Lời ngỏ :
Năm tôi
làm tập viện 2005-2006, một số anh em
trong Ḍng đă đề nghị tôi dịch bản Luật Sống của Ḍng. Có một bản
dịch khác đă hoàn thành
là bản dịch của sư huynh Văn Hào. Nhưng tiếc rằng sư huynh có
vài lư do riêng nên chưa
tiện công bố. Tôi nghĩ
chúng ta càng có nhiều bản dịch càng tốt. V́ Luật Sống
được viết
bằng tiếng Pháp nên nếu
có nhiều bản dịch để đối chiếu th́ đó là điều rất tốt. Tôi đă mạo
muội dịch. Tuy nhiên việc
này giúp tôi nhiều hơn là làm việc ǵ có
ích cho ai. Đây cũng là dịp tôi có
thể t́m hiểu kỹ lưỡng hơn về Luật Sống của Ḍng. Tôi đă hoàn
thành việc chuyển dịch sang tiếng Việt năm chương đầu.
Đây là các chương có nội dung giải thích linh đạo của Ḍng và hướng dẫn người tu sĩ sống ba lời khấn
theo tinh thần của Ḍng. Các chương
c̣n lại nói về cơ
cấu tổ chức của Ḍng cũng như các chương
tŕnh đào tạo cụ thể dành cho mỗi tu sĩ trong từng
giai đoạn khác nhau của
đời tu. Tôi hy vọng sẽ
hoàn thành sớm phần c̣n lại để
đăng tải tiếp lên đây. Mọi góp ư cho bản
dịch này xin quí vị
gởi về địa chỉ điện thư : mevetroi@gmail.com
Tiều Phu, aa
Luật Sống
I.
HIẾN
CHƯƠNG CỦA ANH EM Âugustinô HỘI D̉NG MẸ VỀ TRỜI.
« Trên
hết mọi sự, Anh Em rất quí mến, mong rằng
anh em yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, v́ đó là những điều
răn chính yếu Thiên Chúa
đă ban cho chúng ta. »
Thánh Âugustinô
« Chúng
ta sử dụng những lời sau đây trong lời kinh
ngày Chúa Nhật làm khẩu hiệu : ADVERNIAT REGNUM TUUM
(NGUYỆN NƯỚC CHA TRỊ ĐẾN). Và những lời
sau đây trong lời kinh phụng vụ thường
ngày: PROPTER AMOREM DOMINE NOSTRI JESU CHRISTI (V̀ T̀NH YÊU ĐỨC
GIÊSU KITÔ CHÚA CHÚNG TA).
Triều
Đại Đức Giêsu Kitô trị đến v́ chúng ta,
và v́ tha nhân, đó là điều chúng ta dự định thực
thi trên hết mọi sự.
Cha d’Alzon, Bản Hiến Chương năm 1865, I, 1
*
**
« Tinh
thần hội ḍng Mẹ Về Trời được tóm
lược trong những lời sau : t́nh yêu dành cho
Chúa chúng ta, cho Thánh Nữ Đồng Trinh, Mẹ Người,
và cho Giáo Hội, Hiền Thê Người. »
Cha
d’Alzon, Định Hướng, I, 1
1.
Tu sĩ ḍng Mẹ Về
Trời, chúng ta là những tu sĩ sống trong cộng
đoàn hoạt động tông đồ. Trung thành với
Vị Sáng Lập, cha d’Alzon, chúng ta dự định làm việc
trước hết, nhờ t́nh yêu Đức Kitô, cho Triều
Đại Thiên Chúa hiển trị trong chúng ta và xung quanh
chúng ta.
2.
Đức Giêsu Kitô là
trung tâm của đời sống chúng ta. Chúng ta dấn thân
theo Người trong đức tin, đức cậy và
đức mến.
Như
Người là chứng nhân t́nh yêu của Thiên Chúa Cha, và là mối
dây liên kết mọi người, tu sĩ ḍng Mẹ Về
Trời muốn trở nên con người đức tin và
con người thời đại.
3.
Đức Kitô là Đấng
qui tụ chúng ta. Chúng ta sống trong cộng đoàn theo tinh
thần Thánh Âugustinô : « Trước
hết, anh em hăy sống hiệp nhất một nhà với nhau, một ḷng một trí hướng về Thiên Chúa » (Luật Thánh
Âugustinô I, 2).
