RATIO INSTITUNIONIS

 

ĐÀO TẠO CHO CUỘC SỐNG VÀ CHO SỨ MẠNG

 

 

 

Năm 1987, cha Claude Maréchal, vị tiền nhiệm của tôi, đă công bố ấn bản thứ nhất cuốn Ratio Institutionis, được phê chuẩn bởi Tng Tu Nghị cùng năm. Mười tám năm sau, tôi vui mừng công bố ấn bản mới cuốn Ratio, đă được Tổng Tu Nghị chun phê, diễn ra năm nay tại Roma từ ngày mồng 1 tới ngày 22 tháng 5 năm 2005. Ấn bản được sữa chữa này là kết quả của công việc được bắt đầu từ khóa học tập quốc tế cho những đặc trách đào đạo, được tổ chức tại Nairobi vào năm 2002. Sau kỳ họp này, một uỷ ban quốc tế đă h́nh thành để làm việc và soạn thảo những phác thảo mới qua ba kỳ gặp gỡ khác nhau. Chúng đă được đệ tŕnh cho các Bề trên Giám tỉnh và các đặc trách đào tạo của từng Tỉnh Ḍng nhằm thu tập những đề xuất và sửa đổi. Bản đúc kết cuối cùng đă được xem xét lại và được sửa đổi do các thành viên của ban Cố vấn của Hội ḍng vào năm 2004.

 

Ấn bản ban đầu của cuốn Ratio đă phong phú về nội dung cũng như mang tính sư phạm cao. Như Cha Claude đă nhắn gởi, cuốn Ratio là tiếng mọi gọi về sự trưởng thành bản thân không chỉ cho các tu sĩ trẻ, nhưng cho tất cả chúng ta. Một số cộng đoàn và Tỉnh Ḍng đă thực hành lời đề nghị này một cách nghiêm túc, sử dụng cuốn Ratio như cuốn sách cơ bản cho các cuộc tĩnh tâm, các kỳ hội thảo, những thảo luận trong cộng đoàn và cho những sáng kiến đổi mới.

 

Ấn bản thứ hai này có tiềm lực lớn hơn trong việc canh tân bản thân và cộng đoàn. Nó có thể đồng thời gợi ư những phương tiện nhằm huấn luyện các giáo dân liên đới với các cộng đoàn của chúng ta. Cuốn Ratio mới này bao gồm nhiều điểm đổi mới quan trọng. Một chương mới về “đào tạo thường xuyên” (la formation permanente) (VI) nói một cách rỏ ràng rằng đào tạo là mối quan tâm đối với mỗi tu sĩ trong suốt mọi giai đoạn của đời sống. Tầm quan trọng của việc đào tạo những đặc trách đào tạo được triển khai trong một chương hoàn toàn mới (VII), với tựa đề “trở thành đặc trách đào tạo”. Không đánh giá thấp tầm quan trọng của việc “huấn luyện thực tiễn”, cuốn Ratio mới này nhấn mạnh rằng người tu sĩ trẻ và thừa tác viên truyền chức sẽ chỉ trưởng thành về phương diện tông đồ khi người anh em này nhận được sự hướng dẫn chu đáo trong suốt thời gian huấn luyện mục vụ (xem, ví dụ, những tham luận về vấn đề này trong chương V, “Đào tạo những thừa tác viên truyền chức”). Cuối cùng, văn bản mới này phản ánh sự nhận thức sâu sắc hơn về tính quốc tế của gia đ́nh tu sĩ của chúng ta và nêu lên những phương cách để đưa các tu sĩ trẻ tới chiều kích của đời sống chung.

Tng Tu Nghị 2005 làm nổi bật về đặc sủng ḍng Mẹ Về Trời từ những cái nh́n khác nhau: làm sao đặc sủng này được biu lộ trong « dự tính » rộng lớn của Hội ḍng, làm sao hướng dẫn các giáo dân bước đầu tiếp cận với đặc sủng này và giúp họ sống từ nó, và làm sao huấn luyện những tu sĩ về đặc sủng với cuốn Ratio này. Nếu anh em muốn biết một tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời hôm nay là ǵ, tôi mời anh em đọc năm trang đầu của tài liệu rất ấn tượng này. Nếu như anh em muốn biết sống như thế nào một cách trung thành hơn với tinh thần của Hội ḍng, hảy dấn sâu vào trong tiến tŕnh huấn luyện, được tŕnh bày trong những trang tiếp theo trong cuốn Ratio này. Cha D’Alzon đă nói rằng chúng ta là “những tập sinh muôn năm”. Chúng ta có thể không thích kiểu nói này, nhưng nó lại nói cho chúng ta tối thiểu hai điều thật đẹp: luôn luôn có cái ǵ đó phải học và luôn luôn có lư do để hy vọng.

 

Tổng Tu Nghị 2005, với chủ đề “nhiều đặc sủng trong cùng một thân thể.... để cho thế giới tin”, là một lời mời gọi về niềm hy vọng, sự hiệp thông và sứ mạng. Tôi hân hoan công bố một cách chính thức ấn bản mới của cuốn Ratio Institutionis, một phần nằm trong kết quả của Tu Nghị và một ân huệ mới nhằm soi đường cho chúng ta. Hăy đón nhận tài liệu này như một ân huệ thực sự, một kairos, một quà tặng đúng nghĩa cho mỗi một người chúng ta.

 

 

Richard E. Lamoureux, a.a., Bề Trên Tổng Quyền

Roma, ngày 23 tháng 5 năm 2005

 

 

 

NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG VỀ ĐÀO TẠO

 

 

1.    Cuốn Ratio Institutionis, hay c̣n gọi là chương tŕnh đào tạo của ḍng Mẹ Về Trời, có ba sứ mạng:

 

-         nhằm giúp những người, đă lắng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa, đáp trả tiếng gọi này một cách ư thức và tự do, định h́nh đời sống của ḿnh một cách tương ứng, và dấn thân từng bước trong Hội ḍng với tất cả tính cách của ḿnh.

 

-         nhằm giúp những tu sĩ có sứ mạng là những đặc trách đào tạo, nhằm giúp những anh em này có hướng đi trong sứ vụ của ḿnh.

 

-         nhằm giúp cho ơn gọi của toàn Hội ḍng. Khi nhận những thành viên mới, tức là Hội ḍng giao ước truyền lại cho các bạn trẻ sự giàu có của đời sống tu sĩ được sống theo tinh thần đặc biệt của Hội ḍng và cho họ những phương tiện theo đui sứ mạng đặc biệt của Hội ḍng trong ḷng Giáo hội và thế giới.

 

 

I-                 NHỮNG MỤC ĐÍCH CA ĐÀO TẠO

 

 

2.    Đào tạo từng bước về tinh thần của ḍng Mẹ Về Trời đồng nghĩa với việc hướng dẫn ứng sinh hoặc tu sĩ trong thời gian đào tạo sống ngày một sâu xa hơn kinh nghiệm sống mật thiết với Thiên Chúa, sự từ bỏ chính ḿnh, và niềm say mê vô vị lợi cho Nước Thiên Chúa, trong đời sống cộng đoàn hoạt động tông đồ. Nhằm giúp người anh em khám phá ra căn tính sâu thẳm nhất của chính ḿnh, sự kiện ṭan con người của ḿnh theo b́nh diện cá nhân, mối tương quan với người khác, nhân bản và tâm linh.

 

Đào tạo có nghĩa là không chỉ đơn giản giới thiệu cho họ những ḍng chính về đặc sủng của ḍng Mẹ Về Trời; nhưng là giúp họ thể hiện tính năng động sáng tạo ngơ hầu diễn giải nó một cách trung thành. Đó là cách đưa họ đánh giá cao nội dung của đặc sủng và mong muốn làm trin nở những tiềm lực của nó trong hoàn cảnh đa văn hóa của ngày hôm nay.

 

3.    Thiên Chúa kêu gọi tất cả mọi người trong những hoàn cảnh khác nhau từ quá tŕnh lịch sử cá nhân tới ân sủng và những khả năng nhận thức khác nhau. Việc đào tạo sẽ phải cho phép mỗi một cá nhân phát trin những phẩm chất của ḿnh nhằm phục vụ Giáo Hội và Nước Trời.

 

Trung thành với truyền thống trên ba phương diện: tín lư, xă hội, đại kết, Hội Ḍng tạo cho mỗi ứng sinh hay mỗi tu sĩ trong thời gian đào tạo, dù người anh em này có ư định theo đuổi ước muốn trở thành thừa tác viên truyền chức hay không, một sự huấn luyện nhân bản, đời sống tu sĩ vững chắc phù hợp với khả năng của mỗi người.

 

4.    Đào tạo thuộc ḍng Mẹ Về Trời nhằm mục đích huấn luyện những con người trong thế giới hôm nay sẽ là những người con của Cha D’Alzon: con của niền tin, những anh em sống trong cộng đoàn hoạt động tông đồ, và những tông đồ cho Nước Thiên Chúa trị đến.

 

 

Con người niềm tin

 

 

Xác tín

 

5.    Chấp nhận dấn thân vào đời sống tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời đ̣i hỏi ứng sinh cần có một số phm chất cơ bản ngơ hầu có khả năng đối diện với những thách đố của đời sống tu sĩ hoạt động tông đồ: một sự quân b́nh đầy đủ, khả năng sống đời sống cộng đoàn, và những đức tính nhân bản đặc biệt mà Cha d’Alzon đă nhấn mạnh : trung thực, thng thắn, thân thiện, giản dị, sáng kiến, dũng cảm, quảng đại và vô vị lợi.

 

6.    Dự định dấn thân một cách trọn vẹn với tất cả con người của ḿnh theo Đức Kitô, Người đă sống nghèo khó, khiết tịnh và tuân phục, và hiến mạng sống ḿnh cho thế gian, với mọi sự đọan tuyệt và tinh thần liên đới không bị lọai trừ, sẽ không thực hiện được nếu không có sự hiu biết và t́nh yêu đối với Đức Kitô, trung tâm của đời sống tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời. Đức Kitô và t́nh yêu của người là đích điểm của ơn gọi và sứ mạng của chúng ta. Trong Người là sự kết hợp giữa Thiên Chúa và con người và con người với Thiên Chúa.

 

7.    Việc đào tạo nhằm giúp ứng sinh hoặc tu sĩ trong thời gian đào tạo thiết lập và đào sâu mối liên hệ cá nhân với Thiên Chúa. Nó khích lệ người anh em thực hành một cách thường xuyên việc cầu nguyện cá nhân và cộng đoàn. Nó nhắc nhở người anh em nhận thức về ân huệ của Thiên Chúa trong cuộc sống của ḿnh và trong những người đương đại. Như vậy, người anh em sẽ lớn lên trong đức tin, niềm hy vọng và ḷng bác ái. Bước theo Đức Kitô, được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần và được linh ứng bởi giương Đức Maria, người anh em sẽ có khả năng học biết hy sinh đời sống của ḿnh trên con đường của Tin Mừng[1].

 

 

Cách thực hiện

 

8.    Đào tạo phải đưa ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo tiếp cận với các nguồn sống tinh thần, trên hết là Lời Chúa và các bậc thầy tinh thần lớn, đặc biệt thánh Augustinô, và Cha d’Alzon.

 

9.    Nó phải giúp người anh em phân định và chiêm nghiệm hành động của Thiên Chúa và sự mời gọi của Ngài trong cuộc sống của ḿnh, trong đời sống của Giáo hội và của thế giới.

 

10.                                                                                               Nó phải tạo cho người anh em một sự luyện tập về sự trung thành và kiên định trong cuộc chiến của đời sống cầu nguyện.

 

11.                                                                                               Nó phải cho người tu sĩ khám phá, qua việc hiểu biết và thực hành những lời khấn, một con đường sống cho phép người anh em dâng hiến đời sống của ḿnh một cách trọn vẹn cho Thiên Chúa và cho tha nhân.

 

 

Những tu sĩ sống trong cộng đoàn hoạt động tông đồ

 

 

Xác tín

 

12.                                                                                               Được kêu gọi bởi Đức Kitô, Anh Em ḍng Mẹ Về Trời chọn sống trong cộng đoàn theo Luật của thánh Âugustinô và tinh thần của ḍng Mẹ Về Trời. Cộng đoàn của chúng ta là cộng đoàn hoạt động tông đồ và công việc tông đồ của chúng ta mang chiều kích cộng đ̣an. Là tông đồ, cộng đoàn chứng tỏ sự ngự trị của Nước Thiên Chúa. Nó chứng tỏ và biu lộ t́nh yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân.

 

13.                                                                                               Cộng đoàn nâng trợ sứ mạng tông đồ và đời sống cầu nguyện cá nhân của mỗi tu sĩ. Trong giờ cầu nguyện chung, cộng đoàn đón nhận và cử hành hoạt động của Thiên Chúa trong cuộc sống của những con người[2]. Tất cả đời sống và hành động của một tu sĩ phải làm chứng cho Nước Thiên Chúa trị đến.

 

 

Cách thực hiện

 

14.                                                                                               Tập sự đời sống chung, đ̣i hỏi việc hoán ci trường kỳ và vượt qua cái tôi của ḿnh để có thể khám phá niềm vui của đời sống chung, là một trong những mối quan tâm đầu tiên của việc đào tạo.

 

15.                                                                                               Chúng ta phải đề cao tính giản dị, trung thực trong các mối quan hệ, chất lượng của việc chia sẽ đời sống, tham gia tích cực vào đời sống cầu nguyện chung của cộng đoàn, sáng kiến, cùng chịu trách nhiệm và tinh thần liên đới.

 

16.                                                                                               Qua đời sống cộng đoàn, ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo sẽ từng bước sống kinh nghiệm về cộng đoàn Giám tỉnh, quốc tế, và cùng với những hội ḍng thuộc gia đ́nh ḍng Mẹ Về Trời.

 

17.                                                                                               Qua việc hội nhập vào Hội ḍng, ứng sinh đi vào trong một lịch sử và truyền thống. Việc đọc sách, các khóa đào tạo, các kỳ tỉnh tâm sẽ cho phép ứng sinh hiu và hội nhập cuộc sống và tinh thần của Đấng sáng lập, lịch sử của ḍng Mẹ Về Trời và những t́nh h́nh quốc tế của Hội ḍng hiện nay.

 

 

 

Những tông đồ cho Nước Trời trị đến

 

 

Xác tín

 

18.                                                                                               Trọng tâm của đặc sủng chúng ta là tính hiện tại của Nước Thiên Chúa, chương tŕnh lớn lao này của Thiên Chúa dành cho nhân loại được biu lộ trong Đức Giêsu Kitô. Dù anh em được gọi làm thừa tác viên truyền chức hay không, “tinh thần của Đấng sáng lập thúc đẩy chúng ta theo đuổi những trăn trở của Thiên Chúa và của con người, dấn thân vào những nơi mà Thiên Chúa bị đe dọa trong con người và con người như h́nh ảnh của Thiên Chúa bị đe dọa”[3]. Đó chính là cách mà chúng ta tham dự vào đời sống và sứ mạng của Giáo hội. “Trung thành với ước muốn của Cha d’Alzon, các cộng đoàn của chúng ta nhằm phục vụ chân lư, hợp nhất, và bác ái. Như thế chúng loan báo Nước Trời”[4].

 

19.                                                                                               Đối với ḍng Mẹ Về Trời, công việc tông đồ mang chiều kích cộng đoàn. Khi mà chúng ta chưa thực hiện điều này, chúng ta sẽ không thực sự là chúng ta. Như vậy điều hin nhiên là chúng ta chỉ thể đào tạo con người tông đồ khi ḥa nhập tốt vào trong cộng đoàn, qua tất cả các giai đoạn đào tạo.

 

 

Cách thực hiện

 

20.                                                                                               Trong thời gian đào tạo, nếu như thời gian học tập, đào sâu nội tâm chiếm phần lớn thời gian của một người anh em, đó là v́ chúng gắn liền với việc chun bị của người anh em cho công việc tông đồ anh em ḍng Mẹ Về Trời.

 

21.                                                                                               Con người của thời đại, ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo phải học biết tiếp nhận những giá trị của những con người ở những môi trường khác nhau, đặc biệt những người nghèo. Người anh em phải mở tầm nh́n và trái tim của ḿnh cho những nhu cầu và những lời kêu gọi của Giáo hội và của thế giới. Người anh em phải được nung nấu bởi ước muốn loan báo Đức Giêsu Kitô và thay Người xây dựng một thế giới công bằng và huynh đệ hơn.

 

22.                                                                                               Một số thái độ cần được đào luyện: sự cởi mở với người khác, sáng kiến trong t́nh liên đới và cùng chịu trách nhiệm, cộng tác với giáo dân và đặc biệt nhạy cảm với sự phục vụ và t́nh yêu đối với Giáo hội.

 

23.                                                                                               Chúng ta phải đón nhận những chương tŕnh hoạt động tông đồ của những tu sĩ trong thời gian đào tạo, đối chiếu chúng trong những chương tŕnh và định hướng chung của Tỉnh ḍng và của Hội ḍng. Điều này cho những anh em sự khích lệ quư giá nhằm chuẩn bị một cách nghiêm túc và năng lực cho thừa tác vụ tương lai.

 

 

 

II-              NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO VIỆC ĐÀO TẠO

 

 

24.                                                                                               Từ viễn cảnh này, đào tạo đ̣i hỏi một số điều kiện, và sau đây là một số:

 

-         Sự tôn trọng lẫn nhau

 

Về phía Hội ḍng: tôn trọng ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo được kêu gọi bởi Thiên Chúa, tôn trọng nhân cách của người anh em, Hội ḍng đón tiếp và giúp đỡ người anh em thực hiện quyết định của ḿnh theo Đức Kitô.

 

Về phía ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo: tôn trọng tinh thần và sứ mạng của Hội ḍng mà ḿnh quyết định tự ḥa nhập vào một cách trọn vẹn.

 

-         Cộng tác

 

Ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo là người đầu tiên chịu trách nhiệm về việc đào tạo của chính ḿnh. Việc đào tạo sẽ không trin nở, nếu như nó chỉ được tiếp nhận một cách thụ động. Nó đ̣i hỏi sự cộng tác tích cực và đối thoại thng thắn và tin tưởng giữa người anh em trong thời gian đào tạo với đặc trách đào tạo của ḿnh.

 

-         Sự tiến bộ

 

Phân định tiếng gọi của Thiên Chúa, tập luyện đời sống tu sĩ, chấp nhận vào Hội ḍng, nhận chức phó tế, linh mục, tất cả tương ứng với những bước quyết định trong tiến tŕnh cuộc sống của một ứng sinh. Tự do cam kết mỗi bước tiến này đ̣i hỏi thời gian để phát trin và chín mui v mt nhân bn cũng như tâm linh. Tiến tŕnh phát trin này đa dng tùy theo mi người và phi được xem xét để xác định khoảng cách giữa những giai đoạn khác nhau.

 

-         Khả năng thích nghi

 

Tuân theo những định hướng của Giáo luật và tinh thần của ḍng Mẹ Về Trời, các phương thức đào tạo sẽ phải thích nghi với các văn hóa và những t́nh h́nh cụ thể của mỗi quốc gia, và những nhu cầu của Giáo hội và Hội ḍng.

 

 

 

III-          NHỮNG CẤP BẬC CHÍNH VỀ ĐÀO TẠO[5]

 

 

Ban đào tạo và phụ trách đào tạo

 

25.               Ban đào tạo được cơ cấu bởi những đặc trách đào tạo được bổ nhiệm bởi Bề Trên Giám Tỉnh với sự đồng thuận của ban cố vấn Tỉnh ḍng[6], và do chính Bề Trên Giám Tỉnh hoặc người đại diện thực hiện.

 

 

Phụ trách đào tạo của Tỉnh Ḍng được bổ nhiệm, từ trong số những thành viên của ban đào tạo, bởi Bề trên Giám tỉnh với sự đồng thuận của Ban cố vấn Tỉnh ḍng[7].

 

Những trách nhiệm chính của phụ trách đào tạo:

 

-         Giúp đỡ các cộng đoàn và đặc trách viên đào tạo của cộng đoàn bằng việc thăm hỏi, quan tâm đến những khó khăn và khuyến khích những kỳ gặp gỡ cũng như sự hợp tác với nhau.

-         Triệu tập và sinh hoạt ban đào tạo.

-         Quan sát sự phát trin ca nhng ng sinh và nhng tu sĩ, trong nhng giai đon khác nhau ca vic đào tạo trí thức và mục vụ của họ.

-         Bàn thảo về những khúc mắc cốt yếu tới việc đào tạo, đề nghị những sáng kiến và những chương tŕnh.

-         Giúp các đặc trách đào tạo của Tỉnh ḍng làm tṛn sứ mạng của ḿnh trong phạm vi có th.

 

 

Cộng đoàn tạo

 

26.               Tham gia vào đời sống cộng đoàn đóng vai tṛ chính trong việc đào tạo ở ḍng Mẹ Về Trời. Tất cả các cộng đoàn của Tỉnh ḍng cùng chịu trách nhiệm về việc đào tạo của những ứng sinh và của những tu sĩ trong thời gian đào tạo. Tuy nhiên, điều thích hợp là những tu sĩ chịu trách nhiệm về đào tạo quan tâm một cách đặc biệt trong việc chọn lựa cộng đoàn nhằm hướng dẫn một ứng sinh hay một tu sĩ trong thời gian đào tạo. Những anh em này phải lưu ư một cách đặc biệt cộng đoàn này có khả năng đáp ứng những yếu tố sau đây:

 

-         Đời sống huynh đệ trong đó ứng sinh hay người tu sĩ trong thời gian đào tạo sẽ cảm thấy được chấp nhận với tất cả con người của ḿnh, và khích lệ người anh em chia sẽ một cách tích cực vào đời sống chung.

-         Đời sống cầu nguyện đều đặn.

-         Chương tŕnh họp cộng đoàn trong đó các thành viên chia sẽ và suy nghĩ về đời sống, niềm tin và những hoạt động tông đồ của ḿnh.

-         Sự cởi mở đối với những thực tế của Giáo hội và của thế giới.

-         Khả năng tham gia vào chương tŕnh hoạt động tông đồ của cộng đoàn.

-         Mối tương quan gần gũi và cộng tác thật sự với những người giáo dân, những người này có th giúp ng sinh hay tu sĩ trong thi gian đào tạo cảm nhận tính đặc thù ơn gọi của ḿnh.

 

                                                                                  

Giáo tập

 

27.               Là người được giao cho trách nhiệm quan trọng,  Giáo tập phải được b nhim sm để đảm bảo thời gian chuẩn bị cho sứ mạng. Điều cốt yếu là Giáo tập có sự đào tạo đầy đủ. Giáo tập cần bổ sung việc đào tạo của ḿnh qua việc tham gia các khóa đào tạo đặc biệt cho các Giáo tập hoặc trải qua một thời gian ở các tập viện khác.

