh điểm đạo công giáo
quyền thế, lên án kẻ thù (ennemis) tràn lan trong ḷng Giáo
Hội công giáo (những người theo xu hướng
tự do, những người theo giáo Pháp (gallican),
những người lạc giáo, những người chia
li khỏi giáo hội). Giáo Hội công giáo cũng có
những kẻ thù từ bên ngoài (những người
chống đối giới giáo sĩ, những
người theo chủ nghĩa duy lư, các hội viên hội
Tam điểm). Những điểm đối lập
với chủ nghĩa tự do (tự do ở đây
muốn chỉ những người không tuân theo lập
trường (có thể là cả tín điều) của Giáo
Hội công giáo) cách không nhân nhượng của Giáo hội
công giáo mang tính độc tôn
nầy làm phát triển những tâm tưởng và thái
độ theo cảm giác. Chính v́ vậy, Giáo Hội công giáo
như là h́nh ảnh của một pháo đài bị vây hăm. Có
nhiều nhà tư tưởng mang ảnh hưởng
của tính độc tôn trong Giáo hội Rôma : từ
trào lưu chống đối cách mạng của Bonald và
Maistre, đến trào lưu tiến bộ hơn của
Lamennais, người ngợi ca quyền bính giáo hoàng,
đến sự hăng say đầy cao hứng của
nhà báo Louis Veuillot làm cháy bỏng các trụ sở linh
mục. Tất cả nhằm góp phần làm suy biến
những ư định mới chớm tối thiểu
nhất về độc quyền hoặc về sự
khẳng định truyền thống quốc gia thành
những cuộc căi lộn bùng nổ trong học
đường. Những ngôn từ mang tính mệnh
lệnh là : tập trung hóa, la-tinh hóa, rôma hóa, tuyệt
đối hóa quyền bính giáo hoàng. Nhưng Giáo Hội
phải trả giá rất nặng trong bản Syllabus để
thiết chặt hoặc được gắn bó về
mặt tín lư, bởi v́ Giáo Hội bị dồn ép đi
ngược ḍng thời gian. Cha d’Alzon bị tiêm nhiễm
rất mạnh. Chúng ta có rất nhiều dấu chỉ
rành rành : Ngài đến Rôma không dưới chín lần,
nhiều lần gặp gỡ chung và riêng diện
đối diện với Đức Giáo Hoàng, ngài bền
bỉ t́m hiểu ư kiến và đặc quyền do giáo
hoàng Rôma ủy thác. Nhưng rất có thể chúng ta sai
lầm cho rằng việc t́m hiểu ấy của ngài
chỉ mang tính nông cạn bởi v́ nó đụng chạm
đến ba cực chủ yếu trong tư tưởng
linh thao của ngài : yêu mến Đức Ki Tô, Mẹ
Maria và Giáo Hội, từ đó xuất phát những
điểm nhấn mạnh về sự tôn kính rất
điển h́nh về phép thánh thể, về Giáo hội và
về Đức Maria.
« …Kính thưa Đức Cha,
Tối hôm qua, con đă có cuộc
yết kiến rất lâu với Đức Thánh Cha. Con mong
Đức Cha hài ḷng khi con kể cho Đức Cha biết việc
này. Con xin Đức Cha một đặc ân, xin Đức Cha
gửi lá thư này của con đến giáo phận Nimes. Con
không được khỏe lắm và v́ vậy con không
thể viết lần nữa về những ǵ đă
diễn ra.
Con
vào yết kiến lúc 9 giờ tối. Đức Thánh Cha có
sẵn trên bàn làm việc lá thư kiến nghị liên quan
đến các Tu Sĩ Ḍng Mẹ Về Trời mà con
nhờ Đức Cha Ségur chuyển đến hôm qua. Con
viết một thư kiến nghị khác thay thế
bức thư ban đầu. Khi đọc lá thư ấy,
Đức Thánh Cha thấy tên của Đức Cha trong số
những Giám Mục đă viết thư ủng hộ các
Nữ Tu này (Dames) : « Đức Thánh Cha nói với con rằng
giám mục giáo phận Montauban là một vị giám mục
tốt lành ». Con liền măn phép thưa Đức Thánh Cha
rằng Đức Cha là vị giám mục giáo hội Pháp mà con
đánh giá cao nhất : « Đúng, Đức Thánh Cha nói, khi
tới đây, cha đă ngưỡng mộ tính nghiêm trang và
thận trong của Đức cha. Cha rất hài ḷng về ngài,
Đức Thánh Cha nói ». Con đă phải tŕnh với Đức Thánh Cha một lúc
về vấn đề xác thánh mà tổng giám mục
Toulouse chưa biết làm sao : « Ah, tổng giám
mục Toulouse hả, cha không thích bằng giám mục
Montauban, Ngài nói thế ». Giám Mục giáo phận Nimes
mong muốn Đức Cha viết thư gửi Đức Cha
Mioland, Đức Thánh Cha không muốn. C̣n lại, con đă nói
đến vấn đề ấy với Đức Cha
Fioramonti. Ngài thấy rằng thực sự họ (Giám
mục Nimes và Đức Cha Mioland) không hợp nhau chút nào.
Sau khi những việc yết
kiến vụn vặt ấy được giải
quyết xong, con xin phép Đức Thánh Cha tŕnh về t́nh h́nh
Nước Pháp. « Được thôi, con hăy nói hết xem nào, Đức Thánh
Cha tiếp lời ». Con bắt đầu nói về
những việc mà Đức Cha và con biết đến :
1. Rằng
những người trong giáo hội gallicans bắt
đầu nổi dậy.
2. Rằng
chính phủ khích lệ họ.
3. Uy
thế của sứ thần ṭa thánh ở Pháp do sáng
kiến của Đức Cha Fornari đang mất dần
từng ngày.
Ngài hoàn toàn đồng ư với
con… ».
Thư gửi Đức Cha
Doney, giám mục giáo phận Montauban, Rôma ngày 31 tháng 5 năm
1855, theo nxb. P.T., tâpi I, trang.550-554
Trạm
nước khoáng nóng ở Lamalou-les-Bains được xây
dựng dọc theo hữu ngạn (bờ bên phải)
Bitoulet, trong thung lũng nhỏ đầy sỏi đá
của vùng Cévennes thuộc miền nam nước Pháp
(Hérault). Trạm nước khoáng nóng này gợi lên cho chúng
ta về cha d’Alzon khi ngài đến nơi đây nghỉ
ngơi trị bệnh liệt nửa người và sung
huyết năo trong ṿng mười ba ngày. Căn bệnh này
đe dọa sức khỏe ngài từ ngày 19 tháng 5 năm
1854. Sau cha Athanase Sage, mọi người có lí khi cho
rằng thời gian ấy đánh dấu một
bước ngoặt thiêng liêng thực sự trong cuộc đời cha Emmanuel
d’Alzon, cho đến khi ngài mắc phải những
bệnh tật này, cha d’Alzon hầu như tràn ngập trong
hàng ngàn đau đớn do đảm trách quá tích cực
công việc tông đồ.
Chắc
chắn, Lamalou không phải là trung tâm nước khoáng nóng
đầu tiên, cũng không phải là trung tâm nước
khoáng nóng duy nhất mà cha d’Alzon biết đến : Ngài
đă đến và sẽ c̣n đến nguồn
nước Eaux-Bonnes (ở Pyrénées-Atlantiques, 1847), nguồn nước
Vichy (ở Allier, 1854), nguồn nước Bagnères-de-Bigorre
(ở Hautes-Pyrrénées, 1868, 1874), nhưng Lamalou vẫn là
nơi đánh dấu mạnh mẽ đời sống
thiêng liêng của cha d’Alzon. Ngài đă viết những tài
liệu quan trọng : Tra vấn lương tâm cho các
Sơ Adoratrices, Suy niệm về Chúa Ki Tô Chịu đóng
đinh hay c̣n gọi là Người Bạn mỗi ngày,
cuối cùng là sách Hướng Dẫn (Directoire). Trước
hết ngài viết sách này cho các Nữ Tu Ḍng Mẹ Về
Trời, vê sau sách này được sửa đổi,
bổ sung đem vào áp dụng cho các Tu Sĩ Ḍng Mẹ
Về Trời. Cha d’Alzon cũng viết rất nhiều
thư ở Lamalou ghi nhận sự triển nở về
mặt thiêng liêng của ngài. Buộc phải trị
bệnh, song ngài đă học rất nhiều kinh nghiệm
quí báu từ thử thách sức khỏe này. Có lần ngài
đă viết rằng Thiên Chúa chỉ lấy đi
sức khỏe của chúng ta để dễ dàng buộc
chúng ta cầu nguyện hơn nữa. Trong hành lư của
ngài tại pḥng trọ ở Bains, có quyển sách Bắt
chước Đức Ki Tô và quyển Tân Ước. Ngài
đọc và suy niệm không ngừng. Năm 1858, ngài giao
phó cho một người bạn, Bác Sĩ Jean-Léon Privat
(1810-1897) ư định cho xây nhà nguyện bên cạnh trung tâm
chăm sóc sức khỏe với mục đích thay nơi
thờ kính đă quá chật hẹp. Nhà thờ giáo xứ
tại đây chỉ được xây năm 1893. Jean-Léon
là bác sĩ thăm ḍ của vùng từ năm 1849
đến 1881. Hai mươi năm sau, dự án xây
dụng nhà nguyện khởi công khi xây dựng các trung tâm
bệnh viện của bác sỹ Privat. Công tŕnh này bắt
đầu bằng nhà nguyện Notre-Dame de Pitié (Đức Bà
thương xót), xây bằng đá từ Beaucaire. Lúc ấy
cha d’Alzon muốn dâng bàn thờ thánh Giu Se của nhà
nguyện cho Đức Bà xót thương. Bác sỹ Privat
viết : « sau nhiều năm xa cách, người
bạn quí mến của tôi trở lại Lamalou năm
1879. Ngài thấy nhà nguyện đă được xây
dựng trên mảnh đất đề cập
đến trước đây. Ngài ngước mắt lên
trời, rơi từng giọt lệ qua hàng mi và ngài
nắm tay tôi đầy t́nh thương mến vừa khéo
léo trao cho tôi chút tiền đóng góp ».