Chúng
ta t́m kiếm một đời sống huynh đệ
được xây dựng trên sự chân thành, thân t́nh và giản
dị.
Lời
nguyện chung của chúng ta là lời nguyện của Giáo
Hội. Nơi đó, cộng đoàn tuyên xưng đức
tin và mở rộng ḷng trí ra đón nhận Thần Khí
để thực thi sứ mệnh.
4.
Cộng đoàn tu sĩ
ḍng Mẹ Về Trời tồn tại để cho Nước
Thiên Chúa hiển trị. Tinh thần của Vị Sáng Lập
thúc đẩy chúng ta mang lấy những trăn trở lớn
lao của Thiên Chúa và của con người, thúc đẩy
chúng ta hiện diện nơi đâu Thiên Chúa đang bị
đe dọa (bị xua đuổi khỏi) nơi con người, và nơi đâu con người
được tạo nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa đang bị
đe dọa.
Chúng ta phải chứng tỏ là những
con người táo bạo, có óc sáng kiến và vô vị lợi,
trong sự trung thành với giáo huấn và với đường
hướng hoạt động của Giáo Hội.
Đó là cách thức chúng ta tham dự
vào đời sống và vào sứ mệnh của Giáo Hội.
1.
Trung thành với ư muốn của cha d’Alzon, cộng đoàn chúng ta được
lập ra để minh chứng cho sự thật, để
mang lại sự hiệp nhất và để thực thi
đức ái. Như thế, cộng đoàn chúng ta đang
loan báo nước Thiên Chúa.
“Để tất cả
nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để
họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy thế gian sẽ
tin rằng Cha đă sai con.”
Ga 17, 21
2.
Được kêu gọi
bởi Đức Kitô, Người là nguồn mạch hiệp
nhất chúng ta, chúng ta chọn sống chung với nhau theo
Luật và tinh thần của Thánh Âugustinô, v́ Nước Trời.
Triều Đại Đức Giêsu
Kitô đang trị đến v́ chúng ta và v́ tha nhân, đă hiển
trị trong đời sống chung của chúng ta.
Dù rằng chúng ta có thể mỗi
người một nơi v́ công việc tông đồ,
nhưng chính yếu là chúng ta đang tham dự vào đời
sống và sứ mệnh của cộng đoàn.
3.
Đời sống huynh
đệ phải được xây dựng hằng ngày.
Được đón nhận như hồng ân Thiên Chúa ban
tặng, đời sống huynh đệ đ̣i hỏi mỗi
tu sĩ cần đổi mới tâm hồn mỗi ngày
để tăng cường ḷng trung thành của bản
thân và của các anh em khác trong Ḍng.
T́nh
yêu Thiên Chúa và t́nh yêu tha nhân của chúng ta được cảm
nghiệm và được biểu lộ qua những mối
tương quan huynh đệ chân thực giữa chúng ta.
Không ai có thể cảm nhận được niềm vui
của lối sống này nếu không dấn thân trọn vẹn
con người ḿnh vào lối sống đó.
4.
Chúng ta chấp nhận
sự khác biệt của nhau, v́ Đấng hiệp nhất
chúng ta mạnh mẽ hơn những ǵ chia rẽ chúng ta. Phải
không ngừng vượt qua những ǵ ngăn trở giữa
chúng ta và những ǵ cản trở chúng ta ra khỏi cái tôi của
ḿnh để chúng ta t́m gặp lại nhau trong đón nhận
và tha thứ.
Nếu chúng ta để việc lắng
nghe người anh em với tấm ḷng đầy nhân ái và
kính trọng lên trước những bất đồng về
ư kiến, những phân biệt về nguồn gốc, tuổi
tác, tâm tính hay t́nh trạng sức khỏe, th́ sự khác biệt
của chúng ta trở nên phong phú.
5.
Đời sống huynh
đệ đ̣i hỏi những cuộc họp định
kỳ.
Tu nghị cộng đoàn là giai đoạn
trọng yếu trong đời sống của mỗi cộng
đoàn.
Trong
kinh nguyện, nhất là trong việc cử hành bí tích Thánh
Thể, cộng đoàn t́m lại nguồn sức mạnh và củng cố lại
sự hiệp nhất.
Qua những
buổi họp cộng đoàn, nơi tạo điều
kiện cho việc chia sẻ chân t́nh và thẳng thắn.