 

28.               Giáo tập được b nhim vi nhim k ba năm, vi kh năng gia hn. S b nhim giám tp phi được chấp nhận bởi Bề trên Tổng quyền[8].

 

 

Đặc trách đào tạo

 

29.               Tất cả mọi anh em của Tỉnh ḍng đều chịu trách nhiệm một cách liên đới về việc đào tạo. Tự bản chất đời sống tu sĩ đích thực đươc sống mang tính đào tạo. Dù vậy, Bề trên Giám tỉnh sẽ chỉ định một đặc trách đào tạo sẽ chịu trách nhiệm theo dơi từng cá nhân ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo trước và sau tập viện.

 

30.               Đặc trách đào tạo có hai vai tṛ:

 

-         Đặc trách đào tạo là người đối thọai ứu tiên với ứng sinh hoặc tu sĩ trong thời gian đào tạo. Qua các cuộc gặp gỡ thường xuyên, đặc trách đào tạo tạo điều kiện cho người anh em cơ hội bày tỏ những khát vọng, những khám phá, những khó khăn của ḿnh và bất cứ những câu hỏi nào liên quan tới đời sống tu sĩ, cộng đoàn và công việc tông đồ. Đặc trách đào tạo cố gắng hướng dẫn người anh em vào những thời gian quyết định cũng như trong suốt con đường của đời sống tu sĩ của người anh em.

-         Đặc trách đào tạo giới thiệu ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo trước Tỉnh ḍng. Trong các cuộc họp đánh giá, đặc  trách đào tạo giúp những người có trách nhiệm đưa ra các chọn lựa và các quyết định liên quan tới đương sự.

 

 

Vị linh hướng

 

31.               Ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo phải chọn một vị linh hướng có kinh nghiệm sẽ giúp ḿnh trong đời sống thiêng liêng, trong việc phân định ư muốn của Thiên Chúa trong những lúc quan trọng và quyết định, trong việc phám phá sự cầu nguyện và đời sống nội tâm. Người anh em phải chọn vị linh hướng trong phạm vi có th, t các thành viên ca gia đ́nh tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời.

 

Sự lựa chọn vị linh hướng tùy thuộc ở sự tự do của mỗi người. Tuy nhiên ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo phải bàn hỏi về sự lựa chọn với đặc trách đào tạo của ḿnh.

 

 

Phụ trách về đào tạo thường xuyên

 

32.               Được bổ nhiệm bởi những thẩm quyền thuộc giám tỉnh, phụ trách đào tạo phải lưu tâm tới việc đưa vào áp dụng sơ đồ tng quát v vic đào tạo thường xuyên của Tỉnh ḍng[9].

 

 

 

IV-          ĐÀO TẠO QUA TỪNG GIAI ĐOẠN

 

 

Tiền tập viện

 

33.               Giai đoạn tiền tập viện tạo cơ hội cho ứng sinh, về đời sống tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời, một thời gian đào tạo đặc biệt nhằm chun bị bước vào tập viện. Giai đoạn này chú trọng về vấn đề phân định những động lực và thái độ là nền tảng về ước muốn của ứng sinh cho đời sống tu sĩ.

 

 

34.               Trong suốt giai đoạn này, ứng sinh phải tự đào sâu sự hiu biết mà ḿnh đă lĩnh hội trước đó, với sự giúp đỡ của người hướng dẫn ḿnh, trong suốt thời gian trước khi được nhận vào tiền tập viện. Trong thời gian tiền tập viện, ứng sinh cũng sẽ xác định chắc chắn ước muốn theo Đức Kitô.

 

35.               Điều quan trọng là xem nếu ứng sinh có khả năng sống đời sống cộng đoàn và t́m thấy nơi đó một phương tiện và môi trường ưu tiên mà ứng sinh có thể hoàn thiện ḿnh như là một con người và một Kitô hữu.

 

36.               Công việc tồng đồ của ứng sinh sẽ phải chứng thực ước muốn phục vụ Thiên Chúa và con người trong Giáo hội.

 

37.               Vào cuối gian đoạn này, ứng sinh phải có khả năng, với tất cả su tự do và trách nhiệm, viết đơn xin được nhận vào tập viện. Cộng đoàn cũng như đặc trách đào tạo sẽ cho ư kiến liên quan tới khả năng của ứng sinh sống đời sống anh em ḍng Mẹ Về Trời.

 

 

Tập viện

 

38.               Tập viện là thời gian đặc biệt mà tập sinh, qua việc lắng nghe tiếng Chúa Thánh thần, đào sâu, phân định và chứng thực ơn gọi về đời sống tu sĩ của ḿnh trong ḍng Mẹ Về Trời.

 

39.               Thời gian này phải tạo điều kiện cho tập sinh, qua việc hướng dẫn của Giáo tập, kinh nghiệm sâu sắc hơn về Thiên Chúa, sự hiểu biết và t́nh yêu đối với Đức Giêsu Kitô, và ước muốn theo Người, là người nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục v́ Nước Thiên Chúa. Nó phải giúp ứng sinh nhận thức hơn về chiều kích cộng đ̣an của việc dâng hiến ḿnhcho Đức Kitô qua sự phục vụ anh em.

 

40.               Qua sự hiu biết tốt nhất về thực tại của Giáo hội và thế giới, tập sinh được dẫn vào đời sống tông đồ và loan báo Nước Trời.

 

 

Hậu tập viện

 

41.               Giai đoạn tiếp theo sau tập viện là thời gian bén rễ và làm trin n nhng ǵ mà người tu sĩ đă lĩnh hội được. Nó phải hướng người anh em này tới sự ḥa nhập trọn vẹn trong đời sống và sứ mạng của Hội ḍng qua việc vĩnh khấn. Đây là thời gian đào luyện sự trung thành, tính kiên định và sự kiên nhẫn.

 

 

42.                Đây cũng là thời gian mà người tu sĩ xem xét một cách sâu sắc hơn tinh thần và ơn gọi của cộng đoàn hoạt động tông đồ. Việc đào tạo phải chun bị cho người anh em về sứ mạng tương lai, để một ngày người anh em này có th phc v trong s mng thừa tác vụ truyền chức.

 

 

Đào tạo cho những thừa tác vụ truyền chức

 

43.               Phó tế và tân chức linh mục đều là những thừa tác viên như các vị tiền bối của ḿnh. Tuy nhiên, việc đào tạo của những anh em này chưa hoàn tất. Được hướng dẫn bởi một anh em niên trưởng, những anh em này sẽ được canh tân qua sứ mạng mới mà Đức Kitô và Giáo hội giao phó. Phải xem xét thời gian và nơi phù hợp cho sứ vụ này.

 

44.               Điều thiết yếu là những người anh em này cần học biết trở thành những mục tử (đào luyện thực tiễn, lĩnh hội những thái độ mục vụ) và hoà nhập sứ vụ giáo sĩ vào trong đời sống tu sĩ, ngơ hầu đức tin, đời sống cầu nguyện và ư thức tông đồ được biểu lộ rỏ nét. Và tng ngày nhng người anh em này sẽ trở thành những tông tồ theo ư muốn của Đức Kitô và tinh thần của ḍng Mẹ Về Trời.

 

 

Đào tạo trường kỳ

 

45.               Việc vĩnh khấn hay truyền chức không thể đánh dấu kết thúc của việc đào tạo. Những kinh nghiệm khác nhau trong đời sống, cũng như sự tập sự mục vụ sẽ mỡ ra những chiều kích mới cho người anh em. Điều thiết yếu là người anh em này tiếp tục tự đào luyện như cha Alzon đă nhấn mạnh cho chúng ta[10].

 

46.               Đào tạo trường kỳ không là sự xa xỉ nhưng là sự đ̣i hỏi của việc trung thành cho sứ mạng mà người anh em đă chấp nhận. Như vậy, từng bước, chính người anh em này sẽ trở thành một đặc trách đào tạo cho các thế hệ tiếp theo sau ḿnh.

 

 

 

A. TIỀN TẬP VIỆN

 

 

47.               Tiền tập viện tạo cho ứng sinh đang t́m hiu đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời một thời gian đào tạo nhằm chun bị bước vào tập viện. Thời gian này phải được nhấn mạnh trên việc phân định những động lực và những khuynh hướng là nền tảng sống đời sống tu sĩ của ứng sinh. Điều rất quan trọng là ứng sinh có khả năng sống thời gian này trong bầu khí của sự tự do, trung thực và trong thái độ của niềm tin.

 

 

48.               Thời gian tiền tập viện hàm ư:

 

-         về phần ứng sinh, tha thiết gia nhập Hội ḍng;

-         về phần Hội ḍng, nhận định tích cực về những khả năng của ứng sinh sống đời sống anh ḍng Mẹ Về Trời.

 

49.               Do tính đa dạng về nhân cách của những ứng sinh như mức độ đào tạo nhân bản, sự trưởng thành của một Kitô hữu, nhịp độ phát trin, cũng như s đa dng v bi cnh văn hóa, xă hi và địa h́nh của họ, mỗi Tỉnh ḍng sẽ phải cụ thể việc tổ chức một cách linh hoạt các giai đoạn đào tạo, nội dung, thời lượng và những phương tiện được áp dụng nhằm đạt tới những mục tiêu được đề cập trong Luật Sống[11].

 

50.               Theo kinh nghiệm, tất cả các Tỉnh ḍng và Miền đều phân biệt hai giai đoạn trước tập viện: tiền thỉnh sinh và thỉnh sinh.

 

 

a.    Tiền thỉnh sinh

 

51.               Cân nhắc tính linh hoạt cũng như sự đa dạng cần thiết cho giai đoạn này nhằm thích nghi những hoàn cảnh và những con người khác nhau, chúng ta có th xác định cụ thể nhng mục đích riêng cho tiền thỉnh sinh và những phương tiện để thực hiện những mục đích này.

 

 

Mục đích

 

52.               Tiền thỉnh sinh một cách chính yếu là thời gian đón tiếp, làm quen và phân định ơn gọi, tất cả những điều này bao hàm:

 

-         về phần ứng sinh, nhằm khám phá những giá trị nhân bản và tin mừng được đ̣i hỏi nhằm gia nhập vào đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời, đồng thời lănh hội sự tự nhận thức đầy đủ về chính ḿnh ngơ hầu đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa trong thái độ suy nghĩ và, đến kỳ hạn, quyết định nếu vào thỉnh sinh hay không.

-         về phần Hội ḍng, nhằm tích lũy sự hiu biết đầy đủ về nhân cách của ứng sinh ngơ hầu phân định tính vững chắc của ơn gọi và khả năng của ứng sinh sống đời sống cộng đoàn.

 

 

Phương tiện

 

Những phương cách nhắm tới những mục đích:

 

Kinh nghiệm đời sống chung

 

53.               Thời gian sống trong cộng đoàn trong suốt giai đoạn này rất bổ ích, nếu không muốn nói là không th b qua, v́ thi gian này cng hiến nhng phương tiện ưu đăi cho việc phân định ơn giọi, sự hiu biết lẫn nhau: cầu nguyện chung, chia sẽ những công việc thường ngày, tham gia vào đời sống tông đồ và sự đón tiếp của cộng đoàn....

       

Sự hướng dẫn của một đặc trách đào tạo

 

54.               Một tu sĩ sống với ứng sinh sẽ được chỉ định cho việc hướng dẫn ứng sinh trong suốt thời gian sống kinh nghiệm này. Người tu sĩ này phải đặc biệt lưu ư:

 

-         Thành lập một chương tŕnh đào tạo với ứng sinh nhằm đạt tới những mục đích của giai đoạn này;

-         Khuyến khích những cuộc gặp gỡ với ứng sinh nhằm hiu biết về ứng sinh và giúp ứng sinh hiu biết hơn về hành tŕnh ơn gọi và nhân cách của ḿnh. Lắng nghe một cách chăm chú tới toàn bộ lịch sử cá nhân của ứng sinh có thể mang lại hữu ích, và không lọai trừ đặt những câu hỏi thiết yếu cho ứng sinh.

-         Hiu biết bi cnh văn hóa xă hi ca ng sinh. Thc vy, s hiu biết v nhân cách ca ng sinh có th trở nên dễ dàng hơn qua việc hiểu biết về gia đ́nh, địa phương nơi ứng sinh lớn lên, những mối quan hệ và những kinh nghiệm ghi dấu cuộc đời của ứng sinh.

-         Giúp ứng sinh chấp nhận lịch sử cá nhân của ḿnh nhằm phân định ơn gọi tốt hơn.

 

Sự tham gia tích cực của ứng sinh

 

55.               Về phần ḿnh ứng sinh phải lưu ư:

 

-         tự ḥa nhập vào cộng đoàn tiếp nhận ḿnh.

-         thiết lập mối quan hệ tin cậy với đặc trách đào tạo của ḿnh và người linh hướng qua việc gặp gỡ đều đặn với họ.

-         ư thức rằng ứng sinh là nhân tố chủ chốt của việc đào tạo, v́ thế chương tŕnh đào tạo phải được thực hiện với đặc trách viên đào tạo của ḿnh.

 

Chưng tŕnh đào tạo

 

56.               Chương tŕnh đào tạo phải bao hàm các hoạt động được lên kế hoạch và được đánh giá một cách định kỳ (ví dụ: đọc sách, các lớp học, các hội thảo, các khóa đào tạo, các công việc hữu ích) và cho phép ứng sinh làm quen:

 

-         cầu nguyện cá nhân;

-         sống đời sống cộng đoàn anh em ḍng Mẹ Về Trời;

-         hiu biết tốt nhất v chính ḿnh.

 

Thi gian ca tin thỉnh sinh

 

57.               Mc du không th xác định được thời lượng cần thiết cho giai đoạn này, tuy nhiên điều quan trọng, đối với ứng sinh cũng như cho tu sĩ chịu trách nhiệm về việc hướng dẫn ứng sinh, là định một giới hạn thời gian cho việc đào tạo nhân bản và Kitô hữu.

 

Cũng vậy, cần thiết định thời hạn quyết định với sự uyn chuyn.

 

 

b.   Thỉnh sinh

 

58.               Vào thỉnh sinh là một bước chính thức. Dù không bao gồm bất cứ lời cam kết về pháp lư nào, đối với Hội Ḍng cũng như đối với ứng sinh, tuy nhiên nó phải có s đón nhận lẫn nhau được ưng thuận một cách tự do. Điều này bao hàm:

 

-         về phần ứng sinh, đệ tŕnh một lá thơ cho Bề trên Giám tỉnh tŕnh bày ư nghĩa và động lực xin vào thỉnh sinh cũng như những của ḿnh để làm điều đó. Thơ thỉnh cầu này phải được kèm theo một bản báo cáo của tu sĩ đă hướng dẫn ứng sinh trong suốt thời gian tiền thỉnh sinh.

 

-         về phần Hội Ḍng, sau khi xem xét thỉnh cầu của ứng sinh, Bề trên Giám tỉnh sẽ chấp nhận ứng sinh vào thỉnh sinh[12].

 

 

59.               Thời gian thỉnh sinh được thực hành trong ḍng M V Tri. Cng đoàn này có thể được dành riêng một cách đặc biệt để đón nhận các thỉnh sinh. Thỉnh sinh có thể tiếp tục theo học hoặc làm việc của ḿnh trong thời gian này.

 

 

Mục đích

 

60.               Giai đoạn thỉnh sinh là thời gian nhằm giúp ứng sinh:

 

-         đào sâu đức tin vào Đức Giêsu Kitô;

-         tiếp tục phân định ơn gọi của ḿnh;

-         làm sáng rỏ những động lực của ḿnh nhằm tiến tới việc xin được nhận vào tập viện một cách tự do và với tinh thần trách nhiệm.

 

 

Cách thực hiện

 

Các phương tiệm nhằm đạt tới một cách toàn vẹn những mục đích này:

 

Sống trong cộng đoàn hoạt động tông đồ

 

61.               Sống trong cộng đoàn là phương cách tốt nhất cho việc đào tạo suốt giai đoạn thỉnh sinh. Điều quan trọng là thỉnh sinh có kinh nghiệm sống một thời gian dài với một cộng đoàn anh em ḍng Mẹ Về Trời. Nếu được, ứng sinh có thể tham gia vào đời sống cộng đoàn một cách đầy đủ nhất. Cộng đoàn cũng có thể tổ chức những cuộc họp cộng đoàn đặc biệt mà không có mặt của những thỉnh sinh, nếu như cộng đoàn xét thấy cần thiết.

 

 

Sự hướng dẫn của một đặc trách đào tạo

 

62.               Đặc trách đào tạo phải đặc biệt lưu ư:

 

-         tạo một bầu khí tin tưởng nhằm giúp việc phân định và trưởng thành của thỉnh sinh trong ḷng cộng đoàn;

-         giúp thỉnh sinh phân định những dấu chỉ về tiếng gọi của Thiên Chúa, làm sáng rỏ và đào sâu những động lực và ước muốn gia nhập Hội ḍng, khám phá những đ̣i hỏi của ơn gọi và đáp trả những đ̣i hỏi này trong cuộc sống của ḿnh.

-         động viên thỉnh sinh tŕnh bày dự định về sứ mạng riêng biệt và thích hợp nhằm giúp đánh giá sự tiến bộ của ứng sinh;

-         kiểm chứng, đối với Hội ḍng, những khả năng thực thụ của ứng sinh sống đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời. Đặc trách đào tạo cần theo sát sự phát trin của ứng sinh và phân định nếu cần động viên, tŕ hoăn, hay đề nghị thôi việc tiến bước của ứng sinh vào Hội ḍng.

 

Để đạt được mục đích này, đặc trách viên đào tạo phải có những cuộc gặp cá nhân thường xuyên, đều đặn với ứng sinh.

 

Hướng dẫn thiêng liêng

 

63.               Thỉnh sinh phải tự do chọn lựa một vị linh hướng, và cha giải tội cho ḿnh. Ứng sinh bàn hỏi với đặc trách đào tạo về vấn đề này. Điều mong muốn, vị linh hướng là một tu sĩ thuộc ḍng Mẹ Về Trời.

 

Chương tŕnh đào tạo

 

64.               Chương tŕnh cho thỉnh sinh được đặt trên nền tảng cơ bản:

 

-         khai tâm đời sống cầu nguyện và bí tích;

-         đọc và suy gẫm Lời Chúa;

-         dẫn nhập lịch sử và linh đạo của ḍng Mẹ Về Trời;

-         khám phá thực tại cụ thể của những anh em ḍng Mẹ Về Trời trong cộng đoàn;

-         khám phá qua kinh nghiệm đời sống sứ mạng của Giáo hội;

-         đọc lại công việc dấn thân tông đồ mà ứng sinh đă nhận từ cộng đoàn;

-         hiu biết về chính ḿnh và khả năng quan hệ giữa cá nhân với nhau.

 

Thời gian thỉnh sinh

 

65.               Thời gian thỉnh sinh được xác định theo chương tŕnh đào tạo của Tỉnh ḍng. Tuy nhiên, nó có thể thay đổi tùy theo những ứng sinh khác nhau[13].

 

 

 

B. TẬP VIỆN[14]

 

 

Mục đích

 

66.               “Tập viện là thời gian biến đổi và tập sinh phải chỉ có ước muốn: được biến đổi trong Đức Giêsu Kitô.”[15] Mục đích của tập viện là nhằm hướng dẫn ứng sinh từng bước vào đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời, giúp ứng sinh phát triển dự phóng tin mừng của ḿnh và đối chiếu nó với chương tŕnh của ḍng Mẹ Về Trời[16]. Cuối giai đoạn này, tập sinh phải có khả năng tự cam kết một cách quảng đại qua những lời khấn, một cách thành tâm và không dè dặt, sống những đ̣i hỏi của đời sống cộng đoàn anh em ḍng Mẹ Về Trời.

 

67.               Như vậy, tập viện là thời gian ưu tiên cho việc cầu nguyện, học hỏi, gặp gỡ và trao đổi nhằm:

 

-         làm tăng trưởng  t́nh yêu của ứng sinh đối với Đức Kitô và tinh thần sẵn sàng theo Người một cách triệt để, phù hợp với chương tŕnh của đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời. Điều này có thể đ̣i hỏi nơi tập sinh những đọan tuyệt và những từ bỏ nội ngọai tại đôi lúc khá đau ḷng.

-         thực hành những lời khuyên tin mừng theo Luật thánh AugustinôLuật sống ḍng Mẹ Về Trời.

-         biến thành của ḿnh tinh thần của Cha d’Alzon và sự say mê cho Nước Trời cũng như cuộc sống của Người, đặc sủng và chương tŕnh hoạt động đông đồ của Hội ḍng.

 

 

Cách thực hiện

 

Cộng đoàn tập viện

 

68.               Cộng đoàn giúp các tập sinh sống kinh nghiệm về cầu nguyện, đời sống huynh đệ, lời khấn, và đời sống tông đồ. Thật vậy, tập sinh cũng như Giáo tập chia sẽ một cách đầy đủ đời sống và sứ mạng của cộng đoàn. Ngược lại, cộng đoàn giúp Giáo tập làm tṛn sứ mạng của ḿnh.

 

Hướng dẫn của Giáo tập

 

69.               “Một cách ngắn gọn, gương mu của giáo tập sẽ là Đức Giêsu Kitô sống giữa các tông đồ và dạy cho họ đời sống tin mừng[17].”

 

Hướng dẫn các tập sinh là nhiệm vụ dành riêng cho một ḿnh Giáo tập dưới quyền của các Bề trên thm quyền[18].

 

Với ban đào tạo của Tỉnh ḍng, Giáo tập xác định chương tŕnh đào tạo của tập viện, xin B Trên Tng quyn phê chun, và thc hin nó.

 

Giáo tp giúp các tp sinh phân định và thực hành ư muốn của Thiên Chúa Cha. V́ thế, giáo tập phải thường xuyên gặp gỡ mỗi một tập sinh, theo định kỳ phù hợp với từng nhu cầu của mỗi người. Như vậy, giáo tập là nhân chứng sự tiến triển về đời sống thiêng và nhân bản của họ.

 

Giáo tập là người diễn giải và người tôi tớ hiểu biết về tinh thần ḍng Mẹ Về Trời, tức là truyền thống tinh thần và tông đồ được nh́n nhận trong Giáo hội và nổ lực hiểu biết và ǵn giữ nó được mở ra theo những tiếng gọi của Chúa Thánh Thần ngày hôm nay. Giáo tập giúp tập sinh hội nhập vào trong truyền thống tinh thần và cảm thấy có trách nhiệm về tương lai của gia đ́nh tu sĩ của ḿnh.