Ngôi
làng nhỏ vùng Hérault này trở thành trung tâm nước
khoáng nóng, lúc bấy giờ chỉ có khoảng 750 nhân
khẩu năm 1880. Nhưng tiếng tăm của vùng
được biết đến nhanh chóng trong thế
giới y học. Chính tại nơi này, ngày 21 tháng 6 năm
1857, cha d’Alzon viết bài suy niệm về Đức Ki Tô
Chịu đóng đinh cho các Sơ Adoratrices du Saint-Sacrement. Bài
suy niệm này được đặt tiêu đề khác
là Người bạn mỗi ngày (Ami de tous les jours). Bài suy
niệm này đă đem lại nhiều cảm xúc và
niềm an ủi cho các bệnh nhân và những người
bất hạnh, đồng thời cũng củng cố
vô số tấm ḷng.
Gửi Clémentine Lamalou, khoảng
ngày 23 tháng 5 năm 1856.
« Con yêu quí,
Giá con biết
được niềm tự tin của con bởi thư
con đánh động ḷng cha vô kể ! V́ vậy, con hăy
biết cha nhận thư con với tâm t́nh nào. Hôm qua, cha nhận
được thư con đúng giờ ăn trưa. Cha
vội vàng mở xem tin của con về Juliette. Khi đă
đọc xong, cha bỏ thư vào túi và ăn trưa. Sau
đó cha chạy bộ một ḿnh. Cha đă đi bộ
gần ba giờ đồng hồ. Cha muốn leo lên
ngọn núi, và cha chỉ ở dưới thấp. Cha
nhờ những người bán thịt chỉ con đường ngắn
nhất. Họ chỉ cho cha một lối đi kiểu
thung lũng, cây cối được tỉa rất gọn
gàng giữa rừng gỗ trên đồi núi thẳng
băng. Cha trèo núi thật sự. Cha không thể leo nổi
hai mươi bước nếu không nghỉ một lúc. Áo
choàng thâm rách nát. Đi được nửa đường,
cha nh́n xuống dưới : cha thấy đi xuống
c̣n khó hơn trèo lên. Vậy nhưng, cha khát khô họng và
không c̣n sức để leo lên cao hơn. Cha ngồi phía sau
cây sồi xanh tươi và đọc thư con.
Đây là con đường cha
thường dừng chân. Đây là con đường khiến
cha phải nhăn mày cáu mặt khi phải leo lên cao.
Nhưng chính con đường này tạo cảm hứng
suy nghĩ trong cha. Và cha không thể nói với con t́nh
thương bao la nhường nào về những do dự
của con trong quá khứ. Cha bắt đầu …offrir les
pierres qui roulaient sous mes pas. Mặt trời nóng bức thiêu
đốt cha, v́ sự bền chí của con. Giá mà con
biết được tất cả mọi giải pháp
tốt đẹp về con. Cha tự hứa tạo cho con
sức mạnh sống khi con không c̣n cảm thấy
hưng phấn nữa ! Cha hơi mệt v́ lo lắng
cho Juliette và hai người bạn thánh thiện Hélène
của chúng ta. Và nhờ có bạn đồng hành tốt,
cuộc thư dạo kết thúc nhờ sự trợ giúp
của Thiên Chúa và thánh Mi-Ca-En, nơi cha ghé thăm ngôi nhà
ẩn tu.
Cha viết lá thư này để
khích lệ con viết thư cho cha. Hy vọng lá thư này
đem lại cho con nhiều sức mạnh tinh thần
cũng như thư của con mang lại cho cha sức
mạnh thể lư. Tạm biệt con. Tất cả
thuộc về con trong Chúa chúng ta. E. d’Alzon ».
Thư gửi chị
Clémentine Chassanis, tháng 5 năm 1856, theo tuyển tập
thư d’Alzon, nxb. P.T., tập II, trang.84
Chỉ
thị này của Tin Mừng (Mt 19,19) lấy lại trong
bản giới răn
Môi-sen
(xh 20, 12) đă t́m được sức tái hiện
mạnh mẽ về mặt cá nhân cũng như mặt
cộng đoàn trong cuộc đời cha d’Alzon. Cha d’Alzon
luôn luôn gần gũi những người thân cận trong
những giờ phút khó khăn nhất của cuộc
đời : ngài đến thành Turin năm 1848 thăm
người em rể Anatole de Puységur ốm đau. Ngài từng tự trách ḿnh đă không
thể tiếp tục đến mộ đứa cháu
thứ hai để cầu nguyện cho cháu Marthe de Puységur.
Cháu Marthe qua đời do tai nạn ở Lavagnac năm 1845.
Hai em gái của ngài là Augustine và Marie-Françoise lần
lượt ra đi vào tháng 7 năm 1860 và tháng 4 năm 1869
tạo nên trong ngài đầy cảm xúc : « Cha
đến cầu xin sự thinh lặng tại chốn
này, nơi đây vốn chứa đầy kỷ niệm
của em gái Augustine. Cha sẽ không ngừng cầu xin trong
pḥng của em ḿnh dù căn pḥng ấy sẽ không thuộc
về cha, trong nhà nguyện, cha sẽ ngồi vào những
chỗ em thường ngồi ». Cha d’Alzon c̣n
viết : « Cha đă dẫn đưa
người em gái Marie thân yêu đến nơi yên nghỉ
cuối cùng, và giờ đây, mỗi lúc, cha cứ tin
gặp lại em trong pḥng, trong nhà nguyện, trong hành lang,
trên đường. Cha biết xác em ở nơi đâu,
cha hy vọng linh hồn em đang ở trên trời ».
Đối với bố mẹ tuổi già sức yếu, cha
Emmanuel d’Alzon là một gương mẫu hay để tâm
đến các ngài. Cha trở về thăm các ngài ở
Lavagnac, và chăm sóc họ những tháng ngày trong tuổi
già. Cha coi sóc bà d’Alzon cho đến hơi thở cuối
cùng, khi mẹ ngài bị thương nặng do té cầu
thang trong ngôi nhà ở Montpellier. Một người chăm
sóc bệnh nhân được biết đến với
biệt danh Pauline de Lavagnac. Ngày nay, tên thật của
người này được rơ : Pauline Sagnier. Chị
chăm sóc bà d’Alzon cho đến cuối đời,
thọ chín mươi tuổi. Bà qua đời năm 1864.
Đúng là những bắt buộc trong đời sống linh
mục và tu tŕ đ̣i hỏi các tu sĩ sự từ bỏ, tính chuyển
động, giữ khoảng cách với môi trường
gia đ́nh, song đối với họ, bổn phận
đạo làm con trong gia đ́nh không giảm đi. Đó chính
là những bổn phận tham gia vào các h́nh thức dẫn
dắt gia đ́nh tùy theo khả năng, phương
tiện của ḿnh. Kinh nguyện trong đời sống tu
tŕ có thể cho phép ḥa giải những thúc bách của
cuộc sống hoạt động tông đồ và
đồng thời những gánh nặng nảy sinh từ
bối cảnh môi trường tự nhiên nào đó sau khi
đă thống nhất với nhau. Bằng chứng cụ
thể là sự đáp ứng đầy nhân tính của cha
d’Alzon với thầy Etienne Pernet năm 1856 khi thầy
nhờ ngài giúp đỡ mẹ thầy vừa ghóa bụa,
vừa có tuổi, vừa đau yếu và vừa thiếu
thốn nhiều. Vị đồng sáng lập ḍng Nữ
Tu Sĩ Hèn Mọn Mẹ Về Trời (Petites Sœurs de
l’Assomption) năm 1865 sinh ra trong một gia đ́nh
khiêm tốn và lao động cần cù, rơi vào cảnh
khốn đốn và hoàn cảnh khủng khiếp như
vậy dường như ảnh hưởng đến
bước đi trên con đường ơn gọi tu tŕ
của E. Pernet. Phải làm ǵ trong trường hợp
như thế để thỏa ḷng sự bắt buộc
lương tâm và không trốn tránh những bổn phận
của người con trưởng trong gia đ́nh, và
đồng thời hoàn toàn có thể bảo đảm
sự chọn lựa con đường sống của
riêng ḿnh ? Đó là vấn đề trong thư hồi âm
của cha d’Alzon :
« …Con
quí mến,
Trước hết cha xin lỗi v́ không
thể hồi âm sớm hơn cho con. Lí do là v́ cha phải
đi tắm nước khoáng nóng trị bệnh. Cha không
thể khuyên ǵ con ngoài điều này : con hăy thống
nhất kỹ với em trai
để cùng nhau đóng góp giúp đỡ mẹ. Các con hăy
để mẹ trở lại vùng Franche-Comté. Cha nói
thật với con mẹ con sẽ không thể sống lâu
ngoài xứ sở quê hương. Con không thể hy sinh
ơn gọi của ḿnh, và cha tin chắc Thiên Chúa sẽ
luôn chúc lành cho mái nhà v́ việc chúng ta sẽ làm cho mẹ
con. Với số tiền 150 quan, em trai con có thể làm
việc ǵ đó. Con sẽ sử dụng số tiền
của ḿnh để làm công việc của con bằng cách
sử dụng tiền của chúng ta. C̣n lại, con có
thể tham khảo ư kiến Mẹ bề trên (Mẹ
Marie-Eugénie).
V́ viết
cho con rồi, nên cha sẽ không viết thư cho cha Laurent
nữa. Nhờ con nói vói ngài điều này. Khi cha hy
vọng sẽ đến Paris vào mùa xuân, cha t́m chỗ
trọ cho Đức Giám Mục giáo phận Nimes ở Auteuil.
Ngài đến làm lễ rửa tội cho hoàng đế (baptême
impérial). Cha
mong sẽ có thể t́m được nơi trọ cho ngài
ở đó. Cha nhờ cha Laurent trao đổi với
Mẹ Bề Trên để cho ngài nghỉ qua đâu đó.
Cha tuyệt đối ước ao Đức Cha sẽ
trọ tại nhà chúng ta lần này, ở Auteuil hoặc
ở Clichy. Mong mọi người sẽ sắp xếp
việc ấy tùy theo khả năng có được,
nhưng giá như các con biết được hiệu
quả do việc tiếp đón ấy đem lại ở
Nimes, các con sẽ hiểu tại sao cha ao ước như
vậy lắm.
Người
ta bảo đảm với cha là phương pháp trị
liệu bằng nước khoáng nóng sẽ đem lại
cho cha sức khỏe bền lâu, và cha không hề nghi
ngờ ǵ về điều đó. Tạm biệtt, anh
bạn yêu quí. Tất cả thuộc về con và về anh
em chúng ta.