Qua đó, cộng đoàn nghiên cứu một đời sống
tu tŕ trung thành hơn và một công việc tông đồ rộng
mở hơn trước lời mời gọi của Giáo
Hội và của Thế Giới.
Niềm
vui và thử thách, thư giản và bữa ăn, đối
với chúng ta, đó là những dịp để xiết
chặt hơn mối tương quan giữa chúng ta trong sự
giản dị, theo tinh thần truyền thống của gia đ́nh
Hội Ḍng Mẹ Về Trời.
Chúng
ta quan tâm đặc biệt đến các anh em đau yếu
và các anh em cao tuổi.
6.
Tinh thần hiếu khách của cộng
đoàn rất quan trọng nhưng đồng thời cần
tôn trọng những nơi dành riêng cho các thành viên của cộng
đoàn, để ǵn giữ đời sống riêng tư
cần thiết đối với họ.
Cộng đoàn cố gắng liên
đới với các cộng đoàn khác, và luôn giữ một
cách sống động trực cảm của ḿnh hướng
về Giáo Hội, nơi mọi hiệp thông huynh đệ
được xây dựng.
7.
Tránh nhiệm và chức vụ của
chúng ta đa dạng. Điều đó đ̣i hỏi
được thực hành trong tinh thần phục vụ
và ḷng yêu mến.
Bề
trên chăm lo thúc đẩy các hoạt động của
cộng đoàn, cũng như lưu tâm một cách đặc
biệt đến từng anh em, đảm bảo quyền
tự do của từng người và bảo đảm sự
hiệp nhất giữa mọi người.
8.
Sống được như vậy,
cuộc sống chung của chúng ta giúp cho mỗi tu sĩ thực
hiện được ơn gọi của ḿnh.
Trong một thế giới bị chia
rẽ, cộng đoàn làm chứng rằng Đức Kitô
đang sống giữa chúng ta và hiệp nhất chúng ta lại
với nhau để loan báo Tin Mừng.
“Vậy anh em hăy đi và làm cho muôn
dân trở thành môn đệ”
Mt 28,19
9.
Hoạt động tông đồ
của Hội Ḍng đưa cộng đoàn chúng ta vào trong
sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội : qui tụ mọi
người trong dân Thiên Chúa. Khẩu hiệu của chúng ta
: “Nguyện cho nước Cha
trị đến” thúc đẩy chúng ta làm việc
để Triều Đại Đức Kitô ngự trị
đến trong chúng ta và trong thế gian.
Như Chúa Cha đă sai Đức Kitô, Đức Kitô cũng
sai chúng ta lên đường với lời hứa ban Thần
Khí của Người. Chúng ta phục vụ người
anh em qua việc loan báo Tin Mừng.
10.
Cộng đoàn chúng ta muốn
được chia sẻ niềm vui và hy vọng, nỗi
buồn và âu lo của hiện tại với tất cả mọi người, nhất là với những người nghèo khổ, và
tất cả “những ai
đói khát sự công chính” Mt 5,6.
Liên đới với những khát
khao và nổ lực của họ, chúng ta tham gia xây dựng
một thế giới công b́nh và huynh đệ hơn.
11.
Chúng ta chọn lựa, trong giới
hạn khả năng của ḿnh, dấn thân vào những hoạt động mà đáp ứng
một cách hiệu quả những nhu cầu thiết yếu
ngày nay và thích hợp với tinh thần ḍng Mẹ Về Trời.
12.
Chúng ta làm việc để
xây dựng Giáo Hội qua việc loan báo về Đức
Giêsu Kitô. Chúng ta lưu tâm đặc biệt đến các
hoạt động như : giáo dục đức tin,
đào tạo thừa tác viên giáo dân, kêu gọi và nâng đỡ
ơn gọi Kitô hữu, đặc biệt ơn gọi
tu sĩ ḍng và linh mục triều.
Việc loan báo về Đức Giêsu
Kitô không thể tách rời việc thăng tiến mọi
phương diện của con người trong công b́nh, yêu
thương và hiệp nhất. Mọi hoạt động
của chúng ta sẽ trở nên sống động bởi
chúng ta mặc lấy một tinh thần học thuyết,
xă hội và đại kết.
13.
Chúng ta giữ vững ḷng trung thành
với những hướng đi chính yếu của Giáo Hội,
hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, Giám Mục Đoàn
và Giáo Hội địa phương.