 

Giáo tập sẽ giúp tập sinh đảm nhận những từ bỏ theo những lời khuyên của Tin Mừng và khích lệ ứng sinh nuôi dưỡng những thái độ phát sinh từ những lời khuyên tin mừng.

 

Hướng dn thiêng liêng

 

70.               Giáo tập là vị linh hướng chính của tập sinh. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết, đương sự có th chn mt v linh hướng khác với sự đồng ư của Giáo tập. Tập sinh sẽ chọn một cha giải tội khác với Giáo tập.

 

 

Những chiều kích cơ bản

 

 

71.               Chương tŕnh tập viện sẽ được đặt ra theo những mục tiêu tập viện, những điều kiện của Tỉnh ḍng và những chiều kích quốc tế, đa văn hóa của cộng đoàn tập viện. Nó lưu ư tới những chiều kích cơ bản sau:

 

Con của  niềm tin

 

72.               “Đức Giêsu Kitô là trung tâm đời sống của chúng ta. Chúng ta cam kết theo Người trong niềm tin, niềm hy vọng và trong t́nh yêu. Như Người, chứng nhân t́nh yêu của Chúa Cha và liên đới với con người, anh em ḍng Mẹ Về Trời muốn trở thành con người của niềm tin và con người của thời đại[19].” Trước hết tập viện là thời gian kinh nghiệm về Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. Tập sinh học khám phá Đức Kitô sống trong Lời của Thiên Chúa, trong lịch sử cá nhân, những mối quan hệ với anh em và những kinh nghiệm tông đồ. Như vậy, tập sinh ư thức về t́nh yêu của Đức Kitô dành cho ḿnh và cho anh em.

 

73.               Kinh nghiệm về Thiên Chúa của sinh tập phải đặt trọng tâm nơi Đức Kitô, đấng được học hỏi, chiêm ngắm, yêu mến và noi theo. Hơn nữa, sự đào luyện của ứng sinh, theo bước Đức Kitô, phải cắm rễ trong những đặc tính riêng của ḍng Mẹ Về Trời:

 

-         thực hành những nhân đức đối thần[20];

-         học hỏi tín điều căn cứ vào những nguồn: Thánh Kinh, truyền thống Giáo phụ và  Gíao huấn của Giáo hội.

-         Cơ cấu phụng vụ : tập sinh sẽ t́m thấy Đức Kitô khi đi vào trong đời sống cầu nguyện của Giáo hội qua việc tham dự tích cực vào đời sống cầu nguyện phụng vụ của cộng đoàn. Như vậy tập sinh sẽ có điều kiện để sống một cách sung măn các bí tích Thánh th và Ḥa gii.

 

74.               Đời sống cầu nguyện cá nhân, luôn là con đường cần thiết để sống kinh nghiệm về Thiên Chúa, đ̣i hỏi một sự đào luyện kiên tŕ và liên tục, dựa trên tín điều, như Cha d’Alzon luôn nhắc nhở chúng ta[21]. Nó là cuộc chiến đầu tiên của tập sinh. Cuộc chiến gian nan. Giáo tập và vị linh hướng phải giúp ứng sinh t́m phương pháp và nhịp độ trong đời sống cầu nguyện.

 

75.               Lắng nghe và suy gẫm Lời Chúa sẽ đưa tập sinh tới sự yêu mến và tôn thờ Đức Kitô, trung tâm điểm của đời sống ḿnh. Yêu mến Đức Kitô, Người đă tự ḿnh mạc khải, một cách sâu sắc hơn, ứng sinh sẽ c̣n yêu những ǵ mà Người yêu mến nhất, Mẹ của Người và Giáo hội.

 

Tu sĩ  sống trong cộng đoàn hoạt động  tông đồ

 

76.               “Không có ǵ đẹp bằng một cộng đoàn tu sĩ nơi mà mỗi người yêu thương nhau. Song để được như vậy cần có sự đóng góp của mọi người[22].” Tập viện là thời gian quan trọng nhằm đưa lư thuyết và thực hành vào trong đời sống chung. Nơi b́nh thường và cần thiết nhằm thực hiện điều đó là cộng đoàn sống động và đích thực.

 

77.               Thỉnh sinh vào tập viện thường mang khát vọng lớn về đời sống chung, với một phần ước mơ. Tập viện sẽ phải gọt tỉa những mong đợi đó và đào sâu chúng bằng việc tiếp cận với truyền thống của ḍng Mẹ Về Trời.

 

78.               Truyền thống này được cảm hứng từ suy nghĩ và kinh nghiệm của thánh Augustinô. Như vậy, giáo dục đời sống cộng đoàn phải kết hợp toàn bộ tư tưởng của thánh Augustinô và sự đóng góp đặc trưng của Cha d’Alzon. Tập sinh sẽ phải khám phá và cam kết sống:

 

-         Trong cộng đoàn được cấu tạo bởi những anh em với những cá tính khách nhau, đến từ những chân trời văn hoá khác nhau. Những anh em này sẽ cho tập sinh cọ xát với những sự phong phú và những khó khăn của tính quốc tế.

-         Trong đời sống cộng đoàn được xây dựng từ tính giản dị, sự khiêm tốn, sự vui tươi, những trách nhiệm được chia sẽ, và cách quan hệ mang đặc tính thng thắn, thân mật, tôn trọng lẫn nhau và tinh thần gia đ́nh.

-         Trong một cộng đoàn được tập hợp bởi niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, Người duy nhất cấu tạo và xây dựng lại cộng đ̣an từng ngày. Nó sẽ được xây dựng trên luật t́nh yêu huynh đệ, sự đón tiếp, sự phục vụ và sửa dạy nhau một cách huynh đệ mà Đức Kitô mời gọi chúng ta.

-         Trong cộng đoàn hoạt động tông đồ hướng tới sứ mạng. Nếu như tập viện chưa phải là thời gian để dấn thân toàn thời gian cho công việc tông đồ bên ngoài, nó cũng khai tâm cho tập sinh những chiều kích tông đồ của cuộc sống chúng ta và mời gọi tập sinh đón nhận tin mừng từ những người mà ứng sinh được sai đến.

-         Trong cộng đoàn cởi mở đối với toàn th gia đ́nh ḍng Mẹ Về Trời, bằng lời cầu nguyện, thăm viếng những cộng đoàn khác, tham dự những cuộc gặp gỡ của gia đ́nh Mẹ Về Trời, liên lạc thông tin qua những tờ bulletin và các trang web.

 

 

Theo Đức Kitô, người nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục

 

79.               Cam kết sống đời sống tu sĩ có nghĩa là sống niềm tin, hy vọng và bác ái tin mừng theo Đức Kitô, Người nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục. Việc thực hành những lời khuyên tin mừng, nền tảng của ba lời khấn, đem lại cho lời khấn đời sống tu sĩ nền tảng nhân bản trong những ǵ liên quan tới sự làm chủ xúc cảm, việc sử dụng của cải và thi hành quyền lực và nền tảng thiêng liêng, hiểu theo nghĩa thực hành đó muốn thể hiện  rằng, ngay ở đời này, Thiên Chúa có thể đổ đầy cuộc sống của một con người.

 

Nghèo khó tu sĩ

 

80.               Bước theo Đức Kitô, Người đă chọn sống nghèo, tập sinh phải đào sâu ư nghĩa của việc chia sẽ, học từ bỏ những của cải cá nhân, và đặt niềm hy vọng của ḿnh vào một ḿnh Thiên Chúa, của cải duy nhất đích thực. Như vậy, ứng sinh sẽ hạnh phúc trong cộng đoàn và sẵn sàng phục vụ những anh em ḿnh. Sống giản dị, làm việc, và học tập đối với anh em ḍng Mẹ Về Trời là những dấu ấn riêng của sự nghèo khó theo Tin Mừng. “Nghèo khó phúc âm là dấu chỉ bên ngoài của sự thực hành niềm hy vọng của chúng ta[23].”

 

Đức khiết tịnh

 

81.               “Hăy dành cho nhau một t́nh yêu đầy ḷng thương mến, quư trọng, tôn trọng, và chân chính[24].” Theo bước chân Đức Kitô, người đă sống khiết tịnh giữa những người cũng thời, tập sinh khám phá ra rằng đức khiết tịnh là con đường giải phóng cho đời sống huynh đệ và tông đồ. Đức khiết tịnh biu l tính trit để tiếng gọi của Thiên Chúa. Đức khiết tịnh là để sống trong t́nh yêu. Xem chương thứ nhất Directoire trong đó Cha d’Alzon đă đề nghị cho chúng ta ba t́nh yêu: t́nh yêu đối với Đức Giêsu Kitô, Mẹ Maria, và Giáo hội.

 

Vâng phục tu sĩ

 

82.               Vâng phục tu sĩ là “nữ tử của niềm tin”, “sự nh́n nhận quyền của Thiên Chúa”, và “sự bày tỏ t́nh yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa[25].” Theo Đức Kitô, Người đă tự ḿnh vâng phục và trở thành người đầy tớ, tập sinh phải ư thức rằng người được sai đi phải lắng nghe và phục vụ người sai. Vâng phục tu sĩ sẽ được sống cụ thể đới với tập sinh qua mối quan hệ giữa Giáo tập và với những anh em sống trong cộng đoàn. Sự vâng phục được sống trong niềm tin và t́nh yêu cho phép các mối quan hệ được h́nh thành từ sự thẳng thắn, tự do, và sự nh́n nhận chân thực và khiêm tốn về sự phục vụ của từng anh em trong việc t́m kiếm thánh ư của Thiên Chúa.

 

 

Tông đồ cho Nước Trời trị đến

 

83.               “Trên hết chúng ta là những tông đồ[26].” Tinh thần ḍng Mẹ Về Trời là “tinh thần của sự nhiệt huyết và tông đồ[27].” T́nh yêu đối với Đức Kitô được thôi thúc trong sứ vụ. Tập viện sẽ nung nấu t́nh yêu đối với Giáo hội và sự nhiệt huyết cho Nước Trời, như Cha d’Alzon đă mong muốn[28].

 

84.               Cha d’Alzon, say sưa v́ Thiên Chúa, luôn măi là người thầy đầu tiên trong lănh vực này. Dù những hoạt động tông đồ của người không c̣n là của chúng ta, song tinh thần, sự nhiệt huyết và t́nh yêu của người vẫn tiếp tục lây nhiễm và chiếu sáng chúng ta. Cũng vậy người c̣n lây nhiễm và chiếu sáng chúng ta về sự say mê chiến đấu v́ Thiên Chúa, v́ Giáo hội và v́ con người bị xúc phạm và bị tổn thương khi không có Đức Kitô. Dó đó, đối với tập sinh, điều quan trọng là từng bước thấm nhuần đặc sủng của Cha d’Alzon, nhận biết những nguồn và thái độ nền tảng tinh thần tông đồ của người.

 

85.               Ngay từ tập viện, tập sinh phải xây dựng những nền tảng về tâm hồn tông đồ của ḿnh. Tập sinh phải ư thức rỏ tập viện là thời gian thiết yếu nhằm ư thức rỏ về tầm quan trọng của việc tông đồ và sự hoán cải cần thiết trong sứ mạng mà tập sinh sẽ thực hiện hơn nữa sau tập viện.

 

86.               Chia sẽ những kinh nghiệm tông đồ, công việc tông đồ thường tuần, thời gian thực tập sẽ cho phép tập sinh có được sự nhạy cảm với thực tế, đời sống và sứ mạng của Giáo hội.

 

 

Người thừa kế truyền thống ḍng Mẹ Về Trời

 

87.               “Các bậc đàn anh đả để lại cho anh em một tấm gương [...]. Hăy bước theo dấu vết của họ [...]. và tiến bước[29]” Cộng đoàn tập viện  là con đường thường nhật cho phép tập sinh đi vào lịch sử của ḍng Mẹ Về Trời. Nơi đây tập sinh sẽ học « sống trong ḍng Mẹ Về Trời”, học biết sống kết hợp với Thiên Chúa trong cộng đoàn và thực hành sứ vụ, đó là cách sống đặc thù của ḍng Mẹ Về Trời.

 

88.               Một sự hiu biết thâm sâu về cha d’Alzon là điều không thể thiếu. Chỉ có người là tổ phụ. Người sẽ là bạn đồng hành thường ngày của tập sinh. Cuộc sống, những bài viết, công việc và tinh thần của người phải trở nên quen thuộc đối với tập sinh, ngơ hầu tập sinh có th phân định ḿnh sẽ trở thành người con và anh em của người hay không.

 

89.               Cha d’Alzon phải được nh́n một cách khách trong khung cảnh lịch sử của người, để tránh những sai lầm không đặt đối tượng vào một thời kỳ lịch sử đặc biệt, những chướng ngại vật bởi sự hiu nhm v ngôn t, tư tưởng và những hoàn cảnh và để cho phép phân định những ǵ là nhất quán và những ǵ là nhất thời.

 

90.               “Chỉ khi nghiên cứu tư tưởng đă tŕ trong việc sáng lập ḍng, các con mới có thể tiến lên trong sự ḥan thiện mà các con được mời gọi đến[30]” Để sự hoà nhập của tập sinh vào trong lịch sử anh em ḍng Mẹ Về Trời là cá nhân, ư thức và sóng tỏ, tập sinh phải học biết lịch sử bắt đầu từ cộng đoàn tiên khởi ở Nimes cho tới thời của chúng ta.

 

91.               Học hỏi lịch sử ḍng Mẹ Về Trời với sự trung thực, chân thật bằng cách đặt nó vào trong bối cảnh truyền thống Augustinô bắt nguồn từ những thế kỷ đầu tiên của Giáo hội. Chúng ta cũng cần phải mở rộng tầm nh́n của tập sinh về ḍng Mẹ Về Trời hôm nay trong sự phức tạp và đa dạng của yếu tố quốc tế để không khép kín trong những biên giới hạn hẹp của một vùng.

 

92.               Các tập sinh không phải phát minh ra ḍng Mẹ Về Trời, nhưng họ là những người vẽ nên gương mặt ḍng Mẹ Về Trời hôm nay và cho phép gương mặt của Ḍng được đổi mới. Tập viện là nơi trao đổi hai chiều giữa ḍng Mẹ Về Trời và các tập sinh.

 

 

 

C- HẬU TẬP VIỆN[31]

 

 

93.               Giai đoạn hậu tập viện phải chun b người tu sĩ đi đến vĩnh khấn trước Thiên Chúa trong ḍng Mẹ Về Trời qua việc chia sẽ hoàn toàn đời sống chung. Giai đoạn này phải cho phép khấn sinh bổ sung sự hiu biết v Cha d’Alzon, thánh Augustinô và ḍng M V Tri. Đây là giai đoạn hoà nhập từng bước vào trong đời sống của Tỉnh ḍng, Hội ḍng và đại gia đ́nh ḍng Mẹ Về Trời.

 

94.               Gia nhập ḍng Mẹ Về Trời, người tu sĩ trẻ chọn người hướng dẫn: Cha d’Alzon. Khấn sinh chọn con đường của Tin Mừng: Luật sống. Khấn sinh kết nạp vào gia đ́nh tu có một quá khứ, một tinh thần và một ơn gọi được nh́n nhận bởi Giáo hội, và một sứ mạng hiện tại trong thế giới. Khấn sinh tự giao ước trọn cuộc đời của ḿnh và trọn con người của ḿnh trong gia đ́nh mà ḿnh học yêu mến.

 

 

 

Mục tiêu

  

 

95.               Hậu tập viện, một cách nền tảng, là thời gian cho tu sĩ:

 

-         hoà nhập cuộc sống của ḿnh. Chia sẽ đời sống chung và công việc tông đồ của ḍng Mẹ Về Trời, tu sĩ dâng hiến cho Thiên Chúa trọn vẹn con người, cuộc sống, những khả năng và những dự định của ḿnh.

-         đào sâu niềm tin vào Đức Kitô, biu l qua vic tuân d nhng li khn, sống trong cộng đoàn, cũng như đời sống t́nh cảm và quan hệ.

-         biến thành của ḿnh đặc sủng và sứ mạng của Hội ḍng.

 

 

Cách thực hành

 

96.               Những mục tiêu này đ̣i hỏi người tu sĩ:

 

-         tiếp tục đào sâu mối liên hệ với Thiên Chúa;

-         sống kinh nghiệm về sự bền độ, sự trung thành và về về việc dâng ḿnh cho Thiên Chúa trong đời sống tu anh em ḍng Mẹ Về Trời;

-         đào sâu đặc sủng của Hội ḍng và cách mà đặc sủng này được sống bằng cách đọc những bản văn nền tảng và những tài liệu chính thức của Hội ḍng và bằng cách tham dự những cuộc gặp gỡ khác nhau được dành cho những tu sĩ trẻ;

-         gặp gở thường xuyên với đặc trách đào tạo và người linh hướng.

 

Hàng năm, tu sĩ khấn tạm, với đặc trách đào tạo của ḿnh, sẽ thiết lập chương tŕnh về việc đọc sách, những bài viết tng hp, hay suy tư ca ḿnh, hay nhng nghiên cu, vi mc đích t́m hiểu sâu xa hơn về Cha d’Azon, về linh đạo và lịch sử của ḍng Mẹ Vê Trời.

 

97.               Những mục tiêu này đ̣i hỏi Hội Ḍng:

 

-         cho phép người anh em đă tuyên khấn những điều kiện thuận lợi nhằm giúp phát trin tinh thn và nhân bn. Hi ḍng phi đặc biệt quan tâm trong việc đảm bảo cho người anh em:

-         môt cộng đoàn vững chắc và sống động nơi đó người anh em sẽ có khả năng sống đời sống tu sĩ của ḿnh trọn vẹn, trong bầu khí của niền tin, cầu nguyện, sự tin tưởng và tự do.

-         một đặc trách đào tạo, được chỉ định bởi Bề trên Giám tỉnh, người sẽ đồng hành với người anh em trong tất cả các lănh vực của việc đào tạo.

-         một việc đào tạo bao gồm nhân bản, thiêng liêng, tín lư cũng như mục vụ thích ứng với người anh em, và mang tính linh hoạt, để người anh em có thể thu được một năng lực cá nhân phù hợp với những khả năng của ḿnh và những nhu cầu của Hội ḍng.

-         bàn thảo với người anh em, trong suốt thời gian tạm khấn, về vấn đề sứ mạng tương lai và những nguyên cứu chuyên sâu cho người anh em. Những nguyên cứu này không thuộc về quyền nhưng là về sứ mạng. Chúng nhắm vào sự am hiu về niềm tin, điều này trở thành một chuẩn mực quyết định để chọn chuyên ngành.

 

98.               Mỗi lần tuyên khấn lại, người anh em sẽ phải tŕnh bày bản tự đánh giá cho đặc trách đào tạo của ḿnh và cho cộng đoàn. Trong dịp này, người anh em cũng sẽ tŕnh bày chương tŕnh của ḿnh cho năm tới.

 

99.               Khi đến thời gian xin vĩnh khấn, việc xem xét lại tất cả những đánh giá của ḿnh, từ lần khấn đầu, sẽ giúp người anh em đi đến một quyết định chín muồi và khắc phục những vấn đền c̣n lại.

 

 

Những chiều kích nền tảng

 

 

Con của  niềm tin

 

100.          Đời sống của người anh em đă tuyên khấn được đặt trọng tâm trong Đức Kitô, được nuôi dưỡng bằng niềm tin, và cầu nguyện. Theo Đức Kitô đ̣i hỏi gặp gỡ thường ngày với Người. Không có một lư do nào khác cho lời tuyên hứa của ḿnh là Đức Kitô và Phúc âm, và không thể t́m đâu ra nguồn sinh dưỡng là qua việc cầu nguyện.

 

101.          Kinh nghiệm về Thiên Chúa không phải được thực hiện một lần thôi. Nó phải được tiếp tục đào sâu từng ngày; nếu không nó bị thiếu rễ và chỉ hời hợt. Trong thời gian sau tập viện, người tu sĩ cần nội tâm hoá tất cả những ǵ mà ḿnh đă học hỏi được trước đó, bằng việc phát trin s đánh giá của ḿnh qua suy gẫm và sáng tạo.

 

Điều quan trọng mà tu sĩ tự đặt cho ḿnh:

 

-         phương pháp rèn luyện, nhịp độ cầu nguyện cá nhân, suy gẫm Lời Chúa, và đón nhận sự tha thứ. Sẽ không thể có kinh nghiệm về Thiên Chúa nếu như không có những cuộc gặp gỡ nhưng không với Ngài.

-         cầu nguyện tông đồ, bao gồm những ư nguyện của Giáo hội và của thế giới, quan tâm tới việc tham dự vào việc cầu nguyện của dân Chúa, nhất là tham gia những giờ cầu nguyện của giáo hội địa phương. Như vậy tu sĩ sẽ vượt qua tính nhạy cảm riêng nhằm tham dự vào việc cầu nguyện của cộng đoàn Kitô hữu lớn hơn.

-         tiếp tục được hướng dẫn thiêng liêng. Trong sự cởi mở tâm hồn với vị linh hướng, người tu sĩ sẽ có khả năng nối kết đời sống cầu nguyện và đời sống tông đồ của ḿnh, cũng như có khả năng nh́n lại kinh nghiệm về Thiên Chúa của chính ḿnh.

 

102.          So với thời gian tập viện, đời sống của tu sĩ bị chi phối hơn nhiều bởi muôn vàn sự bận rộn, và có nguy cơ bị phân tán bởi công việc. Sự kết hợp giữa từng giây phút của cuộc sống và những mối bận tâm làm nên cái nền của cuộc sống có thể được hiện trong kinh nguyện. Để thực hiện được sự kết hợp này, người tu sĩ sẽ biến lời cầu nguyện của Giáo hội thành lời cầu nguyện của ḿnh, ngay cả khi việc cầu nguyện không được đảm bảo bởi cộng đoàn, tu sĩ phải đảm trách như là trách nhiệm cá nhân. Tu sĩ phải ḥa quyện cả cuộc sống của ḿnh vào việc cầu nguyện và cầu nguyện vào trong cuộc sống của ḿnh. Tu sĩ t́m cách xem xét lại công việc học tập, những kinh nghiệm tông đồ và những mối liên hệ dưới ánh sáng của Phúc âm, v́ tất cả những ǵ ḿnh trở thành và làm phải trở nên kinh nghiệm về Đức Giêsu Kitô, Đấng được học hỏi, chiêm ngắm, yêu thương và theo gương[32].