E. d’Alzon.
Con
hăy hồi âm sớm nhất có thể được
về vấn đề liên quan đến chỗ trọ
cho Đức Cha. Cha Laurent sẽ làm một kiệt tác khi
viết thư ngay cho Đức Cha sau khi đă thống
nhất với Mẹ Bề Trên để biết con
phải đi đến Auteuil không, nếu như ngài
tiếp đón Đức Cha ở Clichy. Nếu Đức Cha
đi đến Auteuil, cha muốn giáo sư Gourju hân
hạnh tiếp diện Ngài. Cha đặt hy vọng vào
t́nh bạn của giáo sư đối với cha và cha
khẩn xin việc này. »
Thư cha d’Alzon
gửi thầy Etienne Pernet, Lamalou ngày 2 tháng 6 năm 1856, nxb
P.T, tập II, trang.91-9
Không
có trang sách nào về thế hệ đầu tiên của
Ḍng Mẹ Về Trời mà lại không xuất hiện
gương mặt của một trong những người
con thiêng liêng của cha d’Alzon. Đó là cha Victorin Galabert
(1830-1885). Ngài gốc vùng Hérault, ở Montbazin, sinh viên ngành y.
Ngài đậu tiến sỹ năm 1854 với luận án
học đường mang tiêu đề Bài thử
nghiệm về lịch sử đậu mùa. Một bài
giảng của cha d’Alzon trong ḍng Mẹ Về Trời
ở Nimes, nơi chàng sinh viên trẻ giảng dạy,
đă khiến anh sinh viên ấy trở lại giống
như thánh Augustino và mở hướng cho anh sinh viên
xuất sắc này t́m lại ḷng nhiệt huyết trong
đời sống đạo bởi gia đ́nh anh sống
đạo lơ là từ lâu. Dù gia đ́nh không đồng
ư, anh vẫn chọn lựa đời sống tu tŕ và
nhận áo ḍng Mẹ Về Trời ngày 8 tháng 12 năm 1854.
Cha d’Alzon cho ngài theo học thần học ở Rôma
(1855-1858). Sau một thời gian giảng dạy ở Nimes,
cha Galabert được cha d’Alzon chọn để gây
dựng gia đ́nh tu sỹ của ḍng ở Đông
Phương sau khi cha d’Alzon tiếp nhận những
chỉ định mập mờ hoặc những khát
vọng của Đức Giáo Hoàng Pio IX ở Rôma.
Trong
đầu của Đức Cha Brunoni, Ḍng Mẹ Về
Trời chỉ có thể cụ thể t́m được
chỗ đứng ở Philippopoli tại Thrace theo
chiến thuật lư tưởng của Giáo Hoàng thiết
lập ở Vatican và được nhiều Hội Ḍng Tu
sử dụng (Résurrectionnites, Capucins, Lazaristes). Nhiều
người ṃn mỏi trông chờ khả năng thành
lập một cộng đoàn Bun-ga-ri thống nhất. Mùa
xuân năm 1863, cha d’Alzon sang Bungari, ở đây đă có cha
Galabert, để khảo sát thực tế và những
dự định. Thực ra, mọi người
đặt hy vọng vào cha sáng lập ḍng để xóa
nợ của phái đoàn làm công tác tông đồ (délégation
apostolique) ! Cha sáng lập ḍng, tức cha d’Alzon, nhanh chóng
nhận ra tuyệt đối không thể lập chủng
viện cho giới giáo sĩ theo nghi thức phụng
vụ tiếng Slave Bun-ga-ri. Cha Galabert, người
đậu hai bằng tiến sỹ (double docteur), ngồi
vào ghế của học sinh, những trẻ em khiêm
tốn, nghèo khó,
được nhận vào trường Saint-André de
Philippopoli, mở của ngày 3 tháng 1 năm 1864. Vị tu
sĩ khiêm tốn và mộ đạo, phú bẩm và kiên
nhẫn học tiếng Bun-ga-ri và phân định tuyển
chọn các ơn gọi đầu tiên trong nước này.
Và từ năm 1865, ngài trở thành cố vấn của
Đức Cha Raphael Popov (1830-1876). Là bạn đồng hành
của Đức Giám Mục trong cuộc sống
thường ngày, vị tu sĩ này đi lại khắp
nơi với ngài trong nước, viết nguệch ngoạc
vào sổ nhật kư trên tàu biển mọi thông tin về nhiều nét
riêng biệt của đất nước Bun-ga-ri nông
nghiệp sống dưới ách đô hộ của
Thổ Nhĩ Kỳ. Chính việc ấy cho phép con
người sống cách một thế kỷ giữ
được kư ức và những h́nh ảnh về quá
khứ. Ngài thúc giục đấng sáng lập gửi
nữ tu sang để phụ giúp : Đó là nguồn
gốc phát sinh ḍng Nữ Tận Hiến Mẹ Về
Trời năm 1865. Khi giao phó trường Saint- André cho cha
Alexandre Chilier, cha Galabert thiết lập cố định
trung tâm truyền giáo của ḍng ở Andrinople (1867). Cha
Alexandre Chilier sau này sẽ sáng lập trường
Saint-Augustin (1884). Là ḥn đá bị chôn vùi trong nền
tảng, là người tiền phong mang tinh thần
đại kết, cha Galabert mang tâm hồn đông
phương của dân mà ngài dạy yêu thương và
phục vụ cho đến khi không c̣n sức hoạt
động nữa. Người con kế thừa của
cha d’Alzon hoàn toàn xứng đáng được gọi là
đấng sáng lập (épithète de fondateur).
«Vậy
là con trở thành linh mục, con của cha. Hôm qua, khi con
nhận phép xức dầu chức linh mục, cha dâng
lễ cầu nguyện cho con. Cha cảm ơn con về
thánh lễ ngày mai con dâng cho cha. Nguyện xin Chúa ban cho con
ḷng nhiệt thành truyền giáo ! Con hiểu rằng t́nh
yêu này là sản nghiệp, là nền tảng, là tinh thần
của ḍng Mẹ Về Trời. Cha không biết sẽ
sử dụng con vào việc ǵ. Có thể cha sẽ yêu
cầu con ở lại Rôma thêm một năm nữa. Và
trong trường hợp này, đến lượt con, con
sẽ phải đảm nhận những trách nhiệm
bề trên, giả sử trong trường hợp cha giao
phó cho con một vài sinh viên. Con cần phải áp dụng
chức vụ ấy cách đều đặn, với tinh
thần cầu nguyện, với sức mạnh, với
ḷng độ lượng, để trở thành
gương mẫu cho các tu sĩ trẻ. Con sẽ phải
thật khiêm hạ, nhẹ nhàng và kiên nhẫn thi hành chức vụ ấy. Con
không nên sơ suất nhiều, phải thêm việc giữ
ǵn vệ sinh trong nhà, và như thế mọi việc
sẽ ổn thôi.
Cha
không muốn con trở về từ Rôma nếu không có trong
tay bằng tiến sỹ giáo luật. Cha rất tiếc là
cha Picard đă không đủ sức để thi các môn
thần học, nhưng ngài phải chăm sóc sức
khỏe. Con nói với cha Barre rằng cha cảm ơn ngài
rất nhiều về kỷ niệm của ngài. Cha
thật ḷng cầu nguyện cho ngài. Ở Montpellier,
nhiều người đảm bảo với cha là cha
Barre đang được chờ đón để thay
thế cha Soulas trong nhiều việc bổ ích. Cha không tin
nổi thông tin này. Cha Soulas là một linh mục tốt. Ngài đă để Hội Ḍng
của ngài bị những ảnh hưởng mà cha Barre có
lẽ không chấp nhận.
Cha ở Lamalou khoảng
một tháng. Cha muốn cho con biết một số tin
tức, nhưng không thể được. Thiên Chúa
muốn Ḍng Mẹ Về Trời ở Nimes đáng
thương của chúng ta bị lung lay. Đă từng nghĩ
Ḍng sẽ có thể phục vụ lợi ích cho Thiên Chúa,
nhưng vậy đó, tất cả dường như
đă chấm dứt. Nhưng mặt khác, nhiều hy
vọng đến với chúng ta từ nhiều nơi
khác. Cha không nhận các trường phổ thông, các
tiểu chủng viện. Nên tin rằng, nếu chúng ta phó
thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, Ngài sẽ biết rút ra
được điều tốt từ điều
xấu.
Khi nào
Đức Thánh Cha trở lại Rôma ? Tạm biệt con.
Cha c̣n trăm ngh́n công việc với cha Picard. Con hăy tin cha
luôn gần bên con bằng trái tim.
E.
d’Alzon.
Mong cha Picard không quên những
khoan hồng đối với chúng ta và những thành viên
Ḍng-Ba. Nếu sức khỏe buộc ngài trở về, con
hăy để ngài ra đi. Chúng ta sẽ phải cần
đến ngài vào năm tới. Con hăy viết thư cho cha
biết tin tức ở Rôma. Báo chí không tải hết thông
tin hoặc thông tin đến rất trễ ».
Thư cha d’Alzon gửi cha Victorin Galabert,
Lamalou, ngày 7 tháng 6 năm 1857, theo nxb. P.T., tập II,
trang.246-247
Việc làm của bề trên hay c̣n
gọi là « tính ưu thế » (supériorité) theo thành ngữ
của cha d’Alzon, chắc chắn là một vấn
đề chủ yếu trong cuộc sống và trong
việc làm sống động nơi cộng đoàn
của Hội Ḍng. Đời sống tu sĩ được
cấu trúc theo cấp bậc làm nền tảng trung tâm
hoặc đỉnh điểm, vận hành cách cục
bộ trong nhiều tế bào mang tính dân chủ (cellules
démocratiques) theo thói quen, nếu ta hiểu điều đó
như tṛ chơi tự do trong một xă hội có tổ
chức và t́nh nguyện của những người
hữu trách, nhưng đồng thời lệ thuộc vào
tấm gương tham khảo chung, đó là Qui tắc
(Luật ḍng). Trước khi đưa vào Hiến Chương
những điểm chính yếu về chức bề trên
(supériorat), cha d’Alzon đă từng trải nghiệm trong hai
phẩm chất của khung cảnh Giáo hội trong giáo
phận Nimes và của một người với tư cách
là đấng sáng lập các Hội ḍng.
Ḍng
Mẹ Về Trời chỉ h́nh thành một cộng
đoàn trong cái nôi của trường học ở Nimes măi
đến năm 1851. Đó cũng là năm đưa ra
quyết định thành lập cộng đoàn ở Paris
tại Fraubourg trên đường Saint-Honoré (1851-1853).