Chúng ta cộng tác một cách minh bạch
và vô vị lợi với tất cả những ai dấn
thân vào công cuộc loan báo Tin Mừng.
14.
Từ khi khởi đầu Hội
Ḍng, hoạt động tông đồ của chúng ta đă
được thực hiện dưới nhiều h́nh thức
khác nhau, đặc biệt : việc giảng dạy “được hiểu theo nghĩa
rộng nhất của từ”, việc học tập,
các phương tiện truyền thông xă hội, những
chuyến hành hương, phong trào đại kết, mục
vụ giáo xứ, phong trào tông đồ giáo dân, các việc
từ thiện xă hội, việc giúp các Giáo Hội mới
thành lập…
Theo ơn gọi riêng của hội
ḍng Mẹ Về Trời, chúng ta phải luôn sẳn sàng và
có khả năng sáng tạo.
15.
Nhờ đức tính ưu việt
được nhận thấy qua cuộc sống và qua
hành động của ḿnh, cộng đoàn làm chứng về
Tin Mừng. Dù khỏe mạnh hay đau yếu, trẻ tuổi
hay lớn tuổi, chúng ta đều chia sẻ với các
anh em trong ḍng sứ mệnh tông đồ này, mỗi
người tùy theo ơn gọi và t́nh trạng của ḿnh.
16.
Ơn gọi truyền giáo của
chúng ta mời gọi chúng ta trở nên “tất cả cho mọi người” (1 Cr 9,22).
Tính sẳn sàng này đ̣i hỏi những điều cụ
thể sau :
-
Mở rộng ḷng trí
trước những giá trị văn hóa, xă hội, tôn giáo
của mọi tầng lớp con người khác nhau.
-
Muốn nhận lănh bao
nhiêu th́ cho đi bấy nhiêu trong quí mến và kính trọng lẫn
nhau.
-
Lo lắng về việc
đào tạo, về khả năng chuyên môn và về khả
năng thích ứng.
-
Nổ lực sáng kiến
và sáng tạo.
-
Ḷng nhiệt thành, yêu mến
công việc, tính thẳng thắn và táo bạo.
17.
Chúng ta xem xét thường
xuyên hiệu quả công việc tông đồ của ḿnh,
và nghiên cứu những lựa chọn và khả năng
thích ứng cần thiết cho các công việc đó.
Lựa chọn theo sở thích và
năng khiếu cá nhân của chúng ta sẽ được
lưu tâm đến, nhưng luôn được đối
chiếu với đường hướng hoạt động
và những ưu tiên của cộng đoàn cũng như với
lời mời gọi của Hội Ḍng.
18.
Cầu nguyện riêng và chung của
chúng ta là nơi tiếp nhận và thể hiện sự hoạt
động của Thiên Chúa trong đời sống mọi
người. Chúng ta cầu xin Người tha thứ tất
cả những lần chúng ta đă chối từ lời mời
gọi của Thần Khí. Qua đời sống cầu
nguyện, chúng ta thắp lên niềm hy vọng được
trở nên chứng nhân của Đức Kitô “cho đến khi Người lại
đến”.
“Đối với tôi, sống
chính là Đức Kitô”
Pl 1,21
19.
Trong một thế giới
nơi mà chúng ta chia sẻ những t́m ṭi và nổ lực
của những người muốn trở nên con người
đầy nhân tính, th́ chúng ta nhận ra nơi Đức
Kitô, con người hoàn thiện, và chúng ta t́m thấy
nơi Thiên Chúa lư do chính đáng nhất để sống
và hành động.
Người muốn tất cả mọi
người trở thành dân Người, bạn hữu
Người và con cái Người.
Thiên
Chúa đă t́m gặp riêng mỗi người chúng ta để
hoàn tất, với chúng ta và nhờ chúng ta, ư định hiện
diện và hiệp thông của Người với mọi
người.
20.
Chúng ta được mời
gọi theo Đức Kitô đến cùng trên các nẻo
đường Tin Mừng. Dưới tác động của
Thần Khí và theo mẫu gương của Đức
Maria, chúng ta chọn liều ḿnh trong cuộc phiêu lưu gặp
gỡ Thiên Chúa.
Việc chúng ta dâng ḿnh cho Chúa qua đời
sống tu tŕ và việc nảy nở các ơn ích do bí tích rửa
tội mang lại thôi thúc chúng ta không ngừng trưởng
thành trong đức tin, đức cậy và đức
mến.