 

103.          Những năm hậu tập viện sẽ cũng cố thêm những niềm vui và những thành công cho tu sĩ, nhưng chúng cũng cho người anh em phải đối diện với những xung đột, những thử thách không thể tránh. Đây là những điều kiện nhằm giúp tu sĩ trưởng thành trong Thiên Chúa. Điều quan trọng đối với tu sĩ là cảm tạ về những ǵ mà Thiên Chúa đang thực hiện trong đời sống của ḿnh và luôn luôn tâm niệm những lư do tại sao phải kiên định trong sự cầu nguyện. Lời mời gọi trở nên đồng h́nh đồng dạng với Đức Giêsu Kitô bao hàm mối quan hệ cá nhân với Người, và những đ̣i hỏi của sứ mạng, v́ chúng ta chỉ có th cho mt khi chúng ta đă lănh nhận.

 

104.          Nhờ sự trung thành thường ngày, trong sự thinh lặng của cầu nguyện, và qua việc lắng nghe Chúa, tu sĩ trẻ sẽ t́m thấy sức mạnh để tiến tới vĩnh thệ. Qua kinh nghiệm về Thiên Chúa, người anh em sẽ từng bước trở thành “con người của niềm tin và con người của thời đại,” “chứng nhân t́nh yêu của Thiên Chúa Cha và liên đới với người đồng loại[33].”

 

 

Tu sĩ sống trong cộng đoàn hoạt động tông đồ

 

105.          Việc đào luyện về đời sống cộng đoàn tiến triển tường bước, có lúc chậm tiến và lúc gặp khó khăn. Nó cần được theo đui suốt cuộc đời. Nó đ̣i hỏi sự hối cải thường nhật của mỗi một tu sĩ đễ vượt qua những căng thng và nhng bt đồng. Chia sẽ một cách tích cực trong đời sống cộng đoàn là một yếu tố cần thiết trong việc đào tạo của một tu sĩ trẻ. Cộng đoàn cần phải:

 

-         một nơi của tính đồng trách nhiệm. Mỗi tu sĩ được mời gọi tham dự một cách tích cực và trọn vẹn trong việc xây dựng đời sống cầu nguyện của cộng đoàn, các cuộc hội họp, các khoá đào tạo, các công việc trong nhà, đời sống kinh tế của cộng đoàn.

-         một nơi của sự cầu nguyện và chia sẽ. Một cộng đoàn, được kết cấu bởi những anh em trong thời gian đào tạo hay đón nhận những tu sĩ trẻ, cần phải lưu ư một cách đặc biệt những yếu tố sau:

 

·       đảm bảo một nhịp sống cầu nguyện thường ngày được đặt trọng tâm vào việc cử hành Bí tích thánh thể, quan tâm tới những kỳ tĩnh tâm hàng tháng, tĩnh tâm năm cho những tu sĩ.

·       tạo điều kiện thời gian chuyện tṛ, chia sẽ. Những cuộc họp hàng tuần sẽ là thời gian ưu tiên cho sự trao đổi, suy nghĩ về đời sống, về niềm tin và những công việc tông đồ của cộng đoàn.

·       nhấn mạnh tầm quan trọng của tu nghi cộng đoàn. Ít nhất một lần trong năm cộng đoàn đánh giá tu nghị cộng đoàn là điều cần thiết.

 

-         một nơi của sự tự do, thng thắn và thân ái. Cộng đoàn phải có khả năng nhân chứng về một đời sống đơn giản và huynh đệ.

 

 

Theo Đức Kitô, nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục

 

106.           Hậu tập viện là thời gian để trưởng thành hơn về nhân bản cũng như về thiêng liêng để chun b người tu sĩ cho vic vĩnh khn. Vic tuyên khn này bao hàm nhng khía cnh sau:

 

-         quyết định theo Đức Kitô một cách triệt để ám chỉ rằng tu sĩ luôn luôn tiến xa hơn nữa trong niềm tin, hy vọng và t́nh yêu, cũng như qua những năm khấn tạm tu sĩ khẳng định xác tín của lựa chọn ban đầu.

-         Dấn thân với những anh em khác mà ḿnh đón nhận khi gia nhập vào ḍng Mẹ Về Trời và với những người tu sĩ này ḿnh muốn chia sẽ tinh thần và cách sống. Lời tuyên khấn của ḿnh cam kết một cách hoàn toàn vào trong chương tŕnh đời sống tu sĩ được đề ra bởi ḍng Mẹ Về Trời và được chun y bi Giáo hi như là mt phương thế cụ thể để sống Phúc âm. Điều đó ám chỉ người tu sĩ liên đới với tất cả những ǵ làm nên đời sống và lịch sử của gia đ́nh tu sĩ.

-         kinh nghiệm về sự trung thành. Sự cam kết trong đời sống tu sĩ phải có khả năng chống cự với thời gian, sự va chạm những với thực tế đời thường, và với tất cả những thăng trầm của những t́nh huống của cuộc sống. Trong suốt thời gian hậu tập viện, người tu sĩ sẽ cần chứng tỏ khả năng của ḿnh đối phó với những thách thức của thời gian và điều chế chúng với sự trung thành và ḷng kiên nhẫn. Điều này đ̣i hỏi sự đào luyện cá nhân được cấu thành từ sự từ bỏ, cân bằng, khả năng tự kiềm chế, tính đơn giản, sự rỏ ràng, quăng đại và sự phục vụ. Việc đào luyện này, bao hàm việc chấp nhận cái nh́n của những anh em khác trên cuộc sống của ḿnh, sẽ được thực hành một cách đặc biệt trong việc sống những lời khấn.

 

 

Đức nghèo khó tu sĩ

 

107.          Chúng ta cần nhấn mạnh những điều sau:

 

-         sống đơn giản, điều này loại bỏ việc t́m kiếm tiện nghi và đ̣i hỏi chúng ta cần học biết sự tụ do đối với vật chất.

-         làm việc, v́ tu sĩ cần kiếm sống, như vậy phải làm việc. Tu sĩ phải nghiêm khắc về việc sử dụng thời gian và cùng chịu trách nhiệm trong việc duy tŕ đời sống kinh tế thường nhật của cộng đoàn.

-         sự cởi mở với những người khác, tu sĩ sẽ cần để ư tới những bất công xă hội, quan tâm tới những cộng đoàn dấn thân trong những môi trường bị thiệt tḥi nhất, và sống liên đới thật sự với người nghèo. Điều này cũng có nghĩa là sống giữa môi trường của họ trong một thời gian. Mặt khác chúng ta cũng cần phải làm quen, qua nguyên cứu, với những thực tế kinh tế xă hội của thế giới cũng như với sự giảng dạy của Giáo hội về xă hội.

 

Đức khiết tịnh

 

108.          “Yêu và được yêu”, đó là ơn gọi của con người. Khả năng yêu cần được giáo dục, để biết hướng về điều chính yếu. Điều này ngụ ư:

 

-         vô tư, nguyên tắc trong những mối liên hệ, đi ra ngoài, vui chơi giải trí, sử dụng phương tiện truyền thông v.v. Sự kh hnh này không được sống như một sự mất mát, nhưng là sự mong muốn một cách tự do.

-         khả năng quan hệ, nó phải được biu l qua vic ḥa nhp thc s vào cng đoàn, t́nh yêu huynh đệ, lắng nghe, cởi mở với người khác, sự hy sinh cho sứ mạng. Khả năng quan hệ đ̣i hỏi khả năng tự chủ đời sống t́nh dục và nh́n nhận một cách đúng đắn những mối quan hệ.

-         khả năng chấp nhận sự đơn độc qua đó người tu sĩ phải thực nghiệm để biết nếu như ḿnh thật sự b́nh an với quyết định đă chọn và nếu như ḿnh có th sống một cách b́nh thản và phấn khởi nộ tâm để theo Đức Kitô.

 

Đức tuân phục tu sĩ

 

109.          Qua lời khấn vâng lời, người tu sĩ đặt ḿnh trong thái độ lắng nghe (ob+audire) Thánh thần, lắng nghe anh em mà với những người này người tu sĩ cam kết liên đới với họ. Người tu sĩ phải đặc biệt trưởng thành trong những điều sau:

 

-         sự tự do từ bên trong, khả năng sáng kiến, khả năng lắng nghe và đức vâng lời phản loại bỏ đồng thời sự nô lệ và sự phản kháng một cách có hệ thống đới với tất cả mọi người cầm quyền.

-         t́nh đoàn kết được thể hiện qua khả năng chấp nhận quyết định của người khác, tôn trọng những quyết định đă được đưa ra, tŕnh bày với người khác những quyết định muốn đưa ra.

-         ư thức về những hành động của ḿnh trước bề trên và anh em.

-         sn sàng cho s mng và cho nhng định hướng lớn được đề xuất bởi Giáo hội và Hội ḍng, đặc biệt cởi mở cho chương họat động tŕnh tông đồ của Tỉnh ḍng.

-         khả năng chịu trách nhiệm một cách đầy đủ, cộng tác và chia sẽ với những người khác.

 

 

Tông đồ cho sự hin tr ca Nước Trời

 

110.          Hậu tập viện là thời gian khi tu sĩ phải tham gia vào chương tŕnh những định hướng họat động tông đồ của Tỉnh ḍng và của Hội ḍng trong tất trong tính đa dạng của Hội ḍng và từng bước xác định cụ thể những lănh vực sứ mạng riêng của ḿnh.

 

111.          Sứ mạng đ̣i hỏi việc đào tạo thích nghi trong suốt thời gian hậu tập viện. Đào tạo phải giúp người tu sĩ nhận biết những khả năng về công việc tông đồ thật sự của ḿnh. Nó phải bao hàm những điểm sau:

 

-         sự hiu biết v nhng thc ti ca thế gii và nhng vic đại nghĩa v́ Thiên Chúa và v́ con người.

-         kết hợp chương tŕnh cá nhân vào trong chương tŕnh của Hội ḍng, nhưng phải luôn giữ được những khát vọng của chính ḿnh.

-         lo lắng đem lại một chổ đứng cho những công việc hoạt động tông đồ trong học tập, cầu nguyện, trong việc sử dụng thời gian, chia sẽ cộng đoàn.

 

Quan trọng  là có được một sự dấn thân tông đồ vững chắc trong thời gian này, tuy nhiên, điều cũng hoàn toàn quan trọng là lĩnh hội những thái độ tông đồ, và để kim chng chúng cũng cn có những cấp bậc hướng dẫn.

 

112.          Sứ mạng đ̣i hỏi chúng ta những phm chất như sự quan tâm tới Giáo hội, khả năng sáng kiến, làm việc nhóm, đặc biệt với những người giáo dân, sự chia sẽ những kinh nghiệm tông đồ trong cộng đoàn, sự sẵn sàng, khả năng thích nghi, đối chiếu trong sự đối thoại những ưu tiên cá nhân và những định hướng của Hội ḍng và của Giáo hội[34].

 

113.          Sứ mạng cũng đ̣i hỏi chúng ta một sự dấn thân tông đồ hiệu quả, tham gia cụ thể vào đời sống tông đồ của cộng đoàn, các hoạt động tông đồ, các khóa đào tạo được sự chấp thuận của phụ trách đào tạo.

 

Chia sẽ sứ mạng tông đồ của cộng đoàn, người tu sĩ phải có khả năng t́m thấy nơi những anh em ḿnh chứng tá:

 

-         từ việc cầu nguyện cộng đoàn bao hàm đời sống và những quan tâm lớn của Giáo hội.

-         từ việc chia sẽ những hoạt động tông đồ dưới ánh sáng của Tin Mừng và Luật sống.

-         từ đời sống quân b́nh dựa trên những ưu tiên và lựa chọn được suy nghĩ chín chắn.

 

Qua những dấn thân hoạt động tông đồ và các khóa đào tạo khác nhau, như sống kinh nghiệm trong một cộng đoàn hay một quốc gia khác, người tu sĩ sẽ khám phá những ưu tiên của ḍng Mẹ Về Trời, đặc biệt trong sự phục vụ người nghèo và những Giáo hội trẻ.

 

114.           Sứ mạng đ̣i hỏi một sự thích ứng hổ tương. Không hiếm những khi người tu sĩ trẻ nhận thấy sự căng thng gia nhng ước muốn của chính ḿnh và những định hướng của chương tŕnh hoạt động tông đồ của Tỉnh ḍng, đặc biệt khi chương tŕnh này không được đa dạng hóa. Sự căng thẳng này có th có li:

 

-         điu này s dn tu sĩ trẻ tới một sự sẵn sàng lớn hơn và tinh thần liên đới đích thực với Hội ḍng.

-         nó sẽ thúc đẩy Tnh ḍng đua ra mt chương tŕnh hoạt động tông đồ rỏ ràng, đa dạng hóa, linh hoạt, và cởi mở với những sáng kiến và sáng tạo.

 

115.          để trở thành con người của thời đại, liên đới với những thế giới, văn hoá  khác nhau, ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo sẽ có có cơ hội sống một thời gian dài ở trong một cộng đoàn anh em ḍng Mẹ Về Trời ngoài quốc gia của ḿnh.

 

 

 

D-ĐÀO TẠO TÍN LƯ

 

 

116.          “Mọi hoạt động của chúng ta sẽ được thúc đẩy từ tinh thần tín lư[35].” Đào tạo tín lư liên quan tới tất cả mọi tu sĩ, dù là những tu sĩ đang chun b cho nhng s v truyền chức hay không. Nó bao hàm tất cả những giai đoạn đào tạo một tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời. Tuy nhiên, thời gian hậu tập viện được ưu tiên một cách đặc biệt cho việc đào tạo này.

 

 

Mục tiêu

 

117.           chúng ta t́m cách đồng thuận về những động lực nhằm thuyết phục tầm quan trọng của việc đào tạo tín lư trong ḍng Mẹ Về Trời. Việc đào tạo cần thiết:

 

-         nhằm lĩnh hi s hiu biết tốt nhất v nim tin, sống vững mạnh hơn trong Thiên Chúa, yêu mến Đức Giêsu Kitô hơn nữa và những người mà chúng ta được sai đến. Một đức tin chỉ hời hợt ở bề mặt, không thật sự cảm nhận được mầu nhiệm kitô giáo, th́ rất mỏng ḍn và ít dấn thân.

-         nhằm hiu biết ct lơi ca truyn thng kitô giáo và làm giàu có nó qua việc gặp gỡ những văn hóa, những vấn đề của thế giới ngày hôm nay, nhằm diễn tả chiều sâu bản chất của truyền thống này bằng những thuật ngữ mới và nối tiếp nổ lực của thánh Augustinô trong thời của người: bày tỏ Đức Kitô như ánh sáng của trái tim và của trí tuệ.

-         nhằm nhận thức về Tin mừng, thể hiện tính thích đáng và tính thời sự của Tin mừng trong những xă hội đa nguyên, tŕnh bày nó một cách dễ hiu cho nhiu người, bằng cách này chúng biến một trong những cảm nghiệm của Cha d’Alzon thành của chúng ta.

 

118.          Đào tạo tín lư phải phù hợp với mỗi từng tu sĩ, cho phép người anh em thực hiện phạm vi trọn vẹn những khả năng của ḿnh và tuân theo những đ̣i hỏi của sứ mạng mà ḍng Mẹ Về Trời sẽ kư thác nơi người anh em này. Cần quan tâm đặc biệt những khía cạnh sau:

 

-         tất cả mọi tu sĩ cần được đào luyện nghiêm túc về căn bản trong lănh vực này ngơ hầu việc đào đạo kitô hữu sẽ cùng cấp độ với đào tạo nhân bản.

-         việc đào tạo chắc chắn, toàn diện và phù hợp với những yêu cầu theo Ratio studiorum của Giáo hội, sẽ cần thiết cho tất cả mọi linh mục tương lai.

-         những anh em nào có sở thích học tập và khả năng cho việc nguyên cứu cao hơn sẽ được phép theo học chuyên sâu theo khả năng và nhu cầu của ḍng Mẹ Về Trời.

 

 

Cách thự hiện

 

Việc hướng dẫn

 

119.          Nâng đỡ và hướng dẫn một tu sĩ trong quá tŕnh đào tạo là cần thiết nhằm:

 

-         xác định với người anh em những sở thích và những khả năng, đề nghị một chương tŕnh đào tạo tín lư thích ứng nhất với người anh em, cũng như những nhu cầu của Giáo hội và ḍng Mẹ Về Trời;

-         đảm bảo sự theo dơi về vấn đề học tập của người anh em bằng cách động viên và kim tra nhng bài làm, trong tinh thn đối thoại và giúp đỡ lẫn nhau;

-         giúp người anh em đưa ra những sự lựa chọn không th tránh khi trong sut thi gian đào tạo;

-         đánh giá việc học hàng năm của người anh em, so sánh với những đ̣i hỏi của chương tŕnh học tập.

 

Những đ̣i hỏi cá nhân

 

120.          Việc học đ̣i hỏi người tu sĩ:

 

-         chứng tỏ việc sử dụng thời gian nghiêm ngặt và lên lịch tŕnh nhằm tránh lăng phí thời gian hay quá tải với những bận tâm bên ngoài;

-         t́m cách cân bằng giữa công việc học và đời sống đức tin, giữa việc học và đời sống hoạt động tông đồ.

 

Bầu khí thuận lợi  cho việc học tập

 

121.          Điều quan trọng:

 

-         phải có thời gian để học tập, như vậy người anh em cần sống trong một cộng đoàn mà cách sống và nhịp sống ưu tiên cho việc học tập;

-         người anh em được thông hiểu và động viên trong những cố gắng của ḿnh từ tất cả mọi anh em khác;

-         nguyên tắc rỏ ràng cho tất cả mọi tu sĩ: đào tạo tín lư đảm bảo tương lai của người anh em cũng như của ḍng Mẹ Về Trời;

-         người anh em cần tập làm quen với những phương pháp cho phép ḿnh tiếp tục việc đào tạo sau này trong suốt cuộc sống của ḿnh.

 

Chương tŕnh học tập

 

122.          Các đặc trách đào tạo phải đặc biệt lưu ư những điều sau:

 

-         xác định chắc chắn sự lựu chọn những viện giảng dạy phù hợp với những tiêu chun của Giáo hội;

-         phải đảm bảo rằng chương tŕnh, về cả nội dung và phương pháp sư phạm, khi lưu ư tới những khả năng và định hướng hoạt động tông đồ của người anh em;

-         lưu ư tới những môn hc có thể khiếm khuyết trong một số chương đào tạo, đặc biệt lưu ư tới những ưu tiên của ḍng Mẹ Về Trời, nhằm b sung nếu cn thiết, trong những lănh vực như thánh Augustinô, đại kết, lịch sử thế kỷ XIX, truyền thông đại chúng;

-         đề cập tới những khía cạnh tín lư đặc biệt hơn cho những tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời, qua những khóa học tập khác nhau và những cuộc hội thảo được tổ chức cho mục đích đó;

-         thời gian học tập : việc đào tạo tín lư sẽ không mang lại kết quả nếu đốt giai đoạn. Các đặc trách đào tạo cần lưu ư mỗi tu sĩ có đủ thời gian và thích hợp cho việc học tập và giúp người anh em này tránh chồng chất với công việc chuyên nghiệp. Cũng cần lưu ư tới việc tôn trọng kỳ hạn học tập, tránh việc kéo dài không chứng cớ.

 

123.          Lập “sổ học tập” có thể mang lại hửu ích,  đặc biệt nếu như người anh em phải chuyn đổi nơi đào tạo, nhằm đảm bảo chương tŕnh đào tạo chặt chẽ.

 

 

 

 

E- NHỮNG SỨ VỤ TRUYỀN CHỨC

 

 

124.          Sứ vụ phó tế và những năm đầu của đời sống linh mục (hoặc là của phó tế vĩnh viễn) là những thời gian quyết định của việc đào tạo tông đồ. Những năm này cần sự quan tâm lớn của những người chịu trách nhiệm về đào tạo. Đó là những thời gian dẫn nhập thực tiễn vào các sứ vụ truyền chức và nhất là tập luyện những thái độ mục vụ quan trọng.

 

125.          Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng ơn gọi làm thầy trong ḍng Mẹ Về Trời cũng có một tầm quan trọng. Tu sĩ phải được huấn luyện về tín lư, nghiệp vụ phù hợp với những đặc sủng riêng và phù hợp với chương tŕnh họat động tông đồ của Tỉnh ḍng.

 

Người anh em này cũng cần được hướng dẫn trong bước đầu mục vụ. Bề trên Giám tỉnh sẽ ủy quyền cho một tu sĩ giúp người anh em này thiết lập một chương tŕnh hoạt động tông đồ và đánh giá lại công việc mục vụ của ḿnh và nâng đỡ người anh em này trong những khó khăn phải đối phó.

 

 

Mục đích

 

126.          Sứ vụ phó tế và những năm đầu của sứ vụ linh mục là thời gian mà tu sĩ học hỏi thật sự nhằm lĩnh hội tâm hồn của người đầy tớ và trái tim của người mục tử như Đức Kitô theo đặc sủng của ḍng Mẹ Về Trời.

 

 

Đực truyền chức nhằm phục vụ Tin Mừng

 

127.          Lănh nhận và rao giảng Lời Chúa là một khía cạnh cốt yếu của sứ mạng của tân chức.

 

128.          Tu sĩ phải lưu ư thích nghi với môi trường được sai đến và ḥa nhập với những văn hóa khác.

 

129.          Tu sĩ phó tế hay tân linh mục cần tiếp tục việc đào luyện trí thức, thiêng liêng và mục vụ của ḿnh. Người anh em phải phân bố một cách đều đặn thời gian cho việc suy tư, công việc cá nhân, chứ không chỉ cho việc dọn những bài giảng.

 

 

Được truyền chức nhằm phục vụ Giáo hội

 

130.          Tu sĩ phó tế hay tân linh mục cần phải nuôi dưỡng tinh thần truyền giáo của ḿnh. Người anh em không chỉ được sai tới những người của cộng đoàn kitô hữu đă được h́nh thành, ngay cả ở những nơi mà sinh hoạt tôn giáo mạnh mẽ. Mối quan tâm mục vụ của người anh em không chỉ được giới hạn ở những kitô hữu siêng năng tới nhà thờ.

 

131.          Tu sĩ phải sở hữu những định hướng mục vụ của những cấp bậc đă sai ḿnh đi như Giáo hội, giáo phận, Hội ḍng. Người anh em phải cộng tác với các cấp bậc về mục vụ của Giáo hội địa phương, đồng thời có những sáng kiến trong việc loan báo Tin mừng và xây dựng Giáo hội. Cũng vậy, người anh em phải biu lộ sự quan tâm và t́nh yêu đối với Giáo hội.

 

132.          Sứ mạng sẽ tạo cơ hội cho tu sĩ khám phá những khả năng mục vụ của ḿnh. Tuy nhiên người anh em cũng sẽ dữ thái độ cởi mở cho tất cả mọi sứ vụ, dù lư thú hay không đối với ḿnh, vơi mong muốn phát trin những khả năng và đư ra sáng kiến của ḿnh.

