RATIO INSTITUNIONIS
ĐÀO TẠO CHO CUỘC SỐNG VÀ CHO SỨ
MẠNG
Năm 1987, cha Claude Maréchal, vị tiền
nhiệm của tôi, đă công bố ấn bản thứ
nhất cuốn Ratio Institutionis, được phê chuẩn
bởi Tổng Tu Nghị cùng
năm. Mười tám năm sau, tôi vui mừng công bố ấn
bản mới cuốn Ratio, đă được Tổng
Tu Nghị chuẩn phê, diễn ra năm nay tại Roma từ ngày mồng 1 tới
ngày 22 tháng 5 năm 2005. Ấn bản được sữa
chữa này là kết quả của công việc được
bắt đầu từ khóa học tập quốc tế
cho những đặc trách đào đạo, được
tổ chức
tại Nairobi vào năm 2002. Sau kỳ họp này, một uỷ
ban quốc tế đă h́nh thành để làm việc và soạn
thảo những phác thảo mới qua ba kỳ gặp gỡ
khác nhau. Chúng đă được đệ tŕnh cho các Bề
trên Giám tỉnh và các đặc trách đào tạo của từng
Tỉnh Ḍng nhằm thu tập những đề xuất
và sửa đổi. Bản đúc kết cuối cùng
đă được xem xét lại và được sửa
đổi do các thành viên của ban Cố vấn của Hội
ḍng vào năm 2004.
Ấn bản ban đầu của cuốn
Ratio đă phong phú về nội dung cũng như mang
tính sư phạm cao. Như Cha Claude đă nhắn gởi,
cuốn Ratio là tiếng mọi gọi về sự
trưởng thành bản thân không chỉ cho các tu sĩ trẻ,
nhưng cho tất cả chúng ta. Một số cộng
đoàn và Tỉnh Ḍng đă thực hành lời đề
nghị này một cách nghiêm túc, sử dụng cuốn Ratio
như cuốn sách cơ bản cho các cuộc tĩnh tâm,
các kỳ hội thảo, những thảo luận trong cộng
đoàn và cho những sáng kiến đổi mới.
Ấn bản thứ hai này có tiềm lực
lớn hơn trong việc canh tân bản thân và cộng
đoàn. Nó có thể đồng thời gợi ư những
phương tiện nhằm huấn luyện các giáo dân liên
đới với các cộng đoàn của chúng ta. Cuốn
Ratio mới này bao gồm nhiều điểm đổi
mới quan trọng. Một chương mới về
“đào tạo thường xuyên” (la formation permanente) (VI) nói
một cách rỏ ràng rằng đào tạo là mối quan
tâm đối với mỗi tu sĩ trong suốt mọi
giai đoạn của đời sống. Tầm quan trọng
của việc đào tạo những đặc trách
đào tạo được triển khai trong một
chương hoàn toàn mới (VII), với tựa đề
“trở thành đặc trách đào tạo”. Không đánh giá
thấp tầm quan trọng của việc “huấn luyện
thực tiễn”, cuốn Ratio mới này nhấn mạnh
rằng người tu sĩ trẻ và thừa tác viên truyền
chức sẽ chỉ trưởng thành về phương
diện tông đồ khi người anh em này nhận
được sự hướng dẫn chu đáo trong suốt
thời gian huấn luyện mục vụ (xem, ví dụ, những
tham luận về vấn đề này trong chương V,
“Đào tạo những thừa tác viên truyền chức”).
Cuối cùng, văn bản mới này phản ánh sự nhận
thức sâu sắc hơn về tính quốc tế của
gia đ́nh tu sĩ của chúng ta và nêu lên những
phương cách để đưa các tu sĩ trẻ tới
chiều kích của đời sống chung.
Tổng Tu Nghị 2005 làm nổi bật về
đặc sủng ḍng Mẹ Về Trời từ những
cái nh́n khác nhau: làm sao đặc sủng này được biểu lộ trong
« dự tính » rộng lớn của Hội ḍng, làm
sao hướng dẫn các giáo dân bước đầu tiếp
cận với đặc sủng này và giúp họ sống từ
nó, và làm sao huấn luyện những tu sĩ về đặc
sủng với cuốn Ratio này. Nếu anh em muốn
biết một tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời hôm nay là
ǵ, tôi mời anh em đọc năm trang đầu của
tài liệu rất ấn tượng này. Nếu như anh
em muốn biết sống như thế nào một cách trung
thành hơn với tinh thần của Hội ḍng, hảy dấn
sâu vào trong tiến tŕnh huấn luyện, được
tŕnh bày trong những trang tiếp theo trong cuốn Ratio
này. Cha D’Alzon đă nói rằng chúng ta là “những tập sinh
muôn năm”. Chúng ta có thể không thích kiểu nói này, nhưng nó lại
nói cho chúng ta tối thiểu hai điều thật đẹp:
luôn luôn có cái ǵ đó phải học và luôn luôn có lư do để
hy vọng.
Tổng Tu Nghị 2005, với chủ đề
“nhiều đặc sủng trong cùng một thân thể....
để cho thế giới tin”, là một lời mời gọi
về niềm hy vọng, sự hiệp thông và sứ mạng.
Tôi hân hoan công bố một cách chính thức ấn bản mới
của cuốn Ratio Institutionis, một phần nằm
trong kết quả của Tu Nghị và một ân huệ mới
nhằm soi đường cho chúng ta. Hăy đón nhận tài
liệu này như một ân huệ thực sự, một kairos,
một quà tặng đúng nghĩa cho mỗi một người
chúng ta.
Richard E. Lamoureux, a.a., Bề Trên Tổng Quyền
Roma, ngày 23 tháng 5 năm 2005
NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG VỀ ĐÀO TẠO
1.
Cuốn Ratio Institutionis, hay c̣n gọi là
chương tŕnh đào tạo của ḍng Mẹ Về Trời,
có ba sứ mạng:
-
nhằm giúp những người, đă lắng nghe tiếng
gọi của Thiên Chúa, đáp trả tiếng gọi này một
cách ư thức và tự do, định h́nh đời sống
của ḿnh một cách tương ứng, và dấn thân từng
bước trong Hội ḍng với tất cả tính cách của
ḿnh.
-
nhằm giúp những tu sĩ có sứ mạng là những
đặc trách đào tạo, nhằm giúp những anh em này
có hướng đi trong sứ vụ của ḿnh.
-
nhằm giúp cho ơn gọi của toàn Hội ḍng. Khi nhận
những thành viên mới, tức là Hội ḍng giao ước
truyền lại cho các bạn trẻ sự giàu có của
đời sống tu sĩ được sống theo tinh
thần đặc biệt của Hội ḍng và cho họ
những phương tiện theo đuổi sứ mạng đặc biệt của
Hội ḍng trong ḷng Giáo hội và thế giới.
I-
NHỮNG MỤC ĐÍCH CỦA ĐÀO TẠO
2.
Đào tạo từng bước về tinh thần của
ḍng Mẹ Về Trời đồng nghĩa với việc
hướng dẫn ứng sinh hoặc tu sĩ trong thời
gian đào tạo sống ngày một sâu xa hơn kinh nghiệm
sống mật thiết với Thiên Chúa, sự từ bỏ
chính ḿnh, và niềm say mê vô vị lợi cho Nước
Thiên Chúa, trong đời sống cộng đoàn hoạt
động tông đồ. Nhằm giúp người anh em
khám phá ra căn tính sâu thẳm nhất của chính ḿnh, sự
kiện ṭan con người của ḿnh theo b́nh diện cá
nhân, mối tương quan với người khác, nhân bản
và tâm linh.
Đào tạo có nghĩa là không chỉ
đơn giản giới thiệu cho họ những ḍng
chính về đặc sủng của ḍng Mẹ Về Trời;
nhưng là giúp họ thể hiện tính năng động
sáng tạo ngơ hầu diễn giải nó một cách trung
thành. Đó là cách đưa họ đánh giá cao nội dung
của đặc sủng và mong muốn làm triển nở những
tiềm lực của nó trong hoàn cảnh đa văn hóa của
ngày hôm nay.
3.
Thiên Chúa kêu gọi tất cả mọi người
trong những hoàn cảnh khác nhau từ quá tŕnh lịch sử
cá nhân tới ân sủng và những khả năng nhận
thức khác nhau. Việc đào tạo sẽ phải cho
phép mỗi một cá nhân phát triển những phẩm chất của ḿnh nhằm
phục vụ Giáo Hội và Nước Trời.
Trung thành với truyền thống trên ba
phương diện: tín lư, xă hội, đại kết,
Hội Ḍng tạo cho mỗi ứng sinh hay mỗi tu sĩ
trong thời gian đào tạo, dù người anh em này có ư
định theo đuổi ước muốn trở thành
thừa tác viên truyền chức hay không, một sự huấn
luyện nhân bản, đời sống tu sĩ vững chắc
phù hợp với khả năng của mỗi người.
4.
Đào tạo thuộc ḍng Mẹ Về Trời nhằm
mục đích huấn luyện những con người
trong thế giới hôm nay sẽ là những người con
của Cha D’Alzon: con của niền tin, những anh em sống
trong cộng đoàn hoạt động tông đồ, và những
tông đồ cho Nước Thiên Chúa trị đến.
Con người niềm
tin
Xác tín
5.
Chấp nhận dấn thân vào đời sống tu sĩ
ḍng Mẹ Về Trời đ̣i hỏi ứng sinh cần
có một số phẩm chất cơ bản ngơ hầu có khả năng đối
diện với những thách đố của đời sống
tu sĩ hoạt động tông đồ: một sự quân
b́nh đầy đủ, khả năng sống đời
sống cộng đoàn, và những đức tính nhân bản
đặc biệt mà Cha d’Alzon đă nhấn mạnh : trung
thực, thẳng thắn, thân thiện, giản dị, sáng kiến, dũng
cảm, quảng đại và vô vị lợi.
6.
Dự định dấn thân một cách trọn vẹn
với tất cả con người của ḿnh theo Đức
Kitô, Người đă sống nghèo khó, khiết tịnh và
tuân phục, và hiến mạng sống ḿnh cho thế gian, với
mọi sự đọan tuyệt và tinh thần liên đới
không bị lọai trừ, sẽ không thực hiện
được nếu không có sự hiểu biết và t́nh yêu đối với Đức
Kitô, trung tâm của đời sống tu sĩ ḍng Mẹ Về
Trời. Đức Kitô và t́nh yêu của người là
đích điểm của ơn gọi và sứ mạng của
chúng ta. Trong Người là sự kết hợp giữa
Thiên Chúa và con người và con người với Thiên
Chúa.
7.
Việc đào tạo nhằm giúp ứng sinh hoặc tu
sĩ trong thời gian đào tạo thiết lập và
đào sâu mối liên hệ cá nhân với Thiên Chúa. Nó khích lệ
người anh em thực hành một cách thường xuyên
việc cầu nguyện cá nhân và cộng đoàn. Nó nhắc
nhở người anh em nhận thức về ân huệ của
Thiên Chúa trong cuộc sống của ḿnh và trong những
người đương đại. Như vậy,
người anh em sẽ lớn lên trong đức tin, niềm
hy vọng và ḷng bác ái. Bước theo Đức Kitô,
được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần và
được linh ứng bởi giương Đức
Maria, người anh em sẽ có khả năng học biết
hy sinh đời sống của ḿnh trên con đường
của Tin Mừng[1].
Cách thực hiện
8.
Đào tạo phải đưa ứng sinh hay tu sĩ
trong thời gian đào tạo tiếp cận với các nguồn
sống tinh thần, trên hết là Lời Chúa và các bậc
thầy tinh thần lớn, đặc biệt thánh
Augustinô, và Cha d’Alzon.
9.
Nó phải giúp người anh em phân định và chiêm
nghiệm hành động của Thiên Chúa và sự mời gọi
của Ngài trong cuộc sống của ḿnh, trong đời
sống của Giáo hội và của thế giới.
10.
Nó phải tạo cho người anh em một sự luyện
tập về sự trung thành và kiên định trong cuộc
chiến của đời sống cầu nguyện.
11.
Nó phải cho người tu sĩ khám phá, qua việc hiểu
biết và thực hành những lời khấn, một con
đường sống cho phép người anh em dâng hiến
đời sống của ḿnh một cách trọn vẹn
cho Thiên Chúa và cho tha nhân.
Những tu sĩ sống trong cộng
đoàn hoạt động tông đồ
Xác tín
12.
Được kêu gọi bởi Đức Kitô, Anh Em
ḍng Mẹ Về Trời chọn sống trong cộng
đoàn theo Luật của thánh Âugustinô và tinh thần của
ḍng Mẹ Về Trời. Cộng đoàn của chúng ta là cộng
đoàn hoạt động tông đồ và công việc tông
đồ của chúng ta mang chiều kích cộng đ̣an. Là
tông đồ, cộng đoàn chứng tỏ sự ngự
trị của Nước Thiên Chúa. Nó chứng tỏ và biểu lộ t́nh yêu
của chúng ta đối với Thiên Chúa và đối với
tha nhân.
13.
Cộng đoàn nâng trợ sứ mạng tông đồ
và đời sống cầu nguyện cá nhân của mỗi
tu sĩ. Trong giờ cầu nguyện chung, cộng đoàn
đón nhận và cử hành hoạt động của Thiên
Chúa trong cuộc sống của những con người[2].
Tất cả đời sống và hành động của
một tu sĩ phải làm chứng cho Nước Thiên Chúa
trị đến.
Cách thực hiện
14.
Tập sự đời sống chung, đ̣i hỏi việc
hoán cải trường
kỳ và vượt qua cái tôi của ḿnh để có thể
khám phá niềm vui của đời sống chung, là một
trong những mối quan tâm đầu tiên của việc
đào tạo.
15.
Chúng ta phải đề cao tính giản dị, trung thực
trong các mối quan hệ, chất lượng của việc
chia sẽ đời sống, tham gia tích cực vào đời
sống cầu nguyện chung của cộng đoàn, sáng kiến,
cùng chịu trách nhiệm và tinh thần liên đới.
16.
Qua đời sống cộng đoàn, ứng sinh hay tu sĩ
trong thời gian đào tạo sẽ từng bước sống
kinh nghiệm về cộng đoàn Giám tỉnh, quốc tế,
và cùng với những hội ḍng thuộc gia đ́nh ḍng Mẹ
Về Trời.
17.
Qua việc hội nhập vào Hội ḍng, ứng sinh
đi vào trong một lịch sử và truyền thống. Việc
đọc sách, các khóa đào tạo, các kỳ tỉnh tâm sẽ
cho phép ứng sinh hiểu và hội nhập cuộc sống và tinh thần
của Đấng sáng lập, lịch sử của ḍng Mẹ
Về Trời và những t́nh h́nh quốc tế của Hội
ḍng hiện nay.
Những tông đồ cho Nước Trời trị đến
Xác tín
18.
Trọng tâm của đặc sủng chúng ta là tính hiện
tại của Nước Thiên Chúa, chương tŕnh lớn
lao này của Thiên Chúa dành cho nhân loại được biểu lộ trong
Đức Giêsu Kitô. Dù anh em được gọi làm thừa
tác viên truyền chức hay không, “tinh thần của Đấng
sáng lập thúc đẩy chúng ta theo đuổi những
trăn trở của Thiên Chúa và của con người, dấn
thân vào những nơi mà Thiên Chúa bị đe dọa trong
con người và con người như h́nh ảnh của
Thiên Chúa bị đe dọa”[3].
Đó chính là cách mà chúng ta tham dự vào đời sống
và sứ mạng của Giáo hội. “Trung thành với ước
muốn của Cha d’Alzon, các cộng đoàn của chúng ta
nhằm phục vụ chân lư, hợp nhất, và bác ái.
Như thế chúng loan báo Nước Trời”[4].
19.
Đối với ḍng Mẹ Về Trời, công việc
tông đồ mang chiều kích cộng đoàn. Khi mà chúng ta
chưa thực hiện điều này, chúng ta sẽ không thực
sự là chúng ta. Như vậy điều hiển nhiên là chúng ta chỉ thể đào tạo
con người tông đồ khi ḥa nhập tốt vào trong
cộng đoàn, qua tất cả các giai đoạn đào
tạo.
Cách thực hiện
20.
Trong thời gian đào tạo, nếu như thời
gian học tập, đào sâu nội tâm chiếm phần lớn
thời gian của một người anh em, đó là v́
chúng gắn liền với việc chuẩn bị của người anh em cho công việc
tông đồ anh em ḍng Mẹ Về Trời.
21.
Con người của thời đại, ứng sinh
hay tu sĩ trong thời gian đào tạo phải học biết
tiếp nhận những giá trị của những con
người ở những môi trường khác nhau, đặc
biệt những người nghèo. Người anh em phải
mở tầm nh́n và trái tim của ḿnh cho những nhu cầu
và những lời kêu gọi của Giáo hội và của thế
giới. Người anh em phải được nung nấu
bởi ước muốn loan báo Đức Giêsu Kitô và thay
Người xây dựng một thế giới công bằng
và huynh đệ hơn.
22.
Một số thái độ cần được
đào luyện: sự cởi mở với người
khác, sáng kiến trong t́nh liên đới và cùng chịu trách
nhiệm, cộng tác với giáo dân và đặc biệt nhạy
cảm với sự phục vụ và t́nh yêu đối với
Giáo hội.
23.
Chúng ta phải đón nhận những chương tŕnh
hoạt động tông đồ của những tu sĩ
trong thời gian đào tạo, đối chiếu chúng
trong những chương tŕnh và định hướng
chung của Tỉnh ḍng và của Hội ḍng. Điều
này cho những anh em sự khích lệ quư giá nhằm chuẩn
bị một cách nghiêm túc và năng lực cho thừa tác vụ
tương lai.
II-
NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO VIỆC ĐÀO TẠO
24.
Từ viễn cảnh này, đào tạo đ̣i hỏi một
số điều kiện, và sau đây là một số:
-
Sự tôn trọng lẫn nhau
Về phía Hội ḍng: tôn trọng ứng
sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo được
kêu gọi bởi Thiên Chúa, tôn trọng nhân cách của
người anh em, Hội ḍng đón tiếp và giúp đỡ
người anh em thực hiện quyết định của
ḿnh theo Đức Kitô.
Về phía ứng sinh hay tu sĩ trong thời
gian đào tạo: tôn trọng tinh thần và sứ mạng
của Hội ḍng mà ḿnh quyết định tự ḥa nhập
vào một cách trọn vẹn.
-
Cộng tác
Ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian
đào tạo là người đầu tiên chịu trách nhiệm
về việc đào tạo của chính ḿnh. Việc
đào tạo sẽ không triển nở, nếu như nó chỉ được
tiếp nhận một cách thụ động. Nó đ̣i hỏi
sự cộng tác tích cực và đối thoại thẳng thắn và tin
tưởng giữa người anh em trong thời gian
đào tạo với đặc trách đào tạo của
ḿnh.
-
Sự tiến bộ
Phân định tiếng gọi của
Thiên Chúa, tập luyện đời sống tu sĩ, chấp
nhận vào Hội ḍng, nhận chức phó tế, linh mục,
tất cả tương ứng với những bước
quyết định trong tiến tŕnh cuộc sống của
một ứng sinh. Tự do cam kết mỗi bước
tiến này đ̣i hỏi thời gian để phát triển và chín muồi về mặt nhân bản cũng như tâm linh. Tiến tŕnh phát triển này đa dạng tùy theo mỗi người và phải được
xem xét để xác định khoảng cách giữa những
giai đoạn khác nhau.
-
Khả năng thích nghi
Tuân theo những định hướng của
Giáo luật và tinh thần của ḍng Mẹ Về Trời,
các phương thức đào tạo sẽ phải thích
nghi với các văn hóa và những t́nh h́nh cụ thể của mỗi
quốc gia, và những nhu cầu của Giáo hội và Hội
ḍng.
III-
NHỮNG CẤP BẬC CHÍNH VỀ ĐÀO TẠO[5]
Ban đào tạo
và phụ trách đào tạo
25.
Ban đào tạo được cơ cấu bởi những
đặc trách đào tạo được bổ nhiệm
bởi Bề Trên Giám Tỉnh với sự đồng thuận
của ban cố vấn Tỉnh ḍng[6],
và do chính Bề Trên Giám Tỉnh hoặc người đại
diện thực hiện.
Phụ trách đào tạo của Tỉnh
Ḍng được bổ nhiệm, từ trong số những
thành viên của ban đào tạo, bởi Bề trên Giám tỉnh
với sự đồng thuận của Ban cố vấn
Tỉnh ḍng[7].
Những trách
nhiệm chính của phụ trách đào tạo:
-
Giúp đỡ các cộng đoàn và đặc trách viên
đào tạo của cộng đoàn bằng việc
thăm hỏi, quan tâm đến những khó khăn và khuyến
khích những kỳ gặp gỡ cũng như sự hợp
tác với nhau.
-
Triệu tập và sinh hoạt ban đào tạo.
-
Quan sát sự phát triển của những ứng sinh và những tu sĩ, trong những giai đoạn khác nhau của việc đào tạo trí thức và mục vụ của
họ.
-
Bàn thảo về những khúc mắc cốt yếu tới
việc đào tạo, đề nghị những sáng kiến
và những chương tŕnh.
-
Giúp các đặc trách đào tạo của Tỉnh ḍng
làm tṛn sứ mạng của ḿnh trong phạm vi có thể.
Cộng
đoàn tạo
26.
Tham gia vào đời sống cộng đoàn đóng vai tṛ chính
trong việc đào tạo ở ḍng Mẹ Về Trời.
Tất cả các cộng đoàn của Tỉnh ḍng cùng chịu
trách nhiệm về việc đào tạo của những ứng
sinh và của những tu sĩ trong thời gian đào tạo.
Tuy nhiên, điều thích hợp là những tu sĩ chịu
trách nhiệm về đào tạo quan tâm một cách đặc
biệt trong việc chọn lựa cộng đoàn nhằm
hướng dẫn một ứng sinh hay một tu sĩ
trong thời gian đào tạo. Những anh em này phải
lưu ư một cách đặc biệt cộng đoàn này có
khả năng đáp ứng những yếu tố sau
đây:
-
Đời sống huynh đệ trong đó ứng sinh
hay người tu sĩ trong thời gian đào tạo sẽ
cảm thấy được chấp nhận với tất
cả con người của ḿnh, và khích lệ người
anh em chia sẽ một cách tích cực vào đời sống
chung.
-
Đời sống cầu nguyện đều đặn.
-
Chương tŕnh họp cộng đoàn trong đó các
thành viên chia sẽ và suy nghĩ về đời sống,
niềm tin và những hoạt động tông đồ của
ḿnh.
-
Sự cởi mở đối với những thực
tế của Giáo hội và của thế giới.
-
Khả năng tham gia vào chương tŕnh hoạt động
tông đồ của cộng đoàn.
-
Mối tương quan gần gũi và cộng tác thật
sự với những người giáo dân, những người
này có thể giúp ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo cảm nhận tính đặc
thù ơn gọi của ḿnh.
Giáo tập
27.
Là người được giao cho trách nhiệm quan trọng, Giáo tập phải được
bổ nhiệm sớm để
đảm bảo thời gian chuẩn bị cho sứ mạng.