21.
Qua việc dấn thân vào đời
tu, tùy theo ơn Chúa ban, chúng ta mong muốn đáp lại lời
mời gọi của Thiên Chúa và mong muốn đáp ứng
những đ̣i hỏi của lối sống đó
theo tinh thần Tin Mừng.
Qua lời khấn khó nghèo, khiết tịnh
và vâng lời, chúng ta chứng tỏ đức tin của
ḿnh vào Đức Kitô, đồng thời qua những lời
khấn đó nhắc nhở chúng ta ư nghĩa sâu thẳm của
thực tại con người và biển đổi chúng ta
thành những con người phục vụ nước
Thiên Chúa.
22.
Trong
một thế giới mà sự quyến luyến của cải
vật chất và việc phân chia nó một cách bất công,
chính là nguồn gốc chia rẽ và hận thù, chúng ta làm chứng
rằng Thiên Chúa chính là sự giàu có đích thực của
chúng ta và Người muốn chúng ta liên đới với
những người nghèo khổ.
Khi đảm nhận phần công việc của chúng ta
giữa mọi người, chúng ta mong muốn góp phần
vào việc phát triển con người và các dân tộc v́
nước Thiên Chúa.
23.
Ư thức về trách nhiệm của
người Kitô hữu, chúng ta cam kết sống đức
nghèo khó theo tinh thần Tin Mừng.
Đức Kitô mời gọi chúng ta
đặt niềm tin vào Chúa Cha, Đấng ban trái đất
này cho muôn loài. Người muốn rằng con người
san sẻ nó cho nhau, v́ tất cả đều là anh em.
Đối với chúng ta đó là lời
mời gọi chia sẻ chính con người chúng ta và những
ǵ chúng ta có được
để phục vụ tha nhân.
Việc đó đ̣i hỏi sự từ
bỏ tuyệt đối mọi dạng sở hữu nhằm
đạt đến sự tự do bên trong cao cả
hơn. Đồng thời để chúng ta sát cánh
với những người nghèo khổ và những kẻ
bị áp bức.
24.
Qua lời khấn khó nghèo, chúng ta
cam kết từ bỏ quyền sử dụng và tùy ư sử
dụng tài sản đáng giá mà không có sự cho phép của
Bề trên có thẩm quyền.
Chúng ta cũng chọn để chung
tài năng và tài sản riêng của mỗi người, và tự
gắn bó ḿnh với công việc, đồng thời chọn
sống khiêm tốn và giản dị.
Cũng
trong tinh thần từ bỏ đó, chúng ta có thể từ
bỏ hoàn toàn mọi tài sản thừa kế của chúng
ta. Cộng đoàn cung cấp những thứ cần thiết
theo nhu cầu của từng anh em.
25.
Về phần ḿnh, mỗi người
chịu tránh nhiệm về điều kiện kinh tế
của cộng đoàn.
Thông tin cho nhau, tham gia tích cực vào những
quyết định chung và chia sẻ công việc là việc
bắt buộc đối với tất cả mọi
người.
26.
Tinh thần nghèo khó đ̣i buộc
các cộng đoàn và Hội Ḍng phải tránh tất cả
những ǵ không hợp với một cuộc sống thanh
đạm và những ǵ không đáp ứng được
đối với những điều thiết yếu cho
công việc tông đồ của chúng ta. Chúng ta sẽ để
các anh em trong chúng ta, những ai đang sống với những
người nghèo khổ nhất, chất vấn chúng ta.
27.
Việc san sẻ của cải cần
phải được mở rộng ra với các cộng
đoàn khác, với những ai có nhu cầu, và với những
ai đang cùng nhau xây dựng một thế giới công bằng
hơn. Bởi v́ sự nghèo khổ, trong chiều kích xă hội
và quốc tế, kêu gọi chúng ta quan tâm và hiện diện
nơi xẩy ra những vấn
đề chung của đời sống con người.
28.
Mỗi cộng đoàn làm chứng
bằng cách thức ấy về giá trị tương
đối của của cải trần gian và hướng
đến việc thiết lập Vương Quốc công
bằng và b́nh an giữa mọi người.
29.
Được tạo nên để
yêu và được yêu, con người đạt đến
ơn gọi đó của ḿnh dưới nhiều h́nh thức
khác nhau.