 

 

Được truyền chức nhằm sự hin trị của Nước Trời

 

133.          Sự quan tâm tới những dấu chỉ của Nước Trời sẽ được biu l trong s v ca tu sĩ, qua việc đón nhận tất cả những người thiện chí và qua việc cởi mở tâm hồn vớ đối thoại văn hóa, đại kết và liên tôn.

 

134.          Tu sĩ phải chứng tỏ sự nhiệt thành tông đồ, t́nh yêu với công việc, và mối quan tâm về đào tạo, khả năng và sự thích nghi[36]. Tất cả mọi hoạt động tông đồ của người anh em phải được thúc đẩy bởi tinh thần tín lư, xă hội, đại kết[37].

 

 

Những chiều kích nền tảng

 

 

Con người của niền tin

 

135.          Tu sĩ phó tế hay tân linh mục cần phải tự hỏi bằng cách nào cuộc sống của ḿnh được ḥa quyện vào trong đời sống cầu nguyện, và việc cầu nguyện tác động trong đời sống ḿnh và của cộng đoàn[38]. Người anh em cần mở rộng khả năng đọc những sự kiện trong niềm tin, và từ đó lắng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa đối với ḿnh và đối với người khác, đọc lại cuộc sống của những người và những nhóm người nhằm nhận ra nơi đó sự hoạt động của Chúa Thánh thần cũng như nhận ra những dấu hiệu của tội lỗi.

 

136.          Tu sĩ cần nổ lực sống các Bí tích Thánh thể và Ḥa giải trong đời sống thiêng liêng của ḿnh và của giáo hội.

 

137.          Tu sĩ phải n lực không ngừng để nhận biết và chấp nhận những năng lực cũng như những hạn chế của ḿnh, nhằm trưởng thành hơn về nhân bản, đời sống tâm linh và tinh thần tông đồ.

 

138.          Đức tin vững chắc cũng sẽ được biu l qua thái độ chấp nhận những nổ lực hoạt động tông đồ không mang hiệu quả, những thất bại. Những nổ lực này cho phép tu sĩ đào luyện tính kiên nhẫn, bắt đầu lại bất chấp những khó khăn và chất vấn lại chính ḿnh.

 

 

Tu sĩ sống trong cộng đoàn hoạt động tông đồ

 

139.          Tu sĩ sẽ sẵn sàng để những anh em của ḿnh xem xét nhằm suy nghĩ, gọt ty, làm giàu nó sứ vụ, để tránh rơi vào sự nhàm chán, sự cám dỗ của chủ nghĩa cá nhân, sự ích kỷ của một tông đồ đơn độc tự măn hay chạy theo từ một việc cấp bách này tới một việc cấp bách khác. Người anh em phải luôn luôn bàn thảo và t chức đời sống tông đồ với cộng đoàn trong tinh thần đối thoại, thẩm vấn lẫn nhau, chia sẽ trong bầu khí cầu nguyện.

 

140.          Người anh em phải đón nhận, với tinh thần khiêm tốn và sẵng sàng sứ mạng mà cộng đoàn và bề trên giao phó cho ḿnh.

 

 

Tông đồ cho Nước trời trị đến

 

141.          Tu sĩ phó tế hay tân linh mục phải trao dồi những thái độ tông đồ đáng quư nơi ḍng Mẹ Về Trời: táo bạo, sáng kiến và vô vị lợi. Điều quan trọng là tu sĩ nuôi dưỡng tinh thần vô vị lợi trong những sáng kiến hoạt động tông đồ nhằm không chú trọng vào bản thân nhưng là vào Đức Kitô, nhằm có khả năng chuyn đổi từ một công việc tông đồ hấp dẫn sang một công việc khác kém hấp dẫn nhưng hữu ích hơn, và sẵn sàng hạ ḿnh để nhường chổ cho những người khác, ngay cả khi họ có ít khả năng hơn ḿnh.

 

142.          Con người của thời đại ḿnh, tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời, phó tế hay tân chức linh mục muốn lưu tâm về thế giới hôm nay, những biến đổi, những nhu cầu lớn nhất của nó, những quan tâm của những tín hữu, và những thảm kịch ảnh hưởng tới họ.

 

143.          Được mời gọi trở thành con người của những mối tương giao, tu sĩ cần biết như thế nào phải thiết lập những mối quan hệ với những con người, những nhóm văn hóa, tui tác, và giới tính khác nhau. Người anh em phải bày tỏ thái độ tôn trọng đới vơi người khiêm tốn nhất và đón tiếp người bị tn thương, người bị thử thách, người bị sa sút tinh thần. Giữa ḷng của những khác biệt, những căng thẳng không th tránh khỏi, người anh em được mời gọi trở thành con người của sự hiệp thông, tha thứ và b́nh an trong những lời nói cũng như trong những thái độ.

 

144.          Tu sĩ quan tâm làm việc nhóm với các linh mục, nữ tu, và giáo dân.

 

145.          Tu sĩ không bao giờ được quên: “Loan báo Đức Giêsu Kitô không th tách rời việc thăng tiến con người trong sự công bằng, t́nh yêu và hiệp nhất[39].”

 

 

Cách thực hiện

 

Phó tế hay tân linh mục

 

146.          Được gọi vào những tác vụ truyền chức đối với tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời là một ân huệ của Thiên Chúa và là một lời mời gọi phục vụ Giáo hội và Nước Trời.

 

147.          Tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời được mời gọi trở thành phó tế hay linh mục phải chấp nhận được canh tân bởi sứ mạng mới này mà Giáo hội giao phó cho ḿnh làm thừa tác viên. Người anh em phải ḥa nhập sứ vụ của Giáo hội này vào trong đời sống tu như hai chiều kích của một ơn gọi duy nhất nhằm đức tin, sự cầu nguyện và tâm hồn tông đồ đượ ghi dấu một cách sâu đậm.

 

148.          Người anh em phải được đào tạo về việc lắng nghe và hướng dẫn.

 

149.          Tu sĩ phó tế hay tân linh mục sống tác vụ này trong ḷng một cộng đoàn hoạt động tông đồ nhằm phục vụ Giáo hội và Nước Trời. Người anh em được linh hứng bởi đặc sủng của ḍng Mẹ Về Trời ăn sâu vào trong đời sống và công việc mục vụ của ḿnh.

 

150.          Hoạt động mục vụ của tu sĩ sẽ phải lưu ư tới việc đào tạo nghiệp vụ của ḿnh trước đây.

 

 

Cộng đoàn hoạt động tông đồ

 

151.          Cộng đoàn đón nhận tu sĩ cho việc thực tập phó tế phải giúp đỡ hướng dẫn người anh em hết ḷng. Để đảm bảo công việc này, cộng đoàn phải sắp xếp ba cuộc họp thêm vào chương tŕnh thường lệ: cuộc họp lần thứ nhất nhằm đón tiếp phó tế và giải quyết mọi câu hỏi liên quan tới người anh em, lần thứ hai vào giữa kỳ thực tập nhằm đánh giá và đề nghị những cải thiện, lần thứ ba, vào cuối kỳ thực tập, nhằm làm báo cáo kèm theo đơn thỉnh cầu của người anh em cho tác vụ linh mục.

 

152.          Việc hướng dẫn như vậy cũng sẽ được lên chương tŕnh cho những năm đầu của tác vụ linh mục.

 

153.          V́ thế cần chăm nom bầu khí cộng đoàn và hoạt động tông đồ trong những năm đầu mang tính quyết định đối với việc mục vụ tương lai của người anh em. Để thực hiện điều đó, cần phải:

 

-         khuyến khích sự học hỏi và suy tư đều đặn và có hệ thống về tác vụ của tu sĩ linh mục;

-         nuôi dưỡng việc đọc lại đời sống theo ánh sáng của Thánh Kinh;

-         ủng hộ việc chia sẽ đích thực nhằm việc h́nh thành những cộng đoàn hoạt động tông đồ thực sự được dễ dàng;

-         mời gọi đi vào đời sống cầu nguyện được nuôi dưỡng từ công việc tông đồ và việc tông đồ được bổ dưỡng và nâng đỡ qua sự cầu nguyện cá nhân và cộng đoàn.

 

Trong phạm vi có thể, tân chức phải có thể hưởng một sự cố định trong suốt những năm đầu mục vụ.

 

154.          Sống trong tinh thần này và với những đ̣i hỏi như trên của cộng đ̣an, tu sĩ phó tế hay tân linh mục ḥa nhập vào trong Giáo hội và trởi thành đầy tớ năng động của Nước Trời.

 

 

Việc hướng dẫn

 

155.          Suốt thời gian của tác vụ phó tế, người anh em phải được hướng dẫn bởi một trong những tu sĩ trong cộng đoàn của ḿnh được chỉ định bởi Bề trên Giám tỉnh.

 

Cộng đoàn tiếp nhận phó tế và tu sĩ được chỉ định hướng dẫn người anh em này phải được giúp đỡ trong sứ mạng bởi phụ trách đào tạo của Tỉnh ḍng, bằng cách thăm viếng, quan tâm tới những khó khăn của họ và khuyến khích những cuộc gặp gỡ cũng như những hợp tác[40].

 

156.          Việc hướng dẫn này không chỉ giới hạn ở những khía cạnh mang tính kỷ thuật nhất của tác vụ phó tế. Nó nhằm khuyến khích người anh em xem xét cách sống, những thái độ bộc phát hay được suy nghĩ, những mối liên hệ. Nó phải thúc dục liên lỉ người anh em nhằm cân bằng đời sống tu và tác vụ của ḿnh và trở thành bạn đồng hành chân thực của Giáo hội địa phương.

 

157.          Tân linh mục cũng phải được hướng dẫn tại nơi mục vụ bởi một tu sĩ niên trưởng, được chỉ định bởi Bề trên Giám tỉnh, người sẽ giúp người anh em này đánh giá cộng việc mục vụ và vượt qua những khó khăn của ḿnh.

 

158.          Trong những năm đầu, các cuộc gặp gỡ cho các tân chức ở cấp độ Tỉnh ḍng hay lục địa sẽ phải được t chức, dưới sự hướng dẫn của một vị mục tử dày kinh nghiệm và là nhà sư phạm giỏi, nhằm trao đổi những kinh nghiệm cũng như những câu hỏi, và nhằm đem lư thuyết vào thực hành.

 

 

Chương tŕnh cho phó tế

 

159.          Chương tŕnh thực tập phó tế phải do ứng sinh và tu sĩ sẽ hướng dẫn người anh em lập ra. Chương tŕnh này sẽ cần được chấp thuận bởi Bề trên Giám tỉnh và được gởi cho Bề trên Tổng quyền.

 

160.          Việc đánh giá về kỳ thực tập phó tế và đơn xin truyền chức linh mục chỉ được thực hiện sau khi người anh em đă hoàn thành sáu tháng thực hành tác vụ phó tế theo giáo luật.

 

161.          Chương tŕnh cần ghi rơ nơi, thời gian thực tập phó tế và tên của tu sĩ hướng dẫn phó tế. Nó phải ghi rơ những ǵ được mong đợi nơi ứng sinh: mục tiêu đạt tới, những phương tiện cho trước, những thái độ cần phát trin, những trách nhiệm tông đồ được trao cho phó tế và những đánh giá trong thời gian thực tập phó tế.

 

 

162.          Lưu ư tới những tập tục địa phương, Bề trên Giám tỉnh sẽ chính thức báo cáo cho giám mục địa phương nơi người anh em phó tế sẽ thực hành tác vụ của ḿnh.

 

 

Chương tŕnh cho tân linh mục

 

163.          Tham khảo ư kiến với cộng đoàn và tu sĩ hướng dẫn ḿnh, tân linh mục phải thiết lập chương tŕnh về những hoạt động tông đồ cho những năm đầu thừa tác vụ của ḿnh.

 

164.          Chương tŕnh này phải được chấp thuận bởi Bề trên Giám tỉnh. Cần ghi rơ những trách nhiệm về công việc tông đồ mà người anh em sẽ đảm nhận cũng như những đánh giá sẽ được thực hiện trong những năm đầu của thừa tác vụ linh mục.

 

165.          Bề trên Giám tỉnh sẽ chính thức tŕnh bày sứ mạng của tu sĩ linh mục cho giám mục nơi mà linh mục sẽ thực hành thừa tác vụ.

 

 

Những yêu cầu của Hội ḍng và Giáo hội

 

 

Đối vơi việc truyền chức phó tế

 

Việc chấp nhận

 

166.          Bề trên Tng quyền là người chịu trách nhiệm chấp nhận một tu sĩ vào tác vụ phó tế[41]. Để phán quyết được sáng suốt Bề trên Giám tỉnh sẽ gởi cho ngài toàn bộ hồ sơ được định sẵn nhằm mục đích trên[42]. Ngoài ư kiến của cá nhân, của ban cố vấn, Bề trên Giám tỉnh c̣n đ̣i hỏi báo cáo của cộng đoàn, phụ trách đào tạo của Tỉnh ḍng. Phụ trách đào tạo phải tập hợp ư kiến của Ban đào tạo.

 

167.          Truyền chức phó tế sẽ được thực hiện sau khi một tu sĩ đă hoàn thành chương tŕnh học chun bị cho các tác vụ truyền chức và sau vĩnh thệ. Đó là hai lời cam kết khác nhau và quan trọng cho đời sống của một tu sĩ. Trong mức độ có th chúng ta sẽ cần lưu ư việc truyền chức phó tế được thực hiện sau vĩnh thệ một thời gian đủ nhằm cho phép tu sĩ sống đầy đủ mỗi cam kết này một cách rơ rệt.

 

 

Những yêu cầu của giáo luật

 

168.          Ứng sinh cần:

 

-         đủ hai mươi ba tui (Giáo luật 1031 §1);

-         đă tuyên khấn trọn đời (Giáo luật 1037);

-         đă nhận tác vụ đọc sách và giúp lễ. Cần tối thiểu sáu tháng từ ngày nhận tác vụ giúp lễ (Giáo luật 1035 §1-2);

-         đă nộp đơn với ngày tháng và chữ kư bằng tay và tuyên bố một cách chính thức về cam kết một cách tự động và tự do và măi măi, ư thức đầy đủ về những đ̣i buộc mà việc truyền chức đ̣i hỏi (Giáo luật 1028 và 1036).

 

 

Đối với việc truyền chức linh mục

 

Việc chấp nhận

 

169.          Như trong trường hợp của tác vụ phó tế, Bề trên Giám tỉnh phải gởi cho Bề trên Tng quyền toàn bộ hồ sơ được định sẵn để giúp ngài trong việc phán quyết của ḿnh[43]. Ngoài ư kiến của cá nhân, của ban cố vấn, Bề trên Giám tỉnh cũng sẽ yêu cầu báo cáo của cộng đoàn, của tu sĩ mà Giám tỉnh đă chỉ định để hướng dẫn phó tế và của Phụ trách đào tạo của Tỉnh ḍng, cũng như lời chứng của các linh mục và giáo dân biết đến tu sĩ phó tế.

 

 

Những yêu cầu của giáo luật

 

170.          Ứng sinh cần hội đủ:

 

-         đơn xin với ngày tháng và chữ kư bằng tay (Giáo luật 1036);

-         đủ hai mươi lăm tui (Giáo luật 1031 §1);

-         hoàn toàn tự do (Giáo luật 1026);

-         ư thức đầy đủ những đ̣i buộc mà tác vụ linh mục đ̣i hỏi (Giáo luật 1028);

-         đă thực hành tác vụ phó tế tối thiu là sáu tháng (Giáo luật 1031 §1- 1032 §2).

 

 

 

F-  ĐÀO TẠO THƯỜNG XUYÊN[44]

 

 

Xác tín

 

171.          Đào tạo thường xuyên thuộc về trách nhiệm của mỗi tu sĩ và của mỗi cộng đoàn. Mỗi tu sĩ được mời gọi đưa ra sáng kiến và tận dụng một cách đầy đủ những cơ hội đào tạo mà Hội ḍng và Giáo hội địa phương tạo cho đề nghị.

 

Những những cấp bậc thuộc giám tỉnh sẽ thôi thúc anh em tiếp tục việc đào tạo của ḿnh. Các cấp bậc này cần lưu ư tơi các nhu cầu của họ và của Tỉnh ḍng.

 

172.          Đào tạo thường xuyên bao hàm mọi chiều kích của con người anh em ḍng Mẹ Về Trời: con người của niềm tin, tu sĩ sống trong cộng đoàn hoạt động tông đồ, tông đồ cho Nước trời trị đến.

 

173.          Anh em ḍng Mẹ Về Trời muốn là con người của thời đại. Tu sĩ không thsống tách biệt với những sự kiện đánh dấu sự tiến hóa của nhân loại: toàn cầu hóa, sự bùng nổ thông tin đại chúng, thách đố của khoa học di truyền, nhận định mới của Giáo hội, sự phát trin chủ nghĩa cá nhân, v.v. Tu sĩ được kêu gọi trở thành tông đồ trong một thế giới biến chuyn một cách nhanh chóng.

 

174.          “Một Hội ḍng mà trong đó chúng ta không c̣n lưu tâm tới việc học hỏi sẽ chấm dất sự hiện hữu của nó[45].” Tương lai của Hội ḍng tùy thuộc một phần vào việc đào tạo thường xuyên. Đó không phải là một sự xa xỉ, nhưng là một bn phận. Việc đào tạo thường xuyênnguồn đảm bảo của việc đào tạo tốt cho những người trẻ mà chúng ta sẽ thâu nhận, nó định h́nh cho đào tạo ban đầu của họ.

 

175.          Đọc lại đời sống, chia sẽ cộng đoàn về đời sống của mỗi tu sĩ, đọc những bản văn chính thức của Hội ḍng là những điều ưu tiên cho việc đào tạo thường xuyên.

 

 

Mục đích

 

176.          Đào tạo thường xuyên quan tâm tới việc hướng dẫn cho mỗi tu sĩ qua những biến chuyn của cuộc sống và sự hoà hợp con người của người anh em. Nó phải khuyến khích việc hóan cải thường ngày. Nó nhắm tới việc thực tại hóa đặc sủng của ḍng Mẹ Về Trời mà Chúa Thánh Thần đă ban cho Giáo hội và thế giới. Nó tránh thái độ tuyệt đối hóa quá khứ và khích lệ tăng trưởng trong sự trung thành mang tính sáng tạo[46].

 

 

Cách thực hiện

 

Nội dung

 

177.          Việc đào tạo thường xuyên lưu tâm tới linh đạo, đời sống Giáo hội, học hỏi tín lư và nghiệp vụ, đặc sủng của Hội ḍng.

 

Linh đạo

 

178.          Đây là một số trong những phương tiện khuyến khích đào sâu đời sống tâm linh: những cuộc tĩnh tâm (thuộc ḍng Mẹ Về Trời, thường niên, augustinô, cộng đoàn), hướng dẫn thiêng liêng, đọc và suy gẫm sách thiêng liêng (lectio divina), kinh nhật tụng, những bài viết của Cha d’Alzon.

 

Đời sống của Giáo hội

 

179.          Trung thành với đặc sủng của Đấng sáng lập, chúng ta được mời gọi canh tân thường xuyên những phương pháp và nội dung của những hoạt động tông đồ nhằm đáp ứng những lời mời gọi của sứ mạng truyền giáo của Giáo hội ngày hôm nay. Việc tham gia vào những uỷ ban thuộc ḍng Mẹ Về Trời như công lư và ḥa b́nh, và những chương tŕnh đào tạo của giáo phận thuộc về những n lực về đào tạo thường xuyên.

 

Đào tạo tín lư và chuyên nghiệp

 

180.          Cập nhật về tín lư và chuyên nghiệp bao gồm việc đào sâu kinh thánh và thần học, học hỏi những văn kiện tào thánh, hiu biết tốt nhất về các nền văn hóa, về những nơi mà ḿnh đang sống và làm việc, thm định lại năng lực chuyên nghiệp và kỷ thuật nếu có[47]. RIAD (những cuộc gặp gỡ quốc tế của ḍng Mẹ Về Trời cho vấn đề đối thoại) và những khóa học, những trao đổi quốc tế là những công cụ thuộc ḍng Mẹ Về Trời cho việc đào tạo thường xuyên.

 

Đào sâu sự hiểu biết về đặc sủng của ḍng Mẹ Về Trời

 

181.          “Chỉ khi nghiên cứu tư tưởng đă tŕ trong việc sáng lập ḍng, các con mới có thể tiến lên trong sự ḥan thiện mà các con được mời gọi đến[48].” Các kỳ hội họp, các khoá đào tạo, những kỳ tỉnh tâm là những cuộc gặp gỡ cho phép việc đào sâu về đặc sủng của Hội ḍng. Việc đọc những tài liệu chính thức của Hội ḍng cũng góp phần vào mục đích trên.

 

 

Những thời gian quan trọng của việc đào tạo thường xuyên

 

182.          Những gia đọan này phải được xem một cách uyn chuyển. Chúng được kết hợp một cách cụ thể với những giai đọan có thể được nảy sinh từ điều không được tiên liệu trước bởi Thánh thần. Đặc biệt chúng ta giữ những giai đoạn mang tính ư nghĩa sau:

 

-         Bước chuyn từ đào tạo ban đầu tới kinh nghiệm sống tự lập đầu tiên, lúc mà một tu sĩ phải khám phá ra một đường mới nhằm sống trung thành với Thiên Chúa;

-         giai đoạn khoảng mời năm sau khấn trọn khi xuất hiện nguy cơ sống theo thói quen, mất sự nhiệt huyết tông đồ. Vào thời điểm đó, tu sĩ cần lấy một thời gian dài tạo khoảng cách giữa ḿnh với đời sống thường nhật nhằm đọc lại cuộc sống của ḿnh theo ánh sáng Tin mừng và tư tưởng của Đấng sáng lập;

-         sự chín muồi đầy đủ thường chứa đựng nguy cơ phát trin chủ nghĩa cá nhân, đặc biệt nơi những anh em với tính khí nghiêm khắc và hiệu quả;

-         việc kêu gọi cho những trách nhiệm mới cũng sẽ là cơ hội nhằm bổ túc đào tạo;

-         những lúc khủng khoảng lớn, có th xảy ra bất cứ lúc nào trong cuộc sống do những yếu tố ngoại cảnh như thay đổi vị trí, công việc, thất bại, sự hiểu lầm, cảm giác bị loại bỏ ra ngoài, cũng như do những yếu tố cá nhân như bệnh tật, sự khô cứng về đời sống tâm linh, những cám dỗ, khủng hoảng niềm tin hay t́nh cảm, hay cùng phải đối phó với hai vấn đề cùng một lúc. Trong những hoàn cảnh này, tu sĩ cần được giúp đỡ nhằm vượt qua những khủng hoảng trong niềm tin.