Nhưng không lâu sau đó được chuyển
đến Clichy-la-Garenne (Hauts-de-Seine). Nếu tính kinh
nghiệm làm nông nghiệp (colonie agricole) và mở tập
viện cho các Thầy ở Mireman, Nimes (1853-1857), tiếp
đến là kinh nghiệm về tập viện
độc lập ở Auteuil trong nhà ḍng và lănh thổ
của các Nữ Tu Mẹ Về Trời tại Paris
(1857-1858). Cuối cùng là kinh nghiệm về việc thành
lập một cộng đoàn sinh viên lẻ tẻ ở
Rôma. Rethel xuất hiện vào vị trí thứ năm trong
các h́nh thức cộng đoàn của ḍng Mẹ Về
Trời thuở ban đầu. Mỗi lúc, cha d’Alzon cố
gắng t́m ra người có niềm tin, có khả năng
điều khiển một tập thể trong các hàng
ngũ của « công việc nhỏ bé ».
Việc này liên quan đến hoạt động tông
đồ. Ngài có những người như Henri Brun ở
Mireman, Hippolyte Saugrain ở trường học Nimes,
François-Picard ở Rôma và Charles Laurent ở Paris.
Cũng
thú vị nhận thấy trải qua nhiều thế
hệ, chức vụ bề trên đă thay đổi
nhiều h́nh dạng. Điều này cho thấy trong các văn
bản pháp lí của Ḍng ( Hiến
Chương, Thư Lưu Hành nội bộ, Các Kỳ
Họp). Để đủ sức thuyết phục, chỉ
cần so sánh những văn bản nói đến bề
trên cộng đoàn địa phương, từ thuở
ban sơ cho đến Luật Ḍng ngày nay hoặc trong
quyển sách hiện dùng do Nhà Chung (Curie généralice) giới
thiệu : bề trên địa phương, những
gợi ư thực tiễn để điều hành cộng
đoàn, Rôma, 1990.
Những văn bản đẹp
nhất xuất phát từ cuộc sống và nó chỉ
tạo nguồn linh hứng từ nhiều kinh nghiệm
chín muồi nhờ cọ xát nhiều t́nh huống riêng trong
đó mọi người luôn nhận thấy các vấn
đề nổi cộm. Chúng ta hăy lắng nghe cha d’Alzon tín
thác chức vụ bề trên cho cha Picard năm 1858, một
linh mục c̣n trẻ :
Bạn
thân mến, Lamalou ngày 10 tháng 9 năm 1858
« Như
vậy con chính thức là bề trên ở Rethel. Cha
để con tự do sử dụng cha Pernet hoặc cha Brun.
Tuy nhiên, cha khuyên con nên chọn cha Brun bởi v́ sức
khỏe của ngài sẽ giảm bớt mệt nhọc
cho con. Cha Brun tin sẽ đảm nhận một lớp,
nếu ngài đến đó và sẽ giúp đỡ con
về mặt nội qui. Con hăy chăm sóc đặc
biệt đến sức khỏe của cha Cusse. Nếu
con không được dâng lễ, con hăy cho cha biết. Cha
sẽ tạo điều kiện để con dâng lễ.
Nhớ cho cha tin tức về việc ấy.
Con
hăy từ tốn làm mọi việc. Cha tin tính cách con
người vùng Champagne hơi nặng nề và lạnh
lùng. Tính thành thật đối với cha là hệ
thống tuyệt vời nhất. Con hăy t́m cách để
cha Brun không quá mưu mô. Con hăy thẳng tiến (aller à la
bonne) và
hăy tiến hành công việc cách đơn giản. Đừng
bộc lộ niềm vui hơn người hoặc cho ḿnh
khéo léo hơn người khác. Con nên nhớ rằng chính
sách quản lí (administration) dù kém hiệu quả hơn,
nhưng bảo tồn được t́nh thương,
ngh́n lần thích hơn chính sách quản lí tuyệt vời,
song lại gây sự ghét bỏ.
C̣n
nữa, con hăy nhớ rằng tinh thần ḍng Mẹ Về
Trời là ḷng yêu mến Chúa, yêu mến Đức Mẹ
Đồng Trinh, mẹ Người, và yêu mến Giáo Hội,
hiền thê của Người. Đó là điều con phải
luôn có trước mắt: Chúa chúng ta, Thánh Nữ Đồng
Trinh, Giáo Hội. Nếu con chỉ hành động trong
mục đích ấy, con sẽ sớm được
mọi người cảm nhận và sẽ quí mến con
đúng mức.
Nếu con buồn chán, động
cơ trong sạch sẽ là niềm an ủi tối cao
đối với con. Nếu người ta chỉ
định con làm linh mục giải tội cho các Sơ
ở Sédan, con hăy nhận lời. Con hăy tin tưởng xúc
tiến công việc với Đức Hồng Y. Hăy kết
bạn với cha Hannesse. Nhưng cha tin ngài có một vài mánh
khóe, con cần tránh xa điều đó. Tại ṭa tổng
giám mục, con chỉ cần làm quen với cha Hannesse và
Đức Hồng Y. Con phải lịch sự và tôn trọng
mọi người, nhưng đừng chạy theo ai.
Tạm biệt con. Nguyện xin
Thiên Chúa và Thánh Nữ Đồng Trinh che chở con! Cha chúc lành
cho con trong sâu thẳm tấm ḷng”.
E. d’Alzon
Thư cha E. D’Alzon gửi cha François
Picard, tháng 9 năm 1858, theo những bức thư d’Alzon,
nxb. P.T., tập II, trang.512
Thư
cha d’Alzon và Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, ngay từ lần
gặp gỡ ban đầu ở Chatenay (Isère) vào tháng 10
năm 1838, tại quê hương cha Combalot, h́nh thành nên
niềm khao khát chung để thiết lập cộng
đoàn Nữ Tu Ḍng Mẹ Về Trời ở Nimes với
mục đích chiêm niệm (adoration) và giáo dục. Dự
tính này chỉ có thể khởi động vào thời
Đức Cha Cart. ĐGM Cart khá ghét bỏ sự xuất hiện
thêm các ḍng tu trong lănh thổ giáo phận. Việc này chỉ
thực sự trở thành hiện thực sau khi ĐGM Cart qua
đời ngày 13 tháng 8 năm 1855.
Ngày
24 tháng 10, Sơ Marie-Eugénie de Jésus đến Nimes cùng với
ba nữ tu với mục đích thành lập cộng
đoàn ở đây: Sơ Marie-Walburge, được
cử làm bề trên, Sơ Marie-Elisabeth gốc Nimes và
Marie-Gérard Ernalstein, là Sơ cần vụ. Chỗ ở
đầu tiên không được chuẩn bị
trước: Các Nữ Tu đến nhà bà nam tước
Lisleroy, bà ngoại của Sơ Marie-Elisabeth, trên
đường Lombards số 29, gần nhà thờ
Saint-Charles, trước khi các Sơ đến ngụ
tại một ngôi nhà nhỏ rất khiêm tốn,
đường Roussy vào tháng 11, ngôi nhà này không xa
trường của Ḍng Mẹ Về Trời và gần ḍng
nữ Các-Men. Sau đó, bốn nữ tu được sai
đến: Sơ Marie de la Croix Aubert, Sơ Marie-Aloysia Lawson,
Sơ Marie-Laurence Finn, tập sinh, và Sơ Marie Pélagie
Desperroix, Sơ cần vụ. Ngày 9 tháng 11, cha d’Alzon dâng thánh
lễ đầu tiên tại đây.
Việc
sắp đặt tạm thời này không thể tồn
tại lâu dài. Thư cha d’Alzon những năm (1856-1858) cho
phép chúng ta theo dơi những giai đoạn trong công cuộc
xây dựng và bố trí ḍng tu theo luật ḍng. Ḍng tu này mang
tên Tu Viện Nimes: việc mua đất trên
đường Bouillargues, sơ đồ của kiến
trúc sư Révoil dự tính xây dựng pḥng ở cho các nữ
tu, xây dựng ḍng tu, xây dựng trường nội trú,
vườn giải trí, hàng rào. Công tŕnh này được
cha d’Alzon quan tâm rất nhiều, nhưng cũng không
thiếu những công tŕnh tương tự ở nơi
khác. Trường học ở Nimes cùng theo một kiểu
mẫu và làm nảy sinh nhiều nhánh thiêng liêng
được gắn vào nền tảng của các Nữ
Tu Mẹ Về Trời: Hiệp hội các Nữ Tu tôn
thờ Phép Thánh Thể, Ḍng-Ba nữ Mẹ Về Trời. Bước
đầu của trường nội trú khá khiêm tốn:
12 học sinh vào tháng 10 năm 1858, nhưng công tŕnh giáo
dục sẽ đạt thành quả lớn khi luật pháp
nền Cộng ḥa cuối cùng phải chấm dứt
việc cấm công tác giáo dục đối với các Ḍng
Tu sau bộ luật 1901. Hội Ḍng các Nữ Tu Mẹ
Về Trời tan ră vào tháng 12 năm 1906. Cộng đoàn
địa phương chống cự đến ngày 23
tháng 8 năm 1911 khi lực lượng
cảnh sát đuổi. Nhà tu trở thành trung tâm chăm sóc
sức khỏe cho người có tuổi (Centre Villemin). Nơi
này t́m lại ơn gọi đầu tiên vào năm 1911
với việc thành lập trường trung học d’Alzon,
phát triển rộng Học Viện d’Alzon dưới
sự quản lí của các Nữ Tu Tận Hiến
(Oblates).
“
Các con yêu quí,
Nếu
các con tin rằng cha sẽ để ngày lễ Mẹ
Về Trời trôi qua mà không có lời chúc mừng, các c̣n
hoàn toàn sai lầm đó. Trước hết, cha rất quan
tâm đến thánh lễ này. Tối nay, các tu sĩ đi
tĩnh tâm về và các con sẽ nhận được hàng
đống lời chúc mừng tốt đẹp. V́
vậy, các con hăy cầu nguyện cho đến ngày
22 ( giơ tay lên trời cho
đến ngày 22). Ngày 22, cha sẽ đi Sedan. Cha sẽ
giảng tĩnh tâm ba ngày cho Sơ của các con ở
đây. Nơi đây, v́ lợi ích của các con, cha thánh hóa
mọi thành viên trong gia đ́nh tu các con. Cuối cùng, rất
có thể, thay v́ đi qua Toulouse, cha sẽ phải ghé qua
Nimes để đi đến Lamalou. V́ c̣n nhiều
việc quan trọng ở đó, mong các con vui ḷng cho cha
biết, tốt hơn cha nên ghé qua nơi nào.
Cho
phép cha đề nghị các con trao đổi thông tin cho
nhau về việc cha sẽ nhờ các con. Các con vui ḷng
chuyển lời của cha đến Mẹ chúng ta ( Mẹ Marie-Eugénie de Jésus). Nói là cha chúc Mẹ
kiên nhẫn nhiều để t́m hiểu con người
cha. Các con nói với chị cả đáng kính của chúng ta
rằng cha nghĩ nhiều đến chị và cha thấy
chị đă làm một việc rất tốt khi lập
cộng đoàn bên bờ Vistre. Ở Auteuil, mọi
người luyến tiếc v́ thiếu vắng chị.