Như Đức Kitô, Đấng hoàn
toàn dấn thân phục vụ Thiên Chúa Cha, chúng ta chọn
đời sống độc thân v́ Nước Trời.
Chúng ta hướng về Thiên Chúa với tất cả yêu
thương chúng ta có thể cho đi và đón nhận.
30.
Cũng vậy, cuộc sống
chúng ta được hiến dâng cho việc loan báo Tin Mừng
và phục vụ anh em. Sống độc thân là để
chúng ta mở rộng tấm ḷng ḿnh ra với tha nhân
nhưng không phải khép kín bản thân ngăn không cho cuộc
sống ḿnh đơm hoa kết trái.
Đời sống độc thân
được thể hiện trong sự tiếp nhận
và trao ban chính ḿnh, giúp làm sáng tỏ ư nghĩa sâu sắc về
t́nh yêu thương con người, và làm trổi dậy
ơn gọi của nó c̣n ẩn dấu bên trong.
31.
Trao ban chính ḿnh cho Thiên Chúa và cho tha
nhân giúp chúng ta trở nên tự do, và giúp chúng ta sẳn sàng
đến với đời sống huynh đệ và sẳn
sàng với sứ mệnh tông đồ.
Càng yêu thương như Đức
Kitô yêu thương, chúng ta càng có thể sống trọn vẹn
mối quan hệ với người khác trước mặt
Người, và chúng ta sẽ càng nhạy cảm hơn với
niềm vui, sự đau khổ và âu lo của mọi
người.
32.
Chúng ta ư thức
được sự từ bỏ triệt để và ư
thức được nỗi cô quạnh xuất phát
từ nó. Thế nhưng chúng ta tin tưởng vào
Chúa, Đấng ban sức mạnh cho những yếu
đuối của chúng ta. Nhờ đó, chúng ta cam kết,
qua lời khấn, sống độc thân v́ Nước Trời
trong đức khiết tịnh hoàn hảo. Điều này
đỏi hỏi sự trao ban trọn vẹn chính chúng ta
cho Đức Kitô.
33.
Sự trung thành với
lời cam kết này phải được xây dựng trên
một nền tảng giáo dục nhân bản và giáo dục
tâm linh. Nó đ̣i hỏi chúng ta sống kết hợp mật
thiết với Đức Kitô, nhưng cũng đ̣i hỏi
nơi chúng ta tính thận trọng, tự chủ, đời
sống cân bằng và khôn ngoan trong việc sử dụng những
phương tiện truyền thông xă hội.
Chúng ta chú tâm đến ơn gọi
của từng người, cũng như chăm lo ǵn giữ
trong các cộng đoàn một đời sống thực sự
huynh đệ, một đời sống được tạo
nên từ t́nh bạn, từ sự lắng nghe, từ sự
tế nhị, từ sự nâng đỡ và từ sự
tha thứ.
34.
Chúng
ta sống độc thân trong sự chân thành và trong niềm
vui. Đó chính là dấu chỉ của Nước Trời.
Bằng lối sống đó, chúng ta đang báo ngày “ mà Thiên
Chúa sẽ là tất cả trong mọi người”.
35.
Đối với tất
cả mọi người, t́nh liên đới và
nương tựa lẫn nhau là con đường giải
phóng chính ḿnh và hoàn thiện bản thân ḿnh.
Tin Mừng
mời gọi chúng ta đảm nhận mối dây
tương thân tương trợ này trong sự tuân phục
Chúa Cha và trong t́nh huynh đệ. Chống lại ḷng ham muốn
quyền lực và tính ích kỷ trong con người, Tin Mừng
mời gọi chúng ta lưu tâm đến tầng lớp
thấp cổ bé miệng và phục vụ tha nhân.
Cũng
vậy, khi đối mặt với những ǵ làm nô lệ
hóa con người và làm họ mang lấy thái độ lạnh
lùng vô cảm đáng buộc tội, chúng ta t́m cách làm chứng
về sự tự do chân thật trong Thần Khí. Chúng ta
“được gọi để
hưởng tự do” v́ vậy chúng ta mong muốn “lấy đức mến mà phục
vụ lẫn nhau” Gl 5, 13.
36.
Đức vâng lời của chúng
ta bám rễ trong đức vâng lời của Đức
Kitô. Sự trung thành của Người đối với
Thiên Chúa Cha và t́nh yêu Người dành cho nhân loại đă dẫn
Người đến trao ban trọn vẹn chính ḿnh.