-         giai đoạn từng bước rút lui khỏi đời sống hoạt động. Thời gian này là may mắn duy nhất cho phép thấm nhuần kinh nghiệm Phục sinh của Chúa, đến độ mong muốn được chết “với Đức Kitô”, phù hợp với lời khấn từ ban đầu là từ bỏ để sống đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời.

 

 

G-TRỞ THÀNH ĐẶC TRÁCH ĐÀO TẠO

 

 

Xác tín

 

183.          Ḍng Mẹ Về Trời cần đào tạo những đặc trách đào tạo. Đ̣i buộc này sinh ra từ việc xem trọng ân huệ của Thiên Chúa , Đấng kêu gọi những con người phục vụ Người trong ḍng Mẹ Về Trời. Tương lai những cộng đoàn của chúng ta và sự trung thành với đặc sủng của Hội ḍng tùy thuộc vào việc đào luyện những thành viên, và v́ vậy nó tùy thuộc vào việc chun bị những đặc trách đào tạo. Đào tạo là một sứ mạng, một tác vụ, được ăn sâu trong đặc sủng của chúng ta. Trở thành đặc trách đào tạo, nơi chúng ta là những anh em ḍng Mẹ Về Trời, bắt nguồn từ những đặc tính nơi chúng ta là những: tín hữu, tông đồ, đồ đệ của Cha D’Alzon, của thánh Augustinô.

 

 

Được đào tạo cho sứ mạng của việc đào tạo

 

184.          Cần thiết phải có thời gian để chuẩn bị cho việc đào tạo trở thành đặc trách đào tạo. Điều mong muốn là tu sĩ được gọi làm sứ mạng đào tạo theo một chương tŕnh đào tạo có hệ thống, đặc biệt trong lănh vực linh đạo, thần học về đời tu, tâm lư, sư phạm, nhân chủng học, cũng như văn hóa của những anh em mà người anh em này sẽ hướng dẫn, và những khí cạnh khác nhau của đời sống và linh đạo của anh em ḍng Mẹ Về Trời.

 

185.          Việc đào tạo đ̣i hỏi một sự ḥa nhập tường bước vào môi trường: không ǵ có th thay thế kinh nghiệm.

 

186.          Sứ mạng của đặc trách đào tạo đ̣i hỏi phải liên tục đào sâu qua việc đọc sách, những khóa đào tạo, việc trao đổi với những đặc trách đào tạo khác và những tu sĩ trong thời gian đào tạo, bằng việc tham gia những hoạt động đào tạo được tổ chức qua h́nh thức những cuộc Hội thảo của các tu sĩ, những khoá thực tập trong những cộng đoàn đào tạo khác v.v.

 

 

Cách thực hiện

 

187.          Đặc trách đào tạo cần có tầm nh́n rơ về những ǵ Thiên Chúa mời gọi ḍng Mẹ Về Trời, về những ǵ ḍng Mẹ Về Trời t́m cách sống trong Tỉnh ḍng, về mục tiêu của đào tạo thuộc ḍng Mẹ Về Trời.

 

188.          Đặc trách đào tạo được mời gọi chia sẽ cái nh́n này qua đời sống, lời nói, đặc biệt qua việc hướng dẫn những anh em được tín thác cho ḿnh. Người anh em phải tận tâm truyền lại những xác tín của ḿnh với niềm say mê và vô vị lợi.

 

189.          Nhằm đáp ứng sứ mạng đào tạo, đặc trách đào tạo phải biết những cội nguồn của đời sống tu, tham khảo thánh Augustinô và Cha D’Alzon, am hiu lịch sử gia đ́nh tu sĩ của ḍng Mẹ Về Trời, trởi thành người thừa kế và đấng sáng lập.

 

190.          Nhằm thực hiện điều đó đặc trách đào tạo sẽ phải:

 

-         biết và gần gũi với những anh em mà ḿnh đang hướng dẫn, dám yêu mến họ;

-         đánh giá, sữa chữa, nếu cần thiết thay đổi chương tŕnh đào tạo;

-         cố gắng bổ sung việc đào tạo của chính ḿnh nhằm đáp ứng tốt hơn những đ̣i hỏi của sứ mạng;

-         t́m cách được hướng dẫn, đối chiếu và đánh giá. Chính cộng đoàn, những anh em đă được đào tạo, uỷ ban đào tạo, vị linh hướng sẽ giúp ḿnh hoàn thành sứ mạng tốt hơn.

 

191.          Đặc trách đào tạo phải biết chia sẽ kinh nghiệm, những nghi vấn, xác tín của ḿnh, và những phương pháp mà ḿnh sử dụng với những vị các cấp đào tạo khác nhau qua những kỳ gặp gỡ lục địa, với những nhóm tổ chức Hội thảo của những tu sĩ trong nước.

 

192.          Đặc trách đào tạo phải biết quan tâm tất cả những anh em của Tỉnh ḍng đang trong thời gian đào tạo. Đặc trách đào tạo phải mời một số trong những người anh em này cộng tác với ḿnh, không chỉ qua những môn dạy, nhưng chia sẽ những kinh nghiệm sống của họ và hướng dẫn họ về đời sống tâm linh trong suốt thời gian đào tạo.

 

193.          Con người của niềm tin và con người của thời đại, đặc trách đào tạo cần ôn lại với những anh em trong thời gian đào tạo về thực tại của đất nước, những sự kiện của Giáo hội và thực trạng cụ thể nơi được sống quá tŕnh đào tạo. Đóng góp của những giáo dân trong lănh vực này rất quư.

 

 

 

NHỮNG TRANG THÔNG TIN

 

 

Những trang thông tin này nhằm gởi tới những ứng sinh và những tu sĩ theo từng giai đoạn đào tạo.

 

 

 

TIỀN TẬP VIỆN

 

 

- Lạy thầy, thầy ở đâu?

- Hăy đến và xem.

(Gioan 1, 38-39)

 

Bạn vừa bước qua ngưỡng cửa của một cộng đoàn anh em ḍng Mẹ Về Trời. Thời gian đào tạo đang ở phía trước bạn nhằm giúp bạn xác nhận tiếng gọi sống đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời mà bạn đă đón nhận. Thời gian này cũng giúp bạn chun bị gian đoạn tập viện.

 

Trong suốt thời gian này, bạn theo đuổi con đường trưởng thành sẽ cho bạn hiu hơn về chính ḿnh, con đường mà bạn đă khởi hành cùng với tu sĩ hướng dẫn bạn trong suốt thời gian trước khi bạn được chấp nhận vào tiền tập viện.

 

Thời gian tiền tập viện đặt trọng tâm vào việc phân định những động lực và những thái độ của bạn đă định h́nh ước muốn đời sống tu sĩ.Trước khi tuyên khấn đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời, điều rất quan trọng là xem xét sự vững chắc ước muốn theo Đức Kitô và thử nghiệm khả năng sống đời sống cộng đoàn anh em ḍng Mẹ Về Trời. Đời sống cộng đoàn là phương tiện và là nơi tốt nhất cho việc đào tạo. Công việc tông đồ của bạn chứng tỏ ước muốn phục vụ Thiên Chúa và con người trong ḷng Giáo hội.

 

Vào cuối giai đoạn này, bạn sẽ phải có khả năng, với tất cả sự tự do và tinh thần trách nhiệm, xin vào tập viện hay không. Cộng đoàn tiếp đón bạn và đặc trách đào tạo đă hướng dẫn bạn sẽ cho ư kiến liên quan tới khả năng của bạn sống đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời.

 

 

 

 

TẬP VIỆN

 

 

Tập viện là thời gian biến đổi và tập sinh sẽ phải chỉ có một ước muốn là biến đổi ḿnh trong Đức Giêsu Kitô. (Emmanuel d’Alzon, ES, 263- 264).

 

 

Là một tập sinh, bạn đang sống một giai đoạn chuyn tiếp giữa đời sống của bạn trước đó và đời sống của một tu sĩ. Vị thế này kéo theo sự mất tạm thời những điểm tựa có th làm cho bạn cảm thấy ḿnh mỏng ḍn. Hăy tận dụng thời gian ưu đăi này nhằm đào sâu, phân định và xác nhận tiếng gọi sống đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời. Với sự hướng dẫn của Giáo tập, bạn sẽ tiến sâu hơn về kinh nghiệm Thiên Chúa, sự hiu biết và t́nh yêu đối với Đức Giêsu Kitô một cách mănh liệt hơn và theo bước Người là người nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục để loan báo Nước Thiên Chúa. Bạn sẽ được mời gọi làm cho đời sống cộng đoàn có ư nghĩa hơn qua món quà của bản thân cho Đức Kitô trong việc phục vụ anh em.

 

Qua việc tường bước tu luyện đời sống tu sĩ, đời sống tu sĩ của ḍng Mẹ Về Trời, qua việc ư thức tốt hơn về thực tại của Giáo hội và thế giới ḿnh đang sống, bạn sẽ được dẫn nhập vào đời sống hoạt động tông đồ và việc loan báo Nước Trời.

 

 

 

 

HẬU TẬP VIỆN

 

 

Thiên Chúa làm cho chúng ta tự do hơn nếu như chúng ta biết làm triển nở nó một cách hoàn hảo hơn trong chúng ta. (Emmanuel d’Alzon, ES, 153).

 

Sau tập viện, thầy sẽ được mời gọi sống một giai đoạn dài hậu tập viện. Đó là thời gian bén rễ và trin nở tất cả những ǵ mà thầy đă khám phá về đời sống tu sĩ. Nó sẽ dẫn đưa thầy, nhờ việc ḥa nhập một cách đầy đủ hơn vào đời sống và sứ mạng của Hội ḍng, tới vĩnh thệ trong ḍng Mẹ Về Trời.

 

Hậu tập viện là thời gian tu luyện về sự trung thành, kiên định và nhẫn nại. Đó cũng là thời gian mà thầy sẽ đào sâu tinh thần và ơn gọi của cộng đoàn hoạt động tông đồ.

 

Giai đoạn này sẽ chun bị cho thầy về sứ mạng tương lai, nếu như đó là trường hợp của thầy, trong thừa tác vụ truyền chức.

 

 

 

ĐÀO TẠO CHO CÁC THỪA TÁC VỤ TRUYỀN CHỨC

 

 

Xin Thiên Chúa hoàn tất những ǵ mà Ngài đă khởi sự. (Nghi thức Truyền chức)

 

 

Sau ngày truyền chức phó tế hay linh mục, thầy sẽ có cùng một tước hiệu là thừa tác viên như những bậc đàn anh. Tuy nhiên thầy phải trở nên điều đó. Thầy sẽ được hướng dẫn bởi một vị niên trưởng. Điều quan trọng là thầy biết để được định h́nh lại từ sứ mạng mới của thầy, được trao phó cho thầy bởi Đức Kitô và Giáo hội. Điều thiết yếu là thầy học trở thành người mục tử qua việc học hỏi thực tế và lĩnh hội sự nhạy cảm về mục vụ. Thầy sẽ phải ḥa nhập thừa tác vụ của giáo hội này vào trong đời sống tu sĩ ngỏ hầu đức tin, việc cầu nguyện và sự nhạy cảm về hoạt động tông đồ của thầy được đánh dấu một cách rỏ nét và sâu sắc. Như vậy, ngày lại ngày thầy sẽ trở thành một tông đồ theo tâm nguyện của Đức Kitô và tinh thần của ḍng Mẹ Về Trời.

 

 

 

ĐÀO TẠO THƯỜNG XUYÊN

 

 

Trong một Hội ḍng mà chúng ta không c̣n học hỏi, Hội ḍng đó không c̣n lư do tồn tại. (Emmanuel d’Alzon, ES, 208)

 

 

Anh em hiu rằng vĩnh thệ hay truyền chức không đánh dấu chấm hết việc đào tạo của anh em. Những kinh nghiệm khác nhau về đời sống, công việc mục vụ của anh em sẽ mở cho anh em những viễn cảnh mới. Bây giờ là thời điểm mà anh em tiếp tục tự đào tạo như lời nhắc nhủ của Cha d’Alzon. Việc đào tạo thường xuyên không phải là một sự xa xỉ, nhưng là một sự đ̣i hỏi về sự trung thành với sứ mạng mà anh em đă lănh nhận. Như vậy, chính anh em từng bước sẽ trở thành những đặc trách đào tạo cho những thế hệ tiếp theo.

 

 

 

BẢNG CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ

 

 

Những khuông đánh giá sau đây đă được thiết lập cho việc đánh giá một ứng sinh hay một tu sĩ trong thời gian đào tạo theo từng giai đoạn khác nhau.

 

Tuy nhiên sự tiện dụng của chúng cũng được mở rộng. Chúng cũng có th  được sử dụng như những phương tiện hướng dẫn giúp những ứng sinh, tu sĩ trong thời gian đào tạo, đặc trách đào tạo, và cộng đoàn anh em ḍng Mẹ Về Trời đọc lại đời sống của ḿnh. Hy vọng rằng chúng sẽ không chỉ được sử dụng vào những lúc làm bản báo cáo, nhưng nhằm thiết lập chương tŕnh và những mục tiêu đào tạo cho ứng sinh, tập sinh hay một tu sĩ trong dịp tu nghị cộng đoàn hoặc bắt đầu của một năm.

 

Mỗi Tỉnh ḍng có th thích nghi những khuông đánh giá này theo hoàn cảnh cụ thể.

 

 

 

ĐÁNH GIÁ MỘT THỈNH SINH NHẰM VIỆC GIA NHẬP TẬP VIỆN

 

 

1-   Sự phân định và hướng dẫn

 

-         Ứng sinh có thường xuyên gặp gỡ đặc trách đào tạo và vị linh hướng của ḿnh không?

-         Ứng sinh đă chun bị chương tŕnh sống của ḿnh? Ứng sinh đă thực hiện điều đó bằng việc đọc lại hành tŕnh của đời sống ḿnh?

-         Ứng sinh hiu biết như thế nào về ḍng Mẹ Về Trời? Những khía cạnh nào của tinh thần ḍng Mẹ Về Trời đă thúc đẩy ứng sinh tiến bước?

-         Những quyết định của ứng sinh hợp lư và tự do?

 

2-   Sự trưởng thành về nhân bản

 

-         Ứng sinh có nhận thức và chấp nhận ḿnh một cách đầy đủ?

-         Ứng sinh có khả năng tự thích ứng? Cởi mở với người khác?

-         Ứng sinh cho thấy sự cân bằng về tâm lư và t́nh cảm? trao đổi về đời sống t́nh cảm? khả năng làm chủ t́nh dục trong mối liên hệ với chính ḿnh và với người khác? khả năng yêu?

-         Ứng sinh có nhạy cảm về tính tập th? lịch sự, sạch sẽ và ngăn nắp?

-         Ứng sinh cho thấy đang có những đặc tính của anh em ḍng Mẹ Về Trời: trung thực, thng thắn, thân thiện, giản dị, sáng kiến, nhiệt thành, quảng đại và vô vị lợi?

-         Ứng sinh liên hệ như thế nào với gia đ́nh? quan tâm giữ mối liên hệ với họ? có tự do đủ trong mối tương quan với gia đ́nh?

 

3-   Niềm tin vào Đức Kitô

 

-         Ứng sinh có mong muốn t́m kiếm, yêu mến và theo Đức Giêsu Kitô một cách trung thực?

-         Ứng sinh có hạnh phúc và b́nh an trong việc tham dự vào đời sống của Giáo hội?

-         Ứng sinh có đời sống cầu nguyện, có khả năng thinh lặng, yêu mến Lời Chúa và suy gẫm Lời Chúa?

-         Ứng sinh tham dự với xác tính giờ cầu nguyện của cộng đoàn và Bí tích Thánh thể?

-         Ứng sinh có sống Bí tích Hoà giải?

 

4-   Đời sống cộng đoàn

 

 

-         Ứng sinh tham gia vào đời sống cộng đoàn như thế nào?

-         Ứng sinh có cởi mỡ đối thoại, đón nhận người khác như anh em ḿnh cùng việc hiu biết về văn hóa và nguồn gốc của người anh em?

-         Ứng sinh có tinh thần phục vụ, khả năng kiếm sống, đóng góp vào những công việc vật chất của cộng đoàn, cùng đồng trách nhiệm trong việc sử dụng tài sản chung, trao lại tài khoản về những món quà đă nhận được?

-         Ứng sinh có đầu tư vào những chương tŕnh của cộng đoàn?

 

5-   T́nh yêu và sự phục vụ Giáo hội

 

-         Cộng đoàn có giúp ứng sinh đi vào đời sống và sứ mạng của giáo hội địa phương?

-         Ứng sinh tham gia vào lănh vực hoạt động tông đồ nào? Ứng sinh đă đón nhận sứ mạng này như thế nào? Ứng sinh có trung thành với giao ước của ḿnh?

-         Ứng sinh có rung động trước những điều kiện sống của những người khác, có tinh thần cỡi mở và ḷng trắc ẩn?

 

Kết luận

 

-         Ứng sinh có tiến trin một cách tích cực trong giai đoạn thỉnh sinh? Trong những lănh vực nào?

-         Ứng sinh có sẵn sàng sống giai đoạn tập viện?

-         Những điểm nào cần lưu ư ứng sinh và đặc trách đào tạo nhằm giúp ứng sinh trưởng thành thành hơn?

 

 

 

 

ĐÁNH GIÁ MỘT TẬP SINH

NHẰM VIỆC TUYÊN KHẤN ĐỜI SỐNG TU SĨ

 

 

Điều cần thiết trước khi đánh giá là trở lại những lưu ư trong phần kết luận về ứng sinh khi giai đoạn thỉnh sinh.

 

Đâu là là sự tiến trin về nhân bản của tập sinh: sự trưởng thành tâm sinh lư, sự tự do nội tâm, những mối liên hệ gia đ́nh, sự nhạy cảm về những trách nhiệm...?

 

 

1-   Con người của niềm tin

 

-         Đức Kitô có là trung tâm của đời sống ứng sinh? Ứng sinh có khả năng nhận ra Người trong anh em ḿnh, trong người nghèo và trong mọi người?

-         Ứng sinh có nuôi dưỡng đức tin của ḿnh bằng Lời Chúa, Bí tích Thánh th, Bí tích Ḥa giải?

-         Ứng sinh tham dự một cách tích cực vào đời cầu nguyện của cộng đoàn, chia sẽ đức tin của ḿnh?

-         Ứng sinh có sáng kiến và sáng tạo trong việc hướng dẫn phụng vụ?

-         Phẩm chất và sự siêng năng cầu nguyện cá nhân của ứng sinh như thế nào? chúng được biu lộ trong việc rèn luyện cá nhân, trong khả năng xét ḿnh, trong kinh nghiệm về Thiên Chúa qua những gặp gỡ không tính toán với Ngài?

-         Đâu là t́nh yêu của ứng sinh đối với Mẹ Maria và Giáo hội? Ứng sinh có thường xuyên đọc Cha d’Alzon và Thánh Augustinô?

 

2-   Tu sĩ sống trong cộng đoàn hoạt động tông đồ

 

-         Ứng sinh có cho thấy khả năng sống đời sống cộng đoàn qua sự chấp nhận tính đa dạng trong tính hiệp nhất?

-         Ứng sinh có tham gia vào việc xây dựng và làm sinh động cộng đoàn?

-         Ứng sinh có là người hiếu khách, đối thoại, hiệp thông, phục vụ? Ứng sinh biết từ bỏ ḿnh?

-         Ứng sinh có khả năng làm việc nhóm, tôn trọng những ư kiến của những người khác?

-         Ứng sinh có ư thức là ḿnh đang thuộc về một Hội ḍng quốc tế và điều đó có ư nghĩa ǵ?

 

3-   Theo Đức Kitô nghèo, khiết tịnh và tuân phục

 

Đức nghèo khó tu sĩ

 

-         Ứng sinh sống một cách đơn giản, tự do trong cái nh́n về của cải vật chất?

-         Ứng sinh có trao lại tài khoản những món quà và tiền nhận được?

-         Ứng sinh làm việc bao lâu trong thời gian biu của ḿnh?

-         Ứng sinh có nhạy cảm với những bất công xă hội, liên đới với người nghèo?

 

Đức khiết tịnh

 

-         Ứng sinh có tự phát, đơn giản, rơ ràng, nhưng kín đáo trong những mối quan hệ với anh em ḿnh và với mọi người mà ḿnh gặp gỡ?

-         Ứng sinh có tính khôi hài ngơ hầu vượt qua tốt hơn những căng thng và những thất bại?

-         Ứng sinh có quân b́nh về đời sống t́nh cảm, nói về những mối liên hệ với cùng phái hay khác phái?

-         Ứng sinh ư thức về hậu quả của việc chọn sống độc thân dâng hiến?

-         Ứng sinh có khản năng chấp nhận sự cô độc trong niền vui và b́nh an nội tâm?

 

Đức vâng lời tu sĩ

 

-         Ứng sinh hiu và sống như thế nào đức vâng lời? trong sự tùng phục? trong sự thống trị?

-         Đâu là vị trí mà ứng sinh dành cho việc hướng dẫn linh thiêng?

-         Ứng sinh biết chấp thuận những quyết định của cộng đoàn và xem như những quyết định của ḿnh, biết đặt những hoạt động của ḿnh dưới sự kiểm soát của anh em ḿnh?

-         Ứng sinh có sẵn sàng chấp nhận sứ mạng và những định hướng hoạt động tông đồ của cộng đoàn, Tỉnh ḍng và Hội ḍng?

-         Ứng sinh biết vượt qua những sở thích cá nhân cho những ưu tiên tông đồ của Tỉnh ḍng, Hội ḍng?

 

4-   Tông đồ ngơ hầu Nước Trời trị đến

 

-         Ứng sinh có nhạy cảm với những trăn trở của Thiên Chúa và của con người, sẵn sàng dâng hiến để mang Tin mừng cho thế giới? Ứng sinh cho thấy một cách cụ thể như thế nào về sự nhiệt huyết cho Nước Thiên Chúa?

-         Trong hoạt động tông đồ ứng sinh có chứng tỏ thái độ vô vị lợi, sáng kiến và sẵn sàng?

-         Ứng sinh có khả năng làm việc nhóm, chấp nhận những quan điểm, những cách làm việc khác ḿnh? Ứng sinh có đánh giá vai tṛ của giáo dân trong Giáo hội và thế giới?

-         Ứng sinh làm như thế nào để việc học, cầu nguyện và những mối liên hệ của ḿnh mang chiều kích tông đồ?

 

Kết luận

 

-         Tập sinh có trưởng thành trong thời gian tập viện? trong những lănh vực nào?