Điều cốt yếu là Giáo tập có sự đào tạo
đầy đủ. Giáo tập cần bổ sung việc
đào tạo của ḿnh qua việc tham gia các khóa đào tạo
đặc biệt cho các Giáo tập hoặc trải qua một
thời gian ở các tập viện khác.
28.
Giáo tập được bổ nhiệm với nhiệm kỳ ba năm, với khả năng gia hạn. Sự bổ nhiệm giám tập phải được chấp nhận bởi Bề
trên Tổng quyền[8].
Đặc
trách đào tạo
29.
Tất cả mọi anh em của Tỉnh ḍng đều
chịu trách nhiệm một cách liên đới về việc
đào tạo. Tự bản chất đời sống tu
sĩ đích thực đươc sống mang tính đào
tạo. Dù vậy, Bề trên Giám tỉnh sẽ chỉ
định một đặc trách đào tạo sẽ chịu
trách nhiệm theo dơi từng cá nhân ứng sinh hay tu sĩ
trong thời gian đào tạo trước và sau tập viện.
30.
Đặc trách đào tạo có hai vai tṛ:
-
Đặc trách đào tạo là người đối
thọai ứu tiên với ứng sinh hoặc tu sĩ trong
thời gian đào tạo. Qua các cuộc gặp gỡ
thường xuyên, đặc trách đào tạo tạo
điều kiện cho người anh em cơ hội bày tỏ
những khát vọng, những khám phá, những khó khăn của
ḿnh và bất cứ những câu hỏi nào liên quan tới
đời sống tu sĩ, cộng đoàn và công việc
tông đồ. Đặc trách đào tạo cố gắng
hướng dẫn người anh em vào những thời
gian quyết định cũng như trong suốt con
đường của đời sống tu sĩ của
người anh em.
-
Đặc trách đào tạo giới thiệu ứng
sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo trước Tỉnh
ḍng. Trong các cuộc họp đánh giá, đặc trách đào tạo giúp những
người có trách nhiệm đưa ra các chọn lựa
và các quyết định liên quan tới đương sự.
Vị linh
hướng
31.
Ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo phải
chọn một vị linh hướng có kinh nghiệm sẽ
giúp ḿnh trong đời sống thiêng liêng, trong việc phân
định ư muốn của Thiên Chúa trong những lúc quan trọng
và quyết định, trong việc phám phá sự cầu
nguyện và đời sống nội tâm. Người anh
em phải chọn vị linh hướng trong phạm vi có thể, từ các thành viên của gia đ́nh tu sĩ
ḍng Mẹ Về Trời.
Sự lựa chọn vị linh hướng
tùy thuộc ở sự tự do của mỗi người.
Tuy nhiên ứng sinh hay tu sĩ trong thời gian đào tạo
phải bàn hỏi về sự lựa chọn với
đặc trách đào tạo của ḿnh.
Phụ trách về
đào tạo thường xuyên
32.
Được bổ nhiệm bởi những thẩm
quyền thuộc giám tỉnh, phụ trách đào tạo phải
lưu tâm tới việc đưa vào áp dụng sơ
đồ tổng quát về việc đào tạo thường xuyên của Tỉnh
ḍng[9].
IV-
ĐÀO TẠO QUA TỪNG GIAI ĐOẠN
Tiền tập
viện
33.
Giai đoạn tiền tập viện tạo cơ hội
cho ứng sinh, về đời sống tu sĩ ḍng Mẹ
Về Trời, một thời gian đào tạo đặc
biệt nhằm chuẩn bị bước vào tập viện. Giai đoạn
này chú trọng về vấn đề phân định những
động lực và thái độ là nền tảng về
ước muốn của ứng sinh cho đời sống
tu sĩ.
34.
Trong suốt giai đoạn này, ứng sinh phải tự
đào sâu sự hiểu biết mà ḿnh đă lĩnh hội trước đó, với
sự giúp đỡ của người hướng dẫn
ḿnh, trong suốt thời gian trước khi được
nhận vào tiền tập viện. Trong thời gian tiền
tập viện, ứng sinh cũng sẽ xác định chắc
chắn ước muốn theo Đức Kitô.
35.
Điều quan trọng là xem nếu ứng sinh có khả
năng sống đời sống cộng đoàn và t́m thấy
nơi đó một phương tiện và môi trường
ưu tiên mà ứng sinh có thể hoàn thiện ḿnh như là một
con người và một Kitô hữu.
36.
Công việc tồng đồ của ứng sinh sẽ
phải chứng thực ước muốn phục vụ
Thiên Chúa và con người trong Giáo hội.
37.
Vào cuối gian đoạn này, ứng sinh phải có khả
năng, với tất cả su tự do và trách nhiệm, viết
đơn xin được nhận vào tập viện. Cộng
đoàn cũng như đặc trách đào tạo sẽ
cho ư kiến liên quan tới khả năng của ứng
sinh sống đời sống anh em ḍng Mẹ Về Trời.
Tập viện
38.
Tập viện là thời gian đặc biệt mà tập
sinh, qua việc lắng nghe tiếng Chúa Thánh thần,
đào sâu, phân định và chứng thực ơn gọi
về đời sống tu sĩ của ḿnh trong ḍng Mẹ
Về Trời.
39.
Thời gian này phải tạo điều kiện cho tập
sinh, qua việc hướng dẫn của Giáo tập, kinh
nghiệm sâu sắc hơn về Thiên Chúa, sự hiểu biết
và t́nh yêu đối với Đức Giêsu Kitô, và ước
muốn theo Người, là người nghèo khó, khiết tịnh
và vâng phục v́ Nước Thiên Chúa. Nó phải giúp ứng
sinh nhận thức hơn về chiều kích cộng
đ̣an của việc dâng hiến ḿnhcho Đức Kitô qua
sự phục vụ anh em.
40.
Qua sự hiểu biết tốt nhất về thực tại của
Giáo hội và thế giới, tập sinh được dẫn vào đời sống
tông đồ và loan báo Nước Trời.
Hậu tập
viện
41.
Giai đoạn tiếp theo sau tập viện là thời
gian bén rễ và làm triển nở những ǵ mà người tu sĩ đă lĩnh hội
được. Nó phải hướng người anh em
này tới sự ḥa nhập trọn vẹn trong đời
sống và sứ mạng của Hội ḍng qua việc vĩnh
khấn. Đây là thời gian đào luyện sự trung
thành, tính kiên định và sự kiên nhẫn.
42.
Đây cũng là thời gian mà người tu sĩ xem
xét một cách sâu sắc hơn tinh thần và ơn gọi
của cộng đoàn hoạt động tông đồ.
Việc đào tạo phải chuẩn bị cho người anh em về sứ mạng
tương lai, để một ngày người anh em này
có thể phục vụ trong sứ mạng thừa tác vụ truyền chức.
Đào tạo cho những thừa tác vụ
truyền chức
43.
Phó tế và tân chức linh mục đều là những
thừa tác viên như các vị tiền bối của ḿnh.
Tuy nhiên, việc đào tạo của những anh em này
chưa hoàn tất. Được hướng dẫn bởi
một anh em niên trưởng, những anh em này sẽ
được canh tân qua sứ mạng mới mà Đức
Kitô và Giáo hội giao phó. Phải xem xét thời gian và nơi
phù hợp cho sứ vụ này.
44.
Điều thiết yếu là những người anh
em này cần học biết trở thành những mục tử
(đào luyện thực tiễn, lĩnh hội những
thái độ mục vụ) và hoà nhập sứ vụ giáo
sĩ vào trong đời sống tu sĩ, ngơ hầu đức
tin, đời sống cầu nguyện và ư thức tông
đồ được biểu lộ rỏ nét. Và từng ngày những người anh
em này sẽ trở thành những tông tồ theo ư muốn của
Đức Kitô và tinh thần của ḍng Mẹ Về Trời.
Đào tạo
trường kỳ
45.
Việc vĩnh khấn hay truyền chức không thể đánh dấu
kết thúc của việc đào tạo. Những kinh nghiệm
khác nhau trong đời sống, cũng như sự tập
sự mục vụ sẽ mỡ ra những chiều kích mới
cho người anh em. Điều thiết yếu là người
anh em này tiếp tục tự đào luyện như cha
Alzon đă nhấn mạnh cho chúng ta[10].
46.
Đào tạo trường kỳ không là sự xa xỉ
nhưng là sự đ̣i hỏi của việc trung thành cho
sứ mạng mà người anh em đă chấp nhận.
Như vậy, từng bước, chính người anh em
này sẽ trở thành một đặc trách đào tạo
cho các thế hệ tiếp theo sau ḿnh.
A.
TIỀN TẬP VIỆN
47.
Tiền tập viện tạo cho ứng sinh đang t́m hiểu đời sống
tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời một thời gian
đào tạo nhằm chuẩn bị bước vào tập viện. Thời
gian này phải được nhấn mạnh trên việc
phân định những động lực và những khuynh
hướng là nền tảng sống đời sống
tu sĩ của ứng sinh. Điều rất quan trọng
là ứng sinh có khả năng sống thời gian này trong bầu
khí của sự tự do, trung thực và trong thái độ
của niềm tin.
48.
Thời gian tiền tập viện hàm ư:
-
về phần ứng sinh, tha thiết gia nhập Hội
ḍng;
-
về phần Hội ḍng, nhận định tích cực
về những khả năng của ứng sinh sống
đời sống anh ḍng Mẹ Về Trời.
49.
Do tính đa dạng về nhân cách của những ứng
sinh như mức độ đào tạo nhân bản, sự
trưởng thành của một Kitô hữu, nhịp độ
phát triển, cũng như sự đa dạng về bối cảnh văn hóa, xă hội và địa h́nh của họ, mỗi Tỉnh ḍng sẽ
phải cụ thể việc tổ chức một cách
linh hoạt các giai đoạn đào tạo, nội dung, thời
lượng và những phương tiện được
áp dụng nhằm đạt tới những mục tiêu
được đề cập trong Luật Sống[11].
50.
Theo kinh nghiệm, tất cả các Tỉnh ḍng và Miền
đều phân biệt hai giai đoạn trước tập
viện: tiền thỉnh sinh và thỉnh sinh.
a.
Tiền thỉnh sinh
51.
Cân nhắc tính linh hoạt cũng như sự đa dạng
cần thiết cho giai đoạn này nhằm thích nghi những
hoàn cảnh và những con người khác nhau, chúng ta có thể xác định cụ
thể những mục đích riêng cho tiền thỉnh sinh và những
phương tiện để thực hiện những mục
đích này.
Mục đích
52.
Tiền thỉnh sinh một cách chính yếu là thời
gian đón tiếp, làm quen và phân định ơn gọi, tất
cả những điều này bao hàm:
-
về phần ứng sinh, nhằm khám phá những giá trị
nhân bản và tin mừng được đ̣i hỏi nhằm
gia nhập vào đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về
Trời, đồng thời lănh hội sự tự nhận
thức đầy đủ về chính ḿnh ngơ hầu
đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa trong thái độ
suy nghĩ và, đến kỳ hạn, quyết định
nếu vào thỉnh sinh hay không.
-
về phần Hội ḍng, nhằm tích lũy sự hiểu biết đầy
đủ về nhân cách của ứng sinh ngơ hầu phân
định tính vững chắc của ơn gọi và khả
năng của ứng sinh sống đời sống cộng
đoàn.
Phương tiện
Những
phương cách nhắm tới những mục đích:
Kinh nghiệm
đời sống chung
53.
Thời gian sống trong cộng đoàn trong suốt giai
đoạn này rất bổ ích, nếu không muốn nói là
không thể bỏ qua, v́ thời gian này cống hiến những phương tiện ưu đăi cho việc
phân định ơn giọi, sự hiểu biết lẫn nhau: cầu nguyện chung,
chia sẽ những công việc thường ngày, tham gia vào
đời sống tông đồ và sự đón tiếp của
cộng đoàn....
Sự hướng
dẫn của một đặc trách đào tạo
54.
Một tu sĩ sống với ứng sinh sẽ
được chỉ định cho việc hướng
dẫn ứng sinh trong suốt thời gian sống kinh nghiệm
này. Người tu sĩ này phải đặc biệt
lưu ư:
-
Thành lập một chương tŕnh đào tạo với
ứng sinh nhằm đạt tới những mục
đích của giai đoạn này;
-
Khuyến khích những cuộc gặp gỡ với ứng
sinh nhằm hiểu biết về ứng sinh và giúp ứng sinh hiểu biết
hơn về hành tŕnh ơn gọi và nhân cách của ḿnh. Lắng
nghe một cách chăm chú tới toàn bộ lịch sử
cá nhân của ứng sinh có thể mang lại hữu ích, và
không lọai trừ đặt những câu hỏi thiết
yếu cho ứng sinh.
-
Hiểu biết bối cảnh văn hóa xă hội của ứng sinh. Thực vậy, sự hiểu biết về nhân cách của ứng sinh có thể trở nên dễ
dàng hơn qua việc hiểu biết về gia đ́nh,
địa phương nơi ứng sinh lớn lên, những
mối quan hệ và những kinh nghiệm ghi dấu cuộc
đời của ứng sinh.
-
Giúp ứng sinh chấp nhận lịch sử cá nhân của
ḿnh nhằm phân định ơn gọi tốt hơn.
Sự tham gia
tích cực của ứng sinh
55.
Về phần ḿnh ứng sinh phải lưu ư:
-
tự ḥa nhập vào cộng đoàn tiếp nhận
ḿnh.
-
thiết lập mối quan hệ tin cậy với
đặc trách đào tạo của ḿnh và người linh
hướng qua việc gặp gỡ đều đặn
với họ.
-
ư thức rằng ứng sinh là nhân tố chủ chốt
của việc đào tạo, v́ thế chương tŕnh
đào tạo phải được thực hiện với
đặc trách viên đào tạo của ḿnh.
Chưng tŕnh
đào tạo
56.
Chương tŕnh đào tạo phải bao hàm các hoạt
động được lên kế hoạch và được
đánh giá một cách định kỳ (ví dụ: đọc
sách, các lớp học, các hội thảo, các khóa đào tạo,
các công việc hữu ích) và cho phép ứng sinh làm quen:
-
cầu nguyện cá nhân;
-
sống đời sống cộng đoàn anh em ḍng Mẹ
Về Trời;
-
hiểu biết tốt nhất về chính ḿnh.
Thời gian
của tiền thỉnh
sinh
57.
Mặc dầu không thể xác định được thời lượng
cần thiết cho giai đoạn này, tuy nhiên điều
quan trọng, đối với ứng sinh cũng như
cho tu sĩ chịu trách nhiệm về việc hướng
dẫn ứng sinh, là định một giới hạn thời
gian cho việc đào tạo nhân bản và Kitô hữu.
Cũng vậy,
cần thiết định thời hạn quyết định
với sự uyển chuyển.
b.
Thỉnh sinh
58.
Vào thỉnh sinh là một bước chính thức. Dù
không bao gồm bất cứ lời cam kết về pháp lư
nào, đối với Hội Ḍng cũng như đối
với ứng sinh, tuy nhiên nó phải có sự đón nhận lẫn nhau được
ưng thuận một cách tự do. Điều này bao hàm:
-
về phần ứng sinh, đệ tŕnh một lá
thơ cho Bề trên Giám tỉnh tŕnh bày ư nghĩa và động
lực xin vào thỉnh sinh cũng như những của
ḿnh để làm điều đó. Thơ thỉnh cầu
này phải được kèm theo một bản báo cáo của
tu sĩ đă hướng dẫn ứng sinh trong suốt
thời gian tiền thỉnh sinh.
-
về phần Hội Ḍng, sau khi xem xét thỉnh cầu của
ứng sinh, Bề trên Giám tỉnh sẽ chấp nhận ứng
sinh vào thỉnh sinh[12].
59.
Thời gian thỉnh sinh được thực hành trong
ḍng Mẹ Về Trời. Cộng đoàn này có thể được dành riêng một cách đặc biệt
để đón nhận các thỉnh sinh. Thỉnh sinh có thể
tiếp tục theo học hoặc làm việc của ḿnh
trong thời gian này.
Mục đích
60.
Giai đoạn thỉnh sinh là thời gian nhằm giúp ứng
sinh:
-
đào sâu đức tin vào Đức Giêsu Kitô;
-
tiếp tục phân định ơn gọi của ḿnh;
-
làm sáng rỏ những động lực của ḿnh nhằm
tiến tới việc xin được nhận vào tập
viện một cách tự do và với tinh thần trách nhiệm.
Cách thực hiện
Các
phương tiệm nhằm đạt tới một cách
toàn vẹn những mục đích này:
Sống trong cộng
đoàn hoạt động tông đồ
61.
Sống trong cộng đoàn là phương cách tốt nhất
cho việc đào tạo suốt giai đoạn thỉnh
sinh. Điều quan trọng là thỉnh sinh có kinh nghiệm
sống một thời gian dài với một cộng
đoàn anh em ḍng Mẹ Về Trời. Nếu được,
ứng sinh có thể tham gia vào đời sống cộng
đoàn một cách đầy đủ nhất. Cộng
đoàn cũng có thể tổ chức những cuộc họp
cộng đoàn đặc biệt mà không có mặt của
những thỉnh sinh, nếu như cộng đoàn xét thấy
cần thiết.
Sự hướng
dẫn của một đặc trách đào tạo
62.
Đặc trách đào tạo phải đặc biệt
lưu ư:
-
tạo một bầu khí tin tưởng nhằm giúp việc
phân định và trưởng thành của thỉnh sinh
trong ḷng cộng đoàn;
-
giúp thỉnh sinh phân định những dấu chỉ
về tiếng gọi của Thiên Chúa, làm sáng rỏ và
đào sâu những động lực và ước muốn
gia nhập Hội ḍng, khám phá những đ̣i hỏi của
ơn gọi và đáp trả những đ̣i hỏi này
trong cuộc sống của ḿnh.
-
động viên thỉnh sinh tŕnh bày dự định về
sứ mạng riêng biệt và thích hợp nhằm giúp
đánh giá sự tiến bộ của ứng sinh;
-
kiểm chứng, đối với Hội ḍng, những
khả năng thực thụ của ứng sinh sống
đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời.
Đặc trách đào tạo cần theo sát sự phát triển của ứng
sinh và phân định nếu cần động viên, tŕ
hoăn, hay đề nghị thôi việc tiến bước của
ứng sinh vào Hội ḍng.
Để đạt được mục
đích này, đặc trách viên đào tạo phải có những
cuộc gặp cá nhân thường xuyên, đều đặn
với ứng sinh.
Hướng dẫn
thiêng liêng
63.
Thỉnh sinh phải tự do chọn lựa một vị
linh hướng, và cha giải tội cho ḿnh. Ứng sinh bàn
hỏi với đặc trách đào tạo về vấn
đề này. Điều mong muốn, vị linh hướng
là một tu sĩ thuộc ḍng Mẹ Về Trời.
Chương
tŕnh đào tạo
64.
Chương tŕnh cho thỉnh sinh được đặt
trên nền tảng cơ bản:
-
khai tâm đời sống cầu nguyện và bí tích;
-
đọc và suy gẫm Lời Chúa;
-
dẫn nhập lịch sử và linh đạo của
ḍng Mẹ Về Trời;
-
khám phá thực tại cụ thể của những anh em ḍng Mẹ Về
Trời trong cộng đoàn;
-
khám phá qua kinh nghiệm đời sống sứ mạng
của Giáo hội;
-
đọc lại công việc dấn thân tông đồ
mà ứng sinh đă nhận từ cộng đoàn;
-
hiểu biết về chính ḿnh và khả năng
quan hệ giữa cá nhân với nhau.
Thời gian thỉnh
sinh
65.
Thời gian thỉnh sinh được xác định
theo chương tŕnh đào tạo của Tỉnh ḍng. Tuy
nhiên, nó có thể thay đổi tùy theo những ứng sinh
khác nhau[13].
B.
TẬP VIỆN[14]
Mục đích
66.
“Tập viện là thời gian biến đổi và tập
sinh phải chỉ có ước muốn: được biến
đổi trong Đức Giêsu Kitô.”[15]
Mục đích của tập viện là nhằm hướng
dẫn ứng sinh từng bước vào đời sống
tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời, giúp ứng sinh phát
triển dự phóng tin mừng của ḿnh và đối chiếu
nó với chương tŕnh của ḍng Mẹ Về Trời[16].
Cuối giai đoạn này, tập sinh phải có khả
năng tự cam kết một cách quảng đại qua
những lời khấn, một cách thành tâm và không dè dặt,
sống những đ̣i hỏi của đời sống cộng
đoàn anh em ḍng Mẹ Về Trời.
67.
Như vậy, tập viện là thời gian ưu tiên
cho việc cầu nguyện, học hỏi, gặp gỡ
và trao đổi nhằm:
-
làm tăng trưởng t́nh
yêu của ứng sinh đối với Đức Kitô và
tinh thần sẵn sàng theo Người một cách triệt
để, phù hợp với chương tŕnh của đời
sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời. Điều
này có thể đ̣i hỏi nơi tập sinh những đọan
tuyệt và những từ bỏ nội ngọai tại
đôi lúc khá đau ḷng.
-
thực hành những lời khuyên tin mừng theo Luật
thánh Augustinô và Luật sống ḍng Mẹ Về Trời.
-
biến thành của ḿnh tinh thần của Cha d’Alzon và sự
say mê cho Nước Trời cũng như cuộc sống
của Người, đặc sủng và chương tŕnh
hoạt động đông đồ của Hội ḍng.
Cách thực hiện
Cộng
đoàn tập viện
68.
Cộng đoàn giúp các tập sinh sống kinh nghiệm về
cầu nguyện, đời sống huynh đệ, lời
khấn, và đời sống tông đồ. Thật vậy,
tập sinh cũng như Giáo tập chia sẽ một cách
đầy đủ đời sống và sứ mạng của
cộng đoàn. Ngược lại, cộng đoàn giúp
Giáo tập làm tṛn sứ mạng của ḿnh.
Hướng dẫn
của Giáo tập
69.
“Một cách ngắn gọn, gương mẫu của giáo tập sẽ là Đức Giêsu
Kitô sống giữa các tông đồ và dạy cho họ
đời sống tin mừng[17].”
Hướng dẫn các tập sinh là nhiệm
vụ dành riêng cho một ḿnh Giáo tập dưới quyền
của các Bề trên thẩm quyền[18].
Với ban đào tạo của Tỉnh
ḍng, Giáo tập xác định chương tŕnh đào tạo
của tập viện, xin Bề Trên Tổng quyền phê chuẩn, và thực hiện nó.
Giáo tập giúp các tập sinh phân định và thực hành ư muốn của
Thiên Chúa Cha. V́ thế, giáo tập phải thường xuyên
gặp gỡ mỗi một tập sinh, theo định kỳ
phù hợp với từng nhu cầu của mỗi người.
Như vậy, giáo tập là nhân chứng sự tiến triển
về đời sống thiêng và nhân bản của họ.