Chuyến ghé thăm đă giúp cha đánh giá cao kho tàng mà chúng
ta đă có được. Chuyển lời đến
Sơ Marie-Julienne. Nói với Sơ, cha đă trao đổi
hai lần với người cháu rất đẹp trai
của Sơ về việc Sơ muốn nhờ cháu
chuyển đến cha. Nói với Sơ là cháu hứa
với cha sẽ suy nghĩ về việc ấy. Nhờ
các con chuyển lời tới Sơ Marie de la Croix rằng
Sơ Marie-Cécile muốn Sơ nuôi chim sơn ca ở Nimes.
Nói với Sơ Aréthuse rằng mọi người rất
cần nước để tưới cỏ trên Paris. Chuyển
lời tới Sơ M.-Théodore ở Paris, không ai dùng loại
chocolat mà Sơ làm biếu cha. Nói với Sơ M.-Claver
rằng cha c̣n nghĩ Sơ là người thánh thiện
nhất trong cộng đoàn. C̣n Sơ M.-Angélique, cha thật
sự bối rối, nhưng chúng ta sẽ t́m
được giải pháp ǵ đó từ nay cho đến
khi cha trở lại.
Và
giờ đây, tạm biệt các con. Không phải cha đi
tĩnh tâm lúc này, mà cha đi vào thế giới của cha.
Cha cần thấy việc phải làm để hoán cải
tâm hồn, để thánh hóa, để quở trách
(bản thân), để khích lệ cộng đoàn nhỏ
bé của chúng ta. Tất cả thuộc về các con trong
Chúa chúng ta.”.
Thư gửi cộng đoàn Nữ Tu
Ḍng mẹ về Trời ở Nimes, Clichy ngày 15 tháng 8
năm 1859, theo nxb.D.D., tập III, 1991, trang.131-132.
Chúng
ta thường quen giới thiệu tư tưởng
thiêng liêng của cha d’Alzon hơn là đề cập
đến con người d’Alzon dưới những nét
liên quan đến ông chủ ruộng đất. Và thế
nhưng, đó chính là h́nh ảnh ngài thể hiện về
chính ḿnh trong bức thư
viết cho mẹ ngài, bà tử tước d’Alzon vào tháng 8
năm 1860. Khoảng hai tháng sau, mẹ ngài qua đời.
Ḍng
họ d’Alzon toàn là những chủ tư hữu ruộng
đất ở Vigan cũng như ở Lavagnac: tài sản
ruộng đất trong các tầng lớp giai cấp
thời xưa của xă hội vẫn là biểu trưng
cho sự ẩn chứa tài sản và uy thế, ngay cả
khi bị những giá trị xă hội khác truất phế,
như thương mại, nhà băng và công nghiệp
thường ḥa lẫn với nhau. Chúng ta biết tài
sản của ḍng họ d’Alzon nhờ Bà d’Alzon, sinh ra ở
Faventine. Thực ra bà đă kế thừa gia sản do cha
mẹ nuôi để lại. Bố mẹ nuôi của bà là
con cháu của một ông quân thầu thuế. Vả
lại, khi mẹ ngài qua đời tháng 10 năm 1860,
chỉ ít lâu sau khi em gái của cha ĺa trần vào tháng 7 cùng
năm ấy, hai người nối dơi tông
đường trực tiếp c̣n sống là Emmanuel và em
gái của ngài Marie-Françoise chính thức kế thừa gia
sản: cha d’Alzon từ năm 1835 nhận những số
tiền lớn của gia đ́nh cho nhiều công việc
ở Nimes. Ngài ghi vào sổ rất cẩn thận số
tiền ấy và xem như đó là phần lănh nhận
trước từ của kế thừa sau này. Ngài
để Marie de Puységur kế thừa lănh thổ Lavagnac,
c̣n ngài th́ nhận ngôi nhà do gia đ́nh để lại khi
c̣n ở Vigan và những trang trại kế bên. Lănh thổ
ở Montmau tại xă Saint-Pons de Mauchiens cũng thuộc
về cha d’Alzon. Sau này ngài bán lại cho cháu trai Jean de
Puységur.
Lá
thư của ngài v́ vậy mang nặng những ghi nhận
và toan tính về tài chính trong đó sự lạc quan chung
nơi ngài không bao giờ mang ơn ai, cho
dù suốt cuộc đời ngài chịu khổ v́ vấn
đề tiền bạc. Việc nghiên cứu kiểu tài
chính về chủ đề này nhờ các số liệu
thống kê trong những trao đổi của cha với
Mẹ Marie-Eugénie de Jésus. Dù xuất thân từ tầng
lớp quí phái mới xuất hiện, con người
lịch lăm này dè dặt trong quan điểm riêng đối
với những h́nh dạng kinh tế mới mẻ mà gia
đ́nh Milleret đang đắm ḿnh hoặc đă
đắm ch́m trong đó do giai cấp tư sản
lộng hành. Cả hai người chỉ đề
cập đến vấn đề tiền bạc trong
những quan hệ cần thiết hoặc kiểm tra khi liên quan đến những
dự định hoạt động tông đồ.
Sở thích và chọn lựa cá nhân của các ngài
được nhào nặn theo luật tin mừng chỉ v́
các giá trị đích thực của Nước Trời.
Tuy thế, cha d’Alzon tỏ ra là con người có
đầu óc thực tế về nông nghiệp trong mối
quan hệ với người mẹ sinh thành nhân chuyến
trở về thăm nhà ở miền quê Lavagnac :
«
Mẹ kính yêu,
Con đă đến bến rất
b́nh an. V́ không có việc ǵ quan trọng phải làm lúc này,
sáng mai con sẽ lên đường đi đến Lamalou.
Sáng nay, khi vào nhà nguyện, con trông thấy bó hoa bạch
rất đẹp. Con bèn hỏi có chuyện ǵ thế.
Người ta bảo bó hoa ấy do bác làm vườn
chưng từ hôm qua nhân ngày lễ thánh Augustino.
Mùa
thu hoạch lúa ḿ, hạt yến mạch, lúa mạch
đen, mang lại 9434 quan tṛn. Chi phí khai thác nông nghiệp
đă trích ra 10334 quan, riêng việc đập lúa
(đạp lúa) mất 2234 quan, chưa tính những
thiệt hại (ègues ???) trong năm và những hư hại
về cây cối, cỏ linh lăng v́ không c̣n ai chịu
trách nhiệm bảo quản. Nơi các gia chủ ruộng
đất chính ở Mèze, người ta đă sử dụng
máy móc nên chi phí giảm đi một nửa. Nếu mẹ
muốn ngỏ ư về chuyện này : công việc
đập hạt với …(ègues) phải
mất 2,25 quan cho một hectolit ( hectolit là đơn vị
đo lường). Trong khi đó, sử dụng máy chỉ
mất chưa tới 15 xu cho một hectolit. Con thấy sự
khác nhau qúa chênh lệch. Từ 45 đến 15, hoặc
từ 3 đến 1, nói cách khác chênh lệch một
phần ba.
Poujol
và ông thợ cạo ống khói xúi giục để
người ta đừng mua hạt bị cháy sém (semence de
roussillon)
v́ họ thấy hạt giống thu hoạch ở
đây khá tốt. Họ đă cho con xem hạt giống
mới thu hoạch. Với khả năng hiểu biết
của con, con thấy hạt giống ấy rất
tuyệt và không kết hạt. Chúng ta cần mua giống
lúa ḿ không râu. Con có việc này phải cho mẹ biết.
Năm nay, 44 sèteries de la Conseillère sẽ được
chế biến rượu, nhiều hơn so với 160
sèteries mà ta đă trồng lúa ḿ, lúa mạch đen, hạt
yến mạch. Rượu sẽ bán được 100
quan. Ruộng nho thu hoạch được 120 muids sẽ
bán với giá 12 000 quan. Vụ trồng trọt và vụ
thu hoạch nho sẽ đem về cho mẹ trên 1800 quan,
phải bỏ ra 1200 quan, nhưng c̣n tồn lại 10200
quan. 160 séteries lúa ḿ, lúa mạch đen, v.v. đem lại
lợi thu cho mẹ 9434 quan. Con bàn rơ các chi tiết này
để mẹ được cha đồng ư những
việc sau :
1. mong cha
nhất trí bỏ...ègues? v́ phải chi tiêu vào việc ấy
ít nhất là 2000 quan một cách vô dụng.
2. mong cha
mua một chiếc máy với sản phẩm đem bán
từ trại ngựa giống. Năm đầu tiên,
sẽ có một nguồn kính tế khá lớn ;
những năm khác, kinh tế sẽ rất tuyệt
vời. Ngài Vidal ở Mozère đảm nhiệm việc máy
móc và bảo đảm máy móc luôn.
3. mong cha
cho trồng nho, bởi v́ với luật lệ cho phép và
với những khả năng hiện có, cho nên giá lúa ḿ
rất thấp. Cừu có thể ăn những ǵ mà các
…ègues ? ăn và cũng có thể cung cấp nhiều phân
chuồng rất tốt, song cũng vô ích thôi. Con không
hiểu tại sao lại nói với mẹ về những
suy nghĩ ấy, đúng hơn cha là người phải
suy nghĩ về những vấn đề này. Bởi
vậy, hiển nhiên là con viết những suy nghĩ
ấy cho cả bố lẫn mẹ. Con chưa thể
gặp Rodier. Anh ta để lại cho con mấy chữ
bảo là phải bắt buộc đến Clermont. Ngày mai
con đi. Alexandre sẽ đến Montpellier tối thứ
sáu hoặc sáng thứ bảy.
Tạm biệt mẹ thân yêu. Con
hôn mẹ với nụ hôn dịu dàng và cả cha nữa.
Con trai của mẹ nay đă năm mươi tuổi.
Emmanuel ».