-         Ứng sinh sẵn sàng sống những lời khấn?

-         Những điểm nào cần lưu ư cho ứng sinh và đặc trách đào tạo nhằm giúp ứng sinh trưởng thành hơn?

 

 

 

 

ĐÁNH GIÁ MỘT TU SĨ NHẰM VIỆC TIẾN TỚI VĨNH KHẤN

 

 

Hàng năm, tu sĩ trong thời gian đào tạo phải tự đánh giá ḿnh. Cũng vậy, các đặc trách đào tạo và cộng đoàn sẽ phải xem xét và đánh giá tiến tŕnh trưởng thành của người anh em. Sau đây là một số điều đặc biệt cần lưu ư.

 

 

1-   Con người đầy niềm tin

 

-         Đức Kitô có là trung tâm của đời sống ứng sinh? Ứng sinh có khả năng nhận ra Người trong anh em ḿnh, trong người nghèo và trong mọi người?

-         Ứng sinh có nuôi dưỡng đức tin của ḿnh bằng Lời Chúa, Bí tích Thánh th, Bí tích Ḥa giải?

-         Ứng sinh tham dự một cách tích cực vào đời sống cầu nguyện của cộng đoàn, chia sẽ đức tin của ḿnh?

-         Ứng sinh có sáng kiến và sáng tạo trong việc hướng dẫn phụng vụ, trau dồi về tính thm mỹ và thánh thiêng trong phụng vụ?

-          Phẩm chất và sự siêng năng cầu nguyện cá nhân của ứng sinh như thế nào? Chúng được biểu lộ trong rèn luyện cá nhân, trong  khả năng xét ḿnh, trong kinh nghiệm về Thiên Chúa qua những gặp gỡ không tính toán với Ngài?

-         Đâu là t́nh yêu của ứng sinh đối với Mẹ Maria và Giáo hội? Ứng sinh có thường xuyên đọc Cha d’Alzon và Thánh Augustinô?

 

2-   Tu sĩ sống trong cộng đoàn hoạt động tông đồ

 

 

-         Ứng sinh cho thấy khả năng sống đời sống cộng đoàn qua sự chấp nhận tính đa dạng trong tính hiệp nhất?

-         Ứng sinh tham gia vào việc xây dựng và làm sinh động cộng đoàn?

-         Ứng sinh là người hiếu khách, đối thoại, hiệp thông, phục vụ? biết từ bỏ ḿnh?

-         Đời sống và sứ mạng của Tỉnh ḍng có một chổ đứng trong những mối quan tâm của ứng sinh?

-         Ứng sinh có ư thức là ḿnh đang thuộc về một Hội ḍng quốc tế và điều đó có ư nghĩa ǵ?

 

3-   Theo Đức Kitô nghèo, khiết tịnh và tuân phục

 

Đức nghèo khó tu sĩ

 

-         Ứng sinh sống một cách đơn giản, tự do trong cái nh́n về của cải vật chất?

-         Ứng sinh có trao lại tài khoản những món quà và tiền nhận được?

-         Ứng sinh làm việc bao lâu trong thời gian biu của ḿnh?

-         Ứng sinh có nhạy cảm với những bất công xă hội, liên đới với người nghèo?

-         Bằng những phương tiện nào ứng sinh t́m hiu về những thực tế kinh tế xă hội của đất nước ḿnh?

 

Đức khiết tịnh

 

-         Ứng sinh có tự phát, đơn giản, rơ ràng, nhưng kín đáo trong những mối quan hệ với anh em ḿnh và với mọi người mà ḿnh gặp gỡ?

-         Ứng sinh có tính khôi hài ngơ hầu vượt qua tốt hơn những căng thng và những thất bại?

-         Ứng sinh có quân b́nh về đời sống t́nh cảm, quan hệ tốt với mọi người?

-         Ứng sinh có khản năng chấp nhận sự cô độc trong niền vui và b́nh an nội tâm?

-         Ứng sinh chứng tỏ có kỷ luật trong những mối liên hệ, về việc ra ngoài, về những nhu cầu và việc sử dụng phương tiện thông tin đại chúng?

 

Đức vâng lời tu sĩ

 

-         Ứng sinh hiu và sống như thế nào đức vâng lời? trong sự tùng phục? trong sự thống trị?

-         Ứng sinh biết chấp thuận những quyết định của cộng đoàn và xem như những quyết định của ḿnh, đặt những hoạt động của ḿnh dưới sự quan tâm của anh em ḿnh?

-         Ứng sinh sẵn sàng chấp nhận sứ mạng và những định hướng hoạt động tông đồ của cộng đoàn ḿnh, của Tỉnh ḍng và Hội ḍng?

-         Ứng sinh biết vượt qua những sở thích cá nhân cho những ưu tiên tông đồ của Tỉnh ḍng, Hội ḍng?

 

4-   Tông đồ ngơ hầu Nước Trời trị đến

 

-         Ứng sinh nhạy cảm với những trăn trở của Thiên Chúa và của con người, sẵn sàng dâng hiến để mang Tin mừng cho thế giới? Ứng sinh cho thấy một cách cụ thể như thế nào về sự nhiệt huyết cho Nước Thiên Chúa?

-         Trong hoạt động tông đồ ứng sinh có chứng tỏ thái độ vô vị lợi, sáng kiến và sẵn sàng?

-         Ứng sinh có thông tin, hỏi ư kiến và đánh giá về sứ mạng tông đồ được giao phó cho ḿnh trong cộng đoàn?

-         Ứng sinh có khả năng làm việc nhóm, chấp nhận những quan điểm, những cách làm việc khác ḿnh? Ứng sinh có đánh giá vai tṛ của giáo dân trong Giáo hội và thế giới?

-         Ứng sinh làm như thế nào để việc học, cầu nguyện và những mối liên hệ của ḿnh mang chiều kích tông đồ?

 

Kết luận

 

-         Tu sĩ có trưởng thành trong năm qua? trong những lănh vực nào?

-         Ứng sinh sẵn sàng tiếp tục con đường đưa tới vĩnh khấn?

-         Những điểm nào cần lưu ư cho ứng sinh và đặc trách đào tạo nhằm giúp ứng sinh trưởng thành hơn?

 

 

 

 

TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA TU SĨ CHUẨN BỊ CHO TÁC VỤ TRUYỀN CHỨC

 

 

 

Mục đích của khung đánh giá này là cho tu sĩ, đang chun bị hướng tới thừa tác vụ truyền chức, cơ hội nh́n lại một cách phê b́nh về đào tạo mục vụ và những kinh nghiệm hoạt động tông đồ của ḿnh. Trong khung tự đánh giá này ứng sinh cũng sẽ tŕnh bày những ước muốn và những chương tŕnh tương lai của cá nhân. Bản tự đánh giá này sẽ được gởi cho Bề trên Giám tỉnh, kèm theo chương tŕnh thực tập phó tế (hoặc, nếu ứng sinh là phó tế đang chun bị cho thừa tác vụ linh mục, chương những hoạt động tông đồ cho những năm đầu của linh mục) và thơ xin truyền chức trong đó ứng sinh tŕnh bày những động cơ đưa ứng sinh tới việc xin truyền chức phó tế hay linh mục.

 

 

1-   Xem lại việc đào tạo và những kinh nghiệm hoạt động tông đồ

 

-         Những khía cạnh tích cực và tiêu cực của việc đào tạo và kinh nghiệm mục vụ? Những sáng kiến, khám phá, thất bại (trong thời gian đào tạo trước phó tế/ trong thời gian thực tập phó tế)?

-         Đâu là những điểm mạnh, yếu mà thầy thấy ở nơi ḿnh trong tác vụ mục vụ?

 

 

Sau đây là những câu hỏi có thể hữu dụng cho việc xem xét này:

 

Truyền chức nhằm phục vụ Tin Mừng

 

-         Thầy có t́m thấy thời gian đọc, suy gẫm và học hiu Lời Chúa?

-         Những thuận tiện và khó khăn mà thầy gặp phải khi tŕnh bày Lời Chúa theo tính cách riêng và dễ hiểu cho mọi người thuộc mọi lứa tuổi, năo trạng và văn hóa khác nhau?

-         Lời Chúa có đi vào đời sống đích thực của thầy, trong giảng dạy, những chia sẽ với những nhóm mà thầy dướng dẫn?

-         Thầy có quan tâm về phụng vụ, chất lượng của những việc cử hành các bí tích? Thầy có ư thức rằng các bí tích là công cụ hoạt động của Thiên Chúa và phương tiện tốt nhất nhằm truyền đạt giáo lư của Giáo hội?

 

Truyền chức nhằm phục vụ Giáo hội

 

-         Thầy là người của sự hiệp thông, có khả năng tập hợp mọi người, mọi nhóm vào trong một dân Thiên Chúa hiệp nhất trong lúc tôn trọng những khác biệt và ư thức về những căng thng không thể tránh khỏi giữa họ?

-         Đâu là khả năng lắng nghe, cộng tác, làm việc nhóm với anh em trong cộng đoàn, anh em linh mục, các nữ tu và giáo dân?

-         Thầy có theo những định hướng mục vụ của giáo phận?

 

Truyền chức nhằm Nước Trời trị đến

 

-         Thầy có quan tâm tới thế giới ngày hôm nay, những thay đổi và những nhu cầu sâu xa của nó? Thầy có đọc những sự kiện ngày hôm nay qua lăng kính đức tin nhằm nhận ra nơi đó tiếng gọi của Thiên Chúa?

-         Thầy có trau dồi những quan điểm hoạt động tông đồ được đ̣i hỏi ở ḍng Mẹ Về Trời?

-         Thầy có quan tâm tới thế giới những người nghèo, những người không tin, những người xa Giáo hội, những anh em ly khai?

 

2-   Chương tŕnh cá nhân

 

-         Bằng cách nào thầy phát trin những ưu điểm và cải thiện những yếu kém?

-         Những thái độ nào thầy muốn trau dồi nhằm trở thành tông đồ phù hợp với tinh thần ḍng Mẹ Về Trời?

-         Ước nguyện, những dự định? Thầy hoà hợp chúng như thế nào vào trong nhu cầu và chương tŕnh tng quát của Tỉnh ḍng?

 

3-   Hoạch định và đánh giá

 

-         Lúc xin truyền chức phó tế thầy phải bàn hỏi với người sẽ chịu trách nhiệm hướng dẫn thầy về bản tự đánh giá và chương tŕnh thực tập phó tế.

-         Khi tiến tới thời gian kết thúc thực tập phó tế, thầy sẽ xem lại chương tŕnh thực tập với cộng đoàn và với người chịu trách nhiệm hướng dẫn nhằm đánh giá xem thầy đă thực sự sống với những ǵ đă được hoạch định. Thầy cũng sẽ đưa ra cho cộng đoàn và người chịu trách nhiệm hướng dẫn những quan điểm và những hoạt động tông đồ cho những năm đầu của thừa tác vụ linh mục.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐÁNH GIÁ CỦA CỘNG ĐOÀN

VỀ TU SI CHUẨN BỊ CHO TÁC VỤ TRUYỀN CHỨC

 

 

Cộng đoàn và đặc biệt là Bề trên cùng với Ban cố vấn, phụ trách đào tạo, Ban cố vấn của Giám tỉnh và Bề trên Giám tỉnh được yêu cầu phân định một cách cn  trọng thỉnh nguyện của ứng sinh và cho ư kiến của ḿnh về khả năng của ứng sinh tiến tới tác vụ truyền chức. Việc đánh giá sẽ được kết thúc bằng bỏ phiếu.

 

Khung câu hỏi có thể được sử dụng nhằm đánh giá cho thừa tác vụ phó tế và thực tập phó tế.

 

 

 

Những yếu tố cần cho việc phân định và ư kiến

 

 

-         Những động lực đưa ứng sinh tới việc xin truyền chức.

-         Hành tŕnh tng quát của ứng sinh, từ cái nh́n nhân bản, tâm linh, cộng đoàn và đặc biệt về mục vụ.

-         Những điểm mạnh, yếu, khả năng và những thiếu kém.

 

Có thể  xem lại tiu  sử sơ lược cá nhân của ứng sinh, xem lại những điểm lưu ư đặc biệt đă được nêu ra trong lần chấp nhận cho vĩnh khấn. Nếu có những nghi vấn, cần phải nói một cách rỏ ràng và giải thích lư do. Đây là khung câu hỏi nhằm giúp cho việc đánh giá.

 

Truyền chức nhằm phục vụ Tin Mừng

 

-         Ứng sinh t́m thấy thời gian đọc, suy gẫm và học hiu Lời Chúa?

-         Những thuận tiện và khó khăn mà ứng sinh gặp phải khi tŕnh bày Lời Chúa theo tính cách riêng và dễ hiểu cho mọi người thuộc mọi lứa tuổi, năo trạng và văn hóa khác nhau?

-         Lời Chúa có đi vào đời sống đích thực của ứng sinh, trong giảng dạy, những chia sẽ với những nhóm mà thầy dướng dẫn?

-         Ứng sinh có quan tâm về phụng vụ, chất lượng của những việc cử hành các bí tích? Ứng sinh có ư thức rằng các bí tích là công cụ hoạt động của Thiên Chúa và phương tiện tốt nhất nhằm truyền đạt giáo lư của Giáo hội?

 

Truyền chức nhằm phục vụ Giáo hội

 

-         Ứng sinh là người của sự hiệp thông?

-         Ứng sinh có khả năng lắng nghe, cộng tác, làm việc nhóm với anh em trong cộng đoàn, anh em linh mục, các nữ tu và giáo dân?

-         Ứng sinh có theo những định hướng mục vụ của giáo phận?

 

Truyền chức nhằm Nước Trời trị đến

 

-         Ứng sinh có quan tâm tới thế giới ngày hôm nay, những thay đổi và những nhu cầu sâu xa của nó? ứng sinh có đọc những sự kiện ngày hôm nay qua lăng kính đức tin nhằm nhận ra nơi đó tiếng gọi của Thiên Chúa?

-         Ứng sinh có trau dồi những quan điểm hoạt động tông đồ được đ̣i hỏi ở ḍng Mẹ Về Trời?

-         Ứng sinh có quan tâm tới thế giới những người nghèo, những người không tin, những người xa Giáo hội, những anh em ly khai?

 

Kết luận

 

-         Tại sao anh em nghĩ rằng ứng sinh này có thể chu toàn tốt thừa tác vụ truyền chức mà ứng sinh đang chun bị ?

-         Những điều cần lưu ư cho phó tế hay tân linh tương lai và những đặc trách đào tạo nhằm giúp ứng sinh trưởng thành tốt hơn ?

 

 

 

 

ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN

VỀ TU SĨ CHUẨN BỊ CHO TÁC VỤ TRUYỀN CHỨC

 

 

Khung câu hỏi này sẽ tạo thuận tiện cho những người bạn giáo dân khi họ được mời làm nhân chứng cho một tu sĩ thuộc ḍng Mẹ Về Trời đang chun bị cho thừa tác vụ truyền chức phó tế hay linh mục.

 

Những câu hỏi này theo khung. Tuy nhiên, những lời chứng có thể đề cập thêm những khía cạnh khác về nhân cách của ứng sinh nếu thấy cần thiết.

 

-         Thầy là người của sự hiệp thông, quan tâm tới sự hợp nhất của cộng đoàn ? Khả năng đón nhận mọi người, mọi nhóm người khác nhau và tôn trọng những khác biệt của họ, đồng thời ư thức về những căng thng có thể xảy ra giữ họ ?

 

-         Thầy biết lắng nghe, phục vụ, luôn sẵn sàng, làm việc nhóm ?

 

-         Thầy tŕnh bày Lời Chúa theo tính cách riêng và dễ hiểu cho mọi người thuộc mọi lứa tuổi, năo trạng và văn hóa khác nhau?

 

-         Những phẩm chất và hạn chế khác mà bạn muốn nhấn mạnh về người tu sĩ sắp được truyền chức?

 

 

 

 

THƯ MỤC VỀ D̉NG MẸ VỀ TRỜI

 

 

 

TIỀN TẬP VIỆN

 

 

Ứng sinh có th  được đề nghị đọc thêm những tài liệu thưộc những lănh vực khác:

 

-         nhằm  giúp đào sâu hơn sự hiu biết về chính ḿnh, tạo những mối liên tốt với những người khác, giữa những con người với nhau;

-         về ơn gọi nói chung và ơn gọi tu sĩ nói riêng;

-         về đời sống cộng đoàn;

-         dẫn nhập vào đời sống cầu nguyện, học đọc và suy gẫm Lời Chúa;

-         để  hiểu tốt hơn Đức Giêsu Kitô và đào sâu đời sống đức tin:

 

·       đọc tối thiu “Cuộc đời Chúa Kitô”;

·       đọc một số chương cuốn Giáo lư Giáo hội Công giáo (các bí tích, các nhân đức, Chúa Ba Ngôi...)

 

Lưu ư:

 

-         Trong thời gian phân định và hướng dẫn ơn gọi, ứng sinh sẽ được yêu cầu đọc một số tài liệu đă nêu trên.

-         Đặc trách đào tạo với thỉnh sinh thiết lập chương tŕnh đọc sách (những cuốn sách hay chương, những bài viết). Đặc trách đào tạo sẽ kiểm tra tiến độ và sự hiểu biết của ứng sinh theo từng chu kỳ.

-         Công việc này phải được hướng dẫn qua những bài làm tng hợp, suy tư hay nghiên cứu.

 

Mục đích: nhằm hiu biết về Đấng sáng lập, lịch sử và tinh thần của những anh em ḍng Mẹ Về Trời.

 

Đấng sáng lập

 

1. TOUVENERAUD PIERRE, A.A., Emmanuel d'Alzon au service de

l'Église : 1810-1880, (traductions en espagnol, italien et portugais),

Série Centenaire 1980, N° 1, Rome 1980, 36 pages.

2. BERNOVILLE GAÉTAN, Un promoteur de la Renaissance catholique

au XIXe siècle. Emmanuel d'Alzon 1810-1880, (traductions en

anglais, espagnol et portugais), Grasset, Paris 1957, 255 pages.

3. GALERAN HENRI-DIEUDONNÉ, Croquis du Père d’Alzon,

(traductions en anglais et espagnol), Bonne Presse, Paris 1924, 358

pages.

4. Le Père d'Alzon intime, dans Écrits Spirituels du Serviteur de Dieu

Emmanuel d´Alzon, pages 727-845, (traductions en espagnol et

portugais).

5. PERIER-MUZET JEAN-PAUL, A.A., Prier 15 jours avec Emmanuel

d'Alzon, (traduction en portugais; traduction espagnole en préparation),

Nouvelle Cité, Montrouge 2003, 122 pages.

6. FOY THERESE-MARIE, O.A., Vénérable Emmanuel d´Alzon, 1810-

1880. Une vie chevaleresque. Simple survol, (Gosselies-Saint-

Gérard), 2000, 275 pages.

7. RICHARDS RICHARD, A.A., D'Alzon, fighter for God, "D'Alzon

series" 2, New York, 1974, 51 pages.

8. Sur les pas du Père d'Alzon, (brochure de Claude COLOMBO et

Pascal GINDRE), Paris 2001, 52 pages.

 

 

 

Lịch sử

 

Sách

1. Les Assomptionnistes, des hommes de foi en pleine vie, (plaquette

illustrée, publiée en dix langues), Éditions du Signe, Strasbourg

[1993], 32 pages.

2. GUISSARD LUCIEN, A.A., Les assomptionnistes d'hier à aujourd'hui,

(traductions en anglais, espagnol, néerlandais et portugais), Bayard

Éditions, Paris 1999, 172 pages.

PERIER-MUZET JEAN-PAUL, A.A., Petit Manuel. Histoire de

l'Assomption, (traduction espagnole en préparation), Rome 2003, 185

pages.

4. LAURENT MAURICE, A.A., Les Augustins de l'Assomption, dans

Religieux et moines de notre temps, Du Cerf, Paris 1980, pages 209-

221.

5. BORIES HELENE-MARIE, R.A., Marie-Eugénie Milleret (1817-1898),

Fondatrice des Religieuses de l’Assomption, (traductions en

plusieurs langues), (1991) 1998, 141 pages.

6. LE GENDRE OLIVIER, Je quitte les ruisseaux, je vais à la mer,

Edition R.A., 1998, 99 pages.

7. Les Petites Soeurs de l'Assomption. Une famille aux dimensions du

monde (plaquette en cinq langues), Editions du Signe, Strasbourg, 32

pages.

8. Les Oblates de l'Assomption (plaquette traduite en plusieurs

langues), Les Editeurs du Rameau, Paris 1995, 33 pages.

9. TOUVENERAUD PIERRE, A.A., Origines des familles religieuses de

l'Assomption (traduction en espagnol), Padri Assunzionisti, Rome

1972, 23 pages.

10. PERIER-MUZET JEAN-PAUL, A.A., Plusieurs branches sur un même

tronc. L' Assomption, une grande famille, Fiche 12 dans L'Esprit de

l'Assomption d'après Emmanuel d'Alzon, Rome 1993, pages 89-96

(bibliographie en pages 95-96).

* Pour la France : Assomptionnistes, Province de France, Paris 1992

(plaquette illustrée), 32 pages.

 

Video

 

1. Audiovisuel à l'occasion du Centenaire de l'Assomption, 1980.

2. Vidéo Sur les pas du Père Emmanuel d'Alzon, ses racines cévenoles,

sa vie, son oeuvre, son message (de Jean-Claude POULIGNIER, A.A. et

Catherine SESBOÜÉ), Nîmes 1980, durée 43 minutes.

3. Vidéo Planète Évangile. La dynamique Assomptionniste, 1999, durée

72 minutes (versions en plusieurs langues).

4. Vidéo Le Balkan crucifié. L'Eglise de Bulgarie dans la tourmente,

(de Marie-Ange DONZE et Claude SAUVAGEOT), Paris 1995, durée

56 minutes (versions en plusieurs langues).

- 82 -

5. Vidéo L’Assomption et la Mission, novembre 2000, durée 40

minutes.

6. Vidéo L'Evangile sans frontière. La démarche assomptionniste,

durée 30 minutes.

7. Vidéo Mère Marie-Eugénie et son temps. 1838-1898, 3ème épisode :

L'amitié avec le Père d'Alzon, Religieuses de l'Assomption, 1997,

durée 61 minutes.

 

Tinh thần ḍng Mẹ Về Trời

 

1. SÈVE ANDRÉ, A.A., Ma vie c'est le Christ. Emmanuel d'Alzon (1810-

1880), (traductions en anglais et espagnol), Editions du Centurion,

Paris 1980, 184 pages.