Giáo tập là người diễn giải
và người tôi tớ hiểu biết về tinh thần
ḍng Mẹ Về Trời, tức là truyền thống tinh
thần và tông đồ được nh́n nhận trong
Giáo hội và nổ lực hiểu biết và ǵn giữ nó
được mở ra theo những tiếng gọi của
Chúa Thánh Thần ngày hôm nay. Giáo tập giúp tập sinh hội
nhập vào trong truyền thống tinh thần và cảm thấy
có trách nhiệm về tương lai của gia đ́nh tu sĩ
của ḿnh.
Giáo tập sẽ giúp tập sinh đảm
nhận những từ bỏ theo những lời khuyên của
Tin Mừng và khích lệ ứng sinh nuôi dưỡng những
thái độ phát sinh từ những lời khuyên tin mừng.
Hướng dẫn thiêng
liêng
70.
Giáo tập là vị linh hướng chính của tập
sinh. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết,
đương sự có thể chọn một vị linh hướng khác với sự đồng ư
của Giáo tập. Tập sinh sẽ chọn một cha giải
tội khác với Giáo tập.
Những chiều
kích cơ bản
71.
Chương tŕnh tập viện sẽ được
đặt ra theo những mục tiêu tập viện, những
điều kiện của Tỉnh ḍng và những chiều
kích quốc tế, đa văn hóa của cộng đoàn tập
viện. Nó lưu ư tới những chiều kích cơ bản
sau:
Con của niềm tin
72.
“Đức Giêsu Kitô là trung tâm đời sống của
chúng ta. Chúng ta cam kết theo Người trong niềm tin, niềm
hy vọng và trong t́nh yêu. Như Người, chứng nhân
t́nh yêu của Chúa Cha và liên đới với con người,
anh em ḍng Mẹ Về Trời muốn trở thành con
người của niềm tin và con người của thời
đại[19].”
Trước hết tập viện là thời gian kinh nghiệm
về Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. Tập sinh học
khám phá Đức Kitô sống trong Lời của Thiên Chúa,
trong lịch sử cá nhân, những mối quan hệ với
anh em và những kinh nghiệm tông đồ. Như vậy,
tập sinh ư thức về t́nh yêu của Đức Kitô
dành cho ḿnh và cho anh em.
73.
Kinh nghiệm về Thiên Chúa của sinh tập phải
đặt trọng tâm nơi Đức Kitô, đấng
được học hỏi, chiêm ngắm, yêu mến và
noi theo. Hơn nữa, sự đào luyện của ứng
sinh, theo bước Đức Kitô, phải cắm rễ
trong những đặc tính riêng của ḍng Mẹ Về Trời:
-
thực hành những nhân đức đối thần[20];
-
học hỏi tín điều căn cứ vào những
nguồn: Thánh Kinh, truyền thống Giáo phụ và Gíao huấn của Giáo hội.
-
Cơ cấu phụng vụ : tập sinh sẽ t́m
thấy Đức Kitô khi đi vào trong đời sống
cầu nguyện của Giáo hội qua việc tham dự
tích cực vào đời sống cầu nguyện phụng
vụ của cộng đoàn. Như vậy tập sinh sẽ
có điều kiện để sống một cách sung măn
các bí tích Thánh thể và Ḥa giải.
74.
Đời sống cầu nguyện cá nhân, luôn là con
đường cần thiết để sống kinh nghiệm
về Thiên Chúa, đ̣i hỏi một sự đào luyện
kiên tŕ và liên tục, dựa trên tín điều, như Cha
d’Alzon luôn nhắc nhở chúng ta[21].
Nó là cuộc chiến đầu tiên của tập sinh. Cuộc
chiến gian nan. Giáo tập và vị linh hướng phải
giúp ứng sinh t́m phương pháp và nhịp độ trong
đời sống cầu nguyện.
75.
Lắng nghe và suy gẫm Lời Chúa sẽ đưa tập
sinh tới sự yêu mến và tôn thờ Đức Kitô,
trung tâm điểm của đời sống ḿnh. Yêu mến
Đức Kitô, Người đă tự ḿnh mạc khải,
một cách sâu sắc hơn, ứng sinh sẽ c̣n yêu những
ǵ mà Người yêu mến nhất, Mẹ của Người
và Giáo hội.
Tu sĩ sống trong cộng đoàn hoạt
động tông đồ
76.
“Không có ǵ đẹp bằng một cộng đoàn tu sĩ
nơi mà mỗi người yêu thương nhau. Song để
được như vậy cần có sự đóng góp của
mọi người[22].”
Tập viện là thời gian quan trọng nhằm
đưa lư thuyết và thực hành vào trong đời sống
chung. Nơi b́nh thường và cần thiết nhằm thực
hiện điều đó là cộng đoàn sống động
và đích thực.
77.
Thỉnh sinh vào tập viện thường mang khát vọng
lớn về đời sống chung, với một phần
ước mơ. Tập viện sẽ phải gọt tỉa
những mong đợi đó và đào sâu chúng bằng việc
tiếp cận với truyền thống của ḍng Mẹ
Về Trời.
78.
Truyền thống này được cảm hứng từ
suy nghĩ và kinh nghiệm của thánh Augustinô. Như vậy,
giáo dục đời sống cộng đoàn phải kết
hợp toàn bộ tư tưởng của thánh Augustinô và sự
đóng góp đặc trưng của Cha d’Alzon. Tập sinh sẽ
phải khám phá và cam kết sống:
-
Trong cộng đoàn được cấu tạo bởi
những anh em với những cá tính khách nhau, đến từ
những chân trời văn hoá khác nhau. Những anh em này sẽ
cho tập sinh cọ xát với những sự phong phú và những
khó khăn của tính quốc tế.
-
Trong đời sống cộng đoàn được
xây dựng từ tính giản dị, sự khiêm tốn, sự
vui tươi, những trách nhiệm được chia sẽ,
và cách quan hệ mang đặc tính thẳng thắn, thân mật, tôn trọng lẫn
nhau và tinh thần gia đ́nh.
-
Trong một cộng đoàn được tập hợp
bởi niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, Người duy nhất
cấu tạo và xây dựng lại cộng đ̣an từng
ngày. Nó sẽ được xây dựng trên luật t́nh yêu
huynh đệ, sự đón tiếp, sự phục vụ
và sửa dạy nhau một cách huynh đệ mà Đức
Kitô mời gọi chúng ta.
-
Trong cộng đoàn hoạt động tông đồ
hướng tới sứ mạng. Nếu như tập viện
chưa phải là thời gian để dấn thân toàn thời
gian cho công việc tông đồ bên ngoài, nó cũng khai tâm
cho tập sinh những chiều kích tông đồ của cuộc
sống chúng ta và mời gọi tập sinh đón nhận
tin mừng từ những người mà ứng sinh
được sai đến.
-
Trong cộng đoàn cởi mở đối với toàn
thể gia đ́nh ḍng Mẹ Về Trời, bằng lời cầu
nguyện, thăm viếng những cộng đoàn khác, tham
dự những cuộc gặp gỡ của gia đ́nh Mẹ
Về Trời, liên lạc thông tin qua những tờ bulletin
và các trang web.
Theo Đức
Kitô, người nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục
79.
Cam kết sống đời sống tu sĩ có nghĩa
là sống niềm tin, hy vọng và bác ái tin mừng theo
Đức Kitô, Người nghèo khó, khiết tịnh và vâng
phục. Việc thực hành những lời khuyên tin mừng,
nền tảng của ba lời khấn, đem lại cho
lời khấn đời sống tu sĩ nền tảng
nhân bản trong những ǵ liên quan tới sự làm chủ
xúc cảm, việc sử dụng của cải và thi hành
quyền lực và nền tảng thiêng liêng, hiểu theo nghĩa
thực hành đó muốn thể hiện rằng, ngay ở đời này,
Thiên Chúa có thể đổ đầy cuộc sống của
một con người.
Nghèo khó tu sĩ
80.
Bước theo Đức Kitô, Người đă chọn
sống nghèo, tập sinh phải đào sâu ư nghĩa của
việc chia sẽ, học từ bỏ những của cải
cá nhân, và đặt niềm hy vọng của ḿnh vào một
ḿnh Thiên Chúa, của cải duy nhất đích thực.
Như vậy, ứng sinh sẽ hạnh phúc trong cộng
đoàn và sẵn sàng phục vụ những anh em ḿnh. Sống
giản dị, làm việc, và học tập đối với
anh em ḍng Mẹ Về Trời là những dấu ấn
riêng của sự nghèo khó theo Tin Mừng. “Nghèo khó phúc âm là dấu
chỉ bên ngoài của sự thực hành niềm hy vọng
của chúng ta[23].”
Đức khiết tịnh
81.
“Hăy dành cho nhau một t́nh yêu đầy ḷng thương
mến, quư trọng, tôn trọng, và chân chính[24].”
Theo bước chân Đức Kitô, người đă sống
khiết tịnh giữa những người cũng thời,
tập sinh khám phá ra rằng đức khiết tịnh là
con đường giải phóng cho đời sống huynh
đệ và tông đồ. Đức khiết tịnh biểu lộ tính triệt để tiếng
gọi của Thiên Chúa. Đức khiết
tịnh là để
sống trong
t́nh yêu. Xem chương thứ nhất Directoire trong
đó Cha d’Alzon đă đề nghị cho chúng ta ba t́nh yêu:
t́nh yêu đối với Đức Giêsu Kitô, Mẹ Maria, và
Giáo hội.
Vâng phục tu
sĩ
82.
Vâng phục tu sĩ là “nữ tử của niềm tin”,
“sự nh́n nhận quyền của Thiên Chúa”, và “sự bày tỏ
t́nh yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa[25].”
Theo Đức Kitô, Người đă tự ḿnh vâng phục
và trở thành người đầy tớ, tập sinh phải
ư thức rằng người được sai đi phải
lắng nghe và phục vụ người sai. Vâng phục tu
sĩ sẽ được sống cụ thể đới
với tập sinh qua mối quan hệ giữa Giáo tập
và với những anh em sống trong cộng đoàn. Sự
vâng phục được sống trong niềm tin và t́nh
yêu cho phép các mối quan hệ được h́nh thành từ
sự thẳng thắn, tự do, và sự nh́n nhận chân
thực và khiêm tốn về sự phục vụ của từng
anh em trong việc t́m kiếm thánh ư của Thiên Chúa.
Tông đồ
cho Nước Trời trị
đến
83.
“Trên hết chúng ta là những tông đồ[26].”
Tinh thần ḍng Mẹ Về Trời là “tinh thần của
sự nhiệt huyết và tông đồ[27].”
T́nh yêu đối với Đức Kitô được thôi
thúc trong sứ vụ. Tập viện sẽ nung nấu t́nh
yêu đối với Giáo hội và sự nhiệt huyết
cho Nước Trời, như Cha d’Alzon đă mong muốn[28].
84.
Cha d’Alzon, say sưa v́ Thiên Chúa, luôn măi là người thầy
đầu tiên trong lănh vực này. Dù những hoạt động
tông đồ của người không c̣n là của chúng ta,
song tinh thần, sự nhiệt huyết và t́nh yêu của
người vẫn tiếp tục lây nhiễm và chiếu
sáng chúng ta. Cũng vậy người c̣n lây nhiễm và chiếu
sáng chúng ta về sự say mê chiến đấu v́ Thiên
Chúa, v́ Giáo hội và v́ con người bị xúc phạm và bị
tổn thương khi không có Đức Kitô. Dó đó, đối
với tập sinh, điều quan trọng là từng
bước thấm nhuần đặc sủng của Cha
d’Alzon, nhận biết những nguồn và thái độ nền
tảng tinh thần tông đồ của người.
85.
Ngay từ tập viện, tập sinh phải xây dựng
những nền tảng về tâm hồn tông đồ của
ḿnh. Tập sinh phải ư thức rỏ tập viện là
thời gian thiết yếu nhằm ư thức rỏ về
tầm quan trọng của việc tông đồ và sự
hoán cải cần thiết trong sứ mạng mà tập
sinh sẽ thực hiện hơn nữa sau tập viện.
86.
Chia sẽ những kinh nghiệm tông đồ, công việc
tông đồ thường tuần, thời gian thực tập
sẽ cho phép tập sinh có được sự nhạy cảm
với thực tế, đời sống và sứ mạng
của Giáo hội.
Người thừa
kế truyền thống ḍng Mẹ Về Trời
87.
“Các bậc đàn anh đả để lại cho anh
em một tấm gương [...]. Hăy bước theo dấu vết của họ [...]. và tiến
bước[29]” Cộng
đoàn tập viện là con
đường thường nhật cho phép tập sinh
đi vào lịch sử của ḍng Mẹ Về Trời.
Nơi đây tập sinh sẽ học « sống trong
ḍng Mẹ Về Trời”, học biết sống kết hợp
với Thiên Chúa trong cộng đoàn và thực hành sứ vụ,
đó là cách sống đặc thù của ḍng Mẹ Về
Trời.
88.
Một sự hiểu biết thâm sâu về cha d’Alzon là điều không thể
thiếu. Chỉ có người là tổ phụ. Người sẽ là bạn
đồng hành thường ngày của tập sinh. Cuộc
sống, những bài viết, công việc và tinh thần của
người phải trở nên quen thuộc đối với
tập sinh, ngơ hầu tập sinh có thể phân định ḿnh sẽ trở thành người
con và anh em của người hay không.
89.
Cha d’Alzon phải được nh́n một cách khách trong
khung cảnh lịch sử của người, để
tránh những sai lầm không đặt đối tượng
vào một thời kỳ lịch sử đặc biệt,
những chướng ngại vật bởi sự hiểu nhầm về ngôn từ, tư tưởng và
những hoàn cảnh và để cho phép phân định những
ǵ là nhất quán và những ǵ là nhất thời.
90.
“Chỉ khi nghiên cứu tư tưởng đă tŕ trong
việc sáng lập ḍng, các con mới có thể tiến lên
trong sự ḥan thiện mà các con được mời gọi
đến[30]”
Để sự hoà nhập của tập sinh vào trong lịch
sử anh em ḍng Mẹ Về Trời là cá nhân, ư thức và
sóng tỏ, tập sinh phải học biết lịch sử
bắt đầu từ cộng đoàn tiên khởi ở
Nimes cho tới thời của chúng ta.
91.
Học hỏi lịch sử ḍng Mẹ Về Trời với
sự trung thực, chân thật bằng cách đặt nó
vào trong bối cảnh truyền thống Augustinô bắt nguồn
từ những thế kỷ đầu tiên của Giáo hội.
Chúng ta cũng cần phải mở rộng tầm nh́n của
tập sinh về ḍng Mẹ Về Trời hôm nay trong sự
phức tạp và đa dạng của yếu tố quốc
tế để không khép kín trong những biên giới hạn
hẹp của một vùng.
92.
Các tập sinh không phải phát minh ra ḍng Mẹ Về Trời,
nhưng họ là những người vẽ nên
gương mặt ḍng Mẹ Về Trời hôm nay và cho phép
gương mặt của Ḍng được đổi mới.
Tập viện là nơi trao đổi hai chiều giữa
ḍng Mẹ Về Trời và các tập sinh.
C-
HẬU TẬP VIỆN[31]
93.
Giai đoạn hậu tập viện phải chuẩn bị người tu sĩ
đi đến vĩnh khấn trước Thiên Chúa trong
ḍng Mẹ Về Trời qua việc chia sẽ hoàn toàn đời
sống chung. Giai đoạn này phải cho phép khấn sinh
bổ sung sự hiểu biết về Cha d’Alzon, thánh Augustinô và ḍng Mẹ Về Trời. Đây là giai đoạn hoà nhập từng
bước vào trong đời sống của Tỉnh ḍng,
Hội ḍng và đại gia đ́nh ḍng Mẹ Về Trời.
94.
Gia nhập ḍng Mẹ Về Trời, người tu sĩ
trẻ chọn người hướng dẫn: Cha d’Alzon.
Khấn sinh chọn con đường của Tin Mừng:
Luật sống. Khấn sinh kết nạp vào gia đ́nh tu
có một quá khứ, một tinh thần và một ơn gọi
được nh́n nhận bởi Giáo hội, và một sứ
mạng hiện tại trong thế giới. Khấn sinh tự
giao ước trọn cuộc đời của ḿnh và trọn
con người của ḿnh trong gia đ́nh mà ḿnh học yêu mến.
Mục tiêu
95.
Hậu tập viện, một cách nền tảng, là thời
gian cho tu sĩ:
-
hoà nhập cuộc sống của ḿnh. Chia sẽ đời
sống chung và công việc tông đồ của ḍng Mẹ
Về Trời, tu sĩ dâng hiến cho Thiên Chúa trọn vẹn
con người, cuộc sống, những khả năng và
những dự định của ḿnh.
-
đào sâu niềm tin vào Đức Kitô, biểu lộ qua việc tuân dữ những lời khấn, sống trong cộng đoàn, cũng như
đời sống t́nh cảm và quan hệ.
-
biến thành của ḿnh đặc sủng và sứ mạng
của Hội ḍng.
Cách thực
hành
96.
Những mục tiêu này đ̣i hỏi người tu sĩ:
-
tiếp tục đào sâu mối liên hệ với Thiên
Chúa;
-
sống kinh nghiệm về sự bền độ, sự
trung thành và về về việc dâng ḿnh cho Thiên Chúa trong
đời sống tu anh em ḍng Mẹ Về Trời;
-
đào sâu đặc sủng của Hội ḍng và cách mà
đặc sủng này được sống bằng cách
đọc những bản văn nền tảng và những
tài liệu chính thức của Hội ḍng và bằng cách
tham dự những cuộc gặp gỡ khác nhau được
dành cho những tu sĩ trẻ;
-
gặp gở thường xuyên với đặc trách
đào tạo và người linh hướng.
Hàng năm, tu sĩ khấn tạm, với
đặc trách đào tạo của ḿnh, sẽ thiết lập
chương tŕnh về việc đọc sách, những bài
viết tổng hợp, hay suy tư của ḿnh, hay những nghiên cứu, với mục đích t́m hiểu sâu xa hơn về Cha
d’Azon, về linh đạo và lịch sử của ḍng Mẹ
Vê Trời.
97.
Những mục tiêu này đ̣i hỏi Hội Ḍng:
-
cho phép người anh em đă tuyên khấn những
điều kiện thuận lợi nhằm giúp phát triển tinh thần và nhân bản. Hội ḍng phải đặc biệt
quan tâm trong việc đảm bảo cho người anh em:
-
môt cộng đoàn vững chắc và sống động
nơi đó người anh em sẽ có khả năng sống
đời sống tu sĩ của ḿnh trọn vẹn, trong
bầu khí của niền tin, cầu nguyện, sự tin
tưởng và tự do.
-
một đặc trách đào tạo, được chỉ
định bởi Bề trên Giám tỉnh, người sẽ
đồng hành với người anh em trong tất cả
các lănh vực của việc đào tạo.
-
một việc đào tạo bao gồm nhân bản,
thiêng liêng, tín lư cũng như mục vụ thích ứng với
người anh em, và mang tính linh hoạt, để người
anh em có thể thu được một năng lực cá nhân phù
hợp với những khả năng của ḿnh và những
nhu cầu của Hội ḍng.
-
bàn thảo với người anh em, trong suốt thời
gian tạm khấn, về vấn đề sứ mạng
tương lai và những nguyên cứu chuyên sâu cho người
anh em. Những nguyên cứu này không thuộc về quyền
nhưng là về sứ mạng. Chúng nhắm vào sự am hiểu về niềm
tin, điều này trở thành một chuẩn mực quyết
định để chọn chuyên ngành.
98.
Mỗi lần tuyên khấn lại, người anh em sẽ
phải tŕnh bày bản tự đánh giá cho đặc trách
đào tạo của ḿnh và cho cộng đoàn. Trong dịp
này, người anh em cũng sẽ tŕnh bày chương
tŕnh của ḿnh cho năm tới.
99.
Khi đến thời gian xin vĩnh khấn, việc xem
xét lại tất cả những đánh giá của ḿnh, từ
lần khấn đầu, sẽ giúp người anh em
đi đến một quyết định chín muồi và
khắc phục những vấn đền c̣n lại.
Những chiều
kích nền tảng
Con của niềm tin
100.
Đời sống của người anh em đă tuyên
khấn được đặt trọng tâm trong Đức
Kitô, được nuôi dưỡng bằng niềm tin, và
cầu nguyện. Theo Đức Kitô đ̣i hỏi gặp gỡ
thường ngày với Người. Không có một lư do nào
khác cho lời tuyên hứa của ḿnh là Đức Kitô và
Phúc âm, và không thể t́m đâu ra nguồn sinh dưỡng là qua việc
cầu nguyện.
101.
Kinh nghiệm về Thiên Chúa không phải được
thực hiện một lần thôi. Nó phải được
tiếp tục đào sâu từng ngày; nếu không nó bị
thiếu rễ và chỉ hời hợt. Trong thời gian
sau tập viện, người tu sĩ cần nội tâm
hoá tất cả những ǵ mà ḿnh đă học hỏi
được trước đó, bằng việc phát triển sự đánh giá của
ḿnh qua suy gẫm và sáng tạo.
Điều
quan trọng mà tu sĩ tự đặt cho ḿnh:
-
phương pháp rèn luyện, nhịp độ cầu
nguyện cá nhân, suy gẫm Lời Chúa, và đón nhận sự
tha thứ. Sẽ không thể có kinh nghiệm về Thiên
Chúa nếu như không có những cuộc gặp gỡ
nhưng không với Ngài.
-
cầu nguyện tông đồ, bao gồm những ư nguyện
của Giáo hội và của thế giới, quan tâm tới
việc tham dự vào việc cầu nguyện của dân
Chúa, nhất là tham gia những giờ cầu nguyện của
giáo hội địa phương. Như vậy tu sĩ sẽ
vượt qua tính nhạy cảm riêng nhằm tham dự
vào việc cầu nguyện của cộng đoàn Kitô hữu
lớn hơn.
-
tiếp tục được hướng dẫn thiêng
liêng. Trong sự cởi mở tâm hồn với vị linh
hướng, người tu sĩ sẽ có khả năng nối
kết đời sống cầu nguyện và đời sống
tông đồ của ḿnh, cũng như có khả năng
nh́n lại kinh nghiệm về Thiên Chúa của chính ḿnh.
102.
So với thời gian tập viện, đời sống
của tu sĩ bị chi phối hơn nhiều bởi
muôn vàn sự bận rộn, và có nguy cơ bị phân tán bởi
công việc. Sự kết hợp giữa từng giây phút của
cuộc sống và những mối bận tâm làm nên cái nền
của cuộc sống có thể được hiện
trong kinh nguyện. Để thực hiện được
sự kết hợp này, người tu sĩ sẽ biến
lời cầu nguyện của Giáo hội thành lời cầu
nguyện của ḿnh, ngay cả khi việc cầu nguyện
không được đảm bảo bởi cộng
đoàn, tu sĩ phải đảm trách như là trách nhiệm
cá nhân. Tu sĩ phải ḥa quyện cả cuộc sống của
ḿnh vào việc cầu nguyện và cầu nguyện vào trong
cuộc sống của ḿnh. Tu sĩ t́m cách xem xét lại
công việc học tập, những kinh nghiệm tông đồ
và những mối liên hệ dưới ánh sáng của Phúc
âm, v́ tất cả những ǵ ḿnh trở thành và làm phải
trở nên kinh nghiệm về Đức Giêsu Kitô, Đấng
được học hỏi, chiêm ngắm, yêu
thương và theo gương[32].