Đến để phục vụ, Người đă vâng
lời cho đến chết.
37.
Qua lời khấn vâng phục,
chúng ta dâng hiến một cách trọn vẹn cho Thiên Chúa ư
riêng của ḿnh, đồng thời chúng ta cam kết vâng phục
các vị bề trên có thẩm quyền của chúng ta
trong mọi điều liên
quan đến Luật Sống. Lời khấn vâng phục
này hiệp nhất chặt chẽ chúng ta với Giáo Hội,
do đó chúng ta cũng phải vâng phục Đức Giáo
Hoàng.
Lắng nghe Thần Khí, Giáo Hội và
thế giới, chúng ta cùng nhau t́m kiếm để
nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa trong cộng
đoàn chúng ta, trong cuộc sống của mỗi người
và qua các sự kiện.
38.
Tất cả đều đi t́m
kiếm Thánh Ư Thiên Chúa Cha trong bầu khí tự do và trung thực,
tin tưởng và cộng tác với nhau, sáng kiến và
đồng trách nhiệm.
Vị Bề trên là người anh em
giúp cộng đoàn sở tại, cộng đoàn giám tỉnh,
cộng đoàn tổng quyền, cùng nhau xây dựng bầu
khí đó mỗi ngày.
Ngài nhắc nhở các anh em về những
quyết tâm và quyết định của cộng đoàn,
của Tỉnh Ḍng hay của Hội Ḍng.
Ngài đôi khi khơi dậy nơi anh
em ḷng trung thành mănh liệt hơn nữa vào Tin Mừng. Sau
một khoảng thời gian cùng nhau t́m hiểu, hay sau cuộc
đối thoại riêng, với quyền hành có được
do chức vụ của ḿnh, vị bề trên nhận việc
quyết định cho tất cả, tuân theo Hiến
Chương của Hội Ḍng.
39.
Được nuôi dưỡng bằng
đức tin và bằng cầu nguyện, đức vâng lời
mở rộng ḷng trí chúng ta hướng về Thiên Chúa và
hướng đến mọi người. Đức tính
này biến đổi chúng ta từ khuynh hướng muốn
thống trị sang ư hướng muốn phục vụ và
làm thăng tiến người khác. Nó biểu lộ đức
tin và thái độ sẳn sàng
của chúng ta trước Thánh Ư của Thiên Chúa Cha.
Đức vâng lời như vậy là dấu
chỉ của nước Trời.
“Lạy Thầy, xin dạy
chúng con cầu nguyện”
Lc 11,1
40.
Như cha d’Alzon, con người
đầy đức tin, chúng ta nhận thấy sự cần
thiết của việc cầu nguyện. Nó khai dẫn
chúng ta hướng vào hành động của Thiên Chúa. Cầu
nguyện là nguồn mạch tiếp sức không ngừng
cho hoạt động tông đồ của chúng ta.
41.
Nhờ ḷng trung thành đối
với Tin Mừng trước những lựa chọn,
trong công việc thường ngày, qua thái độ cởi
mở đối với người khác, và qua thái độ
sẳn sàng của chúng ta trước mọi biến cố,
nhờ đó toàn bộ cuộc sống của chúng ta,
dưới tác động của Chúa Thánh Thần, trở
nên cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa.
42.
Đời sống cầu nguyện
được diễn tả qua việc chúc tụng Thiên
Chúa Cha v́ Người đă mặc khải t́nh yêu của
ḿnh, và được diễn tả qua lời cảm tạ
tri ân Người v́ những điều Người đă
thực hiện trong chúng ta và trong mọi người.
Đời sống cầu nguyện cũng dẫn
đưa chúng ta đến cầu xin Người thứ
tha cho thế giới và cho chúng ta, và ban cho tất cả sức
mạnh để chu toàn ư muốn của Người.
Về phía ḿnh, cầu nguyện giúp
chúng ta đạt đến sự gắn bó mật thiết
của người con đối với Thiên Chúa là Cha, và
giúp chúng ta trở nên mạnh mẽ trong đức tin và hào
hiệp trong hành động.
43.
Đời sống cầu nguyện
được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, đặc
biệt qua việc suy niệm Thánh Kinh, qua việc đọc
kinh nhật tụng và trong phụng vụ thánh.