Thư cha d’Alzon gửi bà Jeanne-Clémence
d’Alzon, lavagnac, ngày 29 tháng 8 năm 1860, theo nxb. D.D., tập
III, p. 282-283
Năm
1860 là năm tràn đầy thử thách đối
với cha d’Alzon. Sự chết xảy đến làm tan nát
gia đ́nh : em gái Augustine ra đi nhanh chóng vào tháng
bảy, rồi tháng mười mẹ của cha d’Alzon,
tức bà d’Alzon qua đời cách đau đớn. Hai tang
thương này c̣n được thêm vào một tang
thương nữa là cái chết của cháu gái Martha năm
1845 và em rể của cha tên là Anatole de Puységur cũng ra
đi năm 1851. Hàng ngũ
trong gia đ́nh trở nên thưa thớt. Bà d’Alzon bị mù
ḷa. Khi Augustine qua đời, bà không c̣n con gái thân
thương dẫn dắt nữa khi ở Montpillier. Lúc
ấy, bà sống trong một mái nhà tên là Maison Roche, rue des
Trésoriers de la Bourse. Vào tháng chín, bà không may vấp ngă trên cầu
thang, chắc hẳn bà bị găy xương đùi. V́
vậy bà đau nặng và y học lúc bấy giờ không
thể chữa khỏi, mà chỉ có thể giảm đau
chút ít bằng một vài viên thuốc phiện. Cha Emmanuel
rất đau đớn khi phải trông nom mẹ trong giai
đoạn hấp hối suốt ba tháng trời : ngài
cảm thấy thực sự biệt lập với t́nh
trạng khó đi lại của cha ngài ở Lavangac. Cha ngài
đă tám mươi tuổi và hầu như không c̣n nói
năng được ǵ nữa. Alix de Puységur ở trong
ḍng Các-Men Paris cũng vắng mặt v́ trùng vào giai đoạn nhà ḍng
đóng của. Nỗi đau này của cha d’Alzon càng thêm mạnh mẽ
hơn khi ngài bị cấm không được phép rao
giảng, không được phép giải tội trong giáo phận
Montpellier v́ những ư kiến và sự thái quá trong tính
nhiệt thành đối với Giáo Hội Giáo Hoàng La Mă mà
Đức Cha Thibault (1835-186) trách cứ ngài.
Từ năm 1859, thế
giới công giáo hướng mắt về Rôma và về
những Nhà Nước thuộc giáo hoàng. Kư kết chính
trị, quân sự của Napoléon III với Piémont đă
khiến toàn bán đảo nước Ư rơi vào trận
cuồng phong của Risorgimento. Cavour mong muốn chiến
tranh chống lại ÁO-HUNG-GA-RI bởi đây là sự
loại bỏ mang tính quyết định trên bản
đồ bên kia núi AlPƠ. Trong các nhà nước trung
phần, nhiều rối ren được lên men nhằm
mục đích xúi giục dân chúng không vâng nghe Đức Giáo
Hoàng, Ngài vốn chỉ có thể chống lại một
binh đoàn đều đặn với vài đám quân t́nh
nguyện ít nhiều được rèn luyện. Đó là binh
lính Zouavơ thuộc giáo hoàng. Hơn nữa ở miền
nam, trong vương quốc Deux-Siciles Garibaldi, người
cộng ḥa chờ đợi đến giờ để
liên minh công việc hiệp nhất theo cách của ḿnh. Cha
d’Alzon không phải là người bất động và tay
khoanh tṛn. Theo bút danh của ngài, nhờ lời của ngài,
nhờ hành động của ngài, và nhờ dấn thân cách
trọn vẹn, ngài hoàn toàn đi vào cánh đồng tranh căi
mang tính công chúng. Cháu trai Jean của ngài bị tù ở
Castelfidardo vừa được thả. Sự tranh
đấu của cha d’Alzon được linh hứng
bởi những niềm tin và những khái niệm về
Giáo hội được nhiều người công giáo chia
sẻ, tán thành lúc bấy giờ. Chính trong bối cảnh
rối ren ấy, ngài bàn thảo với Đức Cha Quinn về
việc gửi các tu sĩ sang nước ÚC và ngài chịu
đựng mọi thử thách tang thương liên tục
trong gia đ́nh nhờ đức tin, đến nỗi ngài
viết rằng : « cha nghĩ có thể chịu
đựng chút khổ đau trong gia đ́nh vào chính lúc Giáo
Hội đang đớn đau rất nhiều là một
niềm an ủi lớn đối với cha ».
« Con quí mến,
Cha cảm ơn con về lá thư rất hay con viết
cho cha. Xin con cho cha nói sơ qua với con t́nh h́nh cha lúc này. Cha
khổ đau khi chứng kiến mẹ ḿnh ốm liệt
giường khiến cha mong mẹ chóng khỏi. Từ khi
nói chuyện với mẹ, cha biết mẹ thấu
hiểu cha. Cha ít khi ở bên mẹ, cha cảm thấy cái
chết ít ra đă chiếm lấn một nửa con
người của mẹ. Rất có thể, cha thích ở
một ḿnh hơn, cha đă từng cảm thấy như
vậy khi em gái Augustine qua đời và cha càng cảm
nhận điều đó mạnh hơn nữa mỗi
ngày. Điều đó thật ích kỷ, nhưng cha muốn nói
với con sự thật đang ngự trong ḷng. Cha rất
hạnh phúc với các linh hồn do chính đức tin
chỉ cho cha thấy trong một thế giới tốt
đẹp hơn hoặc đang sẵn sàng đi vào
thế giới ấy. Cha chưa bao giờ thấu
hiểu tốt hơn niềm hạnh phúc trở thành linh
mục và trở thành tu sĩ bằng việc cầu
nguyện cho người nghèo khổ và những linh hồn
quí giá ấy. Và c̣n nữa, cha cũng chưa bao giờ
thấu hiểu tốt hơn niềm vinh dự
được chịu khổ đau trong gia đ́nh lúc
đại gia đ́nh ki tô hữu khổ đau nhiều
lắm. Thật là cái gí đó tốt lành khi t́nh yêu của
Giáo Hội không phải chỉ là một từ rỗng
tuếch. Người mà cha t́m thấy niềm an ủi
tuyệt vời nhất về cái chết của mẹ
ḿnh chính là Giáo Hội. Sau khi viết xong thư cho con và cho
một số người khác,
giá mà con biết được điều cha cảm
nhận khi cha vào trong pḥng để xin lỗi mẹ ḿnh
bởi mọi khổ đau
cha đă gây cho mẹ và lúc cha ôm hôn bàn tay người
mẹ đă chăm sóc cha sâu nặng nhường nào ! Chắc
hẳn có sự đắng cay, nhưng cuối cùng, chúng ta
không giống như những người thiếu niềm
hy vọng.
Lời
cuối cùng của mẹ dành cho cha là : « Con nên biết
đến mọi hy sinh ». Tại sao con không muốn
lời trăn trối ấy không quí giá đối với
cha như bao trăn trối khác ? Sau mẹ, không
người nào an ủi cha tốt hơn con, con của cha,
nhưng trong bối cảnh hiện tại, cha có cần
được an ủi không ? Cha buộc phải
đến vài ngày ở Lavangac để giải quyết
một số việc liên quan đến gia đ́nh. C̣n
nữa, cha phải đi giảng cho hai kỳ tĩnh tâm. Kỳ
tĩnh tâm đầu tiên sẽ bắt đầu
độ ngày 14 tháng 11. Hôm qua, cha Hippolyte đă có hai bài
giảng nói tầm quan trọng của sự hiện
diện của cha ở Nimes. Theo cha, tốt hơn cha nên
cố gắng thực hiện chương tŕnh đề
ra để lên Paris độ ngày 15 tháng Giêng.
Sơ
Marie-Catherine đă viết thư cho cha cách đây vài hôm. Một
lá thư chứa đầy thất vọng. Nhưng
từ ngày mẹ của cha qua đời, Sơ
Marie-Catherine cũng đă viết cho cha và dường
như đă vượt qua khó khăn.
Tạm biệt con gái yêu quí của
cha. Con thấy đó, cha tỏ hết ḷng với con.
E. d’Alzon. »
Thư cha d’Alzon gửi
Mẹ Marie-Eugénie de Jésus, Nimes ngày 18 tháng 10 năm 1860, theo
nxb. D.D. ; tập.III, trang.325-326
Khi
kư kết thỏa thuận hay hợp đồng đi
truyền giáo với Đức Cha Quinn ngày 19 tháng 10 năm 1860,
cha d’Alzon cho phép bước thử nghiệm đầu tiên
về cuộc sống truyền giáo xa xôi đối
với Ḍng Mẹ Về Trời. Cho đến lúc ấy,
Hội Ḍng chỉ biết đến đời sống
trong học đường hoặc trong các trường
học nội trú, dẫu rằng mục đích truyền
giáo thuộc thành phần những khả năng tông
đồ được ghi rơ trong HIẾN CHƯƠNG
năm 1855. Mặt khác, ta biết rằng cha d’Alzon cũng
đă nghĩ đến việc thử nghiệm trong
việc lập ḍng các Nữ Tu Ḍng Mẹ Về Trời
ở xứ Cap bị thất bại (1850-1852) : cũng
nên biết rằng ngài là một người có địa
vị thuận lợi, ngài biết quyền giám mục
rất tỉ mỉ dựa vào luật định nên nói
chung không hề ưu tiên đối với những h́nh
thức lan rộng của đời sống tu tŕ.
Không
theo chính xác một con đường, việc sáng lập
ḍng Mẹ Về Trời
ở nước ÚC (1860-1875) sẽ không thể
tiếp tục tồn tại : Đức Cha James Quinn,
vị giám mục trẻ người Ai Len giáo phận
Brisbane, không giữ lời cam kết sẽ tạo
điều kiện thuận lợi ngay khi gầy lập
cộng đoàn đàng hoàng. Đức
Cha Quinn chỉ có tham vọng và chỉ quan tâm đối
với việc quản lí hành chính tông đồ bằng
cách sử dụng các tu sĩ khi họ phụ thuộc vào
quyền thế của ngài. V́ vậy, nảy sinh sự
khác biệt giữa ngài và cha René / Eugène Cusse. Cha René / Eugène
Cusse bị công bố là tu sĩ chạy trốn v́ nhập
vào giáo phận Brisbane, sau đó ngài bị loại khỏi
Hội Ḍng vào năm 1862. Sau
đó, ngài qua đời tại Newcastle năm 1866.
Hiểu lầm ngày càng trở nên trầm trọng v́ thông
tin lúc bấy giờ quá chậm trễ và cũng v́ cha
d’Alzon quyết đoán hơi vội vàng.