103.
Những năm hậu tập viện sẽ cũng cố
thêm những niềm vui và những thành công cho tu sĩ,
nhưng chúng cũng cho người anh em phải đối
diện với những xung đột, những thử
thách không thể tránh. Đây là những điều kiện
nhằm giúp tu sĩ trưởng thành trong Thiên Chúa. Điều
quan trọng đối với tu sĩ là cảm tạ về
những ǵ mà Thiên Chúa đang thực hiện trong đời
sống của ḿnh và luôn luôn tâm niệm những lư do tại
sao phải kiên định trong sự cầu nguyện. Lời
mời gọi trở nên đồng h́nh đồng dạng
với Đức Giêsu Kitô bao hàm mối quan hệ cá nhân với
Người, và những đ̣i hỏi của sứ mạng,
v́ chúng ta chỉ có thể cho một khi chúng ta đă lănh nhận.
104.
Nhờ sự trung thành thường ngày, trong sự thinh
lặng của cầu nguyện, và qua việc lắng nghe
Chúa, tu sĩ trẻ sẽ t́m thấy sức mạnh để
tiến tới vĩnh thệ. Qua kinh nghiệm về Thiên
Chúa, người anh em sẽ từng bước trở
thành “con người của niềm tin và con người của
thời đại,” “chứng nhân t́nh yêu của Thiên Chúa Cha
và liên đới với người đồng loại[33].”
Tu sĩ sống
trong cộng đoàn hoạt động tông đồ
105.
Việc đào luyện về đời sống cộng
đoàn tiến triển tường bước, có lúc chậm
tiến và lúc gặp khó khăn. Nó cần được
theo đuổi suốt cuộc đời. Nó đ̣i hỏi sự hối
cải thường nhật của mỗi một tu sĩ
đễ vượt qua những căng thẳng và những bất đồng. Chia sẽ một cách tích cực
trong đời sống cộng đoàn là một yếu tố
cần thiết trong việc đào tạo của một
tu sĩ trẻ. Cộng đoàn cần phải là:
-
một nơi của tính đồng trách nhiệm. Mỗi
tu sĩ được mời gọi tham dự một
cách tích cực và trọn vẹn trong việc xây dựng
đời sống cầu nguyện của cộng
đoàn, các cuộc hội họp, các khoá đào tạo, các
công việc trong nhà, đời sống kinh tế của cộng
đoàn.
-
một nơi của sự cầu nguyện và chia sẽ.
Một cộng đoàn, được kết cấu bởi
những anh em trong thời gian đào tạo hay đón nhận
những tu sĩ trẻ, cần phải lưu ư một
cách đặc biệt những yếu tố sau:
·
đảm bảo một nhịp sống cầu nguyện
thường ngày được đặt trọng tâm vào
việc cử hành Bí tích thánh thể, quan tâm tới những kỳ tĩnh
tâm hàng tháng, tĩnh tâm năm cho những tu sĩ.
·
tạo điều kiện thời gian chuyện tṛ, chia
sẽ. Những cuộc họp hàng tuần sẽ là thời
gian ưu tiên cho sự trao đổi, suy nghĩ về
đời sống, về niềm tin và những công việc
tông đồ của cộng đoàn.
·
nhấn mạnh tầm quan trọng của tu nghi cộng
đoàn. Ít nhất một lần trong năm cộng
đoàn đánh giá tu nghị cộng đoàn là điều cần
thiết.
-
một nơi của sự tự do, thẳng thắn và thân ái. Cộng đoàn phải
có khả năng nhân chứng về một đời sống
đơn giản và huynh đệ.
Theo Đức
Kitô, nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục
106.
Hậu tập viện là thời gian để trưởng
thành hơn về nhân bản cũng như về thiêng liêng
để chuẩn bị người tu sĩ cho việc vĩnh khấn. Việc tuyên khấn này bao hàm những khía cạnh sau:
-
quyết định theo Đức Kitô một cách
triệt để ám chỉ rằng tu sĩ luôn luôn tiến
xa hơn nữa trong niềm tin, hy vọng và t́nh yêu, cũng
như qua những năm khấn tạm tu sĩ khẳng
định xác tín của lựa chọn ban đầu.
-
Dấn thân với những anh em khác mà ḿnh đón nhận
khi gia nhập vào ḍng Mẹ Về Trời và với những
người tu sĩ này ḿnh muốn chia sẽ tinh thần
và cách sống. Lời tuyên khấn của ḿnh cam kết một
cách hoàn toàn vào trong chương tŕnh đời sống tu sĩ
được đề ra bởi ḍng Mẹ Về Trời
và được chuẩn y bởi Giáo hội như là một phương thế cụ thể để
sống Phúc âm. Điều đó ám chỉ người tu sĩ
liên đới với tất cả những ǵ làm nên đời
sống và lịch sử của gia đ́nh tu sĩ.
-
kinh nghiệm về sự trung thành. Sự cam kết
trong đời sống tu sĩ phải có khả năng chống
cự với thời gian, sự va chạm những với
thực tế đời thường, và với tất cả
những thăng trầm của những t́nh huống của
cuộc sống. Trong suốt thời gian hậu tập viện,
người tu sĩ sẽ cần chứng tỏ khả
năng của ḿnh đối phó với những thách thức
của thời gian và điều chế chúng với sự
trung thành và ḷng kiên nhẫn. Điều này đ̣i hỏi sự
đào luyện cá nhân được cấu thành từ sự
từ bỏ, cân bằng, khả năng tự kiềm chế,
tính đơn giản, sự rỏ ràng, quăng đại và
sự phục vụ. Việc đào luyện này, bao hàm việc
chấp nhận cái nh́n của những anh em khác trên cuộc
sống của ḿnh, sẽ được thực hành một
cách đặc biệt trong việc sống những lời
khấn.
Đức
nghèo khó tu sĩ
107.
Chúng ta cần nhấn mạnh những điều sau:
-
sống đơn giản, điều này loại bỏ
việc t́m kiếm tiện nghi và đ̣i hỏi chúng ta cần
học biết sự tụ do đối với vật chất.
-
làm việc, v́ tu sĩ cần kiếm sống, như vậy
phải làm việc. Tu sĩ phải nghiêm khắc về việc
sử dụng thời gian và cùng chịu trách nhiệm trong
việc duy tŕ đời sống kinh tế thường nhật
của cộng đoàn.
-
sự cởi mở với những người khác, tu
sĩ sẽ cần để ư tới những bất công
xă hội, quan tâm tới những cộng đoàn dấn
thân trong những môi trường bị thiệt tḥi nhất,
và sống liên đới thật sự với người
nghèo. Điều này cũng có nghĩa là sống giữa môi
trường của họ trong một thời gian. Mặt
khác chúng ta cũng cần phải làm quen, qua nguyên cứu, với
những thực tế kinh tế xă hội của thế
giới cũng như với sự giảng dạy của
Giáo hội về xă hội.
Đức khiết
tịnh
108.
“Yêu và được yêu”, đó là ơn gọi của
con người. Khả năng yêu cần được
giáo dục, để biết hướng về điều
chính yếu. Điều này ngụ ư:
-
vô tư, nguyên tắc
trong những mối liên hệ, đi ra ngoài, vui chơi giải
trí, sử dụng phương tiện truyền thông v.v. Sự
khổ hạnh này không được sống như một sự
mất mát, nhưng là sự mong muốn một cách tự
do.
-
khả năng quan hệ, nó phải được biểu lộ qua việc ḥa nhập thực sự vào cộng đoàn, t́nh yêu huynh đệ, lắng nghe, cởi mở với người
khác, sự hy sinh cho sứ mạng. Khả năng quan hệ
đ̣i hỏi khả năng tự chủ đời sống
t́nh dục và nh́n nhận một cách đúng đắn những
mối quan hệ.
-
khả năng chấp nhận sự đơn độc
qua đó người tu sĩ phải thực nghiệm
để biết nếu như ḿnh thật sự b́nh an với
quyết định đă chọn và nếu như ḿnh có thể sống một
cách b́nh thản và phấn khởi nộ tâm để theo
Đức Kitô.
Đức tuân
phục tu sĩ
109.
Qua lời khấn vâng lời, người tu sĩ đặt
ḿnh trong thái độ lắng nghe (ob+audire) Thánh thần, lắng
nghe anh em mà với những người này người tu sĩ
cam kết liên đới với họ. Người tu sĩ
phải đặc biệt trưởng thành trong những
điều sau:
-
sự tự do từ bên trong, khả năng sáng kiến,
khả năng lắng nghe và đức vâng lời phản
loại bỏ đồng thời sự nô lệ và sự
phản kháng một cách có hệ thống đới với
tất cả mọi người cầm quyền.
-
t́nh đoàn kết được thể hiện qua khả
năng chấp nhận quyết định của người
khác, tôn trọng những quyết định đă
được đưa ra, tŕnh bày với người
khác những quyết định muốn đưa ra.
-
ư thức về những hành động của ḿnh
trước bề trên và anh em.
-
sẳn sàng cho sứ mạng và cho những định hướng lớn được
đề xuất bởi Giáo hội và Hội ḍng, đặc
biệt cởi mở cho chương họat động
tŕnh tông đồ của Tỉnh ḍng.
-
khả năng chịu trách nhiệm một cách đầy
đủ, cộng tác và chia sẽ với những người
khác.
Tông đồ
cho sự hiển trị của Nước Trời
110.
Hậu tập viện là thời gian khi tu sĩ phải
tham gia vào chương tŕnh những định hướng
họat động tông đồ của Tỉnh ḍng và của
Hội ḍng trong tất trong tính đa dạng của Hội
ḍng và từng bước xác định cụ thể những
lănh vực sứ mạng riêng của ḿnh.
111.
Sứ mạng đ̣i hỏi việc đào tạo thích
nghi trong suốt thời gian hậu tập viện. Đào
tạo phải giúp người tu sĩ nhận biết những
khả năng về công việc tông đồ thật sự
của ḿnh. Nó phải bao hàm những điểm sau:
-
sự hiểu biết về những thực tại của thế giới và những việc đại nghĩa v́ Thiên Chúa và v́ con người.
-
kết hợp chương tŕnh cá nhân vào trong
chương tŕnh của Hội ḍng, nhưng phải luôn giữ
được những khát vọng của chính ḿnh.
-
lo lắng đem lại một chổ đứng cho những công việc
hoạt động tông đồ trong học tập, cầu
nguyện, trong việc sử dụng thời gian, chia sẽ
cộng đoàn.
Quan trọng
là có được một sự dấn thân tông đồ
vững chắc trong thời gian này, tuy nhiên, điều cũng hoàn toàn quan trọng là
lĩnh hội những thái độ tông đồ, và
để kiểm chứng chúng cũng cần có những cấp bậc hướng dẫn.
112.
Sứ mạng đ̣i hỏi chúng ta những phẩm chất
như sự quan tâm tới Giáo hội, khả năng sáng
kiến, làm việc nhóm, đặc biệt với những
người giáo dân, sự chia sẽ những kinh nghiệm
tông đồ trong cộng đoàn, sự sẵn sàng, khả
năng thích nghi, đối chiếu trong sự đối
thoại những ưu tiên cá nhân và những định
hướng của Hội ḍng và của Giáo hội[34].
113.
Sứ mạng cũng đ̣i hỏi chúng ta một sự
dấn thân tông đồ hiệu quả, tham gia cụ thể vào đời
sống tông đồ của cộng đoàn, các hoạt
động tông đồ, các khóa đào tạo được
sự chấp thuận của phụ trách đào tạo.
Chia sẽ sứ mạng tông đồ của
cộng đoàn, người tu sĩ phải có khả
năng t́m thấy nơi những anh em ḿnh chứng tá:
-
từ việc cầu nguyện cộng đoàn bao hàm
đời sống và những quan tâm lớn của Giáo hội.
-
từ việc chia sẽ những hoạt động
tông đồ dưới ánh sáng của Tin Mừng và Luật
sống.
-
từ đời sống quân b́nh dựa trên những
ưu tiên và lựa chọn được suy nghĩ chín chắn.
Qua những dấn thân hoạt động
tông đồ và các khóa đào tạo khác nhau, như sống
kinh nghiệm trong một cộng đoàn hay một quốc
gia khác, người tu sĩ sẽ khám phá những ưu
tiên của ḍng Mẹ Về Trời, đặc biệt
trong sự phục vụ người nghèo và những Giáo hội
trẻ.
114.
Sứ mạng đ̣i hỏi một sự thích ứng hổ
tương. Không hiếm những khi người tu sĩ
trẻ nhận thấy sự căng thẳng giữa những ước muốn của chính ḿnh và những
định hướng của chương tŕnh hoạt
động tông đồ của Tỉnh ḍng, đặc biệt
khi chương tŕnh này không được đa dạng
hóa. Sự căng thẳng này có thể có lợi:
-
điều này sẽ dẫn tu sĩ trẻ
tới một sự sẵn sàng lớn hơn và tinh thần
liên đới đích thực với Hội ḍng.
-
nó sẽ thúc đẩy Tỉnh ḍng đua ra một chương tŕnh hoạt động tông
đồ rỏ ràng, đa dạng hóa, linh hoạt, và cởi
mở với những sáng kiến và sáng tạo.
115.
để trở thành con người của thời
đại, liên đới với những thế giới,
văn hoá khác nhau, ứng sinh
hay tu sĩ trong thời gian đào tạo sẽ có có cơ
hội sống một thời gian dài ở trong một cộng
đoàn anh em ḍng Mẹ Về Trời ngoài quốc gia của
ḿnh.
D-ĐÀO TẠO TÍN LƯ
116.
“Mọi hoạt động của chúng ta sẽ
được thúc đẩy từ tinh thần tín lư[35].”
Đào tạo tín lư liên quan tới tất cả mọi tu sĩ,
dù là những tu sĩ đang chuẩn bị cho những sứ vụ truyền chức hay không. Nó bao hàm tất cả
những giai đoạn đào tạo một tu sĩ ḍng Mẹ
Về Trời. Tuy nhiên, thời gian hậu tập viện
được ưu tiên một cách đặc biệt cho
việc đào tạo này.
Mục tiêu
117.
chúng ta t́m cách đồng thuận về những động
lực nhằm thuyết phục tầm quan trọng của
việc đào tạo tín lư trong ḍng Mẹ Về Trời. Việc đào tạo cần thiết:
-
nhằm lĩnh hội sự hiểu biết tốt nhất về niềm tin, sống vững mạnh hơn trong Thiên
Chúa, yêu mến Đức Giêsu Kitô hơn nữa và những
người mà chúng ta được sai đến. Một
đức tin chỉ hời hợt ở bề mặt,
không thật sự cảm nhận được mầu
nhiệm kitô giáo, th́ rất mỏng ḍn và ít dấn thân.
-
nhằm hiểu biết cốt lơi của truyền thống kitô giáo và làm giàu có nó qua việc gặp gỡ những
văn hóa, những vấn đề của thế giới
ngày hôm nay, nhằm diễn tả chiều sâu bản chất
của truyền thống này bằng những thuật ngữ
mới và nối tiếp nổ lực của thánh Augustinô trong thời
của người: bày tỏ Đức Kitô như ánh sáng
của trái tim và của trí tuệ.
-
nhằm nhận thức về Tin mừng, thể hiện
tính thích đáng và tính thời sự của Tin mừng trong
những xă hội đa nguyên, tŕnh bày nó một cách dễ hiểu cho nhiều người, bằng
cách này chúng biến một trong những cảm nghiệm của
Cha d’Alzon thành của chúng ta.
118.
Đào tạo tín lư phải phù hợp với mỗi từng
tu sĩ, cho phép người anh em thực hiện phạm
vi trọn vẹn những khả năng của ḿnh và tuân
theo những đ̣i hỏi của sứ mạng mà ḍng Mẹ
Về Trời sẽ kư thác nơi người anh em này. Cần
quan tâm đặc biệt những khía cạnh sau:
-
tất cả mọi tu sĩ cần được
đào luyện nghiêm túc về căn bản trong lănh vực
này ngơ hầu việc đào đạo kitô hữu sẽ
cùng cấp độ với đào tạo nhân bản.
-
việc đào tạo chắc chắn, toàn diện và phù
hợp với những yêu cầu theo Ratio studiorum của
Giáo hội, sẽ cần thiết cho tất cả mọi
linh mục tương lai.
-
những anh em nào có sở thích học tập và khả
năng cho việc nguyên cứu cao hơn sẽ được
phép theo học chuyên sâu theo khả năng và nhu cầu của
ḍng Mẹ Về Trời.
Cách thự hiện
Việc hướng
dẫn
119.
Nâng đỡ và hướng dẫn một tu sĩ trong
quá tŕnh đào tạo là cần thiết nhằm:
-
xác định với người anh em những sở
thích và những khả năng, đề nghị một
chương tŕnh đào tạo tín lư thích ứng nhất với
người anh em, cũng như những nhu cầu của
Giáo hội và ḍng Mẹ Về Trời;
-
đảm bảo sự theo dơi về vấn đề
học tập của người anh em bằng cách động
viên và kiểm tra những bài làm, trong tinh thần đối thoại và giúp đỡ lẫn
nhau;
-
giúp người anh em đưa ra những sự lựa
chọn không thể tránh khỏi trong suốt thời gian đào tạo;
-
đánh giá việc học hàng năm của người
anh em, so sánh với những đ̣i hỏi của
chương tŕnh học tập.
Những
đ̣i hỏi cá nhân
120.
Việc học đ̣i hỏi người tu sĩ:
-
chứng tỏ việc sử dụng thời gian nghiêm
ngặt và lên lịch tŕnh nhằm tránh lăng phí thời gian
hay quá tải với những bận tâm bên ngoài;
-
t́m cách cân bằng giữa công việc học và đời
sống đức tin, giữa việc học và đời
sống hoạt động tông đồ.
Bầu khí thuận
lợi cho việc học tập
121.
Điều quan trọng:
-
phải có thời gian để học tập, như vậy
người anh em cần sống trong một cộng
đoàn mà cách sống và nhịp sống ưu tiên cho việc
học tập;
-
người anh em được thông hiểu và động
viên trong những cố gắng của ḿnh từ tất cả
mọi anh em khác;
-
nguyên tắc rỏ ràng cho tất cả mọi tu sĩ:
đào tạo tín lư đảm bảo tương lai của
người anh em cũng như của ḍng Mẹ Về Trời;
-
người anh em cần tập làm quen với những
phương pháp cho phép ḿnh tiếp tục việc đào tạo
sau này trong suốt cuộc sống của ḿnh.
Chương
tŕnh học tập
122.
Các đặc trách đào tạo phải đặc biệt
lưu ư những điều sau:
-
xác định chắc chắn sự lựu chọn những
viện giảng dạy phù hợp với những tiêu chuẩn của Giáo hội;
-
phải đảm bảo rằng chương tŕnh, về
cả nội dung và phương pháp sư phạm, khi
lưu ư tới những khả năng và định hướng
hoạt động tông đồ của người anh
em;
-
lưu ư tới những môn học có thể khiếm khuyết trong một số chương đào tạo,
đặc biệt lưu ư tới những ưu tiên của
ḍng Mẹ Về Trời, nhằm bổ sung nếu cần thiết, trong những lănh vực như thánh
Augustinô, đại kết, lịch sử thế kỷ
XIX, truyền thông đại chúng;
-
đề cập tới những khía cạnh tín lư đặc
biệt hơn cho những tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời,
qua những khóa học tập khác nhau và những cuộc hội
thảo được tổ chức cho mục đích đó;
-
thời gian học tập : việc đào tạo
tín lư sẽ không mang lại kết quả nếu đốt
giai đoạn. Các đặc trách đào tạo cần
lưu ư mỗi tu sĩ có đủ thời gian và thích hợp
cho việc học tập và giúp người anh em này tránh chồng
chất với công việc chuyên nghiệp. Cũng cần
lưu ư tới việc tôn trọng kỳ hạn học tập,
tránh việc kéo dài không chứng cớ.
123.
Lập “sổ học tập” có thể mang lại hửu
ích, đặc biệt nếu
như người anh em phải chuyển đổi nơi đào tạo, nhằm
đảm bảo chương tŕnh đào tạo chặt
chẽ.
E-
NHỮNG SỨ VỤ TRUYỀN CHỨC
124.
Sứ vụ phó tế và những năm đầu của
đời sống linh mục (hoặc là của phó tế
vĩnh viễn) là những thời gian quyết định
của việc đào tạo tông đồ. Những
năm này cần sự quan tâm lớn của những
người chịu trách nhiệm về đào tạo.
Đó là những thời gian dẫn nhập thực tiễn
vào các sứ vụ truyền chức và nhất là tập
luyện những thái độ mục vụ quan trọng.
125.
Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng ơn gọi
làm thầy trong ḍng Mẹ Về Trời cũng có một tầm
quan trọng. Tu sĩ phải được huấn luyện
về tín lư, nghiệp vụ phù hợp với những
đặc sủng riêng và phù hợp với chương
tŕnh họat động tông đồ của Tỉnh ḍng.
Người anh em này cũng cần
được hướng dẫn trong bước đầu
mục vụ. Bề trên Giám tỉnh sẽ ủy quyền
cho một tu sĩ giúp người anh em này thiết lập
một chương tŕnh hoạt động tông đồ
và đánh giá lại công việc mục vụ của ḿnh và
nâng đỡ người anh em này trong những khó khăn
phải đối phó.
Mục đích
126.
Sứ vụ phó tế và những năm đầu của
sứ vụ linh mục là thời gian mà tu sĩ học hỏi
thật sự nhằm lĩnh hội tâm hồn của
người đầy tớ và trái tim của người
mục tử như Đức Kitô theo đặc sủng
của ḍng Mẹ Về Trời.
Đực truyền
chức nhằm phục vụ Tin Mừng
127.
Lănh nhận và rao giảng Lời Chúa là một khía cạnh
cốt yếu của sứ mạng của tân chức.
128.
Tu sĩ phải lưu ư thích nghi với môi trường
được sai đến và ḥa nhập với những
văn hóa khác.
129.
Tu sĩ phó tế hay tân linh mục cần tiếp tục
việc đào luyện trí thức, thiêng liêng và mục vụ
của ḿnh. Người anh em phải phân bố một cách
đều đặn thời gian cho việc suy tư, công
việc cá nhân, chứ không chỉ cho việc dọn những
bài giảng.
Được
truyền chức nhằm phục vụ Giáo hội
130.
Tu sĩ phó tế hay tân linh mục cần phải nuôi
dưỡng tinh thần truyền giáo của ḿnh. Người
anh em không chỉ được sai tới những người
của cộng đoàn kitô hữu đă được h́nh
thành, ngay cả ở những nơi mà sinh hoạt tôn giáo mạnh
mẽ. Mối quan tâm mục vụ của người anh
em không chỉ được giới hạn ở những
kitô hữu siêng năng tới nhà thờ.
131.
Tu sĩ phải sở hữu những định
hướng mục vụ của những cấp bậc
đă sai ḿnh đi như Giáo hội, giáo phận, Hội
ḍng. Người anh em phải cộng tác với các cấp
bậc về mục vụ của Giáo hội địa
phương, đồng thời có những sáng kiến
trong việc loan báo Tin mừng và xây dựng Giáo hội. Cũng
vậy, người anh em phải biểu lộ sự quan tâm và t́nh yêu đối với
Giáo hội.