Thánh Lễ
là trọng tâm của đời sống cầu nguyện.
Việc
rước Ḿnh Thánh Chúa Kitô thôi thúc chúng ta sống trong t́nh
huynh đệ, và hiệp nhất mọi người.
Nhờ
việc lănh nhận thường xuyên bí tích Ḥa Giải,
chúng ta mở rộng tấm ḷng với ơn tha thứ của
Thiên Chúa, và như vậy chúng ta thông phần trọn vẹn
hơn vào mầu nhiệm Phục Sinh.
44.
Sau Đức Kitô, Đấng trung
gian duy nhất của chúng ta, Đức Trinh Nữ Maria chiếm
một vị trí đặc biệt trong kinh nguyện của
chúng ta, với vai tṛ là Hiền Mẫu của Thầy Chí
Thánh, và là nữ tỳ hèn mọn trong kế hoạch cứu
độ của Người.
Với
Mẹ, chúng ta chiêm ngắm mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập
Thể, đặc biệt trong lời kinh Mân Côi.
45.
Ư nguyện chính yếu của chúng
ta cũng là ư nguyện của Hội Thánh. Trong lời
nguyện, chúng ta mang lấy
nỗi âu lo của mọi anh em trong ḍng, bởi
v́ mối dây liên kết cộng đoàn gắn bó chúng ta với
nhau một cách chặt chẽ hơn. Chúng ta cũng nhớ
đến những anh em đă qua đời bằng cách cầu
nguyện thường xuyên cho họ với những lời
nguyện được qui định theo ư của họ.
46.
Cầu nguyện giúp chúng ta suy xét lại
đời sống của ḿnh dưới ánh sáng Phúc Âm.
Chúng ta phải tự hỏi rằng làm thế nào để
cuộc sống của ḿnh được diễn tả
qua lời cầu nguyện
và làm thế
nào để lời cầu nguyện trở nên
hành động trong cuộc sống của ḿnh và cuộc sống
của cộng đoàn.
47.
Cầu nguyện là việc khó
đối với tất cả mọi người. Nó
đưa chúng ta vào một cuộc chống trả, trong
đó cảm nghiệm về Thiên Chúa không ngừng soi
sáng cái nhìn của chúng ta về thế giới.
Cầu nguyện đ̣i hỏi có kỷ luật sống, kỷ
luật cá nhân và cộng đoàn, nó giúp chúng ta lưu tâm
đến lời mời gọi của Thần Khí.
48.
Mỗi tu sĩ phải có
khả năng đặt niềm tin tưởng
vào các anh em ḿnh, để cùng với họ t́m ra những
điều kiện thuận lợi cho đời sống
cầu nguyện, chẳng hạn : lắng đọng tâm
hồn, tương thân tương trợ, nơi chốn
thích ứng, tinh thần tự do và sáng tạo.
49.
Trong Tu nghị cộng
đoàn, các tu sĩ sẽ qui định nhịp độ
và h́nh thức cho giờ cầu nguyện chung của cộng
đoàn, cụ thể như sau : phụng vụ các giờ
kinh hằng ngày (ưu tiên kinh sáng và kinh chiều), Thánh Lễ
trong cộng đoàn, thời gian tĩnh tâm và thời gian
thinh lặng thích hợp nhất.
Tất cả anh em đều mang trách nhiệm
về việc này.
50.
Mỗi tu sĩ có nhiệm vụ sắp
xếp, tùy theo sự nhạy cảm về nhu cầu đời
sống tâm linh của từng người, chương
tŕnh cho giờ cầu nguyện riêng của ḿnh.
Mỗi
tu sĩ sẽ qui định những giờ giấc dành đều đặn việc trau dồi
đời sống tâm linh, đặc biệt dành thời gian cho việc tĩnh tâm thường
niên.
Mỗi
tu sĩ dành thời gian trong ngày cho những việc sau :
·
Tham dự Thánh Lễ.
·
Đọc kinh phụng
vụ.
·
Có ít nhất ba
mươi phút cho giờ suy niệm riêng.
·
Và dành một khoảng
thời gian cho việc chầu Ḿnh Thánh Chúa.
Chúng ta nhớ lại rằng “Đối
với chúng ta, việc chiêm niệm và hành động kết
hiệp với nhau trong cùng một mục đích : để
mở rộng Vương Triều của Đức Giêsu
Kitô.” (Directoire, E.S., tr. 79