Tuy
nhiên, chúng ta sẽ sai lầm khi tin rằng việc thử
nghiệm lập ḍng ở ÚC hoàn toàn thất bại :
các cha Brun và Tissot, thầy Polycarpe Hudry đă chứng tỏ
là những tu sĩ biết cộng tác với nhau trong công
việc truyền giáo, cần cù và mạnh mẽ, cho dù nói
đúng hơn, các ngài chỉ nghĩ đến những
công việc tông đồ trực tiếp bên cạnh quần
chúng gốc bản xứ hơn là nghĩ đến
việc trợ giúp thiêng liêng cho các ḍng dơi cháu con thực dân
ai-len. Năm 1875, cha Tissot là người cuối cùng
phải rời ḥn đảo- của lục địa
này, tương xứng với quyết định của
ḍng năm 1873. Ít ra, chúng ta có thể nói rằng Ḍng Mẹ
Về Trời đă không đánh mất sự tôn trọng,
không đánh mất danh giá, và rằng cha d’Alzon đă minh
chứng ḷng trung thành, thành thật với Giám Mục cho dù
thái độ của Ngài không đáp lại điều ǵ
cả. Kể từ năm 1862, cái nh́n của vị sáng
lập ḍng hướng về Đông Phương và sự
dấn thân tông đồ này
vào những mấu chốt hoàn toàn khác khi ở ÚC, sẽ
huy động Hội Ḍng ít ra trong khoảng một nửa
thế kỷ. Chắc hẳn khó khăn thử thách nơi
đây cũng không kém, nhưng cùng với năm tháng, tùy
theo t́nh h́nh và thúc bách, dần dần những h́nh dạng
ḥa nhập và đầu tư được mở ra và
cắm neo cho việc lập ḍng với bước
khởi đầu không hứa hẹn lắm cho việc
định h́nh của tương lai : các chức
vụ truyền giáo, các công việc về học
đường và xă hội, công việc tông đồ
về mặt trí thức. Chúng ta hăy vào trong lịch sử
truyền giáo của Ḍng Mẹ Về Trời bằng
ngưỡng cửa khai mào trong việc mảo hiểm
truyền giáo lập ̣ng ở ÚC CHÂU :
« Nimes ngày 29 tháng 9 năm 1860,
Kính
thưa Đức Cha,
Trước
tiên, xin cho phép con cảm ơn Đức Cha đă hồi âm cho
con. Con đă vô cùng trông mong thư của Đức Cha. Sau khi
được Đức Cha báo trước qua cha Laurent, con
thú nhận rằng Đức Cha không đủ tiền đảm bảo
việc đi lại cho các tu sĩ của chúng con. Hai
đề nghị mở đầu lá thư của
Đức Cha và việc Đức Cha luôn nhắc lại lí do thiếu
tiền là những điểm chủ yếu trong lá thư
của Đức Cha. Vài ḍng Đức Cha ghi trong thư hôm qua, con
thấy dường như Đức Cha chỉ muốn
chuẩn bị cho ư định là Đức Cha không có ǵ
để trả chi phí đi lại cho dù chỉ là một
nhà truyền giáo. Nhưng, khi cha Picard đảm bảo cho
con là do hiểu lầm, ngay cả trước khi chưa
nhận ǵ của Đức Cha, con đă cho phép cha Cusse ra
đi để tỏ sự tuân phục Đức Cha. Đức
Cha thấy đó, con không có ư định xấu nào cả.
Bởi
v́ Đức Cha không có tiền chi tiêu, nên thật hợp lư
chỉ có cha Cusse và cha Brun đến phục vụ Đức
Cha. Và cũng hợp lư rằng nếu Đức Cha chỉ có
thể tiếp nhận một người, Đức Cha hăy
tiếp nhận một người. Con mong người
đó chính là cha Brun. Tuy nhiên, con để Đức Cha tự
do chọn người Đức Cha muốn. Một khi hai tu
sĩ này đến Brisbane và sẽ quan sát t́nh h́nh, môi
trường, công việc, nếu họ cho rằng chúng con
có thể hữu ích cho Đức
Cha, và nếu Đức Cha thấy cần thiết cấp
giấy phép cho chúng con lập Ḍng Augustins Mẹ Về
Trời trong giáo phận này, chúng con sẽ vui mừng
gửi đến Đức Cha nhiều tu sĩ khác. Con
sẽ tiến xa hơn
nữa. V́ những sự kiện nào đó, nếu cha Cusse
và cha Brun không thích hợp lắm trong sứ mệnh và công
việc của Đức Cha, và tuy vậy, Đức Cha vẫn
muốn có sự hiện diện của chúng con, xin Đức
Cha gửi về cho chúng con hai tu sĩ ấy, chúng con
sẽ gửi đến cho Đức Cha những
người thợ tông đồ khác. Thưa Đức Cha,
dường như trong các điều kiện con nêu ra,
Đức cha có thể nhận thấy mọi niềm khát khao của chúng con
được làm thỏa ḷng Đức Cha, và con chứng
tỏ cho Đức Cha là con thành thật trong sự hiểu
lầm giữa Đức Cha và con.
Con là người rất khiêm
nhường kính trọng Đức Cha và chỉ là
người tôi tớ vâng nghe Đức Cha.
E. d’Alzon ».
Thư cha E. d’Alzon gửi Đức Cha
Quinn, Giám Mục của Brisbane, theo Những bức thư
của cha d’Alzon, tập III, nxb.D.D., 1991, trang.313-314
Niên
đại về việc mua mảnh đất trên
đường François Ier ở Paris năm 1860 có thể
hoàn toàn được theo dơi nhờ lá thư giữa cha
d’Alzon và thầy Vincent de Paul Bailly. Mảnh đất
khoảng 1050 mét vuông : nhờ trung gian của ông Adolphe
Baudon, gia chủ số 2 cùng đường này, việc
tiến hành mua đất được kư ngày 12 tháng 12,
sau khi bán đấu giá, nhưng lúc ấy việc bán
đấu giá không biết đến sự tăng giá lên
nữa. Ông chủ tịch Hội Saint Vincent de Paul không
cạnh tranh theo như nhiều người đă tin hay
đă cả tin từ rất lâu, đó là một cái tên có
sẵn đơn thuần, nhưng lại là một người
mua thực sự bằng tài sản của chính ḿnh với
mục đích giúp cha d’Alzon, bởi cha d’Alzon luôn thiếu
tiền. Cha d’Alzon dự tính sẽ có thể bán nhà,
đất ở Clichy hầu có thể ứng
trước một số tiền, đồng thời
không phải mắc thêm nợ nần. Mọi chuyện
sẽ bắt đầu được tiến hành
đều đặn nhằm Hội Ḍng có thể trú
ngụ buổi đầu trong khiêm tốn. Mùa thu năm
1861, xây nhà nguyện nhỏ và cũng có một số gian
pḥng để sinh sống tại mảnh đất này. Ngày
25 tháng 2 năm 1862, thánh lễ đầu tiên do cha Picard
cử hành và vào tháng 5 năm ấy, nơi đây chính
thức có người ở. Năm 1866, công tŕnh
được mở rộng. Một lối đi lại nối
liền năm pḥng nhỏ. Năm 1874, xây dựng ngôi nhà
phía sau mang tên nhà Picard, hay c̣n gọi là nhà tu lớn gồm
bốn tầng, v́ đang phải chờ công tŕnh xây
dựng nhà nguyện lớn Đức- Bà Cứu Độ. Công
tŕnh này được thi công vào những năm 1896-1899.
Nhưng
công tŕnh kiến trúc chỉ là việc bao phủ vật
chất từ chất men tông đồ mạnh
mẽ : năm 1865, cha Pernet dấn thân trong việc thành
lập ḍng Các Nữ Tu Hèn Mọn Mẹ Về Trời (Petites
Sœurs de l’Assomption). Chiến tranh năm 1870 và công xă năm
1871 có vẻ không thiếu giai đoạn tŕ trệ :
những sáng kiến có qui mô lớn như việc sáng
lập Hiệp hội Đức Bà Cứu Độ (Notre-Dame de
Salut) năm 1872, tổ chức hành hương năm
1872-1873, nhiều cuộc Hội Nghị và Báo Chí năm
1873. Đó là những công việc luôn có công lao chắc chắn
của người tu sĩ cầm đầu tràn
đầy năng lực thiêng liêng, đó là cha Picard. Vị tu sĩ thứ hai tràn trề tâm
huyết, đó là cha Vincent de Paul Bailly. Báo động
đầu tiên vào tháng 11 năm 1880, việc hoàn thành và
mở ống khóa nhà nguyện nhỏ nhanh chóng bị
lẵng quên : những năm kế tiếp đánh
dấu cao điểm với một tinh thần sống
động và đa dạng đầy ngạc nhiên. Nhà
đào tạo, tập viện (1874), công tŕnh báo chí,
chuẩn bị những cuộc Hội Nghị về thánh
thể, cái nôi của ḍng Nữ Tu màu gia cam (Sœurs Orantes 1896),
đường François Ier trở nên tâm điểm của
Hội Ḍng. Cha Picard điều khiển nơi đây
rất chặt chẽ, cùng với sự trợ lực
của lớp anh em tu sĩ trẻ được đào
tạo như ngài. Những tháng ngày buồn xảy
đến năm 1900 : Vụ kiện nhóm Mười
hai, quyết định phải phân tán, phải ra đi
(exode). Măi đến năm 1945, đường François Ier
lại trở thành trung tâm đời sống cộng
đoàn. Chúng ta hăy cùng nhau theo những bước khởi
đầu trong khiêm tốn tại « ngôi nhà nhỏ »
quá thân quen này :
« Nimes, thứ
hai, tối ngày 17 tháng 12 năm 1860
Anh bạn thân
mến,
Trước hết, hăy
để cha nói rằng con là một trong những
người đặc biệt nhất mà cha biết
đến. C̣n nữa, cha không chấp nhận sự thú
tội của con. Đúng hơn, cha sẽ cho con một h́nh
ảnh về mọi chi tiết để con vào trong đó
và cha cũng rất quan tâm đến nó. Nhưng con hăy
thỉnh xin h́nh ảnh đó với Mẹ Bề Trên
(Mẹ Marie-Eugénie) mà không cần thiết viết thư và
đọc những điều khó hiểu. Đôi mắt trẻ
trung của con phải hữu ích cho việc ǵ đó.
Để xây dựng, chúng ta cần có
tiền. Một đàng, cha không có nổi một xu, đàng
khác, cha không muốn mượn tiền, ngoại trừ
Tín Dụng ruộng đất. Vậy phải chờ có
thể bán một phần ở Clichy. Tóm lại, cha không
muốn biến việc xây dựng thành kẻ giàu có. Cha
muốn xây dựng công tŕnh của người nghèo,
của người rất nghèo, miễn là sạch sẽ.
Về mặt này, cha đă tham khảo ư kiến ngài Baudon
nhiều lần, và thậm chí, cha không hiểu tại sao
chúng ta không yết kiến thêm nữa.
Lúc
này cha tuyệt đối không thể lên Paris. Khi nào cha Laurent đi Bordeaux, cha sẽ cho con hay. Cha
O’Donnell sẽ đi cùng cha Picard. Nếu họ nói những
điều dại dột, họ sẽ ḥa giải với
nhau. Sẽ không có cộng đoàn trong thời gian ngắn.