132.
Sứ mạng sẽ tạo cơ hội cho tu sĩ
khám phá những khả năng mục vụ của ḿnh. Tuy
nhiên người anh em cũng sẽ dữ thái độ cởi
mở cho tất cả mọi sứ vụ, dù lư thú hay
không đối với ḿnh, vơi mong muốn phát triển những khả
năng và đư ra sáng kiến của ḿnh.
Được
truyền chức nhằm sự hiển trị của Nước Trời
133.
Sự quan tâm tới những dấu chỉ của
Nước Trời sẽ được biểu lộ trong sứ vụ của tu sĩ, qua việc đón nhận tất
cả những người thiện chí và qua việc cởi
mở tâm hồn vớ đối thoại văn hóa, đại
kết và liên tôn.
134.
Tu sĩ phải chứng tỏ sự nhiệt thành tông
đồ, t́nh yêu với công việc, và mối quan tâm về
đào tạo, khả năng và sự thích nghi[36].
Tất cả mọi hoạt động tông đồ của
người anh em phải được thúc đẩy bởi
tinh thần tín lư, xă hội, đại kết[37].
Những chiều
kích nền tảng
Con người của niền tin
135.
Tu sĩ phó tế hay tân linh mục cần phải tự
hỏi bằng cách nào cuộc sống của ḿnh được
ḥa quyện vào trong đời sống cầu nguyện, và
việc cầu nguyện tác động trong đời sống
ḿnh và của cộng đoàn[38].
Người anh em cần mở rộng khả năng
đọc những sự kiện trong niềm tin, và từ
đó lắng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa đối
với ḿnh và đối với người khác, đọc
lại cuộc sống của những người và những
nhóm người nhằm nhận ra nơi đó sự hoạt
động của Chúa Thánh thần cũng như nhận
ra những dấu hiệu của tội lỗi.
136.
Tu sĩ cần nổ lực sống các Bí tích Thánh thể và Ḥa giải
trong đời sống thiêng liêng của ḿnh và của giáo hội.
137.
Tu sĩ phải nổ lực không ngừng để nhận biết
và chấp nhận những năng lực cũng như những
hạn chế của ḿnh, nhằm trưởng thành hơn
về nhân bản, đời sống tâm linh và tinh thần
tông đồ.
138.
Đức tin vững chắc cũng sẽ được
biểu lộ qua thái độ chấp nhận những nổ
lực hoạt động tông đồ không mang hiệu
quả, những thất bại. Những nổ lực này
cho phép tu sĩ đào luyện tính kiên nhẫn, bắt đầu
lại bất chấp những khó khăn và chất vấn
lại chính ḿnh.
Tu sĩ sống
trong cộng đoàn hoạt động tông đồ
139.
Tu sĩ sẽ sẵn sàng để những anh em của
ḿnh xem xét nhằm suy nghĩ, gọt tẩy, làm giàu nó sứ vụ, để tránh rơi vào sự
nhàm chán, sự cám dỗ của chủ nghĩa cá nhân, sự
ích kỷ của một tông đồ đơn độc
tự măn hay chạy theo từ một việc cấp bách
này tới một việc cấp bách khác. Người anh em
phải luôn luôn bàn thảo và tổ chức đời sống tông đồ với
cộng đoàn trong tinh thần đối thoại, thẩm
vấn lẫn nhau, chia sẽ trong bầu khí cầu nguyện.
140.
Người anh em phải đón nhận, với tinh thần
khiêm tốn và sẵng sàng sứ mạng mà cộng đoàn
và bề trên giao phó cho ḿnh.
Tông đồ
cho Nước trời trị đến
141.
Tu sĩ phó tế hay tân linh mục phải trao dồi những
thái độ tông đồ đáng quư nơi ḍng Mẹ Về
Trời: táo bạo, sáng kiến và vô vị lợi. Điều
quan trọng là tu sĩ nuôi dưỡng tinh thần vô vị
lợi trong những sáng kiến hoạt động tông
đồ nhằm không chú trọng vào bản thân nhưng là
vào Đức Kitô, nhằm có khả năng chuyển đổi từ một công việc tông
đồ hấp dẫn sang một công việc khác kém hấp
dẫn nhưng hữu ích hơn, và sẵn sàng hạ ḿnh
để nhường chổ cho những người
khác, ngay cả khi họ có ít khả năng hơn ḿnh.
142.
Con người của thời đại ḿnh, tu sĩ
anh em ḍng Mẹ Về Trời, phó tế hay tân chức linh
mục muốn lưu tâm về thế giới hôm nay, những
biến đổi, những nhu cầu lớn nhất của
nó, những quan tâm của những tín hữu, và những thảm
kịch ảnh hưởng tới họ.
143.
Được mời gọi trở thành con người
của những mối tương giao, tu sĩ cần biết
như thế nào phải thiết lập những mối
quan hệ với những con người, những nhóm
văn hóa, tuổi tác, và giới tính khác nhau. Người anh
em phải bày tỏ thái độ tôn trọng đới
vơi người khiêm tốn nhất và đón tiếp
người bị tổn thương, người bị thử
thách, người bị sa sút tinh thần. Giữa ḷng của
những khác biệt, những căng thẳng không thể tránh khỏi, người anh em được
mời gọi trở thành con người của sự hiệp
thông, tha thứ và b́nh an trong những lời nói cũng
như trong những thái độ.
144.
Tu sĩ quan tâm làm việc nhóm với các linh mục, nữ
tu, và giáo dân.
145.
Tu sĩ không bao giờ được quên: “Loan báo Đức
Giêsu Kitô không thể tách rời việc thăng tiến con
người trong sự công bằng, t́nh yêu và hiệp nhất[39].”
Cách thực hiện
Phó tế hay
tân linh mục
146.
Được gọi vào những tác vụ truyền chức
đối với tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời là một
ân huệ của Thiên Chúa và là một lời mời gọi
phục vụ Giáo hội và Nước Trời.
147.
Tu sĩ ḍng Mẹ Về Trời được mời
gọi trở thành phó tế hay linh mục phải chấp
nhận được canh tân bởi sứ mạng mới
này mà Giáo hội giao phó cho ḿnh làm thừa tác viên. Người
anh em phải ḥa nhập sứ vụ của Giáo hội này
vào trong đời sống tu như hai chiều kích của
một ơn gọi duy nhất nhằm đức tin, sự
cầu nguyện và tâm hồn tông đồ đượ
ghi dấu một cách sâu đậm.
148.
Người anh em phải được đào tạo
về việc lắng nghe và hướng dẫn.
149.
Tu sĩ phó tế hay tân linh mục sống tác vụ này
trong ḷng một cộng đoàn hoạt động tông
đồ nhằm phục vụ Giáo hội và Nước
Trời. Người anh em được linh hứng bởi
đặc sủng của ḍng Mẹ Về Trời ăn
sâu vào trong đời sống và công việc mục vụ của
ḿnh.
150.
Hoạt động mục vụ của tu sĩ sẽ
phải lưu ư tới việc đào tạo nghiệp vụ
của ḿnh trước đây.
Cộng
đoàn hoạt động tông đồ
151.
Cộng đoàn đón nhận tu sĩ cho việc thực
tập phó tế phải giúp đỡ hướng dẫn
người anh em hết ḷng. Để đảm bảo
công việc này, cộng đoàn phải sắp xếp ba cuộc
họp thêm vào chương tŕnh thường lệ: cuộc
họp lần thứ nhất nhằm đón tiếp phó tế
và giải quyết mọi câu hỏi liên quan tới người
anh em, lần thứ hai vào giữa kỳ thực tập nhằm
đánh giá và đề nghị những cải thiện, lần
thứ ba, vào cuối kỳ thực tập, nhằm làm báo
cáo kèm theo đơn thỉnh cầu của người anh
em cho tác vụ linh mục.
152.
Việc hướng dẫn như vậy cũng sẽ
được lên chương tŕnh cho những năm đầu
của tác vụ linh mục.
153.
V́ thế cần chăm nom bầu khí cộng đoàn và
hoạt động tông đồ trong những năm đầu
mang tính quyết định đối với việc mục
vụ tương lai của người anh em. Để
thực hiện điều đó, cần phải:
-
khuyến khích sự học hỏi và suy tư đều
đặn và có hệ thống về tác vụ của tu sĩ
linh mục;
-
nuôi dưỡng việc đọc lại đời sống
theo ánh sáng của Thánh Kinh;
-
ủng hộ việc chia sẽ đích thực nhằm
việc h́nh thành những cộng đoàn hoạt động
tông đồ thực sự được dễ dàng;
-
mời gọi đi vào đời sống cầu nguyện
được nuôi dưỡng từ công việc tông đồ
và việc tông đồ được bổ dưỡng
và nâng đỡ qua sự cầu nguyện cá nhân và cộng
đoàn.
Trong phạm vi có thể, tân chức phải có thể hưởng
một sự cố định trong suốt những
năm đầu mục vụ.
154.
Sống trong tinh thần này và với những đ̣i hỏi
như trên của cộng đ̣an, tu sĩ phó tế hay tân
linh mục ḥa nhập vào trong Giáo hội và trởi thành
đầy tớ năng động của Nước Trời.
Việc hướng
dẫn
155.
Suốt thời gian của tác vụ phó tế, người
anh em phải được hướng dẫn bởi một
trong những tu sĩ trong cộng đoàn của ḿnh
được chỉ định bởi Bề trên Giám tỉnh.
Cộng đoàn tiếp nhận phó tế
và tu sĩ được chỉ định hướng dẫn
người anh em này phải được giúp đỡ
trong sứ mạng bởi phụ trách đào tạo của
Tỉnh ḍng, bằng cách thăm viếng, quan tâm tới những
khó khăn của họ và khuyến khích những cuộc gặp
gỡ cũng như những hợp tác[40].
156.
Việc hướng dẫn này không chỉ giới hạn
ở những khía cạnh mang tính kỷ thuật nhất của
tác vụ phó tế. Nó nhằm khuyến khích người
anh em xem xét cách sống, những thái độ bộc phát
hay được suy nghĩ, những mối liên hệ. Nó
phải thúc dục liên lỉ người anh em nhằm cân
bằng đời sống tu và tác vụ của ḿnh và trở
thành bạn đồng hành chân thực của Giáo hội
địa phương.
157.
Tân linh mục cũng phải được hướng
dẫn tại nơi mục vụ bởi một tu sĩ
niên trưởng, được chỉ định bởi
Bề trên Giám tỉnh, người sẽ giúp người
anh em này đánh giá cộng việc mục vụ và vượt
qua những khó khăn của ḿnh.
158.
Trong những năm đầu, các cuộc gặp gỡ
cho các tân chức ở cấp độ Tỉnh ḍng hay lục
địa sẽ phải được tổ chức,
dưới sự hướng dẫn của một vị
mục tử dày kinh nghiệm và là nhà sư phạm giỏi,
nhằm trao đổi những kinh nghiệm cũng như
những câu hỏi, và nhằm đem lư thuyết vào thực
hành.
Chương
tŕnh cho phó tế
159.
Chương tŕnh thực tập phó tế phải do ứng
sinh và tu sĩ sẽ hướng dẫn người anh em
lập ra. Chương tŕnh này sẽ cần được
chấp thuận bởi Bề trên Giám tỉnh và được
gởi cho Bề trên Tổng quyền.
160.
Việc đánh giá về kỳ thực tập phó tế
và đơn xin truyền chức linh mục chỉ
được thực hiện sau khi người anh em
đă hoàn thành sáu tháng thực hành tác vụ phó tế theo
giáo luật.
161.
Chương tŕnh cần ghi rơ nơi, thời gian thực
tập phó tế và tên của tu sĩ hướng dẫn
phó tế. Nó phải ghi rơ những ǵ được mong
đợi nơi ứng sinh: mục tiêu đạt tới,
những phương tiện cho trước, những thái
độ cần phát triển, những trách nhiệm tông đồ
được trao cho phó tế và những đánh giá trong
thời gian thực tập phó tế.
162.
Lưu ư tới những tập tục địa
phương, Bề trên Giám tỉnh sẽ chính thức báo
cáo cho giám mục địa phương nơi người
anh em phó tế sẽ thực hành tác vụ của ḿnh.
Chương
tŕnh cho tân linh mục
163.
Tham khảo ư kiến với cộng đoàn và tu sĩ
hướng dẫn ḿnh, tân linh mục phải thiết lập
chương tŕnh về những hoạt động tông
đồ cho những năm đầu thừa tác vụ của
ḿnh.
164.
Chương tŕnh này phải được chấp thuận
bởi Bề trên Giám tỉnh. Cần ghi rơ những trách nhiệm
về công việc tông đồ mà người anh em sẽ
đảm nhận cũng như những đánh giá sẽ
được thực hiện trong những năm đầu
của thừa tác vụ linh mục.
165.
Bề trên Giám tỉnh sẽ chính thức tŕnh bày sứ
mạng của tu sĩ linh mục cho giám mục nơi mà
linh mục sẽ thực hành thừa tác vụ.
Những yêu cầu
của Hội ḍng và Giáo hội
Đối
vơi việc truyền chức phó tế
Việc chấp
nhận
166.
Bề trên Tổng quyền là người chịu trách nhiệm chấp nhận
một tu sĩ vào tác vụ phó tế[41].
Để phán quyết được sáng suốt Bề
trên Giám tỉnh sẽ gởi cho ngài toàn bộ hồ sơ
được định sẵn nhằm mục đích
trên[42].
Ngoài ư kiến của cá nhân, của ban cố vấn, Bề
trên Giám tỉnh c̣n đ̣i hỏi báo cáo của cộng
đoàn, phụ trách đào tạo của Tỉnh ḍng. Phụ
trách đào tạo phải tập hợp ư kiến của
Ban đào tạo.
167.
Truyền chức phó tế sẽ được thực
hiện sau khi một tu sĩ đă hoàn thành chương
tŕnh học chuẩn bị cho các tác vụ truyền chức và sau vĩnh thệ.
Đó là hai lời cam kết khác nhau và quan trọng cho đời
sống của một tu sĩ. Trong mức độ có thể chúng ta sẽ cần
lưu ư việc truyền chức phó tế được
thực hiện sau vĩnh thệ một thời gian đủ
nhằm cho phép tu sĩ sống đầy đủ mỗi
cam kết này một cách rơ rệt.
Những yêu cầu
của giáo luật
168.
Ứng sinh cần:
-
đủ hai mươi ba tuổi (Giáo luật 1031 §1);
-
đă tuyên khấn trọn đời (Giáo luật 1037);
-
đă nhận tác vụ đọc sách và giúp lễ. Cần
tối thiểu sáu tháng từ ngày nhận tác vụ giúp lễ
(Giáo luật 1035 §1-2);
-
đă nộp đơn với ngày tháng và chữ kư bằng
tay và tuyên bố một cách chính thức về cam kết một
cách tự động và tự do và măi măi, ư thức đầy
đủ về những đ̣i buộc mà việc truyền
chức đ̣i hỏi (Giáo luật 1028 và 1036).
Đối với
việc truyền chức linh mục
Việc chấp
nhận
169.
Như trong trường hợp của tác vụ phó tế,
Bề trên Giám tỉnh phải gởi cho Bề trên Tổng quyền toàn bộ
hồ sơ được định sẵn để
giúp ngài trong việc phán quyết của ḿnh[43].
Ngoài ư kiến của cá nhân, của ban cố vấn, Bề
trên Giám tỉnh cũng sẽ yêu cầu báo cáo của cộng
đoàn, của tu sĩ mà Giám tỉnh đă chỉ định
để hướng dẫn phó tế và của Phụ
trách đào tạo của Tỉnh ḍng, cũng như lời
chứng của các linh mục và giáo dân biết đến
tu sĩ phó tế.
Những yêu cầu
của giáo luật
170.
Ứng sinh cần hội đủ:
-
đơn xin với ngày tháng và chữ kư bằng tay (Giáo
luật 1036);
-
đủ hai mươi lăm tuổi (Giáo luật 1031 §1);
-
hoàn toàn tự do (Giáo luật 1026);
-
ư thức đầy đủ những đ̣i buộc
mà tác vụ linh mục đ̣i hỏi (Giáo luật 1028);
-
đă thực hành tác vụ phó tế tối thiểu là sáu tháng (Giáo
luật 1031 §1- 1032 §2).
F-
ĐÀO TẠO THƯỜNG XUYÊN[44]
Xác tín
171.
Đào tạo thường xuyên thuộc về trách nhiệm
của mỗi tu sĩ và của mỗi cộng đoàn. Mỗi
tu sĩ được mời gọi đưa ra sáng kiến
và tận dụng một cách đầy đủ những
cơ hội đào tạo mà Hội ḍng và Giáo hội địa
phương tạo cho đề nghị.
Những những cấp bậc thuộc
giám tỉnh sẽ thôi thúc anh em tiếp tục việc
đào tạo của ḿnh. Các cấp bậc này cần
lưu ư tơi các nhu cầu của họ và của Tỉnh
ḍng.
172.
Đào tạo thường xuyên bao hàm mọi chiều
kích của con người anh em ḍng Mẹ Về Trời:
con người của niềm tin, tu sĩ sống trong cộng
đoàn hoạt động tông đồ, tông đồ cho
Nước trời trị đến.
173.
Anh em ḍng Mẹ Về Trời muốn là con người
của thời đại. Tu sĩ
không thể sống
tách biệt với
những sự kiện đánh dấu sự tiến hóa của nhân loại: toàn cầu hóa, sự
bùng nổ
thông tin đại chúng, thách đố của khoa học di
truyền, nhận định mới của Giáo hội, sự
phát triển chủ nghĩa cá nhân, v.v. Tu sĩ
được kêu gọi trở thành tông đồ trong một
thế giới biến chuyển một cách nhanh chóng.
174.
“Một Hội ḍng mà trong đó chúng ta không c̣n lưu tâm
tới việc học hỏi sẽ chấm dất sự
hiện hữu của nó[45].”
Tương lai của Hội ḍng tùy thuộc một phần
vào việc đào tạo thường xuyên. Đó không phải
là một sự xa xỉ, nhưng là một bổn phận. Việc đào tạo thường xuyên là nguồn đảm
bảo của việc
đào tạo tốt cho những người trẻ mà chúng ta sẽ thâu nhận,
nó định
h́nh cho đào tạo
ban đầu của họ.
175.
Đọc lại đời sống, chia sẽ cộng
đoàn về đời sống của mỗi tu sĩ,
đọc những bản văn chính thức của Hội
ḍng là những điều ưu tiên cho việc đào tạo
thường xuyên.
Mục đích
176.
Đào tạo thường xuyên quan tâm tới việc
hướng dẫn cho mỗi tu sĩ qua những biến chuyển của cuộc
sống và sự hoà hợp con người của người
anh em. Nó phải khuyến khích việc hóan cải thường
ngày. Nó nhắm tới việc thực tại hóa đặc
sủng của ḍng Mẹ Về Trời mà Chúa Thánh Thần
đă ban cho Giáo hội và thế giới. Nó tránh thái độ
tuyệt đối hóa quá khứ và khích lệ tăng
trưởng trong sự trung thành mang tính sáng tạo[46].
Cách thực hiện
Nội dung
177.
Việc đào tạo thường xuyên lưu tâm tới
linh đạo, đời sống Giáo hội, học hỏi
tín lư và nghiệp vụ, đặc sủng của Hội
ḍng.
Linh đạo
178.
Đây là một số trong những phương tiện
khuyến khích đào sâu đời sống tâm linh: những
cuộc tĩnh tâm (thuộc ḍng Mẹ Về Trời,
thường niên, augustinô, cộng đoàn), hướng dẫn
thiêng liêng, đọc và suy gẫm sách thiêng liêng (lectio
divina), kinh nhật tụng, những bài viết của Cha
d’Alzon.
Đời sống của Giáo hội
179.
Trung thành với đặc sủng của Đấng
sáng lập, chúng ta được mời gọi canh tân
thường xuyên những phương pháp và nội dung của
những hoạt động tông đồ nhằm đáp ứng
những lời mời gọi của sứ mạng truyền
giáo của Giáo hội ngày hôm nay. Việc tham gia vào những
uỷ ban thuộc ḍng Mẹ Về Trời như công lư
và ḥa b́nh, và những chương tŕnh đào tạo của
giáo phận thuộc về những nổ lực về đào tạo thường
xuyên.
Đào tạo tín lư và chuyên nghiệp
180.
Cập nhật về tín lư và chuyên nghiệp bao gồm
việc đào sâu kinh thánh và thần học, học hỏi
những văn kiện tào thánh, hiểu biết tốt nhất về các nền
văn hóa, về những nơi mà ḿnh đang sống và làm
việc, thẩm định lại năng lực chuyên nghiệp và kỷ
thuật nếu có[47].
RIAD (những cuộc gặp gỡ quốc tế của
ḍng Mẹ Về Trời cho vấn đề đối
thoại) và những khóa học, những trao đổi quốc
tế là những công cụ thuộc ḍng Mẹ Về Trời
cho việc đào tạo thường xuyên.
Đào sâu sự hiểu biết về
đặc sủng của ḍng Mẹ Về Trời
181.
“Chỉ khi nghiên cứu tư tưởng đă tŕ trong
việc sáng lập ḍng, các con mới có thể tiến lên
trong sự ḥan thiện mà các con được mời gọi
đến[48].”
Các kỳ hội họp, các khoá đào tạo, những kỳ
tỉnh tâm là những cuộc gặp gỡ cho phép việc
đào sâu về đặc sủng của Hội ḍng. Việc
đọc những tài liệu chính thức của Hội
ḍng cũng góp phần vào mục đích trên.
Những thời
gian quan trọng của việc đào tạo thường
xuyên
182.
Những gia đọan này phải được xem một
cách uyển chuyển. Chúng được kết hợp một
cách cụ thể với những giai đọan có thể
được nảy sinh từ điều không được
tiên liệu trước bởi Thánh thần. Đặc biệt
chúng ta giữ những giai đoạn mang tính ư nghĩa sau:
-
Bước chuyển từ đào tạo ban đầu tới kinh nghiệm
sống tự lập đầu tiên, lúc mà một tu sĩ
phải khám phá ra một đường mới nhằm sống
trung thành với Thiên Chúa;
-
giai đoạn khoảng mời năm sau khấn trọn
khi xuất hiện nguy cơ sống theo thói quen, mất sự
nhiệt huyết tông đồ. Vào thời điểm
đó, tu sĩ cần lấy một thời gian dài tạo
khoảng cách giữa ḿnh với đời sống thường
nhật nhằm đọc lại cuộc sống của
ḿnh theo ánh sáng Tin mừng và tư tưởng của Đấng
sáng lập;
-
sự chín muồi đầy đủ thường chứa
đựng nguy cơ phát triển chủ nghĩa cá nhân, đặc biệt
nơi những anh em với tính khí nghiêm khắc và hiệu
quả;
-
việc kêu gọi cho những trách nhiệm mới cũng
sẽ là cơ hội nhằm bổ túc đào tạo;
-
những lúc khủng khoảng lớn, có thể xảy ra bất
cứ lúc nào trong cuộc sống do những yếu tố
ngoại cảnh như thay đổi vị trí, công việc,
thất bại, sự hiểu lầm, cảm giác bị loại
bỏ ra ngoài, cũng như do những yếu tố cá nhân
như bệnh tật, sự khô cứng về đời
sống tâm linh, những cám dỗ, khủng hoảng niềm
tin hay t́nh cảm, hay cùng phải đối phó với hai vấn
đề cùng một lúc. Trong những hoàn cảnh này, tu sĩ
cần được giúp đỡ nhằm vượt
qua những khủng hoảng trong niềm tin.
-
giai đoạn từng bước rút lui khỏi đời
sống hoạt động. Thời gian này là may mắn duy nhất cho phép thấm
nhuần kinh nghiệm Phục sinh của Chúa, đến
độ mong muốn được chết “với Đức
Kitô”, phù hợp với lời khấn từ ban đầu
là từ bỏ để sống đời sống tu sĩ
anh em ḍng Mẹ Về Trời.
G-TRỞ THÀNH ĐẶC TRÁCH ĐÀO TẠO
Xác tín
183.
Ḍng Mẹ Về Trời cần đào tạo những
đặc trách đào tạo. Đ̣i buộc này sinh ra từ
việc xem trọng ân huệ của Thiên Chúa , Đấng
kêu gọi những con người phục vụ Người
trong ḍng Mẹ Về Trời. Tương lai những cộng
đoàn của chúng ta và sự trung thành với đặc sủng
của Hội ḍng tùy thuộc vào việc đào luyện những
thành viên, và v́ vậy nó tùy thuộc vào việc chuẩn bị những
đặc trách đào tạo. Đào tạo là một sứ
mạng, một tác vụ, được ăn sâu trong
đặc sủng của chúng ta. Trở thành đặc
trách đào tạo, nơi chúng ta là những anh em ḍng Mẹ
Về Trời, bắt nguồn từ những đặc
tính nơi chúng ta là những: tín hữu, tông đồ,
đồ đệ của Cha D’Alzon, của thánh Augustinô.
Được
đào tạo cho sứ mạng của việc đào tạo
184.
Cần thiết phải có thời gian để chuẩn
bị cho việc đào tạo trở thành đặc trách
đào tạo. Điều mong muốn là tu sĩ được
gọi làm sứ mạng đào tạo theo một
chương tŕnh đào tạo có hệ thống, đặc
biệt trong lănh vực linh đạo, thần học về
đời tu, tâm lư, sư phạm, nhân chủng học, cũng
như văn hóa của những anh em mà người anh em
này sẽ hướng dẫn, và những khí cạnh khác
nhau của đời sống và linh đạo của anh
em ḍng Mẹ Về Trời.
185.
Việc đào tạo đ̣i hỏi một sự ḥa nhập
tường bước vào môi trường: không ǵ có thể thay thế kinh
nghiệm.
186.
Sứ mạng của đặc trách đào tạo
đ̣i hỏi phải liên tục đào sâu qua việc đọc
sách, những khóa đào tạo, việc trao đổi với
những đặc trách đào tạo khác và những tu sĩ
trong thời gian đào tạo, bằng việc tham gia những
hoạt động đào tạo được tổ chức
qua h́nh thức những cuộc Hội thảo của các
tu sĩ, những khoá thực tập trong những cộng
đoàn đào tạo khác v.v.
Cách thực hiện
187.
Đặc trách đào tạo cần có tầm nh́n rơ về
những ǵ Thiên Chúa mời gọi ḍng Mẹ Về Trời,
về những ǵ ḍng Mẹ Về Trời t́m cách sống
trong Tỉnh ḍng, về mục tiêu của đào tạo thuộc
ḍng Mẹ Về Trời.
188.
Đặc trách đào tạo được mời gọi
chia sẽ cái nh́n này qua đời sống, lời nói, đặc
biệt qua việc hướng dẫn những anh em
được tín thác cho ḿnh. Người anh em phải tận
tâm truyền lại những xác tín của ḿnh với niềm
say mê và vô vị lợi.
189.
Nhằm đáp ứng sứ mạng đào tạo,
đặc trách đào tạo phải biết những cội
nguồn của đời sống tu, tham khảo thánh
Augustinô và Cha D’Alzon, am hiểu lịch sử gia đ́nh tu sĩ của
ḍng Mẹ Về Trời, trởi thành người thừa
kế và đấng sáng lập.
190.
Nhằm thực hiện điều đó đặc
trách đào tạo sẽ phải:
-
biết và gần gũi với những anh em mà ḿnh
đang hướng dẫn, dám yêu mến họ;
-
đánh giá, sữa chữa, nếu cần thiết thay
đổi chương tŕnh đào tạo;
-
cố gắng bổ sung việc đào tạo của
chính ḿnh nhằm đáp ứng tốt hơn những
đ̣i hỏi của sứ mạng;
-
t́m cách được hướng dẫn, đối
chiếu và đánh giá. Chính cộng đoàn, những anh em
đă được đào tạo, uỷ ban đào tạo,
vị linh hướng sẽ giúp ḿnh hoàn thành sứ mạng
tốt hơn.
191.
Đặc trách đào tạo phải biết chia sẽ
kinh nghiệm, những nghi vấn, xác tín của ḿnh, và những
phương pháp mà ḿnh sử dụng với những vị
các cấp đào tạo khác nhau qua những kỳ gặp gỡ
lục địa, với những nhóm tổ chức Hội
thảo của những tu sĩ trong nước.
192.
Đặc trách đào tạo phải biết quan tâm tất
cả những anh em của Tỉnh ḍng đang trong thời
gian đào tạo. Đặc trách đào tạo phải mời
một số trong những người anh em này cộng tác
với ḿnh, không chỉ qua những môn dạy, nhưng chia
sẽ những kinh nghiệm sống của họ và hướng
dẫn họ về đời sống tâm linh trong suốt
thời gian đào tạo.
193.
Con người của niềm tin và con người của
thời đại, đặc trách đào tạo cần ôn
lại với những anh em trong thời gian đào tạo
về thực tại của đất nước, những
sự kiện của Giáo hội và thực trạng cụ
thể nơi được sống quá tŕnh đào tạo.
Đóng góp của những giáo dân trong lănh vực này rất
quư.
NHỮNG
TRANG THÔNG TIN
Những trang thông tin này nhằm gởi tới
những ứng sinh và những tu sĩ theo từng giai
đoạn đào tạo.
TIỀN TẬP VIỆN
- Lạy thầy,
thầy ở đâu?
- Hăy đến
và xem.
(Gioan 1, 38-39)
Bạn vừa bước qua ngưỡng
cửa của một cộng đoàn anh em ḍng Mẹ Về
Trời. Thời gian đào tạo đang ở phía trước
bạn nhằm giúp bạn xác nhận tiếng gọi sống
đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời
mà bạn đă đón nhận. Thời gian này cũng giúp bạn
chuẩn bị gian đoạn tập viện.
Trong suốt thời gian này, bạn theo
đuổi con đường trưởng thành sẽ cho
bạn hiểu hơn về chính ḿnh, con đường mà bạn
đă khởi hành cùng với tu sĩ hướng dẫn bạn
trong suốt thời gian trước khi bạn được
chấp nhận vào tiền tập viện.
Thời gian tiền tập viện đặt
trọng tâm vào việc phân định những động
lực và những thái độ của bạn đă định
h́nh ước muốn đời sống tu sĩ.Trước
khi tuyên khấn đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ
Về Trời, điều rất quan trọng là xem xét sự
vững chắc ước muốn theo Đức Kitô và thử
nghiệm khả năng sống đời sống cộng
đoàn anh em ḍng Mẹ Về Trời. Đời sống cộng
đoàn là phương tiện và là nơi tốt nhất
cho việc đào tạo. Công việc tông đồ của
bạn chứng tỏ ước muốn phục vụ
Thiên Chúa và con người trong ḷng Giáo hội.
Vào cuối giai đoạn này, bạn sẽ
phải có khả năng, với tất cả sự tự
do và tinh thần trách nhiệm, xin vào tập viện hay
không. Cộng đoàn tiếp đón bạn và đặc
trách đào tạo đă hướng dẫn bạn sẽ
cho ư kiến liên quan tới khả năng của bạn sống
đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời.
TẬP VIỆN
Tập viện là thời gian biến đổi
và tập sinh sẽ phải chỉ có một ước muốn
là biến đổi ḿnh trong Đức Giêsu Kitô. (Emmanuel d’Alzon, ES, 263- 264).
Là một tập sinh, bạn đang sống
một giai đoạn chuyển tiếp giữa đời sống của
bạn trước đó và đời sống của một
tu sĩ. Vị thế này kéo theo sự mất tạm thời
những điểm tựa có thể làm cho bạn cảm thấy ḿnh mỏng
ḍn. Hăy tận dụng thời gian ưu đăi này nhằm
đào sâu, phân định và xác nhận tiếng gọi sống
đời sống tu sĩ anh em ḍng Mẹ Về Trời.
Với sự hướng dẫn của Giáo tập, bạn
sẽ tiến sâu hơn về kinh nghiệm Thiên Chúa, sự
hiểu biết và t́nh yêu đối với Đức Giêsu Kitô một
cách mănh liệt hơn và theo bước Người là
người nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục để
loan báo Nước Thiên Chúa. Bạn sẽ được mời
gọi làm cho đời sống cộng đoàn có ư nghĩa
hơn qua món quà của bản thân cho Đức Kitô trong việc
phục vụ anh em.
Qua việc tường bước tu luyện
đời sống tu sĩ, đời sống tu sĩ của
ḍng Mẹ Về Trời, qua việc ư thức tốt
hơn về thực tại của Giáo hội và thế giới
ḿnh đang sống, bạn sẽ được dẫn nhập
vào đời sống hoạt động tông đồ và
việc loan báo Nước Trời.
HẬU TẬP VIỆN
Thiên Chúa làm cho chúng ta tự do hơn nếu
như chúng ta biết làm triển nở nó một cách hoàn hảo
hơn trong chúng ta. (Emmanuel d’Alzon, ES, 153).
Sau tập viện, thầy sẽ
được mời gọi sống một giai đoạn
dài hậu tập viện. Đó là thời gian bén rễ và triển nở tất cả
những ǵ mà thầy đă khám phá về đời sống
tu sĩ. Nó sẽ dẫn đưa thầy, nhờ việc
ḥa nhập một cách đầy đủ hơn vào đời
sống và sứ mạng của Hội ḍng, tới vĩnh
thệ trong ḍng Mẹ Về Trời.
Hậu tập viện là thời gian tu luyện
về sự trung thành, kiên định và nhẫn nại.
Đó cũng là thời gian mà thầy sẽ đào sâu tinh
thần và ơn gọi của cộng đoàn hoạt
động tông đồ.
Giai đoạn này sẽ chuẩn bị cho thầy về sứ mạng
tương lai, nếu như đó là trường hợp
của thầy, trong thừa tác vụ truyền chức.
ĐÀO TẠO CHO CÁC THỪA TÁC VỤ TRUYỀN
CHỨC
Xin Thiên Chúa hoàn tất những ǵ mà Ngài
đă khởi sự. (Nghi thức Truyền chức)
Sau ngày truyền chức phó tế hay linh mục,
thầy sẽ có cùng một tước hiệu là thừa
tác viên như những bậc đàn anh. Tuy nhiên thầy phải
trở nên điều đó. Thầy sẽ được
hướng dẫn bởi một vị niên trưởng.
Điều quan trọng là thầy biết để
được định h́nh lại từ sứ mạng
mới của thầy, được trao phó cho thầy bởi
Đức Kitô và Giáo hội. Điều thiết yếu là
thầy học trở thành người mục tử qua việc
học hỏi thực tế và lĩnh hội sự nhạy
cảm về mục vụ. Thầy sẽ phải ḥa nhập
thừa tác vụ của giáo hội này vào trong đời sống
tu sĩ ngỏ hầu đức tin, việc cầu nguyện
và sự nhạy cảm về hoạt động tông
đồ của thầy được đánh dấu một
cách rỏ nét và sâu sắc. Như vậy, ngày lại ngày thầy
sẽ trở thành một tông đồ theo tâm nguyện của
Đức Kitô và tinh thần của ḍng Mẹ Về Trời.
ĐÀO TẠO THƯỜNG XUYÊN
Trong một Hội ḍng mà chúng ta không c̣n học
hỏi, Hội ḍng đó không c̣n lư do tồn tại. (Emmanuel d’Alzon, ES, 208)
Anh em hiểu rằng vĩnh thệ hay truyền chức
không đánh dấu chấm hết việc đào tạo của
anh em. Những kinh nghiệm khác nhau về đời sống,
công việc mục vụ của anh em sẽ mở cho anh
em những viễn cảnh mới. Bây giờ là thời
điểm mà anh em tiếp tục tự đào tạo
như lời nhắc nhủ của Cha d’Alzon. Việc
đào tạo thường xuyên không phải là một sự
xa xỉ, nhưng là một sự đ̣i hỏi về sự
trung thành với sứ mạng mà anh em đă lănh nhận.
Như vậy, chính anh em từng bước sẽ trở
thành những đặc trách đào tạo cho những thế
hệ tiếp theo.
BẢNG CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ
Những khuông đánh giá sau đây đă
được thiết lập cho việc đánh giá một
ứng sinh hay một tu sĩ trong thời gian đào tạo
theo từng giai đoạn khác nhau.
Tuy nhiên sự tiện dụng của chúng
cũng được mở rộng. Chúng cũng có thể được sử dụng
như những phương tiện hướng dẫn
giúp những ứng sinh, tu sĩ trong thời gian đào tạo,
đặc trách đào tạo, và cộng đoàn anh em ḍng Mẹ
Về Trời đọc lại đời sống của
ḿnh. Hy vọng rằng chúng sẽ không chỉ được
sử dụng vào những lúc làm bản báo cáo, nhưng nhằm
thiết lập chương tŕnh và những mục tiêu
đào tạo cho ứng sinh, tập sinh hay một tu sĩ
trong dịp tu nghị cộng đoàn hoặc bắt đầu
của một năm.
Mỗi Tỉnh ḍng có thể thích nghi những khuông đánh giá này theo hoàn
cảnh cụ thể.
ĐÁNH GIÁ MỘT THỈNH SINH NHẰM VIỆC
GIA NHẬP TẬP VIỆN
1-
Sự phân định và hướng dẫn
-
Ứng sinh có thường xuyên gặp gỡ đặc
trách đào tạo và vị linh hướng của ḿnh
không?
-
Ứng sinh đă chuẩn bị chương tŕnh sống của
ḿnh? Ứng sinh đă thực hiện điều đó bằng
việc đọc lại hành tŕnh của đời sống
ḿnh?
-
Ứng sinh hiểu biết như thế nào về ḍng Mẹ Về Trời?
Những khía cạnh nào của tinh thần ḍng Mẹ Về
Trời đă thúc đẩy ứng sinh tiến bước?
-
Những quyết định của ứng sinh hợp
lư và tự do?
2-
Sự trưởng thành về nhân bản
-
Ứng sinh có nhận thức và chấp nhận ḿnh một
cách đầy đủ?
-
Ứng sinh có khả năng tự thích ứng? Cởi mở
với người khác?
-
Ứng sinh cho thấy sự cân bằng về tâm lư và
t́nh cảm? trao đổi về đời sống t́nh cảm?
khả năng làm chủ t́nh dục trong mối liên hệ
với chính ḿnh và với người khác? khả năng
yêu?
-
Ứng sinh có nhạy cảm về tính tập thể? lịch sự,
sạch sẽ và ngăn nắp?
-
Ứng sinh cho thấy đang có những đặc tính
của anh em ḍng Mẹ Về Trời: trung thực, thẳng thắn, thân
thiện, giản dị, sáng kiến, nhiệt thành, quảng
đại và vô vị lợi?
-
Ứng sinh liên hệ như thế nào với gia
đ́nh? quan tâm giữ mối liên hệ với họ? có tự
do đủ trong mối tương quan với gia đ́nh?
3-
Niềm tin vào Đức Kitô
-
Ứng sinh có mong muốn t́m kiếm, yêu mến và theo
Đức Giêsu Kitô một cách trung thực?
-
Ứng sinh có hạnh phúc và b́nh an trong việc tham dự
vào đời sống của Giáo hội?
-
Ứng sinh có đời sống cầu nguyện, có khả
năng thinh lặng, yêu mến Lời Chúa và suy gẫm Lời
Chúa?
-
Ứng sinh tham dự với xác tính giờ cầu nguyện
của cộng đoàn và Bí tích Thánh thể?
-
Ứng sinh có sống Bí tích Hoà giải?
4-
Đời sống cộng đoàn
-
Ứng sinh tham gia vào đời sống cộng đoàn
như thế nào?
-
Ứng sinh có cởi mỡ đối thoại, đón
nhận người khác như anh em ḿnh cùng việc hiểu biết về
văn hóa và nguồn gốc của người anh em?
-
Ứng sinh có tinh thần phục vụ, khả năng
kiếm sống, đóng góp vào những công việc vật
chất của cộng đoàn, cùng đồng trách nhiệm
trong việc sử dụng tài sản chung, trao lại tài
khoản về những món quà đă nhận được?
-
Ứng sinh có đầu tư vào những chương
tŕnh của cộng đoàn?
5-
T́nh yêu và sự phục vụ Giáo hội
-
Cộng đoàn có giúp ứng sinh đi vào đời sống
và sứ mạng của giáo hội địa
phương?
-
Ứng sinh tham gia vào lănh vực hoạt động tông
đồ nào? Ứng sinh đă đón nhận sứ mạng
này như thế nào? Ứng sinh có trung thành với giao ước
của ḿnh?
-
Ứng sinh có rung động trước những điều
kiện sống của những người khác, có tinh thần
cỡi mở và ḷng trắc ẩn?
Kết luận
-
Ứng sinh có tiến triển một cách tích cực trong giai đoạn
thỉnh sinh? Trong những lănh vực nào?
-
Ứng sinh có sẵn sàng sống giai đoạn tập
viện?
-
Những điểm nào cần lưu ư ứng sinh và
đặc trách đào tạo nhằm giúp ứng sinh trưởng
thành thành hơn?
ĐÁNH GIÁ MỘT TẬP SINH
NHẰM VIỆC TUYÊN KHẤN ĐỜI SỐNG
TU SĨ
Điều cần thiết trước
khi đánh giá là trở lại những lưu ư trong phần
kết luận về ứng sinh khi giai đoạn thỉnh
sinh.
Đâu là là sự tiến triển về
nhân bản của tập sinh: sự trưởng thành tâm
sinh lư, sự tự do nội tâm, những mối liên hệ
gia đ́nh, sự nhạy cảm về những trách nhiệm...?
1-
Con người của niềm tin
-
Đức Kitô có là trung tâm của đời sống ứng
sinh? Ứng sinh có khả năng nhận ra Người
trong anh em ḿnh, trong người nghèo và trong mọi người?
-
Ứng sinh có nuôi dưỡng đức tin của ḿnh bằng
Lời Chúa, Bí tích Thánh thể, Bí tích Ḥa giải?
-
Ứng sinh tham dự một cách tích cực vào đời
cầu nguyện của cộng đoàn, chia sẽ đức
tin của ḿnh?
-
Ứng sinh có sáng kiến và sáng tạo trong việc
hướng dẫn phụng vụ?
-
Phẩm chất và sự siêng năng cầu nguyện cá
nhân của ứng sinh như thế nào? chúng được
biểu lộ trong việc rèn luyện cá nhân, trong khả
năng xét ḿnh, trong kinh nghiệm về Thiên Chúa qua những
gặp gỡ không tính toán với Ngài?
-
Đâu là t́nh yêu của ứng sinh đối với Mẹ
Maria và Giáo hội? Ứng sinh có thường xuyên đọc
Cha d’Alzon và Thánh Augustinô?
2-
Tu sĩ sống trong cộng đoàn hoạt động
tông đồ
-
Ứng sinh có cho thấy khả năng sống đời
sống cộng đoàn qua sự chấp nhận tính đa
dạng trong tính hiệp nhất?
-
Ứng sinh có tham gia vào việc xây dựng và làm sinh động
cộng đoàn?
-
Ứng sinh có là người hiếu khách, đối thoại,
hiệp thông, phục vụ? Ứng sinh biết từ bỏ
ḿnh?
-
Ứng sinh có khả năng làm việc nhóm, tôn trọng
những ư kiến của những người khác?
-
Ứng sinh có ư thức là ḿnh đang thuộc về một
Hội ḍng quốc tế và điều đó có ư nghĩa
ǵ?
3-
Theo Đức Kitô nghèo, khiết tịnh và tuân phục
Đức
nghèo khó tu sĩ
-
Ứng sinh sống một cách đơn giản, tự
do trong cái nh́n về của cải vật chất?
-
Ứng sinh có trao lại tài khoản những món quà và tiền
nhận được?
-
Ứng sinh làm việc bao lâu trong thời gian biểu của ḿnh?
-
Ứng sinh có nhạy cảm với những bất công
xă hội, liên đới với người nghèo?
Đức khiết
tịnh
-
Ứng sinh có tự phát, đơn giản, rơ ràng,
nhưng kín đáo trong những mối quan hệ với anh
em ḿnh và với mọi người mà ḿnh gặp gỡ?
-
Ứng sinh có tính khôi hài ngơ hầu vượt qua tốt
hơn những căng thẳng và những thất bại?
-
Ứng sinh có quân b́nh về đời sống t́nh cảm,
nói về những mối liên hệ với cùng phái hay khác
phái?
-
Ứng sinh ư thức về hậu quả của việc
chọn sống độc thân dâng hiến?
-
Ứng sinh có khản năng chấp nhận sự cô
độc trong niền vui và b́nh an nội tâm?
Đức vâng
lời tu sĩ
-
Ứng sinh hiểu và sống như thế nào đức vâng lời? trong sự
tùng phục? trong sự thống trị?
-
Đâu là vị trí mà ứng sinh dành cho việc hướng
dẫn linh thiêng?
-
Ứng sinh biết chấp thuận những quyết
định của cộng đoàn và xem như những quyết
định của ḿnh, biết đặt những hoạt
động của ḿnh dưới sự kiểm soát của
anh em ḿnh?
-
Ứng sinh có sẵn sàng chấp nhận sứ mạng
và những định hướng hoạt động tông
đồ của cộng đoàn, Tỉnh ḍng và Hội
ḍng?
-
Ứng sinh biết vượt qua những sở thích cá
nhân cho những ưu tiên tông đồ của Tỉnh ḍng,
Hội ḍng?
4-
Tông đồ ngơ hầu Nước Trời trị
đến
-
Ứng sinh có nhạy cảm với những trăn trở
của Thiên Chúa và của con người, sẵn sàng dâng hiến
để mang Tin mừng cho thế giới? Ứng sinh cho
thấy một cách cụ thể như thế nào về sự nhiệt
huyết cho Nước Thiên Chúa?
-
Trong hoạt động tông đồ ứng sinh có chứng
tỏ thái độ vô vị lợi, sáng kiến và sẵn
sàng?
-
Ứng sinh có khả năng làm việc nhóm, chấp nhận
những quan điểm, những cách làm việc khác ḿnh? Ứng
sinh có đánh giá vai tṛ của giáo dân trong Giáo hội và thế
giới?
-
Ứng sinh làm như thế nào để việc học,
cầu nguyện và những mối liên hệ của ḿnh
mang chiều kích tông đồ?
Kết luận
-
Tập sinh có trưởng thành trong thời gian tập
viện? trong những lănh vực nào?
-
Ứng sinh sẵn sàng sống những lời khấn?
-
Những điểm nào cần lưu ư cho ứng sinh và
đặc trách đào tạo nhằm giúp ứng sinh trưởng
thành hơn?
ĐÁNH GIÁ MỘT TU SĨ NHẰM VIỆC
TIẾN TỚI VĨNH KHẤN
Hàng năm, tu sĩ trong thời gian đào
tạo phải tự đánh giá ḿnh. Cũng vậy, các
đặc trách đào tạo và cộng đoàn sẽ phải
xem xét và đánh giá tiến tŕnh trưởng thành của
người anh em. Sau đây là một số điều
đặc biệt cần lưu ư.
1-
Con người đầy niềm tin
-
Đức Kitô có là trung tâm của đời sống ứng
sinh? Ứng sinh có khả năng nhận ra Người
trong anh em ḿnh, trong người nghèo và trong mọi người?
-
Ứng sinh có nuôi dưỡng đức tin của ḿnh bằng
Lời Chúa, Bí tích Thánh thể, Bí tích Ḥa giải?
-
Ứng sinh tham dự một cách tích cực vào đời
sống cầu nguyện của cộng đoàn, chia sẽ đức
tin của ḿnh?
-
Ứng sinh có sáng kiến và sáng tạo trong việc
hướng dẫn phụng vụ, trau dồi về tính thẩm mỹ và thánh
thiêng trong phụng vụ?
-
Phẩm chất và sự
siêng năng cầu nguyện cá nhân của ứng sinh
như thế nào? Chúng được biểu lộ trong
rèn luyện cá nhân, trong khả
năng xét ḿnh, trong kinh nghiệm về Thiên Chúa qua những
gặp gỡ không tính toán với Ngài?
-
Đâu là t́nh yêu của ứng sinh đối với Mẹ
Maria và Giáo hội? Ứng sinh có thường xuyên đọc
Cha d’Alzon và Thánh Augustinô?
2-
Tu sĩ sống trong cộng đoàn hoạt động
tông đồ
-
Ứng sinh cho thấy khả năng sống đời
sống cộng đoàn qua sự chấp nhận tính đa
dạng trong tính hiệp nhất?
-
Ứng sinh tham gia vào việc xây dựng và làm sinh động
cộng đoàn?
-
Ứng sinh là người hiếu khách, đối thoại,
hiệp thông, phục vụ? biết từ bỏ ḿnh?
-
Đời sống và sứ mạng của Tỉnh ḍng
có một chổ đứng trong những mối quan tâm của ứng
sinh?
-
Ứng sinh có ư thức là ḿnh đang thuộc về một
Hội ḍng quốc tế và điều đó có ư nghĩa
ǵ?
3-
Theo Đức Kitô nghèo, khiết tịnh và tuân phục
Đức
nghèo khó tu sĩ
-
Ứng sinh sống một cách đơn giản, tự
do trong cái nh́n về của cải vật chất?
-
Ứng sinh có trao lại tài khoản những món quà và tiền
nhận được?
-
Ứng sinh làm việc bao lâu trong thời gian biểu của ḿnh?
-
Ứng sinh có nhạy cảm với những bất công
xă hội, liên đới với người nghèo?
-
Bằng những phương tiện nào ứng sinh t́m hiểu về những
thực tế kinh tế xă hội của đất nước
ḿnh?
Đức khiết
tịnh
-
Ứng sinh có tự phát, đơn giản, rơ ràng,
nhưng kín đáo trong những mối quan hệ với anh
em ḿnh và với mọi người mà ḿnh gặp gỡ?
-
Ứng sinh có tính khôi hài ngơ hầu vượt qua tốt
hơn những căng thẳng và những thất bại?
-
Ứng sinh có quân b́nh về đời sống t́nh cảm,
quan hệ tốt với mọi người?
-
Ứng sinh có khản năng chấp nhận sự cô
độc trong niền vui và b́nh an nội tâm?
-
Ứng sinh chứng tỏ có kỷ luật trong những
mối liên hệ, về việc ra ngoài, về những nhu
cầu và việc sử dụng phương tiện thông
tin đại chúng?
Đức vâng
lời tu sĩ
-
Ứng sinh hiểu và sống như thế nào đức vâng lời? trong sự
tùng phục? trong sự thống trị?
-
Ứng sinh biết chấp thuận những quyết
định của cộng đoàn và xem như những quyết
định của ḿnh, đặt những hoạt động
của ḿnh dưới sự quan tâm của anh em ḿnh?
-
Ứng sinh sẵn sàng chấp nhận sứ mạng và
những định hướng hoạt động tông
đồ của cộng đoàn ḿnh, của Tỉnh ḍng và
Hội ḍng?
-
Ứng sinh biết vượt qua những sở thích cá
nhân cho những ưu tiên tông đồ của Tỉnh ḍng,
Hội ḍng?
4-
Tông đồ ngơ hầu Nước Trời trị
đến
-
Ứng sinh nhạy cảm với những trăn trở
của Thiên Chúa và của con người, sẵn sàng dâng hiến
để mang Tin mừng cho thế giới? Ứng sinh cho
thấy một cách cụ thể như thế nào về sự
nhiệt huyết cho Nước Thiên Chúa?
-
Trong hoạt động tông đồ ứng sinh có chứng
tỏ thái độ vô vị lợi, sáng kiến và sẵn
sàng?
-
Ứng sinh có thông tin, hỏi ư kiến và đánh giá về
sứ mạng tông đồ được giao phó cho ḿnh
trong cộng đoàn?
-
Ứng sinh có khả năng làm việc nhóm, chấp nhận
những quan điểm, những cách làm việc khác ḿnh? Ứng
sinh có đánh giá vai tṛ của giáo dân trong Giáo hội và thế
giới?
-
Ứng sinh làm như thế nào để việc học,
cầu nguyện và những mối liên hệ của ḿnh
mang chiều kích tông đồ?
Kết luận
-
Tu sĩ có trưởng thành trong năm qua? trong những
lănh vực nào?
-
Ứng sinh sẵn sàng tiếp tục con đường
đưa tới vĩnh khấn?
-
Những điểm nào cần lưu ư cho ứng sinh và
đặc trách đào tạo nhằm giúp ứng sinh trưởng
thành hơn?
TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA TU SĨ CHUẨN BỊ
CHO TÁC VỤ TRUYỀN CHỨC
Mục đích của khung đánh giá này là
cho tu sĩ, đang chuẩn bị hướng tới thừa tác vụ
truyền chức, cơ hội nh́n lại một cách phê
b́nh về đào tạo mục vụ và những kinh nghiệm
hoạt động tông đồ của ḿnh. Trong khung tự
đánh giá này ứng sinh cũng sẽ tŕnh bày những
ước muốn và những chương tŕnh tương
lai của cá nhân. Bản tự đánh giá này sẽ
được gởi cho Bề trên Giám tỉnh, kèm theo
chương tŕnh thực tập phó tế (hoặc, nếu
ứng sinh là phó tế đang chuẩn bị cho thừa tác vụ linh mục,
chương những hoạt động tông đồ cho
những năm đầu của linh mục) và thơ xin
truyền chức trong đó ứng sinh tŕnh bày những
động cơ đưa ứng sinh tới việc xin
truyền chức phó tế hay linh mục.
1-
Xem lại việc đào tạo và những kinh nghiệm
hoạt động tông đồ
-
Những khía cạnh tích cực và tiêu cực của việc
đào tạo và kinh nghiệm mục vụ? Những sáng kiến,
khám phá, thất bại (trong thời gian đào tạo
trước phó tế/ trong thời gian thực tập phó tế)?
-
Đâu là những điểm mạnh, yếu mà thầy
thấy ở nơi ḿnh trong tác vụ mục vụ?
Sau đây là những
câu hỏi có thể hữu dụng cho việc xem xét này:
Truyền chức
nhằm phục vụ Tin Mừng
-
Thầy có t́m thấy thời gian đọc, suy gẫm
và học hiểu Lời Chúa?
-
Những thuận tiện và khó khăn mà thầy gặp
phải khi tŕnh bày Lời Chúa theo tính cách riêng và dễ hiểu
cho mọi người thuộc mọi lứa tuổi, năo
trạng và văn hóa khác nhau?
-
Lời Chúa có đi vào đời sống đích thực
của thầy, trong giảng dạy, những chia sẽ với
những nhóm mà thầy dướng dẫn?
-
Thầy có quan tâm về phụng vụ, chất lượng
của những việc cử hành các bí tích? Thầy có ư thức
rằng các bí tích là công cụ hoạt động của
Thiên Chúa và phương tiện tốt nhất nhằm truyền
đạt giáo lư của Giáo hội?
Truyền chức
nhằm phục vụ Giáo hội
-
Thầy là người của sự hiệp thông, có khả
năng tập hợp mọi người, mọi nhóm vào
trong một dân Thiên Chúa hiệp nhất trong lúc tôn trọng
những khác biệt và ư thức về những căng thẳng không thể tránh khỏi
giữa họ?
-
Đâu là khả năng lắng nghe, cộng tác, làm việc
nhóm với anh em trong cộng đoàn, anh em linh mục, các nữ
tu và giáo dân?
-
Thầy có theo những định hướng mục vụ
của giáo phận?
Truyền chức
nhằm Nước Trời trị đến
-
Thầy có quan tâm tới thế giới ngày hôm nay, những
thay đổi và những nhu cầu sâu xa của nó? Thầy
có đọc những sự kiện ngày hôm nay qua lăng
kính đức tin nhằm nhận ra nơi đó tiếng gọi
của Thiên Chúa?
-
Thầy có trau dồi những quan điểm hoạt
động tông đồ được đ̣i hỏi ở
ḍng Mẹ Về Trời?
-
Thầy có quan tâm tới thế giới những người
nghèo, những người không tin, những người xa
Giáo hội, những anh em ly khai?
2-
Chương tŕnh cá nhân
-
Bằng cách nào thầy phát triển những ưu điểm và cải thiện
những yếu kém?
-
Những thái độ nào thầy muốn trau dồi nhằm
trở thành tông đồ phù hợp với tinh thần ḍng
Mẹ Về Trời?
-
Ước nguyện, những dự định? Thầy
hoà hợp chúng như thế nào vào trong nhu cầu và
chương tŕnh tổng quát của Tỉnh ḍng?
3-
Hoạch định và đánh giá
-
Lúc xin truyền chức phó tế thầy phải bàn hỏi
với người sẽ chịu trách nhiệm hướng
dẫn thầy về bản tự đánh giá và
chương tŕnh thực tập phó tế.
-
Khi tiến tới thời gian kết thúc thực tập
phó tế, thầy sẽ xem lại chương tŕnh thực
tập với cộng đoàn và với người chịu
trách nhiệm hướng dẫn nhằm đánh giá xem thầy
đă thực sự sống với những ǵ đă
được hoạch định. Thầy cũng sẽ
đưa ra cho cộng đoàn và người chịu trách
nhiệm hướng dẫn những quan điểm và những
hoạt động tông đồ cho những năm đầu
của thừa tác vụ linh mục.
ĐÁNH GIÁ CỦA CỘNG ĐOÀN
VỀ TU SI CHUẨN BỊ CHO TÁC VỤ TRUYỀN
CHỨC
Cộng đoàn và đặc biệt là Bề
trên cùng với Ban cố vấn, phụ trách đào tạo,
Ban cố vấn của Giám tỉnh và Bề trên Giám tỉnh
được yêu cầu phân định một cách cẩn trọng thỉnh nguyện của
ứng sinh và cho ư kiến của ḿnh về khả năng
của ứng sinh tiến tới tác vụ truyền chức.
Việc đánh giá sẽ được kết thúc bằng
bỏ phiếu.
Khung câu hỏi có thể được sử
dụng nhằm đánh giá cho thừa tác vụ phó tế và
thực tập phó tế.
Những yếu tố cần cho việc
phân định và ư kiến
-
Những động lực đưa ứng sinh tới
việc xin truyền chức.
-
Hành tŕnh tổng quát của ứng sinh, từ cái nh́n nhân bản, tâm linh,
cộng đoàn và đặc biệt về mục vụ.
-
Những điểm mạnh, yếu, khả năng và
những thiếu kém.
Có thể xem lại
tiểu sử sơ
lược cá nhân của ứng sinh, xem lại những
điểm lưu ư đặc biệt đă được
nêu ra trong lần chấp nhận cho vĩnh khấn. Nếu
có những nghi vấn, cần phải nói một cách rỏ
ràng và giải thích lư do. Đây là khung câu hỏi nhằm giúp
cho việc đánh giá.
Truyền chức nhằm phục vụ
Tin Mừng
-
Ứng sinh t́m thấy thời gian đọc, suy gẫm
và học hiểu Lời Chúa?
-
Những thuận tiện và khó khăn mà ứng sinh gặp
phải khi tŕnh bày Lời Chúa theo tính cách riêng và dễ hiểu
cho mọi người thuộc mọi lứa tuổi, năo
trạng và văn hóa khác nhau?
-
Lời Chúa có đi vào đời sống đích thực
của ứng sinh, trong giảng dạy, những chia sẽ
với những nhóm mà thầy dướng dẫn?
-
Ứng sinh có quan tâm về phụng vụ, chất
lượng của những việc cử hành các bí tích? Ứng
sinh có ư thức rằng các bí tích là công cụ hoạt động
của Thiên Chúa và phương tiện tốt nhất nhằm
truyền đạt giáo lư của Giáo hội?
Truyền chức nhằm phục vụ
Giáo hội
-
Ứng sinh là người của sự hiệp thông?
-
Ứng sinh có khả năng lắng nghe, cộng tác, làm
việc nhóm với anh em trong cộng đoàn, anh em linh mục,
các nữ tu và giáo dân?
-
Ứng sinh có theo những định hướng mục
vụ của giáo phận?
Truyền chức nhằm Nước Trời
trị đến
-
Ứng sinh có quan tâm tới thế giới ngày hôm nay, những
thay đổi và những nhu cầu sâu xa của nó? ứng
sinh có đọc những sự kiện ngày hôm nay qua
lăng kính đức tin nhằm nhận ra nơi đó tiếng
gọi của Thiên Chúa?
-
Ứng sinh có trau dồi những quan điểm hoạt
động tông đồ được đ̣i hỏi ở
ḍng Mẹ Về Trời?
-
Ứng sinh có quan tâm tới thế giới những
người nghèo, những người không tin, những
người xa Giáo hội, những anh em ly khai?
Kết luận
-
Tại sao anh em nghĩ rằng ứng sinh này có thể
chu toàn tốt thừa tác vụ truyền chức mà ứng
sinh đang chuẩn bị ?
-
Những điều cần lưu ư cho phó tế hay tân
linh tương lai và những đặc trách đào tạo
nhằm giúp ứng sinh trưởng thành tốt
hơn ?
ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN
VỀ TU SĨ CHUẨN BỊ CHO TÁC VỤ
TRUYỀN CHỨC
Khung câu hỏi này sẽ tạo thuận tiện
cho những người bạn giáo dân khi họ được
mời làm nhân chứng cho một tu sĩ thuộc ḍng Mẹ
Về Trời đang chuẩn bị cho thừa tác vụ truyền chức
phó tế hay linh mục.
Những câu hỏi này theo khung. Tuy nhiên, những
lời chứng có thể đề cập thêm những khía cạnh
khác về nhân cách của ứng sinh nếu thấy cần
thiết.
-
Thầy là người của sự hiệp thông, quan
tâm tới sự hợp nhất của cộng
đoàn ? Khả năng đón nhận mọi người,
mọi nhóm người khác nhau và tôn trọng những khác
biệt của họ, đồng thời ư thức về
những căng thẳng có thể xảy ra giữ họ ?
-
Thầy biết lắng nghe, phục vụ, luôn sẵn
sàng, làm việc nhóm ?
-
Thầy tŕnh bày Lời Chúa theo tính cách riêng và dễ hiểu cho mọi
người thuộc mọi lứa tuổi, năo trạng và
văn hóa khác nhau?
-
Những phẩm chất và hạn chế khác mà bạn
muốn nhấn mạnh về người tu sĩ sắp
được truyền chức?
THƯ MỤC VỀ D̉NG MẸ VỀ TRỜI
TIỀN TẬP VIỆN
Ứng sinh có thể được
đề nghị đọc thêm những tài liệu
thưộc những lănh vực khác:
-
nhằm giúp đào sâu
hơn sự hiểu biết về chính ḿnh, tạo những mối
liên tốt với những người khác, giữa những
con người với nhau;
-
về ơn gọi nói chung và ơn gọi tu sĩ nói
riêng;
-
về đời sống cộng đoàn;
-
dẫn nhập vào đời sống cầu nguyện,
học đọc và suy gẫm Lời Chúa;
-
để hiểu tốt
hơn Đức Giêsu Kitô và đào sâu đời sống
đức tin:
· đọc tối thiểu “Cuộc đời Chúa Kitô”;
· đọc một số chương cuốn
Giáo lư Giáo hội Công giáo (các bí tích, các nhân đức, Chúa Ba
Ngôi...)
Lưu ư:
-
Trong thời gian phân định và hướng dẫn
ơn gọi, ứng sinh sẽ được yêu cầu
đọc một số tài liệu đă nêu trên.
-
Đặc trách đào tạo với thỉnh sinh thiết
lập chương tŕnh đọc sách (những cuốn
sách hay chương, những bài viết). Đặc trách
đào tạo sẽ kiểm tra tiến độ và sự
hiểu biết của ứng sinh theo từng chu kỳ.
-
Công việc này phải được hướng dẫn
qua những bài làm tổng hợp, suy tư hay nghiên cứu.
Mục đích: nhằm hiểu biết
về Đấng sáng lập, lịch sử và tinh thần
của những anh em ḍng Mẹ Về Trời.
Đấng sáng lập
1. TOUVENERAUD PIERRE, A.A., Emmanuel
d'Alzon au service de
l'Église : 1810-1880, (traductions en
espagnol, italien et portugais),
Série Centenaire 1980, N° 1, Rome 1980, 36 pages.
2. BERNOVILLE GAÉTAN, Un promoteur
de la Renaissance catholique
au XIXe siècle.
Emmanuel d'Alzon 1810-1880, (traductions en
anglais, espagnol et portugais), Grasset, Paris 1957, 255
pages.
3. GALERAN HENRI-DIEUDONNÉ, Croquis du
Père d’Alzon,
(traductions en anglais et espagnol), Bonne Presse, Paris
1924, 358
pages.
4. Le Père
d'Alzon intime, dans Écrits
Spirituels du Serviteur de Dieu
Emmanuel d´Alzon, pages 727-845,
(traductions en espagnol et
portugais).
5. PERIER-MUZET JEAN-PAUL, A.A., Prier 15
jours avec Emmanuel
d'Alzon, (traduction en portugais; traduction
espagnole en préparation),
Nouvelle Cité, Montrouge 2003, 122 pages.
6. FOY THERESE-MARIE, O.A., Vénérable
Emmanuel d´Alzon, 1810-
1880. Une vie chevaleresque. Simple survol, (Gosselies-Saint-
Gérard), 2000, 275 pages.
7. RICHARDS RICHARD, A.A., D'Alzon,
fighter for God, "D'Alzon
series" 2, New York, 1974, 51 pages.
8. Sur les pas
du Père d'Alzon, (brochure de Claude COLOMBO et
Pascal GINDRE), Paris 2001, 52
pages.
Lịch sử
Sách
1. Les
Assomptionnistes, des hommes de foi en pleine vie, (plaquette
illustrée, publiée en dix langues), Éditions du Signe,
Strasbourg
[1993], 32 pages.
2. GUISSARD LUCIEN, A.A., Les
assomptionnistes d'hier à aujourd'hui,
(traductions en anglais, espagnol, néerlandais et
portugais), Bayard
Éditions, Paris 1999, 172 pages.
PERIER-MUZET JEAN-PAUL, A.A., Petit
Manuel. Histoire de
l'Assomption, (traduction
espagnole en préparation), Rome 2003, 185
pages.
4. LAURENT MAURICE, A.A., Les
Augustins de l'Assomption, dans
Religieux et moines de notre temps, Du Cerf, Paris 1980,
pages 209-
221.
5. BORIES HELENE-MARIE, R.A., Marie-Eugénie
Milleret (1817-1898),
Fondatrice des Religieuses de l’Assomption, (traductions en
plusieurs langues), (1991) 1998, 141 pages.
6. LE GENDRE OLIVIER, Je quitte
les ruisseaux, je vais à la mer,
Edition R.A., 1998, 99 pages.
7. Les Petites
Soeurs de l'Assomption. Une famille aux dimensions du
monde (plaquette en cinq langues), Editions du
Signe, Strasbourg, 32
pages.
8. Les Oblates
de l'Assomption (plaquette traduite en plusieurs
langues), Les Editeurs du Rameau, Paris 1995, 33 pages.
9. TOUVENERAUD PIERRE, A.A., Origines des
familles religieuses de
l'Assomption (traduction en
espagnol), Padri Assunzionisti, Rome
1972, 23 pages.
10. PERIER-MUZET JEAN-PAUL, A.A., Plusieurs
branches sur un même
tronc. L' Assomption, une grande famille, Fiche 12 dans L'Esprit de
l'Assomption d'après Emmanuel d'Alzon, Rome 1993, pages
89-96
(bibliographie en pages 95-96).
* Pour la France : Assomptionnistes, Province de France,
Paris 1992
(plaquette illustrée), 32 pages.
Video
1. Audiovisuel à l'occasion du Centenaire de
l'Assomption, 1980.
2. Vidéo Sur les pas
du Père Emmanuel d'Alzon, ses racines cévenoles,
sa vie, son oeuvre, son message (de Jean-Claude POULIGNIER, A.A. et
Catherine SESBOÜÉ), Nîmes 1980, durée
43 minutes.
3. Vidéo Planète
Évangile. La dynamique Assomptionniste, 1999, durée
72 minutes (versions en plusieurs langues).
4. Vidéo Le Balkan
crucifié. L'Eglise de Bulgarie dans la tourmente,
(de Marie-Ange DONZE et Claude SAUVAGEOT), Paris 1995, durée
56 minutes (versions en plusieurs langues).
- 82 -
5. Vidéo L’Assomption
et la Mission, novembre 2000, durée 40
minutes.
6. Vidéo L'Evangile
sans frontière. La démarche assomptionniste,
durée 30 minutes.
7. Vidéo Mère
Marie-Eugénie et son temps. 1838-1898, 3ème épisode :
L'amitié avec le Père d'Alzon, Religieuses de
l'Assomption, 1997,
durée 61 minutes.
Tinh thần ḍng Mẹ Về Trời
1. SÈVE ANDRÉ, A.A., Ma vie c'est
le Christ. Emmanuel d'Alzon (1810-
1880), (traductions en anglais et espagnol),
Editions du Centurion,
Paris 1980, 184 pages.
2. L'esprit de
l'Assomption d'après Emmanuel d'Alzon, [douze fiches de
plusieurs auteurs assomptionnistes] (publié en cinq
langues, sous la
responsabilité du Conseil Général des Religieux de
l'Assomption),
Rome 1993, 101 pages.
3. LE GLEUHER RAPHAEL, A.A., Recueil de
pensées du P. Emmanuel
d'Alzon (1810-1880), (traduction en espagnol), Pont
l'Abbé-d'Arnoult
1968, 476 pensées.
TẬP VIỆN
Giáo tập sẽ đề nghị một
danh sách tài liệu cho tập sinh nhằm giúp họ:
-
hiểu biết về
Cha d’Alzon và hoàn cảnh lịch sử của ngài;
-
về tinh thần của
Cha d’Alzon và của ḍng Mẹ Về Trời;
-
về lịch sử của
Hội ḍng;
-
về đời sống tu sĩ và những lời khấn;
-
về thánh Augustinô và tinh thần
của ngài;
Mục đích: đọc những văn
bản cơ bản của Đấng sáng lập, một
vài nguyên cứu về tinh thần của Hội ḍng và một
số tác phẩm của và về Thánh Augustinô.
Những văn bản nền tảng của
Cha d’Alzon
1. Directoire (1859), ES 15-126 (traductions en
anglais, espagnol,
portugais).
2. Premières
Constitutions des Augustins de l'Assomption : 1855-1865,
Rome 1966, 243 pages (traduction en espagnol).
3. Quatre
lettres au Maître des Novices (1868-1869), ES 147-172
(traductions en anglais, espagnol, portugais).
4. Instructions
de clôture des Chapitres généraux de 1868 et de 1873,
ES 128-146 et 173-190 (traductions en anglais,
espagnol, portugais).
5. Notes sur la
fin et l'esprit de l'Ordre (1845-1850), ES 644-648.
6. Circulaire
sur les voeux (1876), ES 687-691.
7. Différents textes sur le Royaume et sur l'esprit de
l'Assomption
(1870-1877), ES 659-724.
8. Circulaires
aux membres des Chapitres Généraux : 1874-1875, ES
191-289 (traduction en espagnol).
9. Sur l'Eucharistie, ES 947-987 et dans Les Cahiers
d'Alzon Nº 2
(traduction en espagnol).
10. Emmanuel
d'Alzon. Dossier sur la Vie et les Vertus, Rome 1986,
volume I : Sommaire de
la vie et des vertus, 138 pages; volume II
(tomes I et II) : Documentation
biographique, 1083 pages.
11. TAVARD GEORGES, A.A., Le Père
d'Alzon et la Croix de Jésus. Les
lettres aux Adoratrices, Maison généralice,
Rome 1992, 114 pages.
12. TAVARD GEORGES, A.A., Emmanuel
d'Alzon, textes spirituels, Du
Cerf, Paris 2003, 217 pages.
Tinh thần của Hội ḍng
1. PERIER-MUZET JEAN-PAUL, A.A., Le Père
Emmanuel d'Alzon par
lui-même. Anthologie alzonienne. Contextes, thèmes et
textes,
données biographiques, indications bibliographiques et
questionnaires,
(traductions en espagnol et portugais, en préparation
dans
d'autres langues), Maison généralice des Augustins de
l'Assomption, Bayard Service Édition, Rome 2003, 288
pages.
2. SAGE ATHANASE, A.A., Un Maître
Spirituel du dix-neuvième
siècle. Les étapes de la pensée du Père Emmanuel d’Alzon,
(traduction en espagnol), Rome 1958, 228 pages.
3. SAGE ATHANASE, A.A., El espíritu
de la Asunción, (Retraite aux
Supérieurs Majeurs, Rome 20-27 mai 1955), (traduction en
espagnol du manuscrit français inédit), Religiosos
Asuncionistas,
Santiago de Chile, 2000, 147 pages.
4. SAGE ATHANASE, A.A., La
Spiritualité de l’Assomption (Retraite
donnée à Worcester en 1958), Série Centenaire 1980, N°
10, Rome
1986, 115 pages.
5. SAGE ATHANASE, A.A., Présentation
du Directoire, dans
Mélanges Emmanuel d'Alzon (Conférences de la
"Semaine
Alzonienne", Hal, 14-19 mai 1951), Saint-Gérard
1952, pages 101-
133.
6. SAGE ATHANASE, A.A., Notes sur
l'histoire du Directoire, dans
Pages d'Archives, N º 2 (mars 1955),
pages 21-31.
7. SAGE ATHANASE, A.A., Commentaire
du Directoire, dans Cahiers
d'Alzon, annexe, sous le titre de Commentaire
du Guide Spirituel
de Vie Intérieure, Bar-Le-Duc 1959, 173
pages.
8. SAGE ATHANASE, A.A., Quatre
Essais sur notre vie assomptionniste,
dans Approches et
Recherches, Maison Généralice, Rome
1968, pages 125-189.
9. TAVARD GEORGES, A.A., Le Poids de
Dieu. La spiritualité
trinitaire d’Emmanuel d'Alzon (traductions en
anglais, espagnol et
portugais), Série Centenaire 1980, N° 5, Paris 1982, 162
pages.
10. CAYRÉ FULBERT, A.A., L’originalité
du Père d'Alzon en
spiritualité, dans Mélanges
Emmanuel d'Alzon (Conférences de la
"Semaine Alzonienne", Hal, 14-19 mai 1951),
Saint-Gérard 1952,
pages 83-99.
11. CAYRÉ FULBERT, A.A., La
spiritualité des religieux de
l'Assomption, Assomption, Louvain et
Paris, 1931, 62 páginas.
12. TOUVENERAUD PIERRE, A.A., Le critère
de fidélité à l'esprit du
fondateur, dans Approches et
Recherches, Maison Généralice,
Rome 1968, pages 191-255.
13. DUFAULT WILFRID J., A.A., The
spiritual legacy of Emmanuel
d'Alzon, (traduction en espagnol), Milton (MA) 1988, 209
pages.
14. DUFAULT WILFRID J., A.A., Emmanuel
d'Alzon Apostle for our
time, (traduction en espagnol), Worcester 1994,
57 pages.
15. MARECHAL CLAUDE, A.A., El carisma
de la Asunción, Madrid
(27-29 décembre), 1999, 54 pages.
- 85 -
16. TAVARD GEORGES, A.A., La foi et le
Royaume. Emmanuel d'Alzon
et la spiritualité de l’Assomption, Du Cerf, Paris 2003,
179 pages.
Tác phẩm của và về Thánh Augustinô
1. AUGUSTIN, Les
Confessions.
2. AUGUSTIN, La Cité de
Dieu, chapitres XIII, XIV, XIX, XX, XXII.
3. AUGUSTIN,
Commentaire à l'évangile et à la Première Lettre de
saint Jean.
4. AUGUSTIN,
Commentaires sur le Notre Père et du Sermon sur la
Montagne.
5. AUGUSTIN, Lettre 139
(à Proba) et Lettre 187.
6. AUGUSTIN, Sermons XXIII, LVI, CXXXV,
CCCLXV, CCCLXVI.
7. AUGUSTIN, De sancta
virginitate.
8. AUGUSTIN, De opere
monachorum.
9. POSSIDIUS DE CALAME, Vie
d'Augustin d'Hippone, collection Les
Pères dans la foi, Migne 56, Brépols,
1994.
10. SAGE ATHANASE, A.A., La Règle de
saint Augustin commentée par
ses écrits, La vie augustinienne, Paris 1961, 280
pages.
11. SAGE ATHANASE, A.A., La vie
religieuse selon saint Augustin, La
vie augustinienne, Paris 1972, 270 pages.
12. CAYRÉ FULBERT, A.A., Vers
l'action avec saint Augustin. La
spiritualité du Père d’Alzon, Lethielleux, Paris
1950, 230 pages.
13. JEAN-PAUL II, Augustinum
Hipponensem, 28 août 1986.
14. Supérieurs Généraux de la Famille Augustinienne, La
Conversion de
saint Augustin. Lumière sur notre chemin, Message pour le XVI
Centenaire de la Conversion et du Baptême de Saint
Augustin, 24
avril 1986, 39 pages.
15. NEUSCH MARCEL, A.A., Augustin, un
chemin de conversion. Une
introduction aux Confessions, Desclée de Brouwer,
Paris 1986, 138
pages.
16. NEUSCH MARCEL, A.A., Initiation à
saint Augustin, maître spirituel,
Du Cerf, Paris 2003, 281 pages.
17. NEUSCH MARCEL, A.A., Saint
Augustin. L'amour sans mesure,
Parole et Silence, 2001, 178 pages.
18. BOURQUE EDGAR, A.A., La prière
assomptionniste à la lumière de
saint Augustin, (Conférences données
aux Essarts en 1989), fascicule
de 143 pages.
- 86 -
19. MADEC GOULVEN, A.A., Petites
études augustiniennes, collection
des Etudes Augustiniennes, Série
Antiquité - 142, Paris 1994, 388
pages.
20. MADEC GOULVEN, A.A., Lectures
augustiniennes, collection des
Etudes Augustiniennes, Série
Antiquité - 168, Paris 2001, 388 pages.
21. MADEC GOULVEN, A.A., La Patrie et
la Voie. Le Christ dans la vie
et la pensée de saint Augustin, Desclée, Paris 1989,
346 pages.
22. SERGE LANCEL, Saint
Augustin, Fayard, 1999, 792 pages.
23. BROWN PETER, La vie de
saint Augustin, Collection Seuil Histoire,
2001, 675 pages.
* Voir aussi dans la Revue Itinéraires
Augustiniens (Orantes de
l'Assomption, Bonnelles, France) :
- N° 7 (consacrée à l'amitié) (1992) : PERIER-MUZET JEANPAUL,
A.A., Le Père
d'Alzon, un familier d'Augustin, pages
25-32.
- N° 25 (2001) : MONSCH CHARLES, A.A., Emmanuel
d'Alzon,
lecteur assidu de saint Augustin, pages 31-42.
- N° 28 (2002) : MADEC GOULVEN, A.A., Augustin
(354-430),
un saint comme un autre, (une biographie),
pages 5 à 46.
Lịch sử nước Pháp vào thế kỷ
XIX
1. MILZA PIERRE et BERSTEIN SERGE, Histoire du
XIXè siècle, Hatier,
1994, 503 pages.
2. Le XIXe siècle, « Collection grand
amphi », Bréal 1995 (ouvrage très
clair et pédagogique), 352 pages.
3. RÉMOND RENÉ, Introduction
à l'histoire de notre temps, tome 2 : le
XIXe siècle
1815-1914, Editions du Seuil, Paris 1974, 248 pages.
4. CHOLVY GÉRARD, HILAIRE YVES-MARIE, Histoire
religieuse de la
France, tome 1 : 1800-1880; tome 2 : 1880-1914, Collection
"hommes et communautés", Privat, Toulouse 2000,
287 et 207
pages.
5. CHOLVY GÉRARD, Etre
chrétien en France au XIXe siècle : 1790-
1914, Du Seuil, Paris 1997, 178 pages.
HẬU TẬP VIỆN VÀ ĐÀO TẠO
THƯỜNG XUYÊN
Mỗi tu sĩ phải tiếp tục việc
đào tạo nhằm:
-
đào sâu sự hiểu biết về tinh thần ḍng Mẹ Về
Trời;
-
hiểu về đời sống thực tại
và sứ mạng của Hội ḍng.
Bằng cách đọc:
-
bulletin của Hội ḍng và Tỉnh ḍng;
-
những tài liệu chính thức của Hội ḍng (Báo
cáo của Tổng Công nghị, Công nghị Tỉnh ḍng,
Thơ của các Bề Trên Cả).
-
về đời sống tu sĩ;
-
về Thánh Augustinô và các Giáo phụ.
Mục đích: nhằm thông hiểu Cha d’Alzon,
tinh thần và lịch sử của Hội ḍng
1. TOUJOUSE THÉRÈSE-MAYLIS, R.A., Marie-Eugénie
et le Père
d’Alzon, intuitions communes, influence réciproque ?, Études
d'archives, n° 4, novembre 1988, 90 pages.
2. Emmanuel
d'Alzon dans la Société et l'Église du XIXè siècle,
Colloque d'histoire, décembre 1980, Le Centurion, Paris
1982, 334
pages.
3. Identité
religieuse et vie assomptionniste, Session de Nîmes 1995,
Rencontres assomptionnistes N° 3, Paris 1995, 151 pages.
4. Deux siècles
d'Assomption, le regard des historiens, Rencontres
assomptionnistes N° 7, Paris 2003, 237 pages.
5. L'aventure
missionnaire de l'Assomption, Colloque à Lyon année
2000, Rome 2005.
6. Mémoire
Assomptionniste, Écrits au fil des ans 1850-2000, Editions
du Bugey, Le Bourget-du-Lac 2000, 181 pages.
7. VAILHÉ SIMÉON, A.A., Vie du P.
Emmanuel d'Alzon (1810-1880),
tome I (1810-1851) et tome II (1851-1880), Bonne Presse,
Paris
1927 et 1934, 602 et 792 pages.
8. TAVARD GEORGES, A.A., Le Père
d'Alzon au Premier Concile du
Vatican, Rome 1996, 66 pages.
9. COLETTE AUBAIN, A.A., Le P.
Emmanuel d'Alzon. Hommages à son
oeuvre apostolique. Témoignages sur sa sainteté, dans Pages
d'Archives, Nº 8 (mai 1958), pages 205-319.
- 88 -
10. COLETTE AUBAIN, A.A., Le Père
d’Alzon et le drame final de F. de
Lamennais, dans Pages
d'Archives, Nº 9 (août 1958), pages 321-344.
11. TOUVENERAUD PIERRE, A.A., La
participation du Père d'Alzon à la
défense des États Pontificaux : 1859-1863, dans Pages
d'Archives,
Nº 12 (octobre 1960), pages 385-410.
12. TOUVENERAUD PIERRE, A.A., L'humble
grandeur de la mort du Père
d’Alzon, Série Centenaire 1980, Nº 2, Rome 1979, 104
pages.
13. BUGNARD NOËL, A.A., Le P.
Emmanuel d'Alzon et les vocations,
Série Centenaire 1980, N° 3, Rome 1979, 89 pages.
14. WALTER JULIAN, A.A., Les
Assomptionnistes au Proche-Orient
(1863-1980), (version aussi en
anglais), Série Centenaire 1980, N° 6,
Paris 1982, 84 pages.
15. OLIVIER DANIEL, A.A., Le Père
d'Alzon et l'oecuménisme, Série
Centenaire 1980, N° 7, Rome 1980, 79 pages.
16. GUISSARD LUCIEN, A.A., PIERRARD PIERRE, WENGER ANTOINE,
A.A., Hier et
aujourd'hui, d’Alzon et l’Assomption, Série Centenaire
1980 - Conférences, Paris 1982, 90 pages.
17. Héritiers de
l'Évangile. Prier trente jours avec les religieux de
l'Assomption, Bayard
Éditions-Centurion, Paris 1999, 193 pages.
18. CLEUX ANGELOME, A.A., Emmanuel
d'Alzon homme d'Eglise,
Editions du Centre d'Alzon, Saint-Gérard (Belgique) 1961,
187
pages.
19. MONVAL JEAN, Les
Assomptionnistes, Grasset, Paris 1939, 256
pages.
20. PÉPIN ADRIEN, A.A., Les
Religieux de l'Assomption, Bonne Presse,
Paris 1963, 252 pages.
21. QUENARD GERVAIS, A.A., Les
Augustins de l'Assomption, origines,
esprit et organisation, oeuvres, Maison de la Bonne
Presse, Paris
1928, 172 pages.
22. GIRARD-REYDET JOSEPH, A.A., Le Père
Gervais Quenard,
Supérieur général des Assomptionistes (1875-1961), Maison de la
Bonne Presse, Paris 1967, 302 pages (traduction en
espagnol en
préparation).
* Pour une connaissance des premiers disciples du Père
d’Alzon, voir la
bibliographie signalée par JEAN-PAUL PERIER-MUZET, A.A., dans Le
Père d'Alzon par lui-même. Anthologie alzonnienne :
- pour le P. Étienne Pernet : page 88.
- 89 -
- pour le P. François Picard : page 134. Lire
aussi le livre de
DECOUX JACQUELINE, François
Picard, l'engagement d'un
homme pour "faire en toute chose la volonté de
Dieu",
Éditions du Signe, Paris 2003, 128 pages.
- pour le P. Vincent de Paul Bailly : page
160.
- pour le P. Victorin Galabert : page 130.
Lire aussi son Journal,
tomes I et II, Sofia 1998 et 2000.
* Voir aussi : PERIER-MUZET JEAN-PAUL, A.A., Notices
Biographiques des
Religieux de l'Assomption, Rome, 2000-2001, 5
tomes.
* Pour connaître nos trois frères martyrs de Bulgarie :
- HOLZER BERNARD, A.A. et MICHEL JEAN-BAPTISTE, Les
rideaux rouges de Sofia. Trois simples prêtres martyrs,
fusillés, bienheureux, Bayard, Paris 2003,
172 pages.
- GALLAY PIERRE, A.A., Le Martyre de trois
Assomptionnistes
bulgares, (brochure en sept langues), Bayard Service
Editions,
2002, 28 pages.
TÁC VỤ TRUYỀN CHỨC
Một số tài liệu đặc biệt
hữu dụng cho những năm đầu của tác vụ
truyền chức:
1. Các văn kiện chính thức của
Giáo hội:
- Concile Vatican II : Lumen
Gentium, Gaudium et
Spes, ....
- Encycliques papales : Mater et
Magistra (1961), Evangelii
nuntiandi (1975), Redemptor
hominis (1979), Redemptoris
Mater (1987), Redemptoris
Missio (1990), Pastores
dabo
vobis (1992), Ut unum sint
(1995, sur l'oecuménisme), Novo
millennio ineunte (2000)….
- Documents de l'Église locale et du continent : Ecclesia in
Africa (1995), Ecclesia in
America (1999), Ecclesia in
Asia
(1999), Ecclesia
in Europa (2003).
2. Đời sống thực tại và sứ
mạng của Hội ḍng
3. Tinh thần của ḍng Mẹ Về Trời
4. Đại kết và đối thoại
liên tôn
ĐÀO TẠO NHỮNG ĐẶC TRÁCH
ĐÀO TẠO
Những anh em đang chuẩn bị đảm nhận trách nhiệm về
đào tạo hoặc đă đảm nhận trách nhiệm
cần biết thư mục đă đề nghị cho
các ứng sinh và tu sĩ trong thời gian đào tạo trên.
Những anh em này cần phải đọc thêm:
1. PERIER-MUZET JEAN-PAUL, A.A., Petit
manuel. Histoire de
l'Assomption, Rome 2003, 185
pages.
2. GUY LESPINAY, Être
formateur aujourd'hui : la formation à la vie
religieuse : l'appel, le discernement, l'adaptation, Médiaspaul,
Montréal 2002, 221 pages.
3. JEAN-PAUL II, Exhortation
apostolique post-synodale Vita
Consecrata (1996).
4. MARECHAL CLAUDE, A.A., Initier les
jeunes à la vie communautaire
apostolique : Le coeur de la formation à l'Assomption, Louvain,
juillet 1996 (traduction en espagnol).
[1] Xem Luật Sống (LS), số 24
[2] LS 22
[3] LS 4
[4] LS 5
[5] LS, 97f, 97h,152, 193-195, 200
[6] LS, 97h, 97h, 193
[7] LS, 87, 95b
[8] LS, 140
[9] LS 160
[10] ES 208- 209 : ‘Việc học tuyệt đối cần thiết đối với
những tu sĩ không làm việc
tay chân. Đó là phương tiện để những
người anh em này kiếm sống bằng mồ hôi của
ḿnh. Điều này được hiểu là nếu
như người tu sĩ ngừng
học tập, đó là dấu hiệu Hội ḍng không c̣n
lư do tồn tại và nhận sự chúc dữ của Thiên
Chúa. Nhưng việc học không cũng không đủ;
chúng ta phải học có mục đích. Đối với
chúng ta, mọi điều phải được gắn
liền với Thiên Chúa, với Đức Giêsu Kitô và với
Giáo hội.”
[11] LS, 137
[12] LS 136
[13] LS, 136
[14] LS, 139-146, 196-198
[15] ES, 263-264
[16] LS, 142
[17] ES, 260
[18] DC, 650, n. 2
[19] LS, 2
[20] CT, pp. 38-42 :
« Những nhân đức mà chúng ta cần thực hành:
1. Đức tin […]. 2. Đức cậy […]. 3. Đức mến
[…].
[21] ES, p. 241 ; Circular Letters- 1874- 1875, p. 53 :
‘Việc học hỏi về Đức Giêsu Kitô là điều tốt,
nhưng nó chứa đựng một sự khô cứng. Mặt khác, suy gẫm mà
thiếu sự học hỏi dễ lạc vào trong thuyết
thần bí sai lạc. Sự kết hợp giữa học
và cầu nguyện sinh nhiều hoa trái. Kinh nghiệm cho thấy,
nếu Đức Giêsu Kitô không được h́nh thành tốt
trong ḷng của những đứa trẻ, đó bởi v́
công việc đào tạo được giao cho những
người thầy không cầu nguyện cũng không học
hỏi hoặc là quá thường xuyên không học hỏi
hay không cầu nguyện”.
ES,
p. 321; Meditation, p. 12: “ nhưng có hai mối nguy hiểm phải
tránh khi chúng ta học hỏi về Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập
thể. Điểm thứ nhất là sự lười biếng.
chúng ta nghĩ rằng chúng ta đă học đủ về
Ngài, như vậy tất cả những ǵ chúng ta phải
làm bây giờ là yêu mến Ngài. […].Điểm thứ nh́, môt
số, không muốn học hỏi về Đức Giêsu
Kitô một cách nghiêm túc, trở thành những nạn nhân của
mọi loại ảo tưởng sai lệch. Ḷng sùng mến
dựa trên những ư tưởng, và t́nh cảm sai lệch.
Thật là nguy hiểm để tiến lên trên con
đường hoàn thiện!
[22] ES, p. 571 ; Meditation, p. 193
[23] CT, p. 39.
[24] CT, p. 70.
[25] CT, p. 38 ; ES, p. 53, 153, 543-544.
[26] ES, p. 157.
[27] ES, p. 647.
[28] ES, p. 250.
[29] ES, p. 190
[30] ES, p. 17.
[31] LS, 147-158, 199-200
[32] ES 28-31 ; Directory, pp. 22-25
[33] LS 2
[34] LS 20
[35] LS 16
[36] LS 20
[37] LS 16
[38] LS 50
[39] LS 16
[40] Xem # 25
[41] LS 123e
[42] LS 159
[43] LS 123e, 159.
[44] VC 69 (vie consacrée) : « Điều rất
quan trọng, đối với mỗi Hội ḍng, giới
thiệu trong cuốn Ratio Institutionis của ḿnh một chương tŕnh đào tạo
thường xuyên cụ thể và có hệ thống. »
[45] ES, p. 208 ; Circular Letters 1875-1874, p.18
[46] VC 37
[47] VC 71.
[48] ES, p. 17.