2. L'esprit de l'Assomption d'après Emmanuel d'Alzon, [douze fiches de

plusieurs auteurs assomptionnistes] (publié en cinq langues, sous la

responsabilité du Conseil Général des Religieux de l'Assomption),

Rome 1993, 101 pages.

3. LE GLEUHER RAPHAEL, A.A., Recueil de pensées du P. Emmanuel

d'Alzon (1810-1880), (traduction en espagnol), Pont l'Abbé-d'Arnoult

1968, 476 pensées.

 

 

TẬP VIỆN

 

Giáo tập sẽ đề nghị một danh sách tài liệu cho tập sinh nhằm giúp họ:

 

-         hiu  biết về Cha d’Alzon và hoàn cảnh lịch sử của ngài;

-          về tinh thần của Cha d’Alzon và của ḍng Mẹ Về Trời;

-          về lịch sử của Hội ḍng;

-         về đời sống tu sĩ và những lời khấn;

-          về thánh Augustinô và tinh thần của ngài;

 

Mục đích: đọc những văn bản cơ bản của Đấng sáng lập, một vài nguyên cứu về tinh thần của Hội ḍng và một số tác phẩm của và về Thánh Augustinô.

 

 

Những văn bản nền tảng của Cha d’Alzon

 

1. Directoire (1859), ES 15-126 (traductions en anglais, espagnol,

portugais).

2. Premières Constitutions des Augustins de l'Assomption : 1855-1865,

Rome 1966, 243 pages (traduction en espagnol).

3. Quatre lettres au Maître des Novices (1868-1869), ES 147-172

(traductions en anglais, espagnol, portugais).

4. Instructions de clôture des Chapitres généraux de 1868 et de 1873,

ES 128-146 et 173-190 (traductions en anglais, espagnol, portugais).

5. Notes sur la fin et l'esprit de l'Ordre (1845-1850), ES 644-648.

6. Circulaire sur les voeux (1876), ES 687-691.

7. Différents textes sur le Royaume et sur l'esprit de l'Assomption

(1870-1877), ES 659-724.

8. Circulaires aux membres des Chapitres Généraux : 1874-1875, ES

191-289 (traduction en espagnol).

9. Sur l'Eucharistie, ES 947-987 et dans Les Cahiers d'Alzon Nº 2

(traduction en espagnol).

10. Emmanuel d'Alzon. Dossier sur la Vie et les Vertus, Rome 1986,

volume I : Sommaire de la vie et des vertus, 138 pages; volume II

(tomes I et II) : Documentation biographique, 1083 pages.

11. TAVARD GEORGES, A.A., Le Père d'Alzon et la Croix de Jésus. Les

lettres aux Adoratrices, Maison généralice, Rome 1992, 114 pages.

12. TAVARD GEORGES, A.A., Emmanuel d'Alzon, textes spirituels, Du

Cerf, Paris 2003, 217 pages.

 

Tinh thần của Hội ḍng

 

1. PERIER-MUZET JEAN-PAUL, A.A., Le Père Emmanuel d'Alzon par

lui-même. Anthologie alzonienne. Contextes, thèmes et textes,

données biographiques, indications bibliographiques et questionnaires,

(traductions en espagnol et portugais, en préparation dans

d'autres langues), Maison généralice des Augustins de

l'Assomption, Bayard Service Édition, Rome 2003, 288 pages.

2. SAGE ATHANASE, A.A., Un Maître Spirituel du dix-neuvième

siècle. Les étapes de la pensée du Père Emmanuel d’Alzon,

(traduction en espagnol), Rome 1958, 228 pages.

3. SAGE ATHANASE, A.A., El espíritu de la Asunción, (Retraite aux

Supérieurs Majeurs, Rome 20-27 mai 1955), (traduction en

espagnol du manuscrit français inédit), Religiosos Asuncionistas,

Santiago de Chile, 2000, 147 pages.

4. SAGE ATHANASE, A.A., La Spiritualité de l’Assomption (Retraite

donnée à Worcester en 1958), Série Centenaire 1980, N° 10, Rome

1986, 115 pages.

5. SAGE ATHANASE, A.A., Présentation du Directoire, dans

Mélanges Emmanuel d'Alzon (Conférences de la "Semaine

Alzonienne", Hal, 14-19 mai 1951), Saint-Gérard 1952, pages 101-

133.

6. SAGE ATHANASE, A.A., Notes sur l'histoire du Directoire, dans

Pages d'Archives, N º 2 (mars 1955), pages 21-31.

7. SAGE ATHANASE, A.A., Commentaire du Directoire, dans Cahiers

d'Alzon, annexe, sous le titre de Commentaire du Guide Spirituel

de Vie Intérieure, Bar-Le-Duc 1959, 173 pages.

8. SAGE ATHANASE, A.A., Quatre Essais sur notre vie assomptionniste,

dans Approches et Recherches, Maison Généralice, Rome

1968, pages 125-189.

9. TAVARD GEORGES, A.A., Le Poids de Dieu. La spiritualité

trinitaire d’Emmanuel d'Alzon (traductions en anglais, espagnol et

portugais), Série Centenaire 1980, N° 5, Paris 1982, 162 pages.

10. CAYRÉ FULBERT, A.A., L’originalité du Père d'Alzon en

spiritualité, dans Mélanges Emmanuel d'Alzon (Conférences de la

"Semaine Alzonienne", Hal, 14-19 mai 1951), Saint-Gérard 1952,

pages 83-99.

11. CAYRÉ FULBERT, A.A., La spiritualité des religieux de

l'Assomption, Assomption, Louvain et Paris, 1931, 62 páginas.

12. TOUVENERAUD PIERRE, A.A., Le critère de fidélité à l'esprit du

fondateur, dans Approches et Recherches, Maison Généralice,

Rome 1968, pages 191-255.

13. DUFAULT WILFRID J., A.A., The spiritual legacy of Emmanuel

d'Alzon, (traduction en espagnol), Milton (MA) 1988, 209 pages.

14. DUFAULT WILFRID J., A.A., Emmanuel d'Alzon Apostle for our

time, (traduction en espagnol), Worcester 1994, 57 pages.

15. MARECHAL CLAUDE, A.A., El carisma de la Asunción, Madrid

(27-29 décembre), 1999, 54 pages.

- 85 -

16. TAVARD GEORGES, A.A., La foi et le Royaume. Emmanuel d'Alzon

et la spiritualité de l’Assomption, Du Cerf, Paris 2003, 179 pages.

 

Tác phm của và về Thánh Augustinô

 

1. AUGUSTIN, Les Confessions.

2. AUGUSTIN, La Cité de Dieu, chapitres XIII, XIV, XIX, XX, XXII.

3. AUGUSTIN, Commentaire à l'évangile et à la Première Lettre de

saint Jean.

4. AUGUSTIN, Commentaires sur le Notre Père et du Sermon sur la

Montagne.

5. AUGUSTIN, Lettre 139 (à Proba) et Lettre 187.

6. AUGUSTIN, Sermons XXIII, LVI, CXXXV, CCCLXV, CCCLXVI.

7. AUGUSTIN, De sancta virginitate.

8. AUGUSTIN, De opere monachorum.

9. POSSIDIUS DE CALAME, Vie d'Augustin d'Hippone, collection Les

Pères dans la foi, Migne 56, Brépols, 1994.

10. SAGE ATHANASE, A.A., La Règle de saint Augustin commentée par

ses écrits, La vie augustinienne, Paris 1961, 280 pages.

11. SAGE ATHANASE, A.A., La vie religieuse selon saint Augustin, La

vie augustinienne, Paris 1972, 270 pages.

12. CAYRÉ FULBERT, A.A., Vers l'action avec saint Augustin. La

spiritualité du Père d’Alzon, Lethielleux, Paris 1950, 230 pages.

13. JEAN-PAUL II, Augustinum Hipponensem, 28 août 1986.

14. Supérieurs Généraux de la Famille Augustinienne, La Conversion de

saint Augustin. Lumière sur notre chemin, Message pour le XVI

Centenaire de la Conversion et du Baptême de Saint Augustin, 24

avril 1986, 39 pages.

15. NEUSCH MARCEL, A.A., Augustin, un chemin de conversion. Une

introduction aux Confessions, Desclée de Brouwer, Paris 1986, 138

pages.

16. NEUSCH MARCEL, A.A., Initiation à saint Augustin, maître spirituel,

Du Cerf, Paris 2003, 281 pages.

17. NEUSCH MARCEL, A.A., Saint Augustin. L'amour sans mesure,

Parole et Silence, 2001, 178 pages.

18. BOURQUE EDGAR, A.A., La prière assomptionniste à la lumière de

saint Augustin, (Conférences données aux Essarts en 1989), fascicule

de 143 pages.

- 86 -

19. MADEC GOULVEN, A.A., Petites études augustiniennes, collection

des Etudes Augustiniennes, Série Antiquité - 142, Paris 1994, 388

pages.

20. MADEC GOULVEN, A.A., Lectures augustiniennes, collection des

Etudes Augustiniennes, Série Antiquité - 168, Paris 2001, 388 pages.

21. MADEC GOULVEN, A.A., La Patrie et la Voie. Le Christ dans la vie

et la pensée de saint Augustin, Desclée, Paris 1989, 346 pages.

22. SERGE LANCEL, Saint Augustin, Fayard, 1999, 792 pages.

23. BROWN PETER, La vie de saint Augustin, Collection Seuil Histoire,

2001, 675 pages.

* Voir aussi dans la Revue Itinéraires Augustiniens (Orantes de

l'Assomption, Bonnelles, France) :

- N° 7 (consacrée à l'amitié) (1992) : PERIER-MUZET JEANPAUL,

A.A., Le Père d'Alzon, un familier d'Augustin, pages

25-32.

- N° 25 (2001) : MONSCH CHARLES, A.A., Emmanuel d'Alzon,

lecteur assidu de saint Augustin, pages 31-42.

- N° 28 (2002) : MADEC GOULVEN, A.A., Augustin (354-430),

un saint comme un autre, (une biographie), pages 5 à 46.

 

Lịch sử nước Pháp vào thế kỷ XIX

 

1. MILZA PIERRE et BERSTEIN SERGE, Histoire du XIXè siècle, Hatier,

1994, 503 pages.

2. Le XIXe siècle, « Collection grand amphi », Bréal 1995 (ouvrage très

clair et pédagogique), 352 pages.

3. RÉMOND RENÉ, Introduction à l'histoire de notre temps, tome 2 : le

XIXe siècle 1815-1914, Editions du Seuil, Paris 1974, 248 pages.

4. CHOLVY GÉRARD, HILAIRE YVES-MARIE, Histoire religieuse de la

France, tome 1 : 1800-1880; tome 2 : 1880-1914, Collection

"hommes et communautés", Privat, Toulouse 2000, 287 et 207

pages.

5. CHOLVY GÉRARD, Etre chrétien en France au XIXe siècle : 1790-

1914, Du Seuil, Paris 1997, 178 pages.

 

 

 

HẬU TẬP VIỆN VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG XUYÊN

 

 

Mỗi tu sĩ phải tiếp tục việc đào tạo nhằm:

 

-         đào sâu sự hiu biết về tinh thần ḍng Mẹ Về Trời;

-         hiu về đời sống thực tại và sứ mạng của Hội ḍng.

 

Bằng cách đọc:

 

-         bulletin của Hội ḍng và Tỉnh ḍng;

-         những tài liệu chính thức của Hội ḍng (Báo cáo của Tng Công nghị, Công nghị Tỉnh ḍng, Thơ của các Bề Trên Cả).

-         về đời sống tu sĩ;

-         về Thánh Augustinô và các Giáo phụ.

 

Mục đích: nhằm thông hiu Cha d’Alzon, tinh thần và lịch sử của Hội ḍng

 

1. TOUJOUSE THÉRÈSE-MAYLIS, R.A., Marie-Eugénie et le Père

d’Alzon, intuitions communes, influence réciproque ?, Études

d'archives, n° 4, novembre 1988, 90 pages.

2. Emmanuel d'Alzon dans la Société et l'Église du XIXè siècle,

Colloque d'histoire, décembre 1980, Le Centurion, Paris 1982, 334

pages.

3. Identité religieuse et vie assomptionniste, Session de Nîmes 1995,

Rencontres assomptionnistes N° 3, Paris 1995, 151 pages.

4. Deux siècles d'Assomption, le regard des historiens, Rencontres

assomptionnistes N° 7, Paris 2003, 237 pages.

5. L'aventure missionnaire de l'Assomption, Colloque à Lyon année

2000, Rome 2005.

6. Mémoire Assomptionniste, Écrits au fil des ans 1850-2000, Editions

du Bugey, Le Bourget-du-Lac 2000, 181 pages.

7. VAILHÉ SIMÉON, A.A., Vie du P. Emmanuel d'Alzon (1810-1880),

tome I (1810-1851) et tome II (1851-1880), Bonne Presse, Paris

1927 et 1934, 602 et 792 pages.

8. TAVARD GEORGES, A.A., Le Père d'Alzon au Premier Concile du

Vatican, Rome 1996, 66 pages.

9. COLETTE AUBAIN, A.A., Le P. Emmanuel d'Alzon. Hommages à son

oeuvre apostolique. Témoignages sur sa sainteté, dans Pages

d'Archives, Nº 8 (mai 1958), pages 205-319.

- 88 -

10. COLETTE AUBAIN, A.A., Le Père d’Alzon et le drame final de F. de

Lamennais, dans Pages d'Archives, Nº 9 (août 1958), pages 321-344.

11. TOUVENERAUD PIERRE, A.A., La participation du Père d'Alzon à la

défense des États Pontificaux : 1859-1863, dans Pages d'Archives,

Nº 12 (octobre 1960), pages 385-410.

12. TOUVENERAUD PIERRE, A.A., L'humble grandeur de la mort du Père

d’Alzon, Série Centenaire 1980, Nº 2, Rome 1979, 104 pages.

13. BUGNARD NOËL, A.A., Le P. Emmanuel d'Alzon et les vocations,

Série Centenaire 1980, N° 3, Rome 1979, 89 pages.

14. WALTER JULIAN, A.A., Les Assomptionnistes au Proche-Orient

(1863-1980), (version aussi en anglais), Série Centenaire 1980, N° 6,

Paris 1982, 84 pages.

15. OLIVIER DANIEL, A.A., Le Père d'Alzon et l'oecuménisme, Série

Centenaire 1980, N° 7, Rome 1980, 79 pages.

16. GUISSARD LUCIEN, A.A., PIERRARD PIERRE, WENGER ANTOINE,

A.A., Hier et aujourd'hui, d’Alzon et l’Assomption, Série Centenaire

1980 - Conférences, Paris 1982, 90 pages.

17. Héritiers de l'Évangile. Prier trente jours avec les religieux de

l'Assomption, Bayard Éditions-Centurion, Paris 1999, 193 pages.

18. CLEUX ANGELOME, A.A., Emmanuel d'Alzon homme d'Eglise,

Editions du Centre d'Alzon, Saint-Gérard (Belgique) 1961, 187

pages.

19. MONVAL JEAN, Les Assomptionnistes, Grasset, Paris 1939, 256

pages.

20. PÉPIN ADRIEN, A.A., Les Religieux de l'Assomption, Bonne Presse,

Paris 1963, 252 pages.

21. QUENARD GERVAIS, A.A., Les Augustins de l'Assomption, origines,

esprit et organisation, oeuvres, Maison de la Bonne Presse, Paris

1928, 172 pages.

22. GIRARD-REYDET JOSEPH, A.A., Le Père Gervais Quenard,

Supérieur général des Assomptionistes (1875-1961), Maison de la

Bonne Presse, Paris 1967, 302 pages (traduction en espagnol en

préparation).

* Pour une connaissance des premiers disciples du Père d’Alzon, voir la

bibliographie signalée par JEAN-PAUL PERIER-MUZET, A.A., dans Le

Père d'Alzon par lui-même. Anthologie alzonnienne :

- pour le P. Étienne Pernet : page 88.

- 89 -

- pour le P. François Picard : page 134. Lire aussi le livre de

DECOUX JACQUELINE, François Picard, l'engagement d'un

homme pour "faire en toute chose la volonté de Dieu",

Éditions du Signe, Paris 2003, 128 pages.

- pour le P. Vincent de Paul Bailly : page 160.

- pour le P. Victorin Galabert : page 130. Lire aussi son Journal,

tomes I et II, Sofia 1998 et 2000.

* Voir aussi : PERIER-MUZET JEAN-PAUL, A.A., Notices Biographiques des

Religieux de l'Assomption, Rome, 2000-2001, 5 tomes.

* Pour connaître nos trois frères martyrs de Bulgarie :

- HOLZER BERNARD, A.A. et MICHEL JEAN-BAPTISTE, Les

rideaux rouges de Sofia. Trois simples prêtres martyrs,

fusillés, bienheureux, Bayard, Paris 2003, 172 pages.

- GALLAY PIERRE, A.A., Le Martyre de trois Assomptionnistes

bulgares, (brochure en sept langues), Bayard Service Editions,

2002, 28 pages.

 

 

TÁC VỤ TRUYỀN CHỨC

 

Một số tài liệu đặc biệt hữu dụng cho những năm đầu của tác vụ truyền chức:

 

1. Các văn kiện chính thức của Giáo hội:

 

- Concile Vatican II : Lumen Gentium, Gaudium et Spes, ....

- Encycliques papales : Mater et Magistra (1961), Evangelii

nuntiandi (1975), Redemptor hominis (1979), Redemptoris

Mater (1987), Redemptoris Missio (1990), Pastores dabo

vobis (1992), Ut unum sint (1995, sur l'oecuménisme), Novo

millennio ineunte (2000)….

- Documents de l'Église locale et du continent : Ecclesia in

Africa (1995), Ecclesia in America (1999), Ecclesia in Asia

(1999), Ecclesia in Europa (2003).

 

2. Đời sống thực tại và sứ mạng của Hội ḍng

3. Tinh thần của ḍng Mẹ Về Trời

4. Đại kết và đối thoại liên tôn

 

 

ĐÀO TẠO NHỮNG ĐẶC TRÁCH ĐÀO TẠO

 

Những anh em đang chun bị đảm nhận trách nhiệm về đào tạo hoặc đă đảm nhận trách nhiệm cần biết thư mục đă đề nghị cho các ứng sinh và tu sĩ trong thời gian đào tạo trên. Những anh em này cần phải đọc thêm:

 

1. PERIER-MUZET JEAN-PAUL, A.A., Petit manuel. Histoire de

l'Assomption, Rome 2003, 185 pages.

2. GUY LESPINAY, Être formateur aujourd'hui : la formation à la vie

religieuse : l'appel, le discernement, l'adaptation, Médiaspaul,

Montréal 2002, 221 pages.

3. JEAN-PAUL II, Exhortation apostolique post-synodale Vita

Consecrata (1996).

4. MARECHAL CLAUDE, A.A., Initier les jeunes à la vie communautaire

apostolique : Le coeur de la formation à l'Assomption, Louvain,

juillet 1996 (traduction en espagnol).

 



[1] Xem Lut Sng (LS), s 24

[2] LS 22

[3] LS 4

[4] LS 5

[5] LS, 97f, 97h,152, 193-195, 200

[6] LS, 97h, 97h, 193

[7] LS, 87, 95b

[8] LS, 140

[9] LS 160

[10] ES 208- 209 : ‘Vic hc tuyt đối cần thiết đối với những  tu sĩ không làm việc tay chân. Đó là phương tiện để những người anh em này kiếm sống bằng mồ hôi của ḿnh. Điều này được hiểu là nếu như  người tu sĩ ngừng học tập, đó là dấu hiệu Hội ḍng không c̣n lư do tồn tại và nhận sự chúc dữ của Thiên Chúa. Nhưng việc học không cũng không đủ; chúng ta phải học có mục đích. Đối với chúng ta, mọi điều phải được gắn liền với Thiên Chúa, với Đức Giêsu Kitô và với Giáo hội.”

[11] LS, 137

[12] LS 136

[13] LS, 136

[14] LS, 139-146, 196-198

[15] ES, 263-264 

[16] LS, 142

[17] ES, 260 

[18] DC, 650, n. 2

[19] LS, 2

[20] CT, pp. 38-42 : « Những nhân đức mà chúng ta cần thực hành: 1. Đức tin […]. 2. Đức cậy […]. 3. Đức mến […].

[21] ES, p. 241 ; Circular Letters- 1874- 1875, p. 53 :  ‘Vic hc hi về Đức Giêsu Kitô là điều tốt, nhưng nó chứa đựng một sự khô cứng. Mặt khác, suy gẫm mà thiếu sự học hỏi dễ lạc vào trong thuyết thần bí sai lạc. Sự kết hợp giữa học và cầu nguyện sinh nhiều hoa trái. Kinh nghiệm cho thấy, nếu Đức Giêsu Kitô không được h́nh thành tốt trong ḷng của những đứa trẻ, đó bởi v́ công việc đào tạo được giao cho những người thầy không cầu nguyện cũng không học hỏi hoặc là quá thường xuyên không học hỏi hay không cầu nguyện”.

ES, p. 321; Meditation, p. 12: “ nhưng có hai mối nguy hiểm phải tránh khi chúng ta học hỏi về Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập thể. Điểm thứ nhất là sự lười biếng. chúng ta nghĩ rằng chúng ta đă học đủ về Ngài, như vậy tất cả những ǵ chúng ta phải làm bây giờ là yêu mến Ngài. […].Điểm thứ nh́, môt số, không muốn học hỏi về Đức Giêsu Kitô một cách nghiêm túc, trở thành những nạn nhân của mọi loại ảo tưởng sai lệch. Ḷng sùng mến dựa trên những ư tưởng, và t́nh cảm sai lệch. Thật là nguy hiểm để tiến lên trên con đường hoàn thiện!

 

[22] ES, p. 571 ; Meditation, p. 193

[23] CT, p. 39.

[24] CT, p. 70.

[25] CT, p. 38 ; ES, p. 53, 153, 543-544.

[26] ES, p. 157.

[27] ES, p. 647.

[28] ES, p. 250.

[29] ES, p. 190

[30] ES, p. 17.

[31] LS, 147-158, 199-200

[32] ES 28-31 ; Directory, pp. 22-25

[33] LS 2

[34] LS 20

[35] LS 16

[36] LS 20

[37] LS 16

[38] LS 50

[39] LS 16

[40] Xem # 25

[41] LS 123e

[42] LS 159

[43] LS 123e, 159.

[44] VC 69 (vie consacrée) : « Điều rất quan trọng, đối với mỗi Hội ḍng, giới thiệu trong cuốn Ratio Institutionis của ḿnh  một chương tŕnh đào tạo thường xuyên cụ thể và có hệ thống. »

[45] ES, p. 208 ; Circular Letters 1875-1874, p.18

[46] VC 37

[47] VC 71.

[48] ES, p. 17.