Tóm lại, hai cha sẽ có thể trọ tại ngôi nhà
nhỏ bên cạnh của ông Démion, trong trường
hợp nhà của ông de Brou không làm hài ḷng ṭa tổng giám
mục lắm. Vào mùa xuân, chúng ta sẽ có thể bán một
phần ở Clichy. Cần hy vọng con ạ. Và nhờ
phương cách ấy, chúng ta sẽ không vướng
mắc nợ nần. Nếu những nhà đấu
thầu xây dựng ngôi nhà nhỏ bé của chúng ta trong
tương lai muốn mua đất chúng ta ở Clichy
để đổi lấy tiền công, như họ
đă từng làm với nhà ḍng Auteuil, có thể chúng ta
sẽ tiến hành cho xây dựng nhà cửa trước.
Cha
không thể có ư kiến ǵ về việc thay nhà nguyện. Cha
nghĩ giá như ông Jackson nhường ít đất, chúng
ta sẽ có thể xây dựng dọc theo nhà của ông Ouvré.
Có thể, chúng ta sẽ theo xu hướng Giáo hội. Và
giả sử chúng ta có một phần nho nhỏ của
ngài Leroux, chúng ta sẽ có thể xây dựng cho các tu sĩ
ở miền nam. Về lối ra vào, cha sẵn sàng
nhường lại. Ít ra phải có bề mặt giáo dân,
chúng ta sẽ có thể tiến hành để trú ngụ
sớm ở đại lộ Antin, và tại những khu
này, chúng ta sẽ không bị mắt trần trông thấy,
phải không nào ? Việc ấy, cha muốn phó thác vào
Đấng Quan Pḥng, nhất là khi chúng ta chỉ có lối ra
trên đại lộ Antin, và từ lối vào trên
đường François Ier, mọi người sẽ
thấy chúng ta tấp nập ra vào. Nếu khi nhường
lối ra vào nà, khi thêm từ 20 quan đến 30 000 quan,
chúng ta có thể có khu Leroux và dải đất Jackson. Cha
cho rằng như vậy sẽ rất đẹp.
Cha tin đă trả lời
mọi thắc mắc của con. V́ cha quá đau
đầu do cảm cúm trong óc, cha tạm biệt con nhé.
E. d’Alzon ».
Thư
gửi Vincent de Paul Bailly, ngày 17 tháng 12 năm 1860, theo nxb
D.D., tập III, 1991, trang 363-364
Người
con đầu tiên ḍng họ Bailly đi tu ḍng Mẹ Về
Trời là cha Vincent de Paul Bailly. Không phải bàn căi ǵ
nữa, cha Vincent de Paul Bailly là con cưng của
đấng sáng lập ḍng. Cha d’Alzon đă không ngại
viết cho cha Vincent de Paul Bailly : « Cha hơi đói và khát khao
con, dù không nên gắn bó với tạo vật, Thiên Chúa không
cấmcon người yêu thương con cái ḿnh ». Ngay
lần gặp nhau đầu tiên ngày 25 tháng 3 năm 1853, hai
con người này đă chứng tỏ sự gắn bó
lẫn nhau rất sâu sắc : cha d’Alzon bị cuốn
hút bởi sự nhiệt huyết, tính tích cực của
con người trẻ trung vui tính này khi anh được
tuyển dụng trong công việc quản lí Thư Tín. Niềm
hăng say của anh hầu như không ai có thể
vượt qua khiến ngài phải viết thêm gấp
bội. C̣n về người thanh niên trẻ trung tại
trường học Nimes, chỉ trong vài ḍng, anh có thể
dựng nên bức chân dung đa sắc màu, thể hiện
cá tính mạnh mẽ của ngài hiệu trưởng
trường và cũng là người sáng lập. Một
ơn gọi nảy sinh từ cuộc hội ngộ
này : tháng 6 năm 1860, sau vài ngày tĩnh tâm, Vincent de Paul
Bailly quyết định đi tu. Chúng ta không thể
thực sự cho rằng quá tŕnh đào tạo làm tu sĩ
của Vincent de Paul Bailly trong ḍng mẹ Về Trời
đầy đủ, chu đáo : giai đoạn
tập viện ngắn ngủi, học thần học chao
đảo giữa hàng ngàn công việc khác, việc
điều khiển trường học ở Nimes
đầy khó khăn đối với bất cứ ai
(1863-1867). Như vậy để nói rằng con
người này vốn thông minh, sống động và có trí
tưởng tưởng cần mẫn, luôn cảm
thấy thoải mái với hành động hơn học
tập. Năm 1869 là bước ngoặt trong cuộc
đời ngài : bên cạnh cha Picard ở Paris, sẵn
sàng làm chức vị bề trên non trẻ để
sống mạo hiểm giữa quần chúng và những
thực tế của đức tin trong việc tiếp
xúc với các tầng lớp và dư luận. Ngài t́nh
nguyện làm tuyên úy quân đội ở Metz năm 1870,
bị giam ở Mayence năm 1871. Ngài cần không khí
để có thể tạo ra sức sống, hâm nóng hành
động quần chúng. Khi tham gia Hội Nghị và hành
hương, ngài sẽ t́m thấy đường đi và
trau chuốt ng̣i bút của ḿnh. Tạp chí Hành Hương,
một tạp chí khiêm tốn ban đầu chỉ gồm
những bài viết mang tính tôn giáo, nhưng trở thành
một tạp chí minh họa các vấn đề thời
sự (1877). Từ Nimes, cha d’Alzon theo dơi tỉ mỉ khi
đọc những bài viết của Vincent de Paul Bailly và
cha đánh giá các bài đăng trên báo ấy không nghiêm túc
lắm ! Con người bận rộn tứ bề này
thúc mời bề trên cung cấp bài giảng để góp
phần lối cuốn độc giả. Năm 1883, nhà
báo-bẩm sinh không ngừng chứng tỏ phẩm chất
làm báo. Ngài t́m được phần chọn lựa riêng,
những mục trong nhật báo Thập Tự (La Croix)
với bút danh ngài yêu thich nhất, Le Moine. Ngài trở nên
một với độc giả, tiêm chích virút cho họ,
tin tức thời sự và
đức tin đang rơi vào t́nh trạng tranh căi hoặc
bị xôn xao do tranh luận gây lên, những nét chua chát trong
ngôn từ, trong tính từ, trong phiếm họa gay gắt. Là
người làm việc hết ḿnh, ngài có mặt trên
mọi mặt trận và công tŕnh của thời
đại : hành hương, xây dựng, hiệp
hội cầu nguyện. Năm 1900, ngài bị kết án
trong sự thinh lặng và cô quạnh, những dạng
thức khác của vị tử đạo đă
được báo trước năm 1861 :
« Nimes ngày 29 tháng 12 năm 1861
Con
quí mến,
Cha
cám ơn con đă viết những lá thư rất hay
thăm cha, cám ơn con đă có những lời chúc nhân ngày
lễ của cha. Và cha cũng chúc con một năm mới
tốt đẹp. Mong năm nay sẽ mở ra nhiều
may mắn, thành công mới lạ. Chỉ có Chúa biết
thôi. Nhưng cha muốn con chuẩn bị cho những
cuộc tranh đấu, rất có thể đang chờ
đón con, bằng việc thăm viếng thường
xuyên, nhất là thăm viếng mộ các vị tử
đạo. Chúng ta là ǵ khi đối diện với các
vị anh hùng ấy ? Chúng ta chỉ là những
người tầm thường thực sự. Nhưng,
nhờ hồng ân Thiên Chúa, chúng ta có thể trưởng
thành, và không có ǵ khác ngoài việc bồi dưỡng cho
sự triển nở thêm can đảm trong tâm hồn ki tô
giáo bằng những thử thách ấy. Cảnh
tưởng hiện lên trên từng bước của
người tín hữu niềm hạnh phúc được
sống ở Rôma. Cha mong con biết tận dụng
những bài học từ nhiều giáo sư thần
học khác nhau ; nhưng ngoài những giáo sư c̣n
sống, con c̣n có nhiều tiến sĩ mà máu của các ngài
giảng dạy c̣n tốt hơn mọi bài thuyết
giảng, và tài năng hùng biện của các vị hoàn toàn
ở trong hành động. Con sẽ noi gương các ngài
để tranh đấu, và khi so sánh việc con làm với
những ǵ các ngài đă làm, con sẽ cảm thấy bị
thúc bách bởi ḷng khát khao chịu đựng mạnh
mẽ, như các ngài đă cam chịu để chứng
tỏ t́nh yêu đối với Đức Ki Tô. Như vậy,
con sẽ thấy rằng tính chuyên cần trong cuộc
sống, trong học tập, sự chiến thắng
nhược điểm tính
cách và cám dỗ, sự hồi tâm trong đời sống tu
tŕ, tất cả đều không hoàn toàn vô nghĩa khi so
sánh với mọi cam khổ của các vị tử
đạo. Con cần phải trang bị đủ thứ
để sẵn sàng đối diện với mọi
thực tại, không chỉ trong viện tập tu, mà
cả trong viện tử đạo. Không có ǵ quá khó và
đức vâng lời nhằm ǵn giữ con hơn là thúc
bách con.
Con
quí mến, hăy thứ lỗi bởi cha dùng thứ ngôn
từ này, nhưng dường như cha thấy bối
cảnh có vẻ rất
trầm trọng và chân trời tỏ ra sầm
uất. Các nhăn quan của cha có thể hơi phóng
đại, thật không may ! Mây trời chồng
chất ngày một dày đặc. Những dấu hiệu
từ trời như thế giúp ta có thể đọc
được hiện tại và tiên báo về tương
lai.
Cha
thỉnh cầu hai tập sinh nên vâng lời thầy Vincent
de Paul, thầy đang cần tập trung sức lực
để học tập. Hăy cầu xin các vị tử
đạo để có ḷng kiên tŕ khi buồn chán công
việc. Hăy làm việc thật nhiều. Cha nghĩ các con
phải ở trong giai đoạn mà mọi khó khăn ban
đầu khi ở Rôma sẽ qua đi, và trong giai
đoạn mà các con sẽ bắt đầu nếm
mỗi ngày thêm chút hương vị của niền
hạnh phúc khi được gần thánh Phêrô và Đức
Thánh Cha, giai đoạn mà các con sẽ có nhiều t́nh cảm
hơn nữa mà mỗi người phải có, những
người do Thiên Chúa ban ơn có thể cầu nguyện
mỗi ngày trên mộ của Vị Tông Đồ nào